Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội đã làm nảy sinh ra nhiều vấn đề mới cần phải quan tâm trong GD. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.0, công nghệ thông tin trở thành một phương tiện kết nối với mọi người, việc hướng dẫn, tổ chức, quản lý hoạt động học tập, rèn luyện của HS trở thành một vấn đề quan trọng, cấp thiết. Chính vì lẽ đó quản lý công tác chủ nhiệm lớp (CTCNL) là một trong những vấn đề mà Hiệu trưởng (HT) nhà trường cần phải quan tâm trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu và trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của nhà trường. Quản lý công tác chủ nhiệm lớp là một trong những nhiệm vụ cần phải tiếp tục đổi mới hiện nay của công tác quản lý giáo dục, quản lý nhà trường của ngành Giáo dục đào tạo Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp của GVCN và hoạt động quản lý công tác chủ nhiệm lớp của cán bộ quản lý (CBQL) ở các trường THCS ở Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương là cơ sở để tác giả đề xuất 6 biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện, đáp ứng các yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD- ĐT và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Các biện pháp này được đề xuất dựa trên những cơ sở lý luận về hoạt động quản lý nhà trường, quản lý CTCNL; đồng thời, xuất phát từ thực trạng, những ưu điểm và hạn chế trong quản lý CTCNL ở các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An. Chính vì dựa trên những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, bám sát những nguyên tắc cơ bản khi đề xuất biện pháp, trình bày rõ những vấn đề liên quan đến mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện,… nên 6 biện pháp chúng tôi nêu có tính cấp thiết và khả thi cao. Do đó, các trường THCS Thị xã Thuận An và các địa bàn khác có thể nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những biện pháp này để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý CTCNL, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự cạnh tranh và hội nhập toàn cầu thì Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) càng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Các quốc gia phát triển đều coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” và đều nhận thức giáo dục (GD) là chìa khóa tiến tới mọi sự thành công tốt đẹp hơn; đó là yếu tố phát triển tiềm năng con người; là động lực phát triển xã hội.
Muốn phát triển GD, ngoài yếu tố đường lối chính sách, đổi mới cơ chế, phát triển cơ sở vật chất, đổi mới chương trình, phương pháp GD&ĐT thì vai trò của người giáo viên (GV) là rất quan trọng. Luật GD năm 2013 [21] nêu rõ, nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng GD. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Chất lượng GD là kết quả của hai quá trình cơ bản dạy học và GD. Quá trình dạy học có chức năng là truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và do đội ngũ GV thực hiện. Quá trình GD có chức năng là hình thành những quan điểm, niềm tin, giá trị, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ, văn hoá, làm phát triển nhân cách của học sinh (HS) theo mục đích GD của nhà trường và xã hội, trong quá trình này giáo viên chủ nhiệm lớp (GVCNL) là người đóng vai trò chủ đạo.
GVCNL là người tổ chức, quản lý trực tiếp và sâu sát nhất về mọi mặt đối với HS và thực hiện GD đạo đức, lối sống, phát triển nhân cách, tư vấn hướng nghiệp cho từng học sinh HS. Vì thế công tác chủ nhiệm lớp (CTCNL) luôn giữ vai trò quan trọng, trong việc xây dựng và duy trì nề nếp, góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS. Đồng thời người GVCNL là “cầu nối” giữa nhà trường, gia đình và xã hội, góp phần thực hiện tốt mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội.
Thông tư 12/2019/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2019 của Bộ trưởng bộ Giáo dục về việc ban hành điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường Trung học phổ thông có nhiều cấp học [6], quy định về nhiệm vụ của người GV chủ nhiệm lớp.
Thị xã Thuận An là thị xã tập trung nhiều khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh Bình Dương, có điều kiện thuận lợi về kinh tế xã hội đã giúp cho sự nghiệp GD của thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương phát triển. Toàn thị xã có 10 trường Trung học cơ sở (THCS) đáp ứng đủ nhu cầu học tập của con em cán bộ, công nhân và nhân dân lao động. Được sự chỉ đạo của phòng GD&ĐT Thị xã Thuận An, các trường THCS trong Thị xã đã thực hiện nhiều biện pháp xây dựng và duy trì nề nếp, kỷ cương, nâng cao chất lượng và hiệu quả GD toàn diện HS. Một trong những biện pháp đã được triển khai là tăng cường vai trò GVCNL trong việc GD toàn diện cho HS, trên cơ sở phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường.
Trên thực tế, để nâng cao chất lượng GD toàn diện HS đáp ứng yêu cầu đổi mới GD vẫn còn nhiều khó khăn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là nhận thức ở một số GVCN về vai trò công tác chủ nhiệm (CTCN); một số GV được phân công làm CTCN còn hạn chế về năng lực tổ chức, năng lực điều hành lớp chủ nhiệm; chế độ chính sách chưa tương xứng với vai trò của GVCN, sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường còn quá lỏng lẻo, chưa thực sự hỗ trợ tích cực trong CTCN. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Sự phát triển nhà trường gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của từng lớp học, gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của đội ngũ cán bộ GV, đặc biệt là CTCNL. Chất lượng GD toàn diện nhà trường phụ thuộc phần lớn vào kết quả công tác GD của từng GV chủ nhiệm đối với lớp mà họ phụ trách. CTCNL (CTCNL) là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các hoạt động của nhà trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS. Chất lượng GD là sản phẩm của nhà trường và sản phẩm này phải đáp ứng yêu cầu của xã hội trong từng thời kỳ.
Cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội đã làm nảy sinh ra nhiều vấn đề mới cần phải quan tâm trong GD. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.0, công nghệ thông tin trở thành một phương tiện kết nối với mọi người, việc hướng dẫn, tổ chức, quản lý hoạt động học tập, rèn luyện của HS trở thành một vấn đề quan trọng, cấp thiết. Chính vì lẽ đó quản lý CTCNL là một trong những vấn đề mà Hiệu trưởng (HT) nhà trường cần phải quan tâm và luôn coi đây là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu và trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của nhà trường. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ cần phải tiếp tục đổi mới hiện nay của công tác quản lý GD, quản lý nhà trường của ngành GD-ĐT Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài “Biện pháp quản lý CTCNL của HT các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
Nghiên cứu lý luận về CTCNL và thực trạng quản lý CTCNL trên địa bàn thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương từ đó đưa ra các biện pháp quản lý CTCNL của HT các trường THCS trên địa bàn,Thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương, góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý CTCNL của
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng CTCNL và thực trạng quản lý của HT đối với CTCNL của các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý CTCNL nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện của các trường THCS ở Thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp ở trường THCS
- Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý CTCNL của HT các trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Thực trạng quản lý CTCNL của HT các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương trong những năm gần đây có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới GD thì việc quản lý CTCNL vẫn còn một số hạn chế nhất định. Nếu áp dụng một cách linh hoạt và hợp lý những biện pháp mà tác giả đề xuất thì CTCNL sẽ đạt kết quả tốt hơn góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện của các trường THCS.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và biện pháp quản lý CTCNL của hiệu trưởng trưởng THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quản lý CTCNL của HT các trường THCS Trần Đại Nghĩa, THCS Trịnh Hoài Đức, THCS Nguyễn Thái Bình, THCS Bình Chuẩn, THCS Phú Long trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, năm học 2024 – 2025
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở phương pháp luận
- Tiếp cận theo quan điểm hệ thống cấu trúc Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Vận dụng quan điểm này vào đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác chủ nhiệm và quản lý công tác chủ nhiệm. Từ đó đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý.
- Tiếp cận theo quan điểm lịch sử
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của đối tượng nghiên cứu, cụ thể là hoạt động chủ nhiệm lớp và quản lý CTCNL của HT các trường THCS Thuận An, tỉnh Bình Dương với những ưu điểm cần phát huy và tồn tại cần khắc phục.
- Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn
Qua khảo sát thực tế, tìm hiểu để phát hiện những bất cập, tồn tại trong thực tiễn về hoạt động quản lý CTCNL của HT các trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý CTCNL góp phần phần nâng cao hiệu quả GD toàn diện HS.
6.2. Phương pháp cụ thể
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, phân loại và hệ thống hóa nội dung lý luận…nhằm xác lập cơ sở lý luận của đề tài.
- Nhóm phương pháp thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi CBQL: Nội dung các câu hỏi nhằm tìm hiểu về thực trạng và biện pháp quản lý CTCNL của HT.
Bảng hỏi GVCN: Thực trạng công tác CNL và những biện pháp quản lý của HT đối với công tác này.
Bảng hỏi HS: Thực trạng về hoạt động CTCNL, về phương pháp quản lý CTCNL của nhà trường và GVCN đối với HS.
- Phương pháp quan sát
Quan sát CTCNL của GV và hoạt động quản lý CTCNL của HT đối với công tác chủ nhiệm.
- Phương pháp phỏng vấn Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Phỏng vấn GV, HT để làm rõ hơn thực trạng quản lý CTCNL của HT. Phỏng vấn HS, cha mẹ HS để làm rõ hơn thực trạng CTCNL của HT và GV.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến từ các chuyên gia, các CBQL, GV có kinh nghiệm về CTCNL và quản lý CTCNL
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Phân tích kế hoạch công tác chủ nhiệm, sổ theo dõi công tác chủ nhiệm của một số HT và GV.
- Nhóm phương pháp toán thống kê
Sử dụng công thức toán thống kê (phần mềm SPSS) để xử lý số liệu thu thập từ những phương pháp khác nhau để đảm bảo sự tin cậy của các nhận xét rút ra từ các số liệu.
7. Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Góp phần làm rõ hơn một số vấn đề về lý luận khoa học giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý công tác chủ nhiệm.
7.2. Về mặt thực tiễn
Cung cấp số liệu và thực trạng về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, cũng như các nguyên nhân của thực trạng này. Từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở
- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Nhiều thập niên của thế kỷ trước, trên thế giới không ít học giả, nhà khoa học, nhà GD đã nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả giáo dục HS. Nhà GD nổi tiếng A.X.Macarenco (1888-1939) với những nghiên cứu của ông đã trở thành tài sản quý giá cho nhân loại trong sự nghiệp GD thế hệ trẻ, đã nhấn mạnh nguyên lý “GD trong tập thể và bằng tập thể, trong lao động và bằng lao động….”. V.A.Xukhomlinxki (1918-1970), một nhà GD học nổi tiếng của thế giới hiện đại, đã đặc biệt đề cao vai trò của nhà giáo, nghệ thuật giáo dục trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách HS.
K.Đ.Usinxki (1824 – 1870) cho rằng, GD phải đạt tới mức độ phát triển hoàn thiện con người, đảm bảo hai mặt là đạo đức và tài năng, trong đó ông đặc biệt chú trọng về GD đạo đức, bởi vì “sự cảm hóa về đạo đức là vấn đề chủ yếu của GD”. Ông cho rằng cơ sở của đạo đức là hoạt động đem lại lợi ích cho cộng đồng.
John Dewey (1859-1952) khẳng định, HS là mục đích tồn tại của hoạt động GD. HS phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động của nhà trường. GV đóng vai trò tác nhân quan trọng bậc nhất cho sự khai phóng của người học. GV không phải là “quyền uy ban phát” kiến thức, không phải là vị quan tòa, mà là một thành viên trong cộng đồng lớp học. GV có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích. Bằng vật liệu cung cấp, đầu mối thông tin, gợi ý, tổ chức, hướng dẫn… GV có thể tạo ra môi trường khuyến khích học tập. Muốn như vậy, GV phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết GD toàn diện.
Nhà GD Tiệp Khắc J.A Comenxki (1592-1670) đã hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục. Ông đã đưa ra hình thức tổ chức dạy học mới đó là hệ thống lớp. Mô hình lớp học được phát triển mạnh mẽ khắp nơi trên toàn thế giới. Không những vậy mô hình lớp học được phát triển và mở rộng, tùy thuộc vào điều kiện thực tế, song lớp học bao giờ cũng cần một người quản lý. Để quản lý lớp học, nhà trường cử ra một trong những GV giảng dạy làm CTCNL. GVCN là những người được HT lựa chọn những GV có kinh nghiệm GD, có uy tín với HS được Hội đồng nhà trường nhất trí phân công làm công tác chủ nhiệm. Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm, còn nói đến công tác chủ nhiệm là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm.
Những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra những nội dung GD cho HS trung học mà có liên quan đến CTCNL. Những nội dung GD HS như: GD kĩ năng sống, GD những giá trị sống, GD hướng nghiệp… Theo quan điểm của UNESCO đã cho rằng GD trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết cho cuộc sống cũng như con đường chuẩn bị bước vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống sau này. Đó là 12 giá trị của con người trong thế kỷ 21: hòa bình, tôn trọng, hợp tác, trách nhiệm, trung thực, khiêm tốn, giản dị, khoan dung, đoàn kết, tình yêu thương, tự do, hạnh phúc. Tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn (Unicef 2013) cũng đưa ra những cách thức tham vấn cho HS lứa tuổi thanh niên. Như vậy, người GV cần tổ chức các họat động khác nhau để HS có thể tham gia được dễ dàng và học được rất nhiều thứ từ đó.
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Ở Việt Nam, nhiều tác phẩm, tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề về CTCNL như:
Tác giả Phạm Viết Vượng (2013) nghiên cứu về “Lý luận giáo dục” đã đưa ra những chức năng cơ bản của GV chủ nhiệm, những nội dung làm công tác chủ nhiệm, một số phương pháp GD HS. Để làm được CTCNL yếu tố quan trọng nhất đó là năng lực người GV chủ nhiệm [37].
Tác giả Hà Nhật Thăng (2001) nghiên cứu về “Công tác chủ nhiệm lớp dành cho giáo viên Trung học cơ sở” đã giới thiệu những nội dung cơ bản về CTCNL[31].
Nhóm tác giả Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ (2000) nghiên cứu “Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm” đã đề cập đến các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến giao tiếp giữa GV và HS cũng như quá trình hình thành nhân cách của HS, hình thành tập thể HS[28].
Tác giả Nguyễn Dục Quang,“Bàn về năng lực giáo dục của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” đề cập về những vấn đề cơ bản của CTCNL, những nội dung trong CTCNL ở trường phổ thông từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học. Tác giả đưa ra một số nội dung cơ bản cho CTCNL, đề cao vai trò của người GVCNL trong GD HS và những nội dung cần thiết đòi hỏi người GVCN tự bồi dưỡng và được bồi dưỡng nâng cao năng lực GD [29].
- Ngoài ra có thể tìm thấy một số bài báo, tạp chí nghiên cứu về CTCNL cụ thể như:
Tác giả Lưu Hồng Uyên (2024) “Những thách thức đối với GVCN trường THCS trong giai đoạn hiện nay” đề cập đến những thách thức từ sự thay đổi của xã hội, tâm sinh lí của HS, đây là một trong những rào cản lớn nhất trong CTCNL [36].
Tác giả Nguyễn Văn Nho (2023) “Nâng cao CTCNL ở trường THPT” đề cập đến những hoạt động trong CTCNL, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CTCNL [26].
Nghiên cứu về CTCNL được tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với các công trình: “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT”, đề tài mã số SPHN- 09-465NCSP, 2018, cũng như cuốn “Một số vấn đề trong CTCNL ở trường THPT hiện nay” [11]. Ở đây các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của CTCNL, những nội dung trong CTCNL ở trường THPT hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Tác giả Nguyễn Xuân Tuyên (2013) “Biện pháp quản lý công tác GVCN lớp của HT trường THPT ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay” [32], nghiên cứu tiến hành khảo sát cán bộ Sở GD, cán bộ quản lý nhà trường, GVCNL, GV bộ môn, và HS. Nội dung khảo sát về vai trò GVCNL, nội dung công tác GVCNL, ảnh hưởng của GVCNL trong quá trình GD HS, và đánh giá của HS về các hoạt động của GVCNL. Tác giả đã đề xuất 6 nhóm giải pháp quản lý công tác GVCNL.
Tác giả Nguyễn Thanh Bình (2024) khi nghiên cứu về “Nhu cầu được bồi dưỡng năng lực chủ nhiệm của giáo viên trung học”[12], đã phân tích nhu cầu bồi dưỡng năng lực cần có của đội ngũ GV chủ nhiệm bậc trung học trên địa bàn Hà Nội trên cơ sở hệ thống các năng lực thành phần đáp ứng đổi mới GD phổ thông. Nội dung chương trình bồi dưỡng GV chủ nhiệm sẽ bao gồm hệ thống ngân hàng các chủ đề được thiết kế theo tiếp cận năng lực thực hiện để họ có thể tự chọn những chủ đề bù đắp những năng lực cần thiết của bản thân. Để đạt được mục tiêu là phát triển năng lực cho GV chủ nhiệm cần phối hợp những hình thức bồi dưỡng đa dạng phù hợp với nhu cầu, điều kiện của mỗi GV, đồng thời cần tạo ra động lực tự bồi dưỡng để phát triển chuyên môn, nghiệp vụ liên tục ở mỗi GV để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD.
Tác giả Hoàng Gia Trang (2025), trong bài viết “Kĩ năng tư vấn tâm lí cơ bản cho giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học cơ sở”[34], cho rằng GVCN cần có một số kĩ năng tư vấn tâm lí cơ bản sau: kĩ năng giao tiếp; kĩ năng xử lí thông tin; kĩ năng thấu hiểu HS; kĩ năng phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường; kĩ năng hỗ trợ tìm kiếm giải pháp; kĩ năng đánh giá. GV thực hiện tốt công tác tư vấn tâm lí cho HS sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách của các em và nâng cao chất lượng GD toàn diện cho các nhà trường.
Từ những vấn đề thực tiễn trong đổi mới quản lý giáo dục, tác giả Phan Văn Có (2024) khi nghiên cứu về “Thực trạng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp các trường trung học cơ sở huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau”[14] đã phân tích những ưu điểm, nhược điểm và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ ở trường THCS
Những kết quả nghiên cứu nói trên đã định hướng cho đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và HT các trường THCS trong việc nâng cao chất lượng CTCNL ở Việt Nam hiện nay. Ở tình Bình Dương và Thị xã Thuận An, cũng đã có một vài sáng kiến – kinh nghiệm của đội ngũ GV đề cập đến CTCNL ở trường THCS, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và đi sâu vào các biện pháp quản lý CTCNL của HT các trường THCS. Vì vậy, đề tài tôi tập trung nghiên cứu về “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương”, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục HS trên địa bàn Thị xã Thuận An.
1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
1.2.1. Quản lý
- Khái niệm về quản lý
Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, con người muốn tồn tại cần phải có sự phối hợp với nhau trong một nhóm hay một tổ chức. Để tạo nên sự phối hợp của nhóm hay tổ chức, trong hoạt động hướng đến mục đích chung, cần phải có sự điều khiển thống nhất hoạt động và sự điều khiển ấy chính là “quản lý”.
Quản lý là loại hình lao động của con người trong xã hội nhằm đạt tới mục tiêu của tổ chức, hay xã hội đề ra. Quản lý bao gồm mọi mặt trong đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển thì các loại hình quản lý ngày càng phức tạp và đa dạng, đòi hỏi con người phải nghiên cứu nó và khoa học quản lý ra đời từ đó, nó thúc đẩy quá trình quản lý ở bậc cao hơn nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội.
Theo C. Mac “Tất cả mọi lao động trong xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quang độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [13].
Xuất phát từ những quan niệm trên, có nhiều định nghĩa về “Quản lý” ở nhiều góc cạnh khác nhau.
Theo quan điểm kinh tế học thì F.W Taylo (1911) người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học”. Ông cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [20, Tr27]. Quan điểm của Taylo là một trong những quan điểm đầu tiên đặt nền móng khoa học quản lý hiện đại. Tuy nhiên quan điểm của ông mang tính kinh tế, ít chú trọng đến nhân tố con người [15]. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Theo H. Fayol (1915) “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [12,Tr 53] với thuyết quản lý theo hành chính Fayol được coi là người đặt nền móng cho lý luận quản lý cổ điển. Ông cho rằng người quản lý thành công được là do những phương pháp mà anh ta áp dụng chứ không phải là phẩm chất cá nhân của anh ta. Điều này cho thấy ông rất quan tâm đến yếu tố năng lực của người quản lý [15].
Nếu như F.W Taylo chú trọng khía cạnh kinh tế trong quản lý và H. Fayol quan tâm đến vị trí năng lực của người quản lý thì Mary Parker Follet (1920) “Quản lý là ra sức xây dựng tư tưởng phối hợp, hợp tác và sự thống nhất” [12,Tr29], theo bà người lãnh đạo cần có tính kiên trì, năng lực thuyết phục, sự khéo léo trong cư xử, tình độ hiểu biết cao [15].
Tác giả Vũ Dũng (2017) định nghĩa “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [5,Tr 47]. Quản lý gồm công việc chỉ huy, định hướng và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm hay tổ chức [15].
Theo Hà Thế Ngữ (2001) “ Quản lý là quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”[23]
Theo tác giả Trần Kiểm (1990) “ quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động”[19].
Các định nghĩa trên tuy có khác nhau nhưng đều có chung nhận thức về quản lý là sự tác động qua lại có định hướng, có kế hoạch, có mục tiêu của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”
- Chức năng của quản lý
Tất cả hoạt động của quản lý thực hiện được thông qua chức năng quản lý. Nếu xác định tốt chức năng quản lý, chủ thể quản lý tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch đến đối tượng quản lý đạt được mục tiêu đã đề ra. Có nhiều quan điểm khác nhau về chức năng quản lý nhưng tất cả đều được chia thành 4 chức năng cơ bản: chức năng kế hoạch hóa; chức năng tổ chức; chức năng chỉ đạo; chức năng kiểm tra.
- Chức năng kế hoạch hóa:
Chức năng kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Thực chất của kế hoạch hóa là đưa toàn bộ hoạt động vào kế hoạch, với mục đích, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và xác định rõ các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Việc lập kế hoạch được thực hiện tốt sẽ tạo cơ sở vững chắc cho các giai đoạn tiếp theo “Tổ chức”, “Chỉ đạo”, “Kiểm tra”. Nếu không có kế hoạch thì người quản lý không thể chỉ đạo một tổ chức hay một tập thể đạt được mục tiêu đề ra. Và không có kế hoạch thì người quản lý sẽ không định hướng được con đường đi đến mục tiêu.
Trong quản lý nhà trường, kế hoạch hóa là một chức năng quan trọng, người quản lý thực hiện tốt chức năng này có nghĩa là người quản lý đã định hướng đúng và vạch ra cho tập thể con đường đúng đắn đi đến mục tiêu.
- Chức năng tổ chức
Quản lý trường trung học điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là xác định rõ vai trò của từng bộ phận, cá nhân trong tổ chức và đảm bảo mối quan hệ, sự thống nhất và đồng bộ về tổ chức.
Tác giả Nguyễn Lộc “Tổ chức là quá trình sắp xếp con người và các nguồn lực để cùng nhau làm việc nhằm đạt tới một mục tiêu cụ thể” [5,Tr125] Việc tổ chức sẽ xác định ai làm việc gì, ai sẽ phụ trách ai và cách thức những cá nhân và những bộ phận khác nhau của tổ chức liên hệ với nhau như thế nào. Tất cả công việc này thực hiện được thông qua nhiều hình thức khác nhau và cần phải lựa chọn hình thức tốt nhất phù hợp với nhu cầu trong thực tiễn.
- Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm khích lệ, khơi dậy động lực cá nhân hăng say làm việc để hoàn thành tốt mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo thể hiện mối quan hệ con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó, để họ tự nguyện nhiệt tình phấn đấu thực hiện mục tiêu.
- Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý, sau khi xác định mục tiêu, tiến hành lập kế hoạch, triển khai thực hiện các mục tiêu, cần phải tiến hành kiểm tra quá trình thực hiện. Hoạt động kiểm tra đánh giá nhằm xem xét việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh, khắc phục những sai sót trong quá trình thực hiện cho phù hợp thực tế nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Kiểm tra là xem xét sự việc diễn ra đúng cách, đúng giờ. Nó giúp cho việc thực hiện những đóng góp của các cá nhân và tập thể phù hợp với kế hoạch của tổ chức. Kiểm tra giúp đảm bảo, hoàn thành công việc thông qua tổ chức, đồng thời kiểm tra giúp cho mọi người tuân thủ theo trình tự, thủ tục, và chính sách của tổ chức.
Kiểm tra giúp cho chủ thể quản lý tìm ra những nguyên nhân, hạn chế của sự thành công cũng như thất bại, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và có những giải pháp, đề xuất khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Tóm lại, hoạt động quản lý được hình thành thông qua các chức năng quản lý; chức năng kế hoạch hóa; chức năng tổ chức; chức năng chỉ đạo; chức năng kiểm tra, các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một quy trình quản lý.
1.2.2. Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Tác giả Đặng Quốc Bảo (1998) “Quản lý GD theo nghĩa tổng quan là điều hành và phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội”[10].
Tác giả Trần Kiểm – Bùi Minh Hiền (2014) quản lý GD có 2 cấp chủ yếu là cấp vĩ mô và cấp vi mô [20]:
- Cấp vi mô: Quản lý GD thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình GD (được tiến hành bới tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
- Cấp vĩ mô: Quản lý GD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực GD (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển GD, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Như vậy, quản lý GD là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD.
1.2.3. Quản lý nhà trường
Thông tư 12/2019/TT-BGDĐT ngày 28/3/2019 “Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng” [6].
Nhà trường là nơi mà hoạt động GD diễn ra thường xuyên và hằng ngày. Do đó muốn phát triển GD thì cần phải hiểu rõ nhà trường là gì, các yếu tố cấu thành nhà trường, và các vấn đề quản lý nhà trường từ đó định hướng tới mục tiêu GD sao cho hiệu quả nhất. Có rất nhiều định nghiã về nhà trường.
Tác giả Đặng Quốc Bảo (1998) “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó có diễn ra quá trình đào tạo, GD với hoạt động tương tác của hai nhân tố “ thầy- trò”. Trường học là bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống GD quốc dân nó là đơn vị cơ sở”[10] Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Như vậy, trường học là nơi rèn luyện và bồi dưỡng con người toàn diện về mọi mặt dưới sự giám sát của của GV. Trong nhà trường diễn ra các các hoạt động GD toàn diện và quá trình quản lý GD. Trong đó hoạt động dạy học và hoạt động quản lý dạy học là trung tâm.
Khi nhà trường thực hiện chức năng GD trong một xã hội cụ thể, bản chất văn hóa dân tộc in dấu sâu đậm trong toàn bộ hoạt động của nhà trường. Việc quản lý nhà trường là quản lý các hoạt động GD trong nhà trường và làm sao đưa các hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Tác giả Phạm Minh Hạc (1986) “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để thực hiện mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo của ngành GD, với thế hệ trẻ và từng HS” [17].
Tác giả Trần Kiểm (1990) “Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội – nhà trường mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân GV và HS. Trong nhà trường GV và HS vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý. Với tư cách là đối tượng quản lý, họ là đối tượng tác động của chủ thể quản lý (HT). Với tư cách là chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lý”[19].
Tóm lại, quản lý nhà trường là quản lý quá trình tác động một cách tối ưu của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một phạm vi nhất định (Nhà trường) và tận dụng các nguồn lực hướng vào, đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
1.2.4. Hiệu trưởng và nhiệm vụ của hiệu trưởng trường trung học cơ sở
Hiệu trưởng là người có đầy đủ phẩm chất, trình độ văn hóa, am hiểu về GD, giỏi về chuyên môn, am hiểu các nguyên tắc trong quản lý GD, nắm vững phương pháp khoa học và nghệ thuật trong quản lý. HT là người đứng đầu nhà trường, chỉ đạo các hoạt động GD của nhà trường theo văn bản của ngành, là người có quyền quyết định mọi hoạt động nhà trường và chịu trách nhiệm trước lãnh đạo cấp trên.
- Nhiệm vụ và quyền hạn của HT, căn cứ theo Thông tư 12/2019/TT- BGDĐT của Bộ GD và Đào tạo về việc ban hành điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông có nhiều cấp học [6].
- Xây dựng tổ chức bộ máy nhà trường.
- Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại khoản 3 điều 20 của điều lệ này;
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền.
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng, và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định.
- Quản lý GV, nhân viên, quản lý chuyên môn, phân công công tác, kiểm tra đánh giá, xếp loại GV; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với GV, nhân viên; thực hiện quyền tuyển dụng GV, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động GV, nhân viên theo quy định của Nhà nước.
- Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức, xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại HS, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho HS tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỉ luật HS;
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường.
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với GV, nhân viên và HS; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóa GD nhà trường.
- Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường.
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật.
1.2.5. Giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Giáo viên là viên chức nhà nước, là người được đào tạo chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy và GD ở trường sư phạm. GV trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, GD trong nhà trường gồm: HT, Phó HT, GV bộ môn, GV làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), GV làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), GV làm công tác tư vấn cho HS.
Từ định nghĩa trên thì GV bao gồm cả CBQL GD và các GV phụ trách công tác đoàn thể hoặc công tác khác trong mọi hoạt động của nhà trường. Trong phạm vi đề tài này khi nói đến GV THCS chỉ nói đến GV trực tiếp làm công tác giảng dạy và GD HS cấp THCS.
GV chủ nhiệm lớp: GVCNL ở trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, là người có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác GD của nhà trường.
Tác giả Trần Thị Hương (2019) “GVCNL là người thay HT quản lý, GD toàn diện HS một lớp học, là cố vấn cho các hoạt động tự quản của tập thể HS, là người tổ chức phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường”[18].
Tác giả Nguyễn Thanh Bình (2019) “GVCNL là thành viên của tập thể sư phạm và Hội đồng sư phạm, là người thay mặt HT, Hội đồng nhà trường và cha mẹ HS quản lý và chịu trách nhiệm về chất lượng GD toàn diện HS lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường, lớp”[11].
Tác giả Phạm Viết Vượng (2013) “ Trong nhà trường, đơn vị tổ chức cơ bản để giảng dạy và học tập là lớp học. Để quản lý trực tiếp lớp học nhà trường cử ra những GV giỏi, giàu nhiệt tình để làm chủ nhiệm lớp. GV chủ nhiệm ở trường phổ thông là người thay mặt HT để quản lý toàn diện lớp học”[36] .
Ngoài ra những văn bản, điều lệ, quy chế của ngành GD cũng đã nêu khái niệm về GVCNL, hầu hết các cách diễn đạt về GVCNL điều có chung một khái niệm: GVCNL là GV trực tiếp giảng dạy, có đầy đủ phẩm chất, uy tín nhà giáo được HT đề cử, thông qua hội đồng sư phạm. Là người trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm trước HT về công tác GD toàn diện HS do lớp mình phụ trách. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
1.2.6. Khái niệm quản lý công tác chủ nhiệm lớp
Công tác chủ nhiệm lớp là công tác tổ chức, quản lý một lớp học sao cho khi GV có hoặc không có trong lớp học thì mọi hoạt động trong lớp vẫn duy trì ổn định, có tính tự giác cao và mọi việc vẫn hoàn thành tốt. Sự phát triển nhận thức và khả năng tiếp thu của người HS chỉ thực sự hiệu quả khi tập thể lớp là một tập thể vững mạnh và lớp học phải là ngôi nhà thứ hai của mỗi HS. Để đạt được điều đó thì GVCNL phải có phương pháp chủ nhiệm tốt và hiệu quả. Công tác chủ nhiệm của một GV thành công là đồng nghĩa với việc giúp các em hoàn thiện mình hơn và xây dựng một tập thể lớp giúp cho các thành viên trong đó ngày càng tiến bộ.
CTCNL là hoạt động tổ chức, quản lý và xây dựng một tập thể lớp vững mạnh và tạo điều kiện để tiến hành các hoạt động dạy học và GD.
Quản lý CTCNL là quản lý hoạt động tổ chức, điều hành CTCNL của đội ngũ GVCN nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện.
1.3. Lý luận về công tác chủ nhiệm lớp Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
1.3.1. Vị trí, vai trò giáo viên chủ nhiệm lớp
Trong trường phổ thông, GVCNL là người có vị trí, vai trò rất quan trọng. GVCNL là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay mặt HT, Hội đồng nhà trường và cha mẹ học sinh (CMHS) quản lý và chịu trách nhiệm về chất lượng GD toàn diện HS lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp.
Với tư cách là người quản lý trực tiếp về chất lượng toàn diện HS trong lớp học, GVCNL có trách nhiệm truyền đạt tới HS của lớp mình chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế hoạch, chương trình hành động của nhà trường đến tập thể lớp, từng HS do mình chủ nhiệm. Đồng thời GVCN có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hoạt động của lớp mình chủ nhiệm và chịu trách nhiệm trước nhà trường, Hội đồng nhà trường về kết quả chất lượng GD toàn diện do lớp mình phụ trách.
Mỗi GVCNL còn là một thành viên tham mưu của Hội đồng sư phạm, có trách nhiệm phản ánh đầy đủ mọi thông tin về lớp mình chủ nhiệm cũng như từng thành viên trong tập thể lớp, đề xuất các giải pháp GD HS, giúp cán bộ quản lý, lãnh đạo đưa ra các định hướng, giải pháp quản lý GD HS hiệu quả.
Giáo viên chủ nhiệm lớp là nhà GD và người lãnh đạo gần gũi nhất trong sự hình thành và phát triển nhân cách của HS, là người tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản là cán bộ lớp, cán bộ Đoàn và tính tự giác của mọi thành viên trong lớp. GVCN là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng HS phản ánh với HT, với các tổ chức và với giáo viên bộ môn (GVBM) và với tư cách là người đại diện lớp có trách nhiệm bảo vệ, bênh vực quyền lợi chính đáng cho HS và tập thể lớp mình phụ trách.
Như vậy GVCNL là cầu nối giữa HT, các tổ chức trong nhà trường, các GVBM và tập thể HS trong lớp. Nói cách khác GVCNL là người đại diện hai bên; một bên là đại diện cho Hội đồng sư phạm nhà trường, một bên là đại diện cho tập thể HS trong quá trình thực hiện công tác chủ nhiệm.
Giáo viên chủ nhiệm lớp là người cố vấn cho công tác Đội và công tác Đoàn ở lớp chủ nhiệm, là người định hướng cho các em xây dựng kế hoạch hoạt động của tập thể HS, hướng dẫn các em xây dựng nội dung, lựa chọn giải pháp, cách tổ chức hoạt động để thực hiện thành công kế hoạch đề ra, đáp ứng các mục tiệu phát triển của lớp và mục tiêu GD của nhà trường.
Giáo viên chủ nhiệm lớp là người tổ chức phối hợp các lực lượng GD ngoài nhà trường (gia đình, các đoàn thể xã hội, cộng đồng dân cư…). GVCNL cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tầm quan trọng của việc phối hợp các lực lượng GD ngoài nhà trường trong công tác GD thế hệ trẻ. GVCN cần nắm chắc tình hình lớp chủ nhiệm, mặt khác khai thác triệt để, hợp lý, phát huy mọi tiềm năng của các lực lượng cùng tham gia GD, phát triển nhân cách cho HS. Trong đó GVCNL phải xác định GD nhà trường có vai trò định hướng, tạo ra sự thống nhất tác động đến HS.
Tuy nhiên cần đánh giá đúng vai trò GD của gia đình, xem đây là môi trường hạt nhân cơ bản của quá trình hình thành, phát triển nhân cách của thế hệ trẻ.
1.3.2. Chức năng của giáo viên chủ nhiệm lớp Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
GVCN là người thực hiện chức năng quản lý toàn diện tập thể HS thực hiện chức năng GD từng cá nhân có hiệu quả. Vì vậy cần quan tâm tìm hiểu chức năng của người GVCNL.
- Chức năng quản lý
GVCNL là người thay mặt HT quản lý toàn diện HS của một lớp học bao gồm: lập kế hoạch GD HS, tổ chức triển khai kế hoạch, xây dựng tập thể tự quản trong mọi hoạt động; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch thông qua kết quả rèn luyện của mỗi HS và phong trào của tập thể lớp, điều chỉnh kế hoạch. Như vậy để đạt được mục tiêu quản lý của một tập thể HS GVCNL phải thực hiện các chức năng quản lý; lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá.
- Chức năng GD
GVCNL trước hết phải là một nhà GD, thông qua việc tổ chức các hoạt động của một tập thể lớp, GD những phẩm chất, nhân cách của người HS. Từ các hoạt động đa dạng và phong phú, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa HS và HS, HS với những người khác, hướng vào việc hình thành cho HS những thói quen, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
GVCN đồng thời phải đồng thời quản lý học tập và quản lý sự hình thành, phát triển nhân cách học sinh. Hai mặt này có quan hệ hỗ trợ, tác động lẫn nhau, như việc giáo dục đạo đức có tác dụng mạnh mẽ đến chất lượng giáo dục văn hóa, nhất là trong điều kiện hiện nay. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
- Chức năng đại diện
GVCNL là người đại diện cho HT truyền đạt những yêu cầu đối với HS bằng những phương pháp, thái độ nghiêm túc để mỗi HS và tập thể lớp ý thức được đầy đủ trách nhiệm phải tuân thủ và tự giác thực hiện. Người GVCNL còn là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của HS trong lớp học, bảo vệ HS một cách hợp pháp. Phản ánh kịp thời với HT, với các GV bộ môn, với gia đình HS, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường về nguyện vọng chính đáng của HS và tập thể lớp, để có biện pháp giải quyết phù hợp, kịp thời có hiệu quả GD.
Người GVCNL thực hiện chức năng quản lý khi là đại diện cho HT, Hội đồng nhà trường thực hiện các chủ trương, kế hoạch chung của trường, nhưng là người định hướng khi phải xác định tầm nhìn cho sự phát triển của HS trong lớp chủ nhiệm với tư cách là người đứng đầu một tập thể lớp. Có thể biểu diễn chức năng của GVCNL theo sơ đồ sau:
- Sơ đồ 1.1: Chức năng của GVCNL
1.3.3. Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở
Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THCS ngoài những nhiệm vụ theo quy định của GV theo Thông tư 12/2019/TT-BGDĐT [7] về việc ban hành điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường Phổ thông có nhiều cấp học [6] còn có một số nhiệm vụ sau:
Xây dựng kế hoạch các hoạt động GD thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp GD bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm HS, với hoàn cảnh điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng HS.
Thực hiện các hoạt động GD theo kế hoạch đã xây dựng. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Phối hợp chặt chẽ với gia đình HS, với GV bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát học tập, rèn luyện hướng nghiệp của HS lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường.
Nhận xét, đánh giá và xếp loại HS cuối kỳ và cuối năm học; đề nghị khen thưởng và kỷ luật HS; đề nghị danh sách HS được lên lớp thẳng, kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ HS. Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với HT.
1.3.4. Nội dung công tác chủ nhiệm lớp
- Tìm hiểu học sinh lớp chủ nhiệm
Nhà GD U.D Usinxki người Nga “Muốn GD con người mọi mặt thì phải hiểu con người mọi mặt” . Điều đó có nghĩa rằng, muốn tác động đến người học có hiệu quả, nhất định phải hiểu được tâm lý người học, do đó những tri thức cơ bản về đặc điểm phát triển tâm lý HS là thực sự cần thiết đối với tất cả các nhà GD, từ nhà quản lý đến người xây dựng chương trình, người trực tiếp giảng dạy, GD HS. Hiểu đối tượng GD còn là điều kiện cần trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp thuận lợi giữa GVCN và HS, vừa là tiền đề cho việc hình thành tình cảm thầy và trò thông hiểu, gắn bó. Theo tác giả Trần Thị Hương [18]
- Tìm hiểu đặc điểm lớp chủ nhiệm
Tìm hiểu nắm vững đặc điểm lớp chủ nhiệm giúp GVCN nắm vững tình hình mọi mặt của lớp, từ đó có những căn cứ khách quan để xây dựng kế hoạch lớp chủ nhiệm với những mục tiêu, nội dung và giải pháp phù hợp nhất.
Tìm hiểu đặc điểm lớp chủ nhiệm gồm: tìm hiểu về số lượng, giới tính, độ tuổi, trình độ phát triển, truyền thống tập thể, bầu không khí, các mối quan hệ trong tập thể, sự phân hóa các nhóm tự phát, các thủ lĩnh tự phát, một số hoạt động phong trào, truyền thống của tập thể, mặt mạnh, mặt yếu…
- Tìm hiểu cá nhân HS Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Tìm hiểu đặc điểm thể chất HS: đặc điểm thể chất của HS bao gồm thể trạng, thể lực, sinh lý lứa tuổi, sức khỏe… Nắm vững đặc điểm này GVCN sẽ cùng cả lớp giúp HS giữ gìn sức khỏe, phát huy thể lực nếu có, đồng thời quan tâm, giúp đỡ HS có vấn đề sức khỏe, thể trạng không bình thường trong phân công công việc, bố trí chỗ ngồi…
Tìm hiểu đặc điểm tâm lý của HS: GVCN cần nghiên cứu để hiểu HS về các đặc điểm tâm lý nổi bật như năng lực nhận thức, tư duy, khả năng chú ý, quan sát, xu hướng cá nhân, sở thích, nguyện vọng, động cơ học tập, năng lực hoạt động, kiểu khí chất, tính cách và đặc biệt thói quen hành vi của HS.
Tìm hiểu các mối quan hệ xã hội của HS: GVCN cần quan tâm tìm hiểu các mối quan hệ của HS, nhất là mối quan hệ gia đình, bạn bè, thầy cô và những người xung quanh… Tất cả các mối quan hệ trên đều có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của HS.
Tìm hiểu quan hệ bạn bè của HS đặc biệt là quan hệ trong nhóm bạn thân giúp GVCN có được những thông tin quan trọng, cần thiết trong công tác GD HS. Trong nhiều trường hợp, đây là nguồn khai thác thông tin chính xác, hiệu quả mà các nguồn thông tin khác không có được nhất là đối với đối tượng HS THCS.
Ngoài ra GVCN có thể tìm hiểu thêm quan hệ, cách ứng xử của HS với thầy cô giáo, bạn bè trong lớp, trường, cha, mẹ, anh, chị, em, hàng xóm nơi các em sinh sống…
Tìm hiểu HS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác chủ nhiệm. Từ việc tìm hiểu, nắm vững đặc điểm trên giúp GVCN lựa chọn các biện pháp tác động phù hợp đối với từng HS nhằm xây dựng cho các em có tâm hồn trong sáng, phong phú, có năng lực và sức khỏe dồi dào đáp ứng yếu cầu xã hội ngày càng hiện đại, văn minh.
- Lập kế hoạch công tác chủ nhiệm Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Kế hoạch công tác của GVCN là chương trình hành động thực thi của một lớp trong một giai đoạn cụ thể, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu GD HS lớp chủ nhiệm. Kế hoạch chủ nhiệm là kết quả sáng tạo của GVCN, phản ánh năng lực thiết kế, năng lực dự đoán, tìm hiểu, nắm bắt và xử lý thông tin của GVCNL. Kế hoạch chủ nhiệm càng khoa học thì khả năng thực hiện càng cao và vì vậy mà bản kế hoạch có khả năng quyết định to lớn đối với hiệu quả công tác của GVCN. Kế hoạch có ý nghĩa lớn trong công tác chủ nhiệm.
- Vạch ra hướng phát triển đi lên của tập thể
- Làm cho các hoạt động được thực hiện theo một chương trình, kế hoạch cụ thể, thống nhất, dự kiến các tình huống có thể xãy ra.
- Tạo cho GVCN và HS chủ động, tự tin trong hoạt động, tiết kiệm thời gian, công sức mà đạt hiệu quả cao.
- Tạo được sự thống nhất và huy động được các lực lượng
- Hiệu quả GD HS phụ thuộc phần lớn vào tính khoa học của kế hoạch GD HS lớp chủ nhiệm.
- Xây dựng và giáo dục tập thể học sinh lớp chủ nhiệm
Muốn tổ chức tốt công tác GD HS, GVCN phải chăm lo tổ chức, xây dựng tập thể lớp học thành một tập thể đoàn kết, biết tự quản lý công việc của tập thể lớp. Bởi tập thể lớp chính là môi trường, là phương tiện trực tiếp tác động tới sự phát triển nhân cách nói chung và tài năng nói riêng. Nhà sư phạm lỗi lạc A.X Macarenco cho rằng “ Tập thể là một cơ thể xã hội sinh động và thể hiện sức mạnh tổng hợp các thành viên của nó. Sức mạnh của các thành viên một khi đã được liên kết một cách có mục đích, có tổ chức sẽ tạo ra sức mạnh chung của tập thể mạnh gấp nhiều lần tổng số sức mạnh của từng thành viên”.
Trong trường phổ thông, tập thể HS chính là môi trường tâm lý – xã hội trực tiếp ảnh hưởng đến HS. Mọi tác động tốt hay xấu, xuất phát từ môi trường xã hội hoặc từ tác động của nhà trường hay GV đều ảnh hưởng đến HS thông qua tập thể của họ. Đặc biệt lứa tuổi HS THCS các đặc điểm tâm lý nổi bật và đặc trưng của độ tuổi, nhu cầu tự khẳng định, nhu cầu giao lưu chịu sự chi phối mạnh mẽ từ tập thể HS tham gia. Vì vậy GVCN cần phải xây dựng tập thể lớp chủ nhiệm thành tập thể lớp theo hướng tự quản tích cực phát huy được tiềm năng, tạo môi trường phù hợp nhất để phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của mình.
- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện
- Giáo dục thế giới quan khoa học và phẩm chất đạo đức cho học sinh
Trong quá trình GD, công tác lớn được đặt ra đó là GD cho HS cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức theo mục tiêu GD đã đề ra. Cụ thể, phải hình thành ở HS niềm tin đạo đức, ý thức chấp hành luật pháp, động cơ học tập tích cực, thái độ ứng xử đúng đắn, hệ thống xu hướng và tính cách tốt đẹp… Kết quả GD cần đạt được là HS tự giác biến những yêu cầu của xã hội thành hành vi thói quen tương ứng. Vì vậy, việc rèn hành vi và đặc biệt rèn thói quen đạo đức cho HS là không thể thiếu trong công tác GD HS mà GVCN chính là người trực tiếp chịu trách nhiệm trước nhà trường.
- Tổ chức các hoạt động học tập Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Tổ chức có kế hoạch hoạt động học tập cho HS nhằm nâng cao kết quả học tập là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của GVCN. Kết quả hoạt động học tập không những thể hiện kết quả nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn thể hiện ở kết quả phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, năng lực tư duy sáng tạo ở HS. Để nâng cao kết quả hoạt động học tập của HS.
- Tổ chức các hoạt động GD lao động và hướng nghiệp
Căn cứ vào kế hoạch chung của nhà trường và dựa vào tình hình cụ thể lớp học, GVCNL cần xây dựng kế hoạch lao động cụ thể để GD HS. Cần quan tâm thường xuyên và toàn diện các loại hình lao động như; vệ sinh trường lớp, tạo cảnh quan môi trường xung quanh,… Điều quan trọng là phải tổ chức các hoạt động này một cách có hệ thống, vừa sức với HS, đảm bảo vừa có hiệu quả kinh tế vừa có hiệu quả GD cao. Bên cạnh hoạt động GD lao động, hoạt động GD hướng nghiệp cho HS THCS càng trở nên cấp thiết, bước đầu giúp HS hiểu rõ nhu cầu nghề nghiệp của xã hội nói chung và của địa phương nói riêng, từ đó giúp các em xác định rõ các tiêu chí lựa chọn nghề nghiệp tương lai phù hợp với sở thích, khả năng của bản thân và đáp ứng yêu cầu của xã hội.
- Tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí
Bên cạnh hoạt động học tập, GVCN còn phải quan tâm tổ chức cho HS vui chơi, giải trí, rèn luyện thể lực, bảo vệ sức khỏe nhằm giúp HS mở mang trí tuệ, phát triển thể chất, nhằm đảm bảo thực hiện yêu cầu phát triển toàn diện cho HS, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để học tập, rèn luyện, tu dưỡng. Thông qua các hoạt động này GVCN cần quan tâm GD HS ý thức giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ sức khỏe, phòng chống bệnh tật, nhất là các bệnh học đường, thảm họa AIDS, tích cực bảo vệ môi trường xung quanh… Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
- Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
- Phối hợp với các lực lượng GD trong nhà trường
Phối hợp với các tổ chức Đoàn TNCS, Đội TNTP thực hiện mục tiêu GD.
Phối hợp với các GVBM thực hiện việc liên kết với gia đình HS đặc biệt đối với HS gặp khó khăn trong học tập. GVBM cũng chính là kênh thông tin quan trọng mà GVCN phải tham khảo khi đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của HS.
Phối hợp với BGH và các lực lượng GD khác trong nhà trường để GD HS. GVCN cần phản ánh nguyện vọng của HS, đề xuất những yêu cầu và đề nghị các lực lượng này cùng phối hợp tác động tới HS, hỗ trợ các hoạt động của lớp khi cần thiết.
- Phối hợp các lực lượng ngoài nhà trường
Phối hợp với gia đình HS: Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ. Ảnh hưởng GD gia đình, trước hết là ảnh hưởng của cha mẹ, có ảnh hưởng sâu sắc đến trẻ với tư cách là nơi đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Tác động của gia đình không chỉ là tác động đầu tiên mà còn là một trong những tác động trực tiếp, thường xuyên, liên tục và mạnh mẽ nhất. Vì vậy gia đình đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong sự nghiệp GD thế hệ trẻ.
Phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể xã hội: thực chất đây là sự phối hợp giữa nhà trường với xã hội nhằm thống nhất các lực lượng xã hội và thực hiện xã hội hóa GD.
- Tư vấn tâm lý cho học sinh
Tư vấn tâm lý là những tác động định hướng của GVCNL nhằm giúp đỡ HS nhận ra những trở ngại tâm lý của bản thân, từ đó giúp HS tăng cường khả năng lựa chọn và đưa ra qyết định của HS hướng tới giải quyết vấn đề một cách phù hợp. Tư vấn tâm lý là công việc không đơn giản, đòi hỏi tính nghề nghiệp, khoa học và nghệ thuật. Hiện nay tư vấn tâm lý đang trở thành một nhu cầu cấp thiết trong tình hình HS phổ thông, nhất là HS THCS đã và đang gặp quá nhiều những khó khăn tâm lý, ảnh hưởng nặng nề đến kết quả học tập và sự phát triển nhân cách nói chung.
- Đánh giá kết quả toàn diện của học sinh
- Đánh giá kết quả GD toàn diện của HS là một trong những nội dung quan trọng của công tác chủ nhiệm.
- Phản ánh kết quả GD toàn diện HS của GVCN và các lực lượng GD.
- Giúp cho việc sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại (khen thưởng, trách phạt, kỷ luật, xét điều kiện lên lớp, lưu ban…)
- Giúp cho nhà trường, gia đình, xã hội có được những thông tin khách quan về kết quả GD HS để có sự điều chỉnh hợp lý hoạt động GD.
- Giúp HS có thông tin để tự đánh giá, tự điều chỉnh, từ đó thúc đẩy HS nỗ lực học tập, rèn luyện không ngừng tiến bộ.
- Đánh giá kết quả GD toàn diện HS tập trung vào 2 mặt chủ yếu: hạnh kiểm và học lực. Đánh giá phải dựa trên cơ sở khách quan, chính xác, công bằng, công khai.
- Nội dung của công tác chủ nhiệm lớp được thể hiện trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2. Nội dung công tác chủ nhiệm lớp
1.4. Lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
1.4.1. Quản lý việc xây dựng kế hoạch
Theo tác giả Hà Nhật Thăng [31]. “Kế hoạch nhà trường có đặc thù quan trọng là tính liên tục, thể hiện một hệ thống liên tục các mục tiêu liên quan chặt chẽ với nhau, năm học trước làm cơ sở cho năm học sau, hoạt động trước làm cơ sở cho hoạt động sau… Vì vậy kế hoạch nhà trường là tập hợp các mục tiêu có quan hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất bởi mục tiêu chung và hệ thống những biện pháp được xây dựng trước cho một giai đoạn nhất định, nhằm thực hiện nhiệm vụ GD đã xác định”. Kế hoạch còn là chương trình hành động tập thể sư phạm được xây dựng trên cơ sở những chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước về GD, được vận dụng và được thực hiện trong điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm nhà trường.
Quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm và kế hoạch tổ chức các hoạt động GD, hướng dẫn GVCNL xây dựng kế hoạch, phê duyệt kế hoạch, theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế.
Để đảm bảo có được kế hoạch hợp lý, khả thi, khoa học, việc xây dựng kế hoạch cần căn cứ vào:
- Mục tiêu, chương trình hành động chung của ngành và cấp học.
- Mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch GD nhà trường.
- Đặc điểm của lớp chủ nhiệm (bao gồm đặc điểm về truyền thống, tập thể, những mặt khó khăn và thuận lợi cơ bản, hoàn cảnh, điều kiện của số đông HS và gia đình HS…)
- Mục tiêu, kế hoạch công tác của các tổ chức đoàn thể trong trường học.
- Đặc điểm tình hình địa phương.
- Dự báo của GV chủ nhiệm về khả năng phát triển từng mặt của lớp.
- Kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện tính toàn diện, cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm của từng thời gian và từng mặt nội dung GD. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Tính toàn diện: là đề cập đến tất cả nội dung GD toàn diện cho HS, không xem nhẹ một nội dung GD nào.
Tính cụ thể: cụ thể từng hoạt động, yêu cầu, thời gian, nội dung công việc, biện pháp tiến hành, lực lượng tham gia, dự kiến kết quả.
Trọng tâm: tùy từng thời gian, từng lớp mà nhấn mạnh đến hoạt động trọng tâm cần thiết
1.4.2. Quản lý việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện nội dung công tác chủ nhiệm lớp
Quản lý việc tổ chức chỉ đạo thực hiện các nội dung công tác chủ nhiệm, HT cần phải xem xét việc thực hiện nhiệm vụ; tìm hiểu nắm vững đối tượng GD và môi trường GD, xây dựng tập thể vững mạnh, đoàn kết, thân ái; tổ chức thực hiện các nội dung GD toàn diện; phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường; đánh giá kết quả HS.
Đề ra quy chế hoạt động cho tổ chủ nhiệm và từng GVCNL.
Theo dõi nắm bắt tình hình và kịp thời xử lý (đôn đốc, uốn nắn) bằng cách đổi mới công tác thông tin:
- Kiểm tra thực tế hoạt động của
- Sử dụng các kênh thông tin như Website, Email, và các trang mạng xã hội…
- Quy định các mốc thời gian báo cáo (báo cáo định kỳ, báo cáo thường xuyên, báo cáo đột xuất )
Tạo điều kiện cho GVCN được rèn luyện về chuyên môn, nghiệp vụ, thông qua hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu, dự giờ sinh hoạt lớp, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức hội nghị chuyên đề GVCN giỏi…
Thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng động viên, nêu gương GV làm tốt CTCN, đồng thời nhắc nhở, phê bình, hướng dẫn cách khắc phục những trường hợp còn hạn chế về CTCNL.
Đánh giá đúng thành tích đạt được của GVCN, chú ý thành tích đạt được của HS và hiệu quả giáo dục của GVCN.
1.4.3. Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Trong nhà trường HT là người có quyền quyết định cao nhất, là người chỉ đạo thực hiện đồng bộ tất cả các nội dung, định hướng phát triển cho nhà trường, với phương châm GD HS phát triển toàn diện. HT không chỉ quan tâm đến chất lượng học tập mà còn quan tâm đặc biệt đến công tác GD HS. Nói đến công tác GD HS là nói đến đội ngũ GVCNL và công tác quản lý đội ngũ GVCNL của HT nhà trường.
Quản lý đội ngũ GVCNL là quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng, phân tích nhu cầu số lượng, cơ cấu trình độ đào tạo, và năng lực sư phạm, năng lực chủ nhiệm của đội ngũ để đáp ứng kế hoạch phát triển GD. Đội ngũ GVCNL luôn có sự bổ sung thay đổi cho nên cần kịp thời nắm được sự biến động; quản lý đội ngũ GVCNL là việc thường xuyên, kịp thời, luôn bám sát yêu cầu mục tiêu GD của ngành, của địa phương.
Quản lý đội ngũ là phải nắm chắc từng GVCNL về phẩm chất, năng lực công tác nhằm mục đích sử dụng đúng người, có kế hoạch bồi dưỡng phát triển đội ngũ đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường. Khơi dậy lòng bao dung, tinh thần nhiệt tình, trách nhiệm của GVCN.
Quản lý đội ngũ GVCNL gồm: quản lý kế hoạch phát triển đội ngũ GVCNL, kế hoạch GVCNL, phân công, bố trí GVCNL, chỉ đạo, kiểm tra- đánh giá GVCNL thực hiện kế hoạch.
1.4.4. Quản lý các hoạt động của giáo viên chủ nhiệm lớp
Quản lý việc tổ chức thực hiện các nội dung kế hoạch: HT hướng dẫn GVCN lập kế hoạch trên cơ sở kế hoạch chung của nhà trường, phê duyệt kế hoạch, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đã xây dựng, phải bám sát xem trong quá trình thực hiện GV và HS, phát hiện những bất cập ghi chép điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế của lớp học và những năm tiếp theo.
Tìm hiểu nắm vững đối tượng GD và môi trường GD: HT là người hướng dẫn, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu, nắm vững đối tượng GD, môi trường GD và kiểm tra kết quả thực hiện.
Tổ chức đội ngũ lớp học: HT là người định hướng xây dựng tập thể lớp học vững mạnh, đoàn kết, thân ái, với mục tiêu, biện pháp phù hợp, và kiểm tra đôn đốc thường xuyên. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
Tổ chức thực hiện các nội dung GD toàn diện: HT là người hướng dẫn xây dựng các nội dung GD, kiểm tra thường xuyên các nội dung, cách thức thực hiện, hiệu quả thực hiện, kịp thời điều chỉnh các nội dung phù hợp với tình hình thực tế nhà trường.
Phối hợp các lực lượng GD: HT hướng dẫn, phổ biến các văn bản phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường, tạo điều kiện giúp đỡ GVCNL thực hiện tốt công tác phối hợp với các lực lượng GD và đồng thời giám sát GVCNL thực hiện công tác phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm mục đích GD HS.
Đánh giá xếp loại HS: HT là người hướng dẫn, tập huấn các văn bản đánh giá xếp loại HS, đồng thời tổ chức đánh giá, phê duyệt kết quả đánh giá HS của GVCNL.
Quản lý hồ sơ HS: HT là người hướng dẫn GVCNL cập nhật, đánh giá hồ sơ HS, và phê duyệt, kiểm tra, đánh giá hồ sơ HS.
Căn cứ vào nhiệm vụ năm học và kế hoạch năm học của nhà trường, HT đề ra những mốc thời gian cụ thể để hoàn thành công việc, tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện công việc của GVCNL theo tuần, tháng, học kỳ, năm học.
1.4.5. Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện công tác chủ nhiệm
Chất lượng văn hóa được thể hiện khá cụ thể rõ ràng, song chất lượng đạo đức khó định lượng, khó đánh giá. Đánh giá kết quả thực hiện công tác chủ nhiệm là đánh giá các mặt GD của GVCNL, vì mục tiêu không chỉ là đánh giá nhận thức HS mà bên cạnh đó cần phải đánh giá các hành vi của HS thông qua cách ứng xử, hành động của HS. Do vậy HT cần phải lựa chọn hình thức đánh giá, quy trình đánh giá khoa học phù hợp với từng hoạt động GD.
Các loại hình đánh giá: đánh giá sơ bộ, đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ, đánh giá cuối năm học.
Nội dung đánh giá:
- Đánh giá việc xây dựng kế hoạch của
- Đánh giá việc thực hiện kế hoạch của
- Đánh giá hoạt động GD các lớp và kết quả
- Đánh giá phẩm chất, năng lực
Hiệu trưởng cần phải xây dựng tiêu chuẩn và thang đánh giá đảm bảo tính khách quan thống nhất toàn trường.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
1.5.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chủ nhiệm
- Yếu tố khách quan
Đặc điểm tâm sinh lý học sinh:Lứa tuổi HS THCS bao gồm những trẻ độ tuổi từ 12 đến 15 đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9. Đây là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em lên người lớn với những biến đổi sinh lí lớn nhất trong cuộc đời của mỗi con người, từ đó kéo theo những thay đổi trong sự phát triển tâm lí, đây là giai đoạn trẻ bước vào lứa tuổi dậy thì, lứa tuổi này được đặc trưng bởi tính chất đối lập, mâu thuẫn của các yếu tố phát triển, mâu thuẫn giữa thái độ đối với bản thân, thái độ đối với người lớn, và với bạn bè. Chính những yếu tố trên là một trong những rào cản trong công tác chủ nhiệm.
Phụ huynh học sinh:Hoàn cảnh gia đình đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan niệm, nhận thức, thái độ và hành động của phụ huynh HS nói riêng và của người dân nói riêng. Cách nhìn về GD, về người GV, trong đó có người GVCNL bị thiên lệch và thực dụng.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan
Hoàn cảnh bản thân giáo viên chủ nhiệm lớp:Bản thân người GVCNL phải lo toan cuộc sống đời thường trong gia đình, với những bộn bề của cuộc sống, đòi hỏi người GVCNL phải gắng sức làm việc, để đảm bảo cuộc sống gia đình, bên cạnh đó vẫn còn một số GV hạn chế về năng lực, trách nhiệm trong công tác. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến CTCN.
1.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác chủ nhiệm Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
- Yếu tố khách quan
Môi trường kinh tế, xã hội, gia đình:Nước ta đang chuyển mình hòa nhập vào nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước. Bên cạnh những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường đem lại, không tránh khỏi những mặt tiêu cực đang hằng ngày, hàng giờ len lỏi vào đời sống của thế hệ trẻ, ngoài môi trường kinh tế xã hội, môi trường sống gia đình cũng là một trong những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng không ít đến công tác GD của nhà trường và ít nhiều làm cho công tác chủ nhiệm gặp nhiều khó khăn.
Cơ chế chính sách:GVCNL phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách nhưng họ vẫn chưa được quan tâm, bồi dưỡng những năng lực cần thiết của người GVCNL, cũng như chế độ chính sách của họ chưa thỏa đáng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến CTCNL.
- Yếu tố chủ quan
Đội ngũ giáo viên nhà trường:Đội ngũ GVCNL là đội ngũ do HT lựa chọn, đề cử từ những GV có uy tín trong hội đồng nhà trường và được được đào tạo chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ và được trang bị kiến thức về tâm lí lứa tuổi đủ để thực hiện giảng dạy và làm CTCNL. Tuy nhiên về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV không đồng nhất, về ý thức trách nhiệm, sự nhiệt tình ở một số GV chưa cao. Vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu công tác chủ nhiệm. Điều đó phần nào ảnh hưởng đến CTCNL.
Đa số các trường THCS đều đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nhưng vẫn còn chênh lệch về kinh nghiệm đặc biệt là trong CTCNL. Bên cạnh đó nề nếp nhà trường và hình thức GD nhà trường. Đây là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác GD HS trong nhà trường.
Nhận thức của cán bộ và giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp:Người HT được trang bị đầy đủ, đúng đắn, khoa học về tất cả lĩnh vực thì họ mới có thể lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch trong quản lý công tác chủ nhiệm khoa học và hợp lý. Hiệu trưởng là người ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý công tác chủ nhiệm, người HT có uy tín với đồng nghiệp, HS, phụ huynh HS và quan hệ tốt với chính quyền địa phương thì công tác quản lý sẽ có nhiều thuận lợi.
Nhận thức của GV về công tác chủ nhiệm là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn trong công tác chủ nhiệm.
Tiểu kết chương I
Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, đòi hỏi người quản lý phải nắm vững những vấn đề cơ bản về khoa học quản lý nói chung và quản lý GD nói riêng, HT phải nắm vững các nội dung, nguyên tắc quản lý nhà trường, trong đó có nhiệm quản lý CTCNL. Không nắm vững những nội hàm của khái niệm, những nội dung cơ bản của nhiệm vụ quản lý CTCNL ở trường THCS, không thể thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; thậm chí đi chệch hướng mục tiêu quản lý, ảnh hưởng đến chất lượng GD toàn diện ở trường THCS.
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận, đề tài đã hệ thống hóa một số nội dung cơ bản của các vấn đề quản lý, CTCNL, quản lý CTCNL, các yếu tố ảnh hưởng đến CTCNL. Đây là cơ sở cho việc định hướng nghiên cứu thực trạng quản lý CTCNL và trên cơ sở đó đề ra những biện pháp quản lý CTCNL trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương sẽ được trình bày trong chương 2 và chương 3 của luận văn. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của các trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL công tác chủ nhiệm lớp các trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

