Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng quan tâm, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2019 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định: “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức kĩ năng vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2020 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã xác định mục tiêu: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Xây dựng văn hóa luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với bất kì quốc gia nào. Văn hóa là một trong bốn trụ cột phát triển của một quốc gia (chính trị, kinh tế, văn hóa và môi trường). Văn hóa giúp cho một quốc gia phát triển có hiệu quả và bền vững. Đối với một nhà trường cũng vậy, văn hóa của nhà trường là sự tổng hòa toàn bộ sự phát triển của nhà trường từ hoạt động đào tạo, giáo dục, quản lí nhân lực, người học, cơ sở vật chất, giáo tiếp và ứng xử trong nhà trường…. Xây dựng văn hóa của nhà trường là xây dựng hoạt động giảng dạy, giáo dục nhân cách người học phù hợp, hiệu quả; xây dựng cách thức ứng xử văn minh, lịch sự, thân thiện trong nhà trường; xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường hiện đại, tiện dụng, đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm, không gian và cảnh quan sạch đẹp. Một nhà trường có môi trường văn hóa tốt là một nhà trường đào tạo có chất lượng cao, có sự phát triển bền vững, có uy tín trong cộng đồng và toàn xã hội.

Về góc độ tổ chức, văn hóa nhà trường được coi như một mẫu thức cơ bản, tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho nhà trường thích nghi với môi trường bên ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong. Một tổ chức có nền văn hóa mạnh sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội. Văn hóa nhà trường sẽ giúp cho nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần quan trọng tạo nên sản phẩm giáo dục toàn diện.

Văn hóa nhà trường tích cực, không chỉ khuyến khích được mối quan hệ hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau giữa giáo viên và giáo viên, tạo bầu không khí cởi mở tin cậy thúc đẩy giáo viên quan tâm đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy mà còn tạo ra môi trường giáo dục có lợi nhất cho người học, khiến học sinh cảm thấy thoải mái, vui vẻ, ham học; người học thấy rõ trách nhiệm của mình, tích cực khám phá, liên tục trải nghiệm và tích cực tương tác với giáo viên và bạn bè. Hơn thế nữa, văn hóa nhà trường tích cực sẽ bồi dưỡng tình yêu và sự tâm huyết với nghề của đội ngũ nhà giáo và tạo ra môi trường thân thiện cho người học với mối quan hệ ứng xử tôn trọng, hiểu biết, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò, người học cảm nhận được ở nhà trường một cảm giác an toàn, một bầu không khí cởi mở góp phần cải thiện chất lượng giáo dục trong nhà trường đặc biệt là phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Như vậy, văn hóa nhà trường có tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dục trong nhà trường. Xây dựng văn hóa nhà trường tích cực là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Trong thực tế, văn hóa nhà trường chứa đựng những yếu tố tích cực cũng không ít những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục. Trong khi đó, vấn đề xây dựng văn hóa nhà trường tích cực là một trong những nhu cầu tất yếu, một trong những biện pháp quan trọng, hiệu quả để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trọng tâm của ngành.

Ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, trong nhiều năm qua các trường THCS luôn ý thức và phấn đấu không ngừng cho mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, từng bước hướng tới sự phát triển bền vững. Bên cạnh những tác động tích cực, thì những yếu tố tiêu cực từ môi trường văn hóa nhà trường tự phát đang hàng ngày, hàng giờ tác động sâu sắc đến quá trình giáo dục trong nhà trường, đến các thầy cô và cả các em học sinh của nhà trường. Thế nhưng vấn đề nhận diện và tìm kiếm các giải pháp quản lí sự hình thành và phát triển văn hóa nhà trường hiện nay vấn chưa được quan tâm đúng mức, công tác quản lí văn hóa nhà trường chưa được xem xét một cách bài bản, hệ thống.

Với tư cách là cán bộ quản lí, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề quản lí văn hóa nhà trường trong bối cảnh hiện nay và sự cần thiết phải xây dựng và phát triển một môi trường văn hóa nhà trường lành mạnh, tích cực, nâng cao uy tín, thương hiệu của nhà trường, tạo động lực cho sự phát triển bền vững.

Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài “Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình để từ đó đề ra các biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường nhằm hướng tới mục tiêu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở trường các THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

4. Giả thuyết khoa học

Văn hóa nhà trường ảnh hưởng rất lớn tới hình ảnh, thương hiệu, chất lượng giáo dục và hiệu quả hoạt động của nhà trường, là sức mạnh cho sự phát triển ổn định và bền vững. Tuy nhiên xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình vẫn còn một số điểm hạn chế nhất định nên chưa đáp ứng tốt được những yêu cầu của đổi mới giáo dục. Chính vì thế đề xuất được những biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường phù hợp thì sẽ khắc phục được những tồn tại và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các nhà trường THCS trên địa bàn huyện Kim Sơn.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

  • Hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
  • Đề xuất biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

  • Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: 03/27 tại huyện Kim Sơn, gồm có các trường THCS Đồng Hướng, THCS Bình Minh, THCS Kim Trung.
  • Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Khảo sát ở các trường được thực hiện từ tháng 9 năm 2025 đến tháng 4 năm 2026.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề lý luận trong các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài. Các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của ngành Giáo dục, sách, báo tạp chí… có liên quan đến vấn đề lý thuyết về xây dựng văn hóa nhà trường để làm cơ sở lý luận cho đề tài.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Tác giả sử dụng các bộ phiếu điều tra bằng bảng câu hỏi cho các nhóm đối tượng: Cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, nhân viên và học sinh.

  • Phương pháp quan sát

Phương pháp này nhằm ghi chép lại về không gian giáo dục trong nhà trường. Cùng với đó là những thái độ, hành vi giao tiếp, tác phong ứng xử, làm việc giữa cán bộ quản lý với giáo viên, giữa giáo viên với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

  • Phương pháp phỏng vấn

Thực hiện phỏng vấn sâu các cấp lãnh đạo trong nhà trường như Hiệu trưởng, thành viên trong Ban giám hiệu, các tổ trưởng chuyên môn, giáo viên phụ trách công tác Đội, Đoàn trong nhà trường.

Thực hiên phỏng vấn trên một số học sinh trong nhà trường để nhằm đưa ra một bức tranh cụ thể hơn về thực trạng văn hóa làm việc giữa nhà quản lý, nhân viên, giáo viên, học sinh.

7.3. Phương pháp toán thống kê toán học

  • Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu thập được từ phiếu khảo sát.

8. Dự kiến kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
  • Chương 3: Các biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Ở nước ngoài, khái niệm “Văn hóa tổ chức” xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 và chính thức trở thành khái niệm trong Khoa học tổ chức- Quản lý, xuất hiện ở Âu Mỹ từ những năm 80 của thế kỷ XX, hiện nay là một khái niệm thịnh hành và phổ biến rộng rãi. Thuật ngữ tương đương “Văn hóa công ty” (corporate culture) xuất hiện muộn hơn, khoảng thập niên 1970 và trở nên hết sức phổ biến khi tác phẩm “Văn hóa công ty” của Terrence Deal và Atlan Kennedy được xuất bản tại Mỹ năm 1982 [29].

Thuật ngữ “Văn hóa nhà trường” là một khái niệm mới xuất hiện trong nhiều chục năm gần đây. Nội dung của “Văn hóa học đường” bao hàm nội dung của “Trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX [9]. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Nghiên cứu của GS. Peter Smith trường Đại học Sunderlands, Anh quốc đã khẳng định văn hóa nhà trường có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng cuộc sống và hiệu quả hoạt động của nhà trường.

Craig Jerald (2012) khẳng định Văn hóa nhà trường chính là “chương trình đào tạo ẩn”, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của học sinh trong nhà trường [1].

Ở Việt Nam, trong những năm qua, văn hóa nhà trường đã chịu những tác động rất lớn từ môi trường văn hoá – xã hội theo xu thế phát triển của kinh tế thị trường và toàn cầu hoá. Vấn đề quan hệ giữa văn hóa và giáo dục, vấn đề giáo dục giá trị để xây dựng văn hóa nhà trường đã được tác giả Phạm Minh Hạc nghiên cứu và làm rõ. Nhiều nghiên cứu khác đã làm rõ các biểu hiện của văn hóa nhà trường qua mối quan hệ, trang phục, ngôn ngữ giao tiếp, cư xử của học sinh với giáo viên, Hiệu trưởng với giáo viên và qua các hoạt động giáo dục của nhà trường như văn hóa dạy, văn hóa học, văn hóa đọc… Khi nghiên cứu văn hóa nhà trường, đã có tác giả chọn cách tiếp cận văn hóa tổ chức, trên cơ sở làm rõ khái niệm này, chỉ ra cấu trúc, biểu hiện của nó trong nhà trường đã coi văn hóa tổ chức là hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này cũng mới xuất hiện và chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều [23] [29].

Trong bối cảnh phát triển nhà trường nước ta hiện nay, văn hóa tổ chức của nhà trường cần được định hướng thế nào để thực sự phát huy ảnh hưởng tích cực của nó đến mọi thành viên trong tổ chức nhà trường – đặc biệt là thế hệ trẻ đang trưởng thành – là câu hỏi cần phải sớm được làm sáng tỏ trên những cách tiếp cận khoa học. Bởi lẽ, nhà trường là một tổ chức nên văn hóa nhà trường trước hết là văn hóa của một tổ chức hành chính – sư phạm.

Tuy nhiên cho đến nay, lại có rất ít tác giả quan tâm đi sâu vào nghiên cứu về lý luận một cách có hệ thống về hoạt động xây dựng văn hóa nhà trường. Một số luận văn thạc sĩ, bài báo, sách chuyên khảo, các chuyên đề…chủ yếu quan tâm đến hoạt động xây dựng văn hóa học nhà trường chung, văn hóa nhà trường ở trường nghề, văn hóa học đường ở các trường phổ thông, văn hóa học…có thể kể đến các tác giả sau:

Tác giả Đỗ Huy đã nghiên cứu về “ Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học”, trong đó có viết về môi trường gia đình và đưa ra các chuẩn mực cơ bản định hướng việc xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay.

Các tác giả Trần Thị Minh Hằng, Đỗ Tiến Sỹ, Lê Thị Loan, đã cùng xây dựng chuyên đề về VHNT: “Chuyên đề xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường” và được sử dụng trong chương trình đào tạo Thạc sĩ của Học viện quản lý giáo dục.

Tác giả Nguyễn Thị Hường cũng xây dựng: “Chuyên đề xây dựng văn hóa nhà trường” và được giảng dạy trong Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Tác giả Phạm Quang Huân có bài báo viết về: Văn hóa tổ chức- hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường được đăng trên Kỉ yếu Hội thảo văn hóa học đường, Viện NCSP, Trường ĐHSPHN năm 2013.

Học viện Quản lý giáo dục cũng có bài viết về xây dựng văn hóa nhà trường và được giảng trong chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông chương trình liên kết Việt Nam- Singapore, Hà Nội, 2014.

Nhìn chung những các đề tài khoa học ở trên đã đi vào nghiên cứu VH nói chung và VHNT nói riêng để thấy rõ đặc điểm và ảnh hưởng của công tác xây dựng VHNT đến chất lượng và hiệu quả giáo dục trong nhà trường. Tuy nhiên ở khía cạnh đưa ra những biện pháp cụ thể cho quá trình xây dựng VHNT tại các nhà trường Trung học cơ sở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình thì chưa được đề cập tới. Chính vì vậy Luận văn “Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” tập trung đi sâu vào vấn đề xây dựng VHNT tại các trường Trung học cơ sở trên cơ sở kế thừa và phát triển những kết quả nghiên cứu trên với hi vọng làm sáng tỏ biện pháp quản lý xây dựng VHNT của cán bộ quản lý nhà trường Trung học cơ sở có hiệu quả. Mặt khác đưa ra những biện pháp cụ thể để xây dựng VHNT góp phần xây dựng một môi trường tích cực cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong nhà trường.

1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

1.2.1. Quản lý, quản lý nhà trường

Quản lý là một trong vô số các hoạt động của con người, nhưng đó là một loại hình đặc biệt, là lao động siêu lao động, nghĩa là nó lấy các loại hình cụ thể làm đối tượng để tác động tới nhằm phối kết hợp chúng lại thành một hợp lực, từ đó tạo nên sức mạnh chung của một tổ chức. Vì vậy, quản lý vừa có những đặc điểm chung, có quan hệ hữu cơ với các hoạt động cụ thể khác, vừa có tính độc lập tương đối và mang những đặc trưng riêng của nó.

James Stoner và Stephen Robbins cho rằng: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [Dẫn theo 26]

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý… phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra” [1],[2].

Theo Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới đối tượng quản lý – trong tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [5].

Hiện nay đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất khái niệm sau: “Quản lý là quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường” [26].

Như vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý; công cụ, phương tiện quản lý; cách thức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình) và môi trường quản lý. Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý.

Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu. Đa phần các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (phổ thông, trung học chuyên nghiệp, phổ thông, đại học và sau đại học). Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống giáo dục từ Trung ương tới cơ sở. Theo đó quan niệm quản lý giáo dục (QLGD) luôn đi kèm với quan niệm quản lý nhà trường (QLNT). Các nội dung QLGD luôn gắn với QLNT. QLNT có thể được coi là sự cụ thể hóa công tác QLGD. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giao dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục. Mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thể hệ trẻ và với từng học sinh” [9].

Tóm lại, QLNT là quá trình tác động của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng tổ chuyên môn) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, học sinh, các quá trình dạy học và giáo dục) để đạt được mục tiêu giáo dục mà nhà trường đề ra. Trong nội dung quản lý nhà trường thì quản lý xây dựng văn hóa là một nội dung quan trọng.

1.2.2. Văn hóa, văn hóa nhà trường

Văn hóa là từ Việt gốc Hán. Theo Kinh Dịch và trong những tài liệu cổ xưa thì văn có nghĩa là “ vẻ đẹp”, hóa có nghĩa là “thay đổi, biến đổi”, “làm cho thay đổi, biến đổi”, “giáo hóa”, văn hóa hiểu theo nghĩa gốc là “làm cho trở nên đẹp đẽ, văn vẻ”. Bản thân văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Do đó, khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm về văn hóa, nhưng tựu chung lại, các nhà nghiên cứu đều có một nghĩa chung căn bản: VH là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn.

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra, nó vô cùng phong phú, đa dạng. Cho đến nay, nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho biết số lượng định nghĩa đã lên tới gần 400 định nghĩa. Đúng như một học giả Ba Lan đã nhận xét: khó mà hình dung được một khái niệm nào nhiều nghĩa hơn và rộng hơn là khái niệm văn hóa. Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do lao động của con người sáng tạo ra, được cộng đồng khẳng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người, từng xã hội. Nghị quyết Trung ương 5 – Khóa VIII, Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra, trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc [21] [1].

UNESCO định nghĩa, “Văn hóa là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống và nhận thức – một cách hữu thức cũng như vô thức – của các cá nhân và các cộng đồng. Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành trên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định hệ thống riêng của mỗi dân tộc…”; Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một thực thể chưa hoàn chỉnh đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình vượt trội lên bản thân”; “Văn hóa là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của xã hội thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm”.

Tựu chung lại thì có thể thấy điểm cốt lõi và phổ biến nhất khi đề cập tới khái niệm văn hóa đó là sự nhấn mạnh đến yếu tố con người, gắn với con người, thuộc con người và tất cả những sản phẩm của con người.

Từ điều đã khẳng định: nhà trường là một tổ chức, có thể suy ra rằng: văn hoá nhà trường là văn hoá của một tổ chức hành chính – sư phạm. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Văn hoá nhà trường – School Culture: “ Văn hoá tổ chức của một nhà trường là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm”.

Văn hóa nhà trường là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử… VHNT là những nét đặc trưng riêng biệt, tạo nên sự khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác và sự khác biệt giữa trường này với trường khác. VHNT liên quan tới toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một nhà trường. VHNT là những giá trị tốt đẹp được hình thành bởi một tập thể và được mỗi cá nhân trong nhà trường chấp nhận.

Các tác giả Urben G.C., Hugies L.W., Noris C.J. cho rằng VHNT gắn liền với chất lượng giáo dục “Một trường tốt có chuẩn chất lượng cao, có kỳ vọng cao đối với HS, có môi trường giảng dạy và học tập tốt, hay nói cách khác là có VHNT tốt”.

Joan Richardson định nghĩa “VHNT là sự tích lũy các giá trị và chuẩn mực của nhiều người. Đó là sự đồng thuận về những gì quan trọng. Đó là những kỳ vọng của tập thể chứ không phải những kỳ vọng của một cá nhân” [32].

Văn hoá nhà trường (VHNT) thể hiện ở mọi góc độ nhà trường, bao gồm từ phong cách ngôn ngữ của GV và HS, cách bài trí lớp học,…cũng như thái độ quan tâm của họ đối với những nội dung chương trình và phương pháp GD, đến những định hướng giá trị nhân cách của HS (và cả của GV) trước những thay đổi của cuộc sống XH hiện đại. VHNT lành mạnh sẽ giảm bớt được xung đột và tăng tính ổn định. Đúng như Donahoe (1997) chỉ ra rằng: “Nếu văn hoá thay đổi thì mọi thứ sẽ thay đổi” [1].

Như vậy, VHNT là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần tồn tại trong nhà trường làm cho nhà trường có những nét riêng biệt, khác biệt để phân biệt nhà trường này với nhà trường khác.

1.2.3. Xây dựng văn hóa nhà trường Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Theo từ điển Tiếng Việt thì xây dựng là gây dựng nên, làm nên hay tạo ra cái có giá trị tinh thần hay nội dung gì đó. Vậy khi nói tới khái niệm xây dựng văn hóa tức là gây dựng hay sáng tạo nên những giá trị mới về tinh thần và vật chất thuộc về văn hóa. Tuy nhiên văn hóa luôn tồn tại những giá trị được lưu truyền từ đời này qua đời khác ta gọi đó là giá trị văn hóa. Giá trị văn hóa luôn có ý nghĩa nhưng trong từng thời kỳ thì ý nghĩa của các giá trị văn hóa đó có phù hợp hay không mới là cái quan trọng. Nhà trường là môi trường thường có nhiều giá trị văn hóa tích cực hơn. Chính vì vậy, xây dựng văn hóa nhà trường được hiểu là quá trình kế thừa, xây dựng và phát triển những giá trị văn hóa đã tồn tại trong nhà trường. Đó là những giá trị thuộc về bề nổi và bề chìm của văn hóa nhà trường. Xây dựng văn hóa nhà trường không hoàn toàn ở việc tạo nên một giá trị văn hóa hoàn toàn mới. Xây dựng đồng nghĩa là kế thừa và phát triển những giá trị tích cực phù hợp với điều kiện hoàn cảnh từng nhà trường, đồng thời cũng loại bỏ đi những giá trị tiêu cực, không phù hợp hoặc cản trở sự phát triển của nhà trường.

1.2.4. Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường

Xây dựng VHNT là một nội dung của quản lý nhà trường mà mỗi cán bộ quản lý phải thực hiện. Quản lý nhà trường gắn với mục đích đạt được hiệu quả của từng hoạt động, vậy quản lý xây dựng VHNT cũng được hiểu một cách đơn giản là quản lý để đạt được hiệu quả trong xây dựng VHNT. Nhưng nhìn một cách biện chứng thì xây dựng VHNT lại có trong tất cả các hoạt động quản lý nhà trường. Vì vậy, quản lý xây dựng văn hóa ở nhà trường vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của mỗi nhà trường.

Từ đấy có thể hiểu rằng, quản lý xây dựng văn hóa nhà trường là quá trình tác động có ý thức, có định hướng lên tất cả các thành tố tham gia vào quá trình tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, nhằm đưa ra các hoạt động xây dựng VHNT cụ thể để đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.

Quản lý xây dựng VHNT gắn với điều kiện cụ thể của mỗi một nhà trường nhưng nhìn chung nó sẽ bao gồm các vấn đề lớn cần tập trung đó là xây dựng nền VH đạo đức xã hội chủ nghĩa trong trường học. Tích cực xây dựng môi trường học an toàn, thân thiện, cảnh quan hiện đại, mối quan hệ tốt đẹp, thương hiệu và giá trị đạo đức của nhà trường.

Theo cách tiếp cận chức năng quản lý thì quản lý VHNT là một quá trình bao gồm các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá và đảm bảo các điều kiện cần thiết để xây dựng VHNT đạt hiệu quả.

Vì thế, có thể nói quản lý xây dựng VHNT là một quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý nhà trường đến khách thể thuộc về yếu tố VHNT thông qua các biện pháp quản lý phù hợp nhằm đưa hoạt động xây dựng VHNT đạt được kết quả cao nhất, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục trong nhà trường.

1.3. Xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

1.3.1. Trường trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân

Theo Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học thì trường THCS có vị trí: “Là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng” [11].

Trường THCS là đơn vị chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của Phòng GD&ĐT, là cấp học tiếp nhận thành tựu của cấp tiểu học để thực hiện nhiệm vụ của chính mình đồng thời bước đầu xây dựng cho giáo dục THPT.

Mục tiêu giáo dục cấp THCS là nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

Theo Điều 3, Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học thì trường THCS có các nhiệm vụ sau:

Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.

  • Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
  • Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
  • Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
  • Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước.
  • Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội. Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
  • Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

1.3.2. Cấu trúc của văn hóa nhà trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Theo lý thuyết cơ bản về VHNT thì có hai quan điểm được nghiên cứu khi nhắc tới cấu trúc Văn hóa đó chính là mô hình tảng băng Văn hóa và mô hình Văn hóa ba tầng bậc.

  • Mô hình thứ nhất: Mô hình tảng băng (có phần nổi, phần chìm).

Mô hình tảng băng được Frank Gonzales đưa ra vào năm 1978. Theo đó, VHNT giống như một tảng băng có văn hóa thể hiện phần nổi và văn hóa thể hiện phần chìm. Văn hóa phần nổi là những thành tố có thể quan sát, nắm bắt hoặc thay đổi được. Phần văn hóa chìm là các giá trị, niềm tin, thái độ, các giá trị về tinh thần cái mà rất khó quan sát hay thay đổi được ta chỉ có thể cảm nhận và thấu hiểu khi tiếp cận với con người hoặc môi trường đó.

  • Hình 1.1. Văn hóa nhà trường theo Mô hình tảng băng

Mô hình thứ hai – Mô hình cấu trúc ba tầng bậc.

Mô hình văn hóa tổ chức Edgar H. Schien đưa ra và được áp dụng vào VHNT. Theo mô hình này VHNT có ba tầng bậc:

  • Tầng thứ nhất: Những yếu tố hữu hình – có thể quan sát được.
  • Tầng thứ hai: Những giá trị được thể hiện, bao gồm: niềm tin, thái độ, cách ứng xử.
  • Tầng thứ ba: Những giả thiết cơ bản – bao gồm: những yếu tố liên quan đến môi trường xung quanh, thực tế của tổ chức, hoạt động và mối quan hệ giữa con người trong tổ chức [11].

Vấn đề cấu trúc VHNT theo mô hình 3 tầng bậc cần phải có rất nhiều thời gian quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu thực tế trong nhà trường; và quy chiếu trong môi trường xung quanh cũng như từng thời điểm cụ thể… Trong điều kiện thực hiện luận văn, tác giả không thể nghiên cứu đến tầng thứ ba trong cấu trúc văn hóa nhà trường vì vậy đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu sử dụng mô hình tảng băng gồm hai phần cơ bản của VHNT để tiến hành nghiên cứu.

Qua nhiều cách tiếp cận nội hàm VHNT, các quan niệm khác nhau cho thấy các yếu tố cấu thành gồm có: Sứ mệnh, giá trị, các ngầm định nền tảng, sự kỳ vọng (trông đợi), chuẩn mực hành vi, các mối quan hệ, phong cách làm việc, cảnh quan sư phạm, phong cách lãnh đạo và truyền thông của nhà trường… Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

  • Sứ mệnh của nhà trường

Sứ mệnh của nhà trường gắn với mục đích tồn tại của nhà trường – liên quan đến các câu hỏi: Nhà trường tồn tại để làm gì? Giải quyết vấn đề gì? Thiếu nó sẽ ra sao?…

Ý thức về sứ mệnh của nhà trường là một hợp phần quan trọng trong VHNT. Nó sẽ phản ánh mối quan hệ của nhà trường với cộng đồng và những gì nhà trường đề cao. Mục đích của nhà trường được thể hiện thành sứ mệnh (do tự nhận thức), chức năng, nhiệm vụ (do được trao cho). Sứ mệnh, mục đích lại được cụ thể hóa ở các chiến lược, mục tiêu, kế hoạch hoạt động được cụ thể hóa ở dạng văn bản.

  • Giá trị

Giá trị là những thứ con người mang theo và coi trọng những gì được thừa nhận là tích cực, tốt đẹp, thậm chí là hoàn hảo, được coi như là thước đo đúng và sai, xác định những gì nên làm và không nên làm trong cách hành xử chung và riêng của con người trong một tổ chức. Có nhà trường đề cao các giá trị nhân văn, tình yêu thương giữa những con người trong tập thể. Có nhà trường đề cao tính cộng đồng trách nhiệm và sự sáng tạo trong công việc. Lại có nhà trường đề cao các giá trị như sự trung thực, tính thực chất hoặc khả năng đổi mới thường xuyên để nâng cao chất lượng các hoạt động dạy học, giáo dục… Tuy nhiên, hệ giá trị phổ quát được chấp nhận là trên nền tảng các giá trị cơ bản: chân – thiện – mỹ. Giá trị không hình thành tức thì mà được thử thách, sàng lọc và khi đã hình thành thì nó có tác dụng lâu bền, được lưu truyền giữa các thế hệ.

Giá trị trong tổ chức nhà trường được phân chia thành 2 loại. Loại thứ nhất là các giá trị mà nhà trường đã hình thành và vun đắp trong cả quá trình xây dựng và trưởng thành. Loại thứ hai là những giá trị mới mà CBQL hoặc tập thể GV, HS mong muốn nhà trường mình có và tạo lập từng bước nhằm đem đến sự phát triển mới phù hợp với yêu cầu của xã hội.

  • Các ngầm định nền tảng

Các ngầm định nền tảng bao gồm niềm tin, niềm tự hào, những suy nghĩ và trạng thái xúc cảm tình cảm đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi cá nhân và tạo thành nét chung trong tập thể nhà trường. Những ngầm định khó thấy này được coi là những quy ước bất thành văn, có tính đương nhiên và tạo nên một mạch ngầm tinh thần kết nối các thành viên trong nhà trường và làm nền tảng cho các giá trị suy nghĩ, hành động của các thành viên trong nhà trường. Niềm tin, do vậy, là “một sự hỗn hợp độc đáo giữa các thành phần nhận thức, cảm xúc, ý chí, nó có sức mạnh như một sự tất yếu bên trong quy định hành vi cá nhân”. Chính vì vậy, có thể nói là bản chất của xây dựng VHNT là định hướng tư duy. Tiến trình, nỗ lực xây dựng và thay đổi VHNT là quá trình để người ta tin rằng nên tư duy thế nào là đúng, là tốt…, rồi trên cơ sở niềm tin đó, người ta sẽ hành động tương ứng.

  • Sự kỳ vọng (trông đợi) Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Sự kỳ vọng hay trông đợi mà các cá nhân có bao gồm kỳ vọng vào bản thân (khi bước vào môi trường tổ chức), vào người khác (nhất là các nhà quản lý), vào tổ chức với tư cách tổng thể. Trong đó, có sự hòa trộn giữa trông đợi cho lợi ích của cá nhân và trông đợi cho lợi ích tổ chức. Khi VHNT lành mạnh và tích cực, các trông đợi lợi ích của cá nhân chỉ là một phần nhỏ, phụ thuộc vào và thậm chí phải hy sinh cho lợi ích của nhà trường. Khi VHNT yếu và tiêu cực, điều đó sẽ ngược lại. Nhiều cá nhân sẽ nhìn nhận tổ chức như một mảnh đất mỡ màu có thể được tận dụng để gặt hái cho lợi ích cá nhân.

  • Các chuẩn mực hành vi

Chuẩn mực hành vi, trên thực tế là sự cụ thể hóa của giá trị, niềm tin và trông đợi của các thành viên trong tổ chức, “là cách thức con người ứng xử trong một xã hội nhất định” (Phạm Thành Nghị, 2015).

Trong các chuẩn mực, có chuẩn mực về hình thức và chuẩn mực về nội dung. Các chuẩn mực về hình thức, hữu hình, dễ hoặc có thể nhìn thấy bằng mắt thường gồm biểu tượng (logo), khẩu hiệu, phương châm hành động, trang phục của các thành viên và kiến trúc, cách bày trí nơi làm việc. Chuẩn mực về nội dung chính là những quy định bằng văn bản của tổ chức về các hành động, hành vi nên làm hay không được phép làm như nguyên tắc, nội quy của nhà trường.

  • Các mối quan hệ giao tiếp – ứng xử nội bộ và với bên ngoài

Trong nhà trường, quan hệ nhân sự liên quan tới nhiều mối quan hệ đan chéo như thầy – thầy, nhà quản lý – cán bộ và GV, thầy – trò, trò – trò, nhà trường – cộng đồng, nhà trường – các cơ quan thẩm quyền địa phương, nhà trường – cơ quan cấp trên chủ quản,… Các mối quan hệ này được thực hiện thông qua nhiều kênh, trong đó có kênh giao tiếp chính diễn ra trong đời sống làm việc ở trường. Tùy theo hệ giá trị được thừa nhận và những ngầm định nền tảng của mỗi tổ chức nhà trường mà có những loại hình phong cách ứng xử được lựa chọn phù hợp. Ngoài ra, tổ chức nhà trường còn có mối quan hệ, giao tiếp với bên ngoài như với các đối tác khác, với chính quyền địa phương, phụ huynh HS, các nhà tài trợ, hoặc chuyên gia nước ngoài…

  • Phong cách làm việc Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Mỗi một tổ chức nhà trường, dù có ý thức hay vô thức, đều hình thành nên một phong cách làm việc riêng. Tính đặc thù đó được thể hiện qua quy trình giải quyết công việc hàng ngày và việc tổ chức các nghi thức, nghi lễ trong nhà trường. Đó là các quy trình, thủ tục, cách thức tổ chức, thực hiện các buổi họp, hội nghị, lễ hội, các sự kiện … của tổ chức nhà trường đều là những biểu hiện cụ thể của văn hóa tổ chức, của kiểu làm việc mà tổ chức đang duy trì. Nó thể hiện qua việc bố trí lịch, kế hoạch tổ chức sinh hoạt, hội họp sao cho hợp lý, tiết kiệm thời gian mà đạt được hiệu quả cao.

Trong nỗ lực duy trì một nền nếp làm việc khoa học và chuyên nghiệp, quy chế làm việc và hệ thống các quy định, nội quy đóng một vai trò hết sức quan trọng.

  • Môi trường cảnh quan sư phạm

Việc kiến trúc xây dựng và cách bày trí nơi làm việc phản ánh các giá trị và niềm tin của tổ chức. Do vậy, kiến trúc của các công sở nói chung và trường học nói riêng cần tạo cảm giác trang trọng, tuy nhiên không làm ảnh hưởng đến tính thân thiện của công sở. Nhà trường cần có môi trường cảnh quan xanh – sạch – đẹp và an toàn cho việc dạy và học. Trong phòng học, nếu có thể được, tùy theo môn học mà bàn, ghế có thể được bố trí cho phù hợp. Phòng hội đồng, phòng nghỉ cho GV cũng cần được bố trí ở những vị trí phù hợp.

  • Phong cách lãnh đạo và phương pháp truyền thông

Phong cách lãnh đạo trong nhà trường là một hợp phần quan trọng của VHNT vì người lãnh đạo, quản lý là hình ảnh, tiếng nói đại diện cho nhà trường. Phong cách lãnh đạo là sự cụ thể hóa của tư duy lãnh đạo. Các phong cách độc đoán, dân chủ hay tự do đều có những ưu điểm nhất định, tùy thuộc vào bối cảnh mà chúng được vận dụng. Cần xây dựng bầu không khí dân chủ: cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ lẫn nhau; mọi người đều được tôn trọng, luôn được coi trọng và có cơ hội thể hiện, phát triển các khả năng của mình, xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá thi đua khen thưởng hợp lý thúc đẩy mọi người nỗ lực làm việc.

1.3.3. Vai trò của văn hóa nhà trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

  • Tầm quan trọng của văn hóa nhà trường THCS

VHNT có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trường đó. Theo Deal và Peterson, văn hóa ảnh hưởng và định hình đến cách mà GV, HS, cán bộ quản lý suy nghĩ, cảm nhận và hành động. Văn hóa là một mạng lưới mạnh mẽ của nghi lễ và truyền thống, chuẩn mực và giá trị có ảnh hưởng đến tất cả mọi góc cạnh của đời sống nhà trường. Cụ thể, VHNT định hướng sự tập trung của các thành viên nhà trường vào hành vi hàng ngày và tăng cường sự chú ý vào những gì quan trọng và có giá trị. Nếu các giá trị và chuẩn mực cơ bản củng cố cho việc học tập, nhà trường sẽ tập trung vào hoạt động học tập trong nhà trường. VHNT giúp xác định và xây dựng cam kết của nhà trường đối với các giá trị cốt lõi. Nếu những nghi lễ, truyền thống, lễ kỉ niệm tạo ra tình cảm cộng đồng, GV, NV, HS và cộng đồng đó sẽ xác định với nhà trường và cam kết với những giá trị cốt lõi và các mối quan hệ ở đây. Đồng thời, VHNT tích cực làm tăng động lực làm việc. Nếu một nhà trường có bối cảnh không rõ ràng về mục đích, thiếu một tầm nhìn có khả năng truyền cảm hứng tới mọi người, ít các buổi lễ mừng thành quả, NV sẽ biểu hiện thiếu năng lượng trong suốt quá trình làm việc. Ngoài ra, VHNT tích cực góp phần quan trọng cải thiện hiệu quả và năng suất làm việc trong nhà trường.

Craig Jerald cũng cho rằng, một VHNT tích cực có thể nhận ra ngay lập tức khi ta bước chân vào ngôi trường đó. Biểu hiện của nó là một bầu không khí yên ổn, trật tự, kỉ luật, thúc đẩy các hoạt động trong nhà trường bằng một cảm giác thú vị, sống động về những mục đích mà nhà trường hướng tới. Trong môi trường đó, HS cảm thấy tự tin và đĩnh đạc, GV nói về công việc của họ với cường độ và tính chuyên nghiệp.

Văn hóa có tác động rất lớn đến chất lượng giáo dục trong nhà trường thông qua những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến người dạy và người học. Mặt khác, văn hóa nhà trưởng có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục còn bởi bản thân VHNT cũng là một phần của chương trình giáo dục trong nhà trường. Khái niệm chương trình đào tạo được sử dụng ở đây là chương trình đào tạo ẩn (Craig Jerald). Nó là những gì thâm nhập vào người học, nhưng có thể là những gì không bao giờ được giảng dạy trên lớp. Nó bao gồm tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới các phong trào, hoạt động của người dạy, người học trong nhà trường. Trên thực tế, chương trình giáo dục ẩn được thể hiện qua các dấu hiệu như: cảnh quan nhà trường, mối quan hệ thầy trò, bè bạn, các tổ chức đoàn thể, các phong trào, hoạt động… và cả những băng rôn, khẩu hiệu trong nhà trường. Giữa chương trình giáo dục ẩn và VHNT có sự liên quan chặt chẽ. Như vậy một nền VHNT tốt cũng chính là một phần của chương trình giáo dục tốt, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục trong nhà trường [16]. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Một môi trường văn hóa tích cực sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Ngược lại, môi trường VHNT có những yếu tố độc hại sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục trong nhà trường.

Theo Kent D. Peterson và Terrence E. Deal [11], VHNT tích cực được biểu hiện qua các tiêu chí cơ bản đó là: sứ mệnh của nhà trường tập trung vào việc học tập của GV và HS; nhà trường tạo nên cảm giác về sự giàu có của lịch sử; các giá trị nòng cốt thể hiện sự chia sẻ quyền lực, quyền hạn; nhà trường có hiệu quả công việc cao và cải tiến thường xuyên tạo nên chất lượng, thành tích; tin tưởng vào tiềm năng của HS và GV để khuyến khích họ học hỏi và phát triển; đội ngũ GV mạnh về chuyên môn để sử dụng hiểu biết, kinh nghiệm và các nghiên cứu để cải thiện việc thực hành thông qua sự chia sẻ và tin tưởng lẫn nhau; cán bộ GV cùng chia sẻ trách nhiệm về kết quả của HS; nhà trường có mạng lưới văn hóa giúp nuôi dưỡng dòng chảy của những thông tin tích cực; vai trò lãnh đạo của cán bộ, GV được phát huy và liên tục cải thiện. Các thành viên trong một nền VHNT tích cực luôn có ý thức chung về sự kết nối giữa các cá nhân, ý thức được chia sẻ rộng rãi về sự tôn trọng và chăm sóc cho mọi người.

VHNT ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục bởi nó ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động trong nhà trường. Tuy nhiên, để nghiên cứu những ảnh hưởng của VHNT đến chất lượng giáo dục có thể chỉ thông qua một số tác động cụ thể của VHNT đến HS, đến GV và đến các mối quan hệ của CBQL, GV, HS trong nhà trường. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc [14], tác động của VHNT thể hiện cụ thể qua những ảnh hưởng đến GV, đến HS và đến mối quan hệ giữa GV – HS trong nhà trường.

  • Ảnh hưởng của văn hóa nhà trường đến giáo viên.

Vai trò của VHNT đối với GV nói chung và GV THCS nói riêng cũng cần được nhìn nhận từ hai góc độ đối lập: ảnh hưởng của nền văn hóa tích cực và ảnh hưởng của nền văn hóa tiêu cực hay độc hại. Trong tổ chức nhà trường, VHNT tích cực sẽ tác động rất lớn đến GV. Tác động đó thể hiện ở nhiều phương diện:

Thứ nhất, khuyến khích mối quan hệ hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau giữa các GV. Trong môi trường đó, GV cảm thấy thoải mái dễ dàng thảo luận về những vấn đề hay khó khăn mà họ đang gặp phải; sẵn sàng chia sẻ với nhau kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn; tích cực trao đổi phương pháp và kỹ năng giảng dạy; quan tâm đến công việc của nhau và cùng hợp tác với lãnh đạo nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra.

Thứ hai, tạo bầu không khí tin cậy thúc đẩy GV quan tâm đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập. Bầu không khí cởi mở, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau tạo động lực để GV quan tâm cải tiến nâng cao chất lượng dạy và học đồng thời góp phần cải thiện thành tích giảng dạy và học tập của trường. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

  • Ảnh hưởng của văn hóa nhà trường đến học sinh

VHNT có ảnh hưởng trực tiếp đến HS nói chung và HS THCS nói riêng theo học trong nhà trường đó. Ảnh hưởng ở đây có thể theo cả hai hướng: tích cực và tiêu cực tùy theo thực trạng VHNT.

  • VHNT tích cực ảnh hưởng đến HS ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, VHNT tích cực tạo ra một môi trường học tập có lợi nhất cho HS. Nhất là đối với HS THCS, môi trường này kích thích được sự chủ động, tạo động lực cho người học, khiến người học thực sự hứng thú và nỗ lực để đạt được kết quả học tập tốt nhất. Trong môi trường VHNT tích cực HS cảm thấy thoải mái, vui vẻ, ham học; HS được tôn trọng, được thừa nhận, và cảm thấy mình có giá trị; HS thấy rõ trách nhiệm của mình; tích cực khám phá, liên tục trải nghiệm và tích cực tương tác với GV, nhóm bạn và nỗ lực đạt thành tích học tập tốt nhất.

Thứ hai, VHNT tích cực tạo ra một môi trường học tập thân thiện với HS. Trong môi trường nhà trường thân thiện, HS cảm thấy gắn bó với trường, lớp, thích thú với việc đến trường. Môi trường thân thiện đảm bảo được các yêu cầu cơ bản đó như an toàn với tất cả HS; cởi mở và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau của HS; khuyến khích HS phát biểu/bày tỏ quan điểm cá nhân và xây dựng mối quan hệ ứng xử tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò.

Thứ ba, VHNT góp phần hình thành nên những nét phẩm chất, tính cách riêng, được đánh giá là phù hợp và có giá trị cho HS của nhà trường. Theo đó, HS ở các trường khác nhau sẽ có những đặc điểm khác nhau được hình thành do quá trình tiếp nhận các ảnh hưởng từ môi trường nhà trường các em theo học.

Mặt khác, các yếu tố độc hại còn tồn tại trong VHNT nếu không được cải thiện sẽ ảnh hưởng xấu đến người học. Trong một môi trường nhà trường nặng về truyền thụ, giáo điều, áp đặt, HS sẽ trở nên thụ động, thiếu sự tự tin vào bản thân.

  • Ảnh hưởng của văn hóa nhà trường đến mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong nhà trường.

Một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên VHNT là mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường. Mối quan hệ giữa GV và HS trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giáo dục. Trong môi trường VHNT tích cực cho việc học tập, mối quan hệ giữa GV và HS là mối quan hệ hợp tác, khuyến khích, GV và HS tương tác tích cực lẫn nhau. Biểu hiện cụ thể ở các đặc điểm đó là: GV đặt ra các mong đợi cao và rõ ràng với HS; GV tôn trọng HS; GV giao tiếp trung thực, hiểu biết và có sự cảm thông với HS; GV có các khuyến khích tích cực với HS; GV đặt ra các chuẩn mực hành vi cho HS; GV, HS luôn ở trong bầu không khí hợp tác. Trái lại, một bầu không khí tiêu cực trong mối quan hệ giữa GV và HS sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả giáo dục toàn diện. Đó có thể là sự áp đặt, thiếu tôn trọng, thiếu sự công bằng của GV với HS khiến HS mặc cảm, tự ti, thụ động.

Ở Việt Nam, trong mối quan hệ giữa GV – HS, truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” rất được đề cao. HS với GV luôn đòi hỏi phải có sự lễ phép, tôn trọng. Đặc điểm này mang ý nghĩa tích cực trong việc giáo dục HS, tuy nhiên cũng có thể có những tác động không như mong muốn nếu khiến cho HS không dám nói lên những suy nghĩ, cảm xúc thực của mình.

1.3.4. Nội dung xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở

  • Xây dựng văn hóa bề nổi của văn hóa nhà trường
  • Xây dựng khuôn viên, tạo cảnh quan sư phạm trong nhà trường

Xây dựng kiến trúc, không gian văn hóa nhà trường. Bố trí hợp lí hệ thống logo, bảng biểu tạo cảnh quan đẹp mắt, dễ quan sát.

Xây dựng khuôn viên khoa học, sạch đẹp tạo không khí thoáng mát, gần gũi, thân thiện cho môi trường giáo dục, phục vụ tốt cho quá trình dạy – học và các hoạt động tập thể, hoạt động vui chơi bổ ích trong nhà trường.

Bố trí hợp lí các phòng chức năng phù hợp với đặc thù bộ môn, phòng làm việc thuận tiện cho việc quả lí công việc, phòng học phù hợp đối tượng về tâm sinh lí và lứa tuổi… Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

  • Xây dựng khẩu hiệu, tầm nhìn, sứ mạng của nhà trường

Xây dựng và chia sẻ sứ mệnh, tầm nhìn của nhà trường tập trung vào việc dạy học và giáo dục.

Xây dựng các chuẩn mực văn hóa trong nhà trường để luôn cải tiến và vươn tới, là thước đo đánh giá giá trị về đạo đức của mỗi cá nhân.

Giáo dục ý thức truyền thống, lịch sử của nhà trường. Tạo nên truyền thống tự hào cho các thế hệ từ đó có ý thức gìn giữ và phát huy truyền thống, phát huy nội lực, gia tăng bề dày truyền thống trong nhà trường.

  • Tổ chức các hoạt động giáo dục và đào tạo trong nhà trường

Các thành viên trong nhà trường cùng cộng tác trong mọi hoạt động.

Khuyến khích năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo cho các cán bộ, giáo viên, học sinh.

Nhà trường quan tâm hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ và thu hút cộng đồng tham gia vào các vấn đề của nhà trường.

  • Nội dung xây dựng văn hóa bề chìm của văn hóa nhà trường
  • Xây dựng bầu không khí dân chủ, thân thiện… trong nhà trường

Tạo giá trị tích cực cho các mối quan hệ trong nhà trường. Thúc đẩy làm việc hợp tác, làm việc nhóm…

Khuyến khích các thành viên tham gia đóng góp ý kiến, xây dựng kế hoạch cho các mục tiêu của nhà trường.

Tích cực tổ chức các hoạt động bổ trợ… tạo không khí hứng khởi, xây dựng tinh thần đoàn kết, gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong nhà trường.

  • Xây dựng cơ chế giám sát, lập kế hoạch và tiến hành đánh giá công tác thi đua khen thưởng; kỷ luật; chế độ chính sách
  • Công nhận sự cống hiến của đội ngũ.
  • Giải quyết các mâu thuẫn, xung đột nội bộ kịp thời.
  • Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong nội bộ nhà trường.

Lắng nghe ý kiến giáo viên trong việc xây dựng các hình thức khen thưởng và kỷ luật của nhà trường. Thăm hỏi kịp thời động viên giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nhân viên có hoàn cảnh khó khăn.

  • Xác định và đánh giá giá trị cốt lõi, niềm tin, lí tưởng…nhà trường hướng tới trong tương lai

Xây dựng và chia sẻ các giá trị cốt lõi hướng đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh trong nhà trường. Coi trọng việc phát triển chuyên môn và coi trọng sự liên tục cải tiến trong nhà trường.

1.4. Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

1.4.1. Mục đích quản lí xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở

Dưới góc độ tổ chức, VHNT được coi như một mẫu thức cơ bản, tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho nhà trường thích nghi với môi trường bên ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong. Một tổ chức có nền văn hóa mạnh sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội. VHNT sẽ giúp cho nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóa, giáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần quan trọng tạo nên sản phẩm giáo dục toàn diện.

Đối với đội ngũ CBQL, GV nhà trường, VHNT thúc đẩy sự sáng tạo cá nhân, tạo nên tình thương yêu chân thành giữa các thành viên và đảm bảo cho sự hợp tác vì mục tiêu chung. Thầy cô giáo là người trực tiếp tham gia hoạt động dạy học và hơn ai hết, chính nhân cách nhà giáo sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhân cách học trò. Vì vậy, quản lý tốt VHNT sẽ tạo ra bầu không khí tin cậy giúp các cá nhân tăng cường hợp tác, chia sẻ lẫn nhau trong nhà trường.

Đối với HS, văn hóa tạo nên giá trị đạo đức và có vai trò điều chỉnh hành vi. Khi được giáo dục trong một môi trường văn hóa và thấm nhuần hệ giá trị văn hóa, học trò không những hình thành được những hành vi chuẩn mực mà quan trọng hơn là ẩn chứa trong tiềm thức các em là niềm tin nội tâm sâu sắc vào những điều tốt đẹp, từ đó, khao khát cuộc sống hướng thiện và sống có lý tưởng. Đồng thời, VHNT còn giúp các em về khả năng thích nghi với xã hội. Do vậy, khi gặp những tình huống xã hội phát sinh, dù là những tình huống mà các em chưa từng trải nhưng nhờ vận dụng năng lực văn hóa để điều tiết hành vi một cách hài hòa, các em có thể tự điều chỉnh mình phù hợp với hoàn cảnh, ứng xử hợp lẽ, hợp với lòng người và cuộc sống xung quanh. Quản lý tốt VHNT giúp HS có môi trường học tập tốt, thân thiện và nhân ái.

Như vậy, mỗi nhà trường dù có ý thức hay không cũng tạo ra VHNT của mình trong quá trình tổ chức dạy và học, quản lý. Tuy nhiên, việc quản lý VHNT một cách chủ động, với tư cách là một nội dung công tác quản lý nhà trường để thực sự có tác động giáo dục tích cực đến các thành viên trong nhà trường, tác động đến chất lượng dạy và học… là trách nhiệm của các nhà quản lý. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

1.4.2. Lập kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở

Hiệu trưởng nhà trường cùng với Ban giám hiệu và các bộ phận chức năng phải lập được kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường. Lập kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường thể hiện ở các khía cạnh sau :

Lập kế hoạch phát huy những nội dung phù hợp của văn hóa nhà trường là việc phát huy các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mà nhà trường đã có. Những giá trị này vẫn còn phù hợp với việc xây dựng văn hóa trong thời điểm hiện tại của nhà trường, phù hợp với yêu cầu giáo dục của đất nước, phù hợp với văn hóa dân tộc. Bên cạnh việc lập kế hoạch phát huy những nội dung phù hợp của văn hóa nhà trường thì Hiệu trưởng nhà trường cần lập kế hoạch xây dựng những nội dung mới của văn hóa nhà trường để thực hiện mục tiêu của hoạt động đào tạo, mục tiêu xây dựng văn hóa của nhà trường.

Việc lập kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường phải đáp ứng được các yêu cầu sau :

  • Kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường qua việc phát huy những nội dung mới, phù hợp được tích hợp vào kế hoạch chung của nhà trường.
  • Kế hoạch chỉ rõ các mốc thời gian, bao quát hết nội dung chính cần phát huy để xây dựng văn hóa nhà trường.
  • Xây dựng kế hoạch tuyên truyền đến HS về những nội dung cần phát huy trong xây dựng văn hóa nhà trường.
  • Xây dựng kế hoạch tập huấn cho giáo viên và cán bộ nhà trường về những nội dung cần được phát huy trong xây dựng văn hóa nhà trường.
  • Xây dựng kế hoạch tập huấn kĩ năng lôi cuốn các lực lượng khác ở địa phương tham gia vào việc phát huy những nội dung phù hợp trong xây dựng văn hóa nhà trường (ủy ban nhân dân xã/phường; phòng giáo dục và đào tạo; các tổ chức chính trị xã hội tại phường/xã; quận/huyện,…).
  • Xây dựng kế hoạch phối hợp với cha mẹ học sinh trong việc phát huy những nội dung phù hợp của xây dựng văn hóa nhà trường.
  • Xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra về việc phát huy những nội dung phù hợp của xây dựng văn hóa nhà trường.

1.4.3. Tổ chức thực hiện xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Sau khi kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường đã được thực hiện xong, Hiệu trưởng cần tổ chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn hoá nhà trường. Đây là khâu quan trọng của quản lý xây dựng văn hóa nhà trường. Bởi vì, bất cứ một hoạt động nào khi tiến hành thực hiện cũng cần phải có con người cụ thể, các bộ phận cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ xây dựng văn hoá nhà trường.

Tổ chức thực hiện việc phát huy những nội dung của văn hóa nhà trường thể hiện ở các hoạt động cụ thể sau :

  • Thành lập các bộ phận của nhà trường chịu trách nhiệm chính trong việc phát huy những nội dung của văn hóa nhà trường.
  • Huy động tối đa nỗ lực của tất cả cán bộ, giáo viên, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên tổng phụ trách trong việc phát huy những nội dung của văn hóa nhà trường.
  • Huy động tất cả các bậc phụ huynh cùng tham gia vào việc phát huy những nội dung của văn hóa nhà trường.
  • Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội trong trường trong việc phát huy những nội dung của văn hóa nhà trường.
  • Huy động tối đa sự tham gia của các tổ chức xã hội tại địa phương trong việc phát huy những nội dung của văn hóa nhà trường…

1.4.4. Chỉ đạo, điều phối thực hiện xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở

Chỉ đạo, điều phối thực hiện xây dựng văn hóa nhà trường cũng được thể hiện ở hình thức phát huy những nội dung phù hợp và xây dựng những nội dung mới của văn hóa nhà trường.

Ra quyết định triển khai các hoạt động xây dựng những nội dung của văn hóa nhà trường.

Hướng dẫn giáo viên, cán bộ, học sinh nhà trường, các lực lượng liên quan lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức xây dựng, lựa chọn tài liệu về xây dựng những nội dung văn hóa nhà trường.

  • Chỉ đạo đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức xây dựng những nội dung của văn hóa nhà trường.
  • Chỉ đạo các bộ phận bố trí thời gian hợp lí cho việc xây dựng những nội dung của văn hóa nhà trường.
  • Chỉ đạo chuẩn bị và sử dụng các thiết bị, phương tiện vật chất phục vụ xây dựng những nội dung của văn hóa nhà trường,… Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

1.4.5. Kiểm tra, đánh giá việc xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở

Hoạt động kiểm tra, đánh giá là không thể thiếu được trong quản lý xây dựng văn hóa nhà trường. Nó góp phần quan trọng đối với hiệu quả xây dựng văn hóa nhà trường. Khi hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, đánh giá giáo viên, học sinh, cán bộ phục vụ của nhà trường trong xây dựng văn hóa thì việc xây dựng văn hóa nhà trường sẽ được thực hiện tốt, đáp ứng được mục tiêu đề ra. Trái lại, khi Hiệu trưởng thiếu sâu sát, ít kiểm tra thì việc xây dựng văn hóa nhà trường sẽ không đồng bộ, chất lượng, hiệu quả thấp.

Tổ chức kiểm tra, đánh giá việc phát huy những nội dung trong xây dựng văn hóa nhà trường được thể hiện ở các khía cạnh cụ thể sau:

  • Tổ chức kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch phát huy những nội dung trong xây dựng văn hóa nhà trường.
  • Tổ chức kiểm tra việc phối hợp các lực lượng trong phát huy những nội dung trong xây dựng văn hóa nhà trường.
  • Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả về phát huy những nội dung trong xây dựng văn hóa nhà trường.
  • Tổ chức kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực nhằm phát huy những nội dung trong xây dựng văn hóa nhà trường.
  • Tổ chức báo cáo kết quả kiểm tra, rút kinh nghiệm về phát huy những nội dung trong xây dựng văn hóa nhà trường,…

1.4.6. Vai trò của Hiệu trưởng trong việc quản lý xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở

Hiệu trưởng trường trung học cơ sở có vai trò to lớn đối với hoạt động giáo dục của nhà trường, đối với sự phát triển của nhà trường. Hiệu trưởng cũng là chủ thể và là người có vai trò quyết định đối với hoạt động quản xây dựng văn hóa nhà trường. Vai trò quản lý của Hiệu trưởng đối với xây dựng văn hóa nhà trường đã được quy định tại Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (2017), của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong mục “Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng” (Điều 19 của Điều lệ): Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

  • Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;

Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại khoản 3 Điều 20 của Điều lệ này;

Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;

Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;

Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh;

  • Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;

Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;

Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường;

Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

Tại 10 nhiệm vụ và quyền hạn trên của Hiệu trưởng đã phản ánh vai trò chủ thể quản lý của hiệu trưởng trong xây dựng nhà trường. Từ thực hiện các nhiệm vụ này của Hiệu trưởng sẽ hình thành nên các giá trị tinh thần và các giá trị vật chất của văn hóa trường trung học cơ sở.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

1.5.1. Các yếu tố khách quan

  • Bối cảnh của xã hội hiện đại

Quá trình xã hội hóa giáo dục.: Xã hội hóa giáo dục đang dần trở thành một xu thế tất yếu của quá trình phát triển giáo dục hiện nay. Bản chất của xã hội hóa giáo dục chính là việc huy động các lực lượng trong xã hội cùng tham gia làm công tác giáo dục. Trong đó việc huy động và phối kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường Trung học cơ sở tham gia vào quá trình xây dựng VHNT là việc làm hết sức cần thiết. Xã hội hóa giáo dục sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà quản lý trong quá trình tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức xã hội, cha mẹ học sinh trong việc xây dựng một nếp sống văn hóa mới cho nhà trường. Đặc biệt hơn, khi công tác xã hội hóa được nâng cao thì việc huy động nguồn lực tài chính phục vụ cho quá trình xây dựng cũng như quản lý xây dựng VHNT thuận lợi hơn.

Cán bộ quản lý nhà trường có thể nhận thấy những ảnh hưởng tích cực của công tác xã hội hóa giáo dục đối với quá trình quản lý xây dựng VHNT thì cũng phải nhìn thấy mặt hạn chế nhất định của xã hội hóa giáo dục mang đến. Chính vì thế nhà quản lý phải là người khơi dậy được sự cam kết đồng lòng giữa các lực lượng trong quá trình xây dựng VHNT.

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế: Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế phát triển của thế giới hiện đại. Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra những quan hệ gắn bó, sự tùy thuộc lẫn nhau và những tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế. Quá trình này không chỉ thể trong lĩnh vực thương mại mà nó hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có giáo dục. Tác động của nó tới giáo dục bao gồm cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Cụ thể trong vấn đề VHNT thì toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo nên một môi trường chung để học hỏi, giao lưu những kinh nghiệm về giáo dục giữa các nước trên thế giới với nhau đồng thời giúp hình thành những quan điểm giáo dục mới. Tuy nhiên bên cạnh đó mặt tiêu cực của nó là sự thâm nhập của những tư tưởng giáo dục không chính thống, không phù hợp với hoàn cảnh của nước nhà từ đó làm suy hại đến tư tưởng giáo dục của quốc gia nếu như không được kiểm chứng.

Sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin và truyền thông: Thế kỷ XXI được coi là kỷ nguyên của khoa học công nghệ và truyền thông. Khoảng cách giữa con người với con người được công nghệ thông tin và truyền thông rút ngắn lại. Giáo dục là lĩnh vực chịu nhiều sự tác động cả về tích cực cũng như tiêu cực của công nghệ thông tin và truyền thông. Mặt tích cực thể hiện ở việc cải tiến các phương tiện dạy học, các loại hình dạy học công nghệ ra đời, việc truy cập và sử dụng dễ dàng các tiện ích công nghệ dành cho giáo dục. Tuy nhiên không vì thế mà hệ lụy của sự phát triển công nghệ thông tin và truyền thông không ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục nói chung và của văn hóa nhà trường nói riêng. Nhà quản lý phải xác định và tận dụng lợi thế của công nghệ thông tin và truyền thông để tuyên truyền cho hoạt động xây dựng văn hóa trong nhà trường nhưng đồng thời cũng phải kịp thời ngăn chặn những mặt trái mà công nghệ thông tin và truyền thông mang đến.

Sự phát triển của nền kinh tế tri thức: Nền kinh tế tri thức là một khái niệm được dùng khá phổ biến hiện nay. Nền kinh tế tri thức được hiểu một cách đơn giản nhất đó là nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở tri thức, khoa học, dựa trên việc tạo ra và sử dụng sự phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao. Bởi lẽ giáo dục là yếu tố trọng tâm để đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng. Mối quan hệ này là mỗi quan hệ hai chiều (giáo dục và kinh tế), trong khi giáo dục chịu những tác động trực tiếp từ sự biến đổi của nền kinh tế thì chính giáo dục là cái nôi để cho nền kinh tế tri thức ra đời.

Ở Việt Nam khi các nhà trường đứng trước sự thay đổi của xu thế phát triển kinh tế đòi hỏi cũng phải xác định được hướng đi và mục đích phát triển của mình. Việc thay đổi về cơ chế quản lý, cơ chế đào tạo, chính sách phát triển… là những vấn đề trước tiên nhất mà mỗi nhà trường ở Việt Nam cần phải xác định.

  • Yêu cầu của đổi mới giáo dục Việt nam hiện nay Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Thế kỉ XXI với những bước phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ hiện đại đã tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trên toàn thế giới. Các quốc gia muốn phát triển nền kinh tế – xã hội của mình thì không thể đứng ngoài xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.

Đối với Việt Nam, toàn cầu hóa không mang tính áp đặt, cưỡng bức mà mang tính tất yếu. Toàn cầu hóa mang đến cho Việt Nam những cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức và tiềm ẩn những nguy cơ. Về những cơ hội, toàn cầu hóa giúp nối kết Việt Nam với nền giáo dục thế giới; mở rộng tầm nhìn và bậc thang giá trị hướng tới chuẩn mực chung của toàn nhân loại; hình thành tư duy có tính chất toàn cầu; phát huy tinh thần dân chủ; hình thành khả năng hợp tác làm việc trong môi trường quốc tế. Tuy nhiên, các nguy cơ chúng ta phải đối mặt đó là bản sắc dân tộc có thể bị mất đi; các giá trị truyền thống tốt đẹp có thể bị mai một (“Tiên học lễ, hậu học văn”, “Tôn sư trọng đạo”…); giáo dục bị thương mại hóa.

Về một phương diện khác, sự tha hóa đạo đức trong xã hội ngày càng trầm trọng đang tạo nên bức xúc, đòi hỏi hệ thống giáo dục phải điều chỉnh theo hướng tăng mạnh việc trang bị nền tảng văn hóa, kỹ năng sống và các giá trị đạo đức cho người học. Chưa bao giờ yêu cầu dạy làm người cấp bách như bây giờ . Chính vì vậy, đổi mới giáo dục đang là một xu thế tất yếu mang tính toàn cầu. Nước nào không đổi mới, hoặc cải cách giáo dục không thành công, nước đó sẽ mất khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế và sẽ bị tụt hậu xa hơn.

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tạo ra nhu cầu học ngày càng tăng, mục tiêu học ngày càng đa dạng… Để thực hiện triết lý giáo dục cho mọi người trong bối cảnh mới: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình thì bên cạnh nền kinh tế tri thức còn đòi hỏi một lực lượng lao động có năng lực tư duy và kỹ năng thích ứng với môi trường thay đổi. Sau hơn 30 năm thực hiện đổi mới, nền giáo dục nước ta đã có những thành tựu quan trọng tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều mặt yếu kém, một số khuyết điểm trầm trọng, kéo dài như việc dạy, học thêm tràn lan; bạo lực học đường, thiếu trường lớp; bằng cấp giả… Vì vậy giáo dục phải đổi mới.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2019 về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nêu rõ: đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” . Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng là để tiếp tục góp phần bồi đắp, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Sứ mệnh của giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam; trong đó cần phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân.

Đổi mới giáo dục trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập đặt ra hai yêu cầu trong việc duy trì và phát triển VHNT. Một mặt phải giải quyết vấn đề làm thế nào để giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, mặt khác phải làm thế nào để hòa nhập với nền văn hóa chung của nhân loại. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục cần phải có những chiến lược phù hợp từ việc hình thành, duy trì và phát triển VHNT, đáp ứng các yêu cầu nói trên. Muốn vậy VHNT trong bối cảnh hiện nay phải là văn hóa của một tổ chức học tập, phục vụ mục đích học tập suốt đời cho CB, GV và HS.

1.5.2. Các yếu tố chủ quan

  • Năng lực của cán bộ quản lý nhà trường.

Đây là nhân tố quyết định đến quá trình quản lý xây dựng văn hóa nhà trường. Bởi cán bộ quản lý nhà trường là những người trực tiếp làm công tác quản lý. Xây dựng văn hóa nhà trường là một nội dung cơ bản của quản lý nhà trường. Trách nhiệm xây dựng văn hóa nhà trường của cán bộ quản lý nhà trường là trách nhiệm đầu tiên và quan trọng nhất. Trong nhà trường Trung học cơ sở thì cán bộ quản lý nhà trường bao gồm có Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng tổ chuyên môn, chủ tịch công đoàn, tổng phụ trách đội, giáo viên chủ nhiệm. Ở mỗi cấp quản lý thì sẽ có nhiệm vụ và chức năng khác nhau nhưng nhìn chung trong quá trình quản lý xây dựng VHNT đều cần tới những năng lực quản lý và phẩm chất đạo đức của nhà quản lý.

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm hoạch định tầm nhìn chiến lược cũng như ra quyết định về sự phát triển của nhà trường trong thời gian lâu dài. Phó hiệu trưởng là người hỗ trợ đắc lực cho Hiệu trưởng trong quá trình triển khai các vấn đề quản lý. Các tổ trưởng tổ chuyên môn và các thành viên còn lại là những người tiếp nhận quyết định quản lý và trực tiếp triển khai tới từng cá nhân mà mình phụ trách. Trong quá trình xây dựng VHNT cũng vậy nếu những cán bộ quản lý không có năng lực quản lý thì sẽ không thực hiện được đúng chức năng và nhiệm vụ của mình được phân công. Bởi người quản lý phải là người tiên phong, chịu trách nhiệm với quá trình hình thành và phát triển những giá trị đạo đức trong nhà trường của mình. Sự nêu gương trong trường hợp này là rất cần thiết. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

  • Chất lượng của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường

Cán bộ, giáo viên là đội ngũ trực tiếp làm công tác chuyên môn trong nhà trường. Một nhà trường vững mạnh là một nhà trường có đầy đủ số lượng và đảm bảo về chất lượng cán bộ, giáo viên. Chất lượng của giáo viên tác động trực tiếp đến sự nhận thức của họ về hoạt động xây dựng văn hóa trong nhà trường. Khi nhận thức đúng thì dẫn tới hành động cũng sẽ đúng. Chính vì thế khi chất lượng giáo viên cao thì cán bộ quản lý trong nhà trường sẽ thuận lơi trong việc lấy được sự đồng thuận và hợp tác để tiến hành xây dựng VHNT.

Cán bộ, giáo viên còn là người ảnh hưởng trực tiếp đến đối tượng người học. Vì vậy có thể xem họ là cầu nối quan trọng để truyền đạt kế hoạch xây dựng và phát triển VHNT tới học sinh. Ngoài ra khi chất lượng giáo viên trong nhà trường cao thì họ sẽ luôn hướng tới những giá trị VH tốt đẹp. Chính bản thân họ sẽ thừa nhận khả năng của mình và thừa nhận khả năng của đồng nghiệp.

  • Đặc điểm cơ bản của HS THCS và phương hướng giáo dục HS THCS

Lứa tuổi học sinh THCS( lứa tuổi thiếu niên) là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và tuổi trưởng thành. Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, cho phép tạo nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt phát triển : thể chất, trí tuệ, giao tiếp, tình cảm, đạo đức….của các em. Bởi vậy giáo viên cần nắm được vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lí thiếu niên, những khó khăn, thuận lợi trong sự phát triển tâm, sinh lí của HS THCS để giảng dạy, giáo dục HS. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Giáo dục đạo đức HS THCS trong xã hội hiện đại là vấn đề phức tạp và khó khăn. Bởi lứa tuổi thiếu niên là giai đoạn có nhiều biến đổi quan trọng trong sự phát triển người cả về thể chất, xã hội và tâm lí. Một phần do điều kiện sống, điều kiện giáo dục trong xã hội hiện đại cũng có những thay đổi so với xã hội truyền thống.

Mặt khác bước vào thế kỉ XXI, do bùng nổ của khoa học công nghệ mà lượng thông tin, tri thức đến với các em rất phong phú. Đồng thời số con trong mọi gia đình chỉ có ít nên cha mẹ dễ có điều kiện để chăm sóc các em (cả về thời gian, về kinh tế, đặc biệt là những điều kiện để giáo dục toàn diện nhân cách các em). Xã hội, nhà trường và gia đình đều rất quan tâm đến sự phát triển của trẻ em nói chung và HS THCS nói riêng. Sự kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội đã giúp cho các em có được cơ hội, điều kiện giáo dục toàn diện hơn (ngay cả với những em có hoàn cảnh khó khăn).

Bên cạnh những thuận lợi trên, còn có một số khó khăn như do gia tốc phát triển mà sự dậy thì của thiếu niên đến sớm hơn. Cơ thể các em phát triển mạnh mẽ nhưng mức trưởng thành về xã hội và tâm lí lại diễn ra chậm hơn. Điều này ảnh hưởng đến việc giáo dục HS THCS. Do nội dung học tập ngày càng mở rộng, quá tải nên HS THCS chủ yếu bận học (học ở lớp chính khoá, học thêm…), ít có những nghĩa vụ và trách nhiệm khác với gia đình. Hơn nữa ở những lớp cuối cấp (lớp 9) có thể xuất hiện thái độ phân hóa rất rõ trong học tập dẫn tới việc học lệch, tạo nên sự thiếu toàn diện trong hiểu biết, trong nhận thức của các em.

Chính những đặc điểm trên đã làm nên nét đặc trưng riêng trong văn hóa nhà trường THCS. Người làm công tác quản lý cần nắm vững đặc điểm này để tiến hành quản lý xây dựng VHNT.

Tóm lại bối cảnh của xã hội hiện đại, chất lượng của đội ngũ cán bộ, giáo viên, đạo đức của HS trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình quản lý xây dựng VHNT.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

Văn hóa nhà trường THCS là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần tồn tại trong nhà trường làm cho nhà trường có những nét riêng biệt, khác biệt để phân biệt nhà trường này với nhà trường khác. Chính vì thế xây dựng văn hóa nhà trường trong tình hình hiện nay, nhất là trong giai đoạn đổi mới giáo dục là vô cùng cần thiết và là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường.

Qua nghiên cứu các vấn đề về lý luận trên đây có thể nhận thấy: VHNT có vai trò hết sức quan trọng và có tác động rất lớn đến chất lượng giáo dục trong nhà trường. Văn hóa là một thứ tài sản lớn của bất kỳ tổ chức nào, đặc biệt là với các nhà trường THCS. VHNT lành mạnh sẽ tạo động lực làm việc cho GV và HS. VHNT hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân bằng các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc và bằng dư luận, truyền thống. VHNT giúp các thành viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức, hạn chế xung đột, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, làm tăng hiệu quả của các hoạt động trong nhà trường.

Quản lý VHNT là quá trình tổ chức thực hiện việc xây dựng, duy trì và phát triển VHNT một cách khoa học, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhân cách HS, đáp ứng đòi hỏi của giáo dục trong giai đoạn mới.

Xây dựng VHNT lành mạnh, hướng tới sự phát triển bền vững thực chất là xây dựng nền nếp, kỷ cương, dân chủ trong mọi hoạt động của nhà trường, xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy – trò, giữa trò – trò, giữa thầy – thầy (trong đó có các nhà QLGD)… theo các chuẩn mực chung của XH và những quy định riêng của ngành giáo dục. Tạo dựng được niềm tin, lòng tự hào của các thế hệ CB, GV, NV và HS đối với nhà trường, góp phần tạo nên uy tín và thương hiệu nhà trường.

Công tác quản lý luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các hoạt động đào tạo của nhà trường. Nhiệm vụ của cán bộ quản lý là phải đưa ra được định hướng phát triển cũng như đưa toàn thể nhà trường thực hiện các mục tiêu đã xác định. Muốn làm tốt công tác quản lý và lãnh đạo nhà trường thì cán bộ quản lý cần làm tốt công tác xây dựng văn hóa nhà trường. Bởi xây dựng văn hóa nhà trường là một chức năng không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà trường. Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường tốt sẽ tạo được động lực cho sự phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường Trung học cơ sở. Luận văn: Quản lí xây dựng văn hóa nhà trường các trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537