Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Kim Sơn là huyện nằm ở cực nam của tỉnh Ninh Bình và miền Bắc, trung tâm huyện là thị trấn Phát Diệm cách thành phố Ninh Bình 27 km. Phía đông giáp sông Đáy, huyện Nghĩa Hưng Nam Định; phía tây nam giáp sông Càn, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa; phía bắc và tây bắc giáp huyện Yên Khánh và huyện Yên Mô; phía nam giáp biển với chiều dài bờ biển gần 18 km thường xuyên được phù sa bồi đắp, hàng năm tiến ra biển từ 80 đến 100m. Sông Vạc chia huyện Kim Sơn làm hai vùng: Tả Vạc và Hữu Vạc, trong mỗi vùng có đặc điểm địa hình và thủy thế khác nhau. Hàng năm chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão biển, lũ sông Đáy, sông Tống Giang, là vùng chịu ảnh hưởng khi xả lũ đập Đáy, là huyện được xác định là trọng điểm phòng chống bão lụt và tìm kiếm cứu nạn của tỉnh.
Kim Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 213,27 km² (21.327,48 ha). Dân số của huyện 172.399 người, trong đó có 45% dân số theo đạo Công giáo, được chia thành 27 xã, thị trấn. Nền kinh tế của huyện Kim Sơn có 3 thế mạnh: Kinh tế nông nghiệp giữ vị trí quan trọng, chiếm gần 1/3 tổng sản lượng lúa của tỉnh Ninh Bình. Ngành thủ công nghiệp truyền thống sản xuất hàng chiếu cói, có giá trị hàng hóa lớn. Vùng kinh tế biển đã và đang được đầu tư khai thác, đây là một vùng có tiềm năng để phát triển thành một vùng sản xuất hàng hóa phong phú và đa dạng.
Phòng GD&ĐT huyện Kim Sơn nằm trên địa bàn huyện Kim Sơn, với số lượng các đơn vị trường học khá đông gồm 83 trường, trong đó có 27 trường mầm non, 29 trường tiểu học, 27 trường THCS.
Theo báo cáo tổng kết năm học 2024- 2025, tính đến thời điểm tháng 8 năm 2025: Bậc học Mầm non có 343 nhóm, lớp với 12618 cháu; Bậc Tiểu học có 436 lớp với 13004 học sinh; Bậc THCS có 269 lớp với 9534 học sinh. Nhìn chung hệ thống trường lớp ở các cấp học ổn định, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân trong toàn huyện. Cơ sở vật chất trường lớp được tăng cường, nhiều trường học khang trang, sạch đẹp, từng bước đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa.
Tổng số CBQL, GV, Nhân viên trong toàn ngành: 2351. Trong đó: CBQL: 221; giáo viên: 1933, nhân viên: 197. Chất lượng, đạt chuẩn trở lên chiếm 99,9%, trên chuẩn đạt 96,5%. Đội ngũ nhà giáo và CBQL GD đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của ngành.
Trường THCS Đồng Hướng được thành lập vào năm 1957, là trường được công nhận Trường chuẩn Quốc gia đầu tiên của huyện Kim Sơn(năm 2010). Kể từ đó đến nay nhà trường vẫn tiếp tục duy trì xây dựng và phát triển các tiêu chí bảo đảm luôn giữ vững theo 5 tiêu chuẩn mà trường đã đạt được. Nhà trường có đầy đủ các phòng học và phòng chức năng đảm bảo đầy đủ theo đúng quy định môn học, tạo điều kiện tốt cho giảng dạy, có 100% GV đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, là những nhà giáo có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm giảng dạy đã tốt nghiệp đại học và sau đại học, tâm huyết với nghề, được phụ huynh và học sinh tin yêu. Nhân viên của trường được đào tạo chuyên nghiệp và trách nhiệm nghề nghiệp cao. Với bề dày thành tích về chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục mũi nhọn cũng như các hoạt động khác mà phòng GD&ĐT tổ chức trường THCS Đồng Hướng vinh dự được chủ tịch nước trao tặng Huân chương lao động hạng nhất, nhận các bằng khen, giấy khen của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT cho những cống hiến của Thầy và trò nhà trường trong những năm học vừa qua.
Trường THCS Bình Minh được thành lập năm 1969 và được công nhận đạt trường chuẩn Quốc gia vào năm 2018. Với cơ sở vật chất nhà trường khang trang sạch đẹp có đủ các phòng học cũng như các phòng chức năng đảm bảo tốt cho việc dạy và học của nhà trường, với đội ngũ giáo viên có bề dày kinh nghiệm và truyền thống yêu nghề, tâm huyết với nghề, nhà trường luôn nhận được sự ưu tiên hàng đầu cho việc lựa chọn đầu vào cho con em mình ở trong tiểu khu cũng như của cả huyện.
Trường THCS Kim Trung được tách từ trường THCS Bình Minh và được thành lập vào năm 1999, Với sứ mệnh được xác định trong kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2026 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 là ” Tạo dựng môi trường giáo dục thân thiện, sáng tạo, năng động, để mỗi học sinh phát triển tối đa khả năng của bản thân, đáp ứng yêu cẩu đổi mới của đất nước”, nhà trường luôn thống nhất trong công tác quản lý, chỉ đạo cũng như trong thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở, phát huy được sức mạnh tập thể, xây dựng nhà trường dần vững mạnh về mọi mặt. Với đội ngũ giáo viên có năng lực và trình độ sư phạm chuyên sâu, phẩm chất đạo đức tốt, lấy hạnh phúc lớn nhất là sự tiến bộ của học sinh, vì vậy tập thể nhà trường luôn đoàn kết nhất trí cao, vượt qua bao khó khăn trở ngại, không ngừng phấn đấu, tìm ra những giải pháp hữu hiệu đưa nhà trường vững bước tiến lên. Chính vì lẽ đó, trường THCS Kim Trung đã, đang và sẽ là địa chỉ tin cậy của CMHS và học sinh, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, trở thành đơn vị có nhiều thành tích đóng góp chung cho sự nghiệp giáo dục địa phương, của huyện và của tỉnh Ninh Bình. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
2.2. Thực trạng quản lí xây dựng văn hóa nhà trường tại các trường trung học cơ sở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
2.2.1. Giới thiệu khảo sát
- Mục đích khảo sát
Mục đích khảo sát nhằm đánh giá thực trạng xây dựng VHNT và thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, từ đó xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường nhằm nâng cao văn hóa nhà trường tại các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
- Đối tượng khảo sát
Đối tượng là CBQL: 30 người( Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, Chủ tịch công đoàn, Bí thư Đoàn thanh niên, Tổng phụ trách đội, Giáo viên chủ nhiệm).
Đối tượng là GV: 60 giáo viên tiêu biểu đại diện cho 3 trường THCS ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình (THCS Đồng Hướng, THCS Bình Minh, THCS Kim Trung)
Đối với học sinh: 240 học sinh đại diện cho học sinh của 3 trường THCS ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Binh (THCS Đồng Hướng, THCS Bình Minh, THCS Kim Trung) Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
- Nội dung khảo sát
Khảo sát thực trạng xây dựng VHNT và thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
- Phương pháp khảo sát
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng các phiếu trưng cầu ý kiến nhằm khảo sát ý kiến của các đối tượng: CBQL, GV, HS về nhận thức, thực trạng, nhu cầu xây dựng văn hóa nhà trường…
Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với các CBQL, GV, HS nhà trường, hoặc các lực lượng ngoài nhà trường, trên cơ sở đặt câu hỏi hoặc nêu vấn đề và đề nghị đối tác có ý kiến trao đổi. Phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm thông tin mà không cần sử dụng phiếu.
Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát các hoạt động của GV, HS ở lớp, ở trường; các cơ sở vật chất, trang thiết bị, cảnh quan sư phạm… nhằm thu thập thông tin thực tiễn cho đề tài.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến công tác quản lý xây dựng VHNT ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu và thực tiễn công tác quản lý VHNT tại các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, phân tích, hệ thống, đánh giá những ưu điểm và tồn tại, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm.
2.2.2. Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường trung học cơ sở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng, giá tri ̣cốt lõi và hê ̣thống chuẩn mưc̣ văn hóa của nhà trường trong xây dựng VHNT.
Khâu đầu tiên quan trọng nhất trong bất cứ một hoạt động nào đó chính là nhận thức. Trong xây dựng VHNT ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, tôi đã tiến hành điều tra mức độ nhận thức của CBQL, GV, NV và học sinh về việc xây dựng VHNT để khẳng định tính quan trọng của vấn đề xây dựng VHNT trong các nhà trường. Kết quả thu được sau khi tiến hành hỏi ý kiến qua phiếu điều tra như sau: Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
- Bảng 2.1. Nhận thức của CBQL, GV, HS về tầm quan trọng của VHNT
Qua bảng 2.1 tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng của VHNT cho thấy: Đa số CBQL, GV, HS đều cho rằng việc xây dựng VHNT là rất quan trọng và quan trọng. Cụ thể: Số CBQL (chiếm 100,0%), GV (chiếm 86,6%), HS (chiếm 86,3%). Nếu như 66,7% CBQL nhận thức VHNT rất quan trọng thì tỉ lệ này đối với GV là 53,3% và HS là 52,1%. Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận (13,4% GV và 13,7% HS) chỉ đánh giá VHNT là tương đối quan trọng. Điều đó cho thấy CBQL có nhận thức tốt về tầm quan trọng của VHNT, tuy nhiên vẫn cần thiết phải nâng cao hơn nữa nhận thức của GV và HS trong việc xây dựng và phát triển VHNT. Những yếu tố VHNT ở phần nổi có thể dễ dàng nhận ra và có tác động trực tiếp thì họ cho rằng đó là những yếu tố hiển nhiên tồn tại trong một nhà trường, chúng thực sự không có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển nhà trường. Còn những yếu tố thuộc phần chìm của VHNT thì khó nhận dạng cho nên vẫn tồn tại ý kiến cho rằng chúng thực sự không quan trọng. Chính điều này là một khó khăn trong vấn đề xây dựng VHNT tại các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình hiện nay.
Đi từ nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động xây dựng VHNT, các thành viên trong các nhà trường cũng nhận thức khá tích cực về tầm quan trọng của VHNT đến chất lượng giáo dục trong nhà trường. Có tới 289/330 ý kiến cho rằng xây dựng VHNT ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục của nhà trường (chiếm 87,6%). Những kết quả trong việc đánh giá bằng phiếu cho thấy sự tương quan khá lớn giữa việc nhận thức được tầm quan trọng của xây dựng VHNT tới chất lượng giáo dục của các trường THCS ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Chính vì thế khẳng định rằng VHNT có tầm quan trọng lớn trong việc xây dựng và phát triển chất lượng giáo dục ở nhà trường. Muốn nhà trường có thương hiệu về giáo dục thì cần phải tiến hành xây dựng một VHNT tích cực.
Đối với nội dung về nhà trường phải xây dựng VH riêng thì có tới 276/330 ý kiến chiếm 83,6% cho rằng nhà trường cần phải có một văn hóa riêng, còn lại là 54/330 ý kiến cho rằng không cần thiết phải quan trọng việc xây dựng một VH riêng.
Qua trao đổi trực tiếp với cô giáo N.T.T.H trường THCS Đồng Hướng, cô cho biết: “Văn hóa là nét đặc trưng riêng của mỗi nhà trường, là điểm nhấn để phân biệt giữa hai nhà trường khác nhau”.
Chính vì thế chúng tôi lại khẳng định lại một lần nữa rằng rất nhiều các thành viên đều khẳng định rằng nhà trường cần xây dựng một văn hóa nhà trường riêng. Nhận thức tốt sẽ quyết định hành động đúng. Điều này là vô cùng có ý nghĩa đối với hoạt động quản lý xây dựng VHNT trong các nhà trường THCS ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Từ nhận thức về tầm quan trọng của xây dựng VHNT thì các ý kiến cũng đa phần cho rằng quản lý nhà trường là vấn đề quan trọng. Có tới 213/330 ý kiến cho rằng rất quan trọng chiếm 64,5%; 60/330 ý kiến cho rằng quan trọng chiếm 18,2%, còn lại là bình thường và không quan trọng (17,3%). Điều này minh chứng rằng khi xác định xây dựng VHNT là cần thiết thì cần phải có quá trình quản lý hoạt động xây dựng này. Trong đó vai trò quản lý chính trong nhà trường thuộc về cán bộ quản lý. Thực hiện quá trình xây dựng VHNT là chức năng quan trọng trong quản lý nhà trường của mỗi cán bộ quản lý, chức năng đó được hiểu là chức năng quản lý xây dựng VHNT. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Nhận thức của CBQL, GV về giá trị cốt lõi và hệ thống chuẩn mực văn hóa của nhà trường được cho trong bảng sau:
- Bảng 2.2. Mức độ nhận thức của CBQL, GV và HS về giá tri ̣cốt lõi và hê ̣thống chuẩn mưc̣ của văn hóa nhà trường
- Biểu đồ 2.1. Mức độ nhận thức của CBQL, GV và HS về giá tri ̣cốt lõi và hê ̣thống chuẩn mưc̣ của văn hóa nhà trường
Kết quả khảo sát về mức độ nhận thức của CBQL, GV và HS về giá trị cốt lõi và hệ thống chuẩn mực văn hóa của nhà trường cho thấy:
Có sự khác nhau rõ rệt giữa nhận thức của CBQL, GV và HS. Tỷ lệ biết rất rõ về giá trị cốt lõi và hệ thống các chuẩn mực văn hóa của nhà trường đối với CBQL, GV lần lượt là 83,3% và 25,0% trong khi đó không có HS nào hiểu biết rõ về vấn đề này. Có 16,7% CBQL, 61,7% GV và 64,6% HS biết nhưng chưa rõ và có 13,3% GV, 35,4% HS chưa biết. Thực trạng trên cho thấy nhận thức của đa số GV, HS nhà trường không rõ ràng về giá trị cốt lõi và hệ thống các chuẩn mực văn hóa mà nhà trường hướng tới. Kết quả này cho thấy công tác thông tin, tuyên truyền về các vấn đề chiến lược định hướng phát triển của nhà trường còn nhiều bất cập, các thông tin chưa được công bố công khai rộng rãi, các thành viên chưa được chia sẻ thông tin, chưa được tiếp cận hoặc tiếp cận không đầy đủ, các kênh thông tin chưa thông suốt. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý VHNT.
Qua tìm hiểu của tác giả được biết, các nhà trường đã xây dựng Chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2026 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 trong đó nêu rõ tầm nhìn, sứ mệnh và hệ thống các giá trị cơ bản mà nhà trường hướng tới, xác định các vấn đề ưu tiên trong đó có vấn đề giáo dục thái độ, động cơ học tập; giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho HS, xây dựng thương hiệu và tín nhiệm của xã hội đối với nhà trường. Bên cạnh đó các nhà trường cũng tích cực trong việc vận động cán bộ, GV, HS nhà trường xây dựng đơn vị văn hóa . Qua quan sát tác giả nhận thấy nhà trường chưa công khai Chiến lược phát triển nhà trường trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như chưa niêm yết tại đơn vị mà chỉ thông qua trước toàn thể CB, GV, NV và HS vào đầu năm học. Do đó số GV, HS có biết nhưng chưa rõ về giá trị cốt lõi và hệ thống các chuẩn mực văn hóa của nhà trường chiếm đa số là điều dễ hiểu. Mặt khác, nhà trường cũng chưa có một kế hoạch riêng nào về chuyên đề xây dựng VHNT, tuy nhiên tại đơn vị có niêm yết tiêu chuẩn cơ quan, đơn vị văn hóa và khẩu hiệu “Quyết tâm xây dựng cơ quan văn hóa”. Công tác quản lý VHNT chưa được cụ thể hóa trong các kế hoạch, vì vậy trong công tác thực hiện còn nhiều vấn đề bất cập, cách hiểu và cách làm của các thành viên trong nhà trường chưa thống nhất và đồng bộ, còn mang tính tự phát, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
- Ảnh hưởng của văn hóa nhà trường đến CBQL, GV và HS
Tác giả đã tiến hành khảo sát về ảnh hưởng của VHNT đến GV, kết quả thu được cho bằng bảng sau:
- Bảng 2.3. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của VHNT đến GV
Kết quả khảo sát ở bảng 2.3 cho thấy: Những nội dung khác nhau của VHNT ảnh hưởng đến GV ở các mức độ khác nhau:
Các biểu hiện của VHNT ảnh hưởng đến GV được phần lớn đánh giá ở mức độ tốt là “GV sẵn sàng hợp tác, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau” xếp ở thứ bậc 1 chiếm 68,3%; “GV cảm thấy thoải mái dễ dàng thảo luận về những vấn đề hay khó khăn mà họ gặp phải” chiếm 60,0% xếp ở thứ bậc thứ 2 và “ GV quan tâm cải thiện thành tích giảng dạy và học tập của nhà trường’ xếp ở thứ bậc 3, các tiêu chí còn lại đều ở mức độ trung bình.
Tuy nhiên, vẫn còn một số biểu hiện được GV đánh giá ở mức độ chưa tốt chiếm tỉ lệ tương đối cao là “GV quan tâm đến công việc của nhau” chiếm 25,0% và “GV tích cực trao đổi phương pháp và kỹ năng giảng dạy” chiếm 21,7% … Điều đó cho thấy mặc dù GV sẵn sàng hợp tác, chia sẻ và học hỏi lẫn nhau nhưng nhiều GV vẫn chưa quan tâm đến công việc của nhau, vẫn “việc ai nấy làm”. Bên cạnh đó phần lớn GV chưa xác định là phải hợp tác cùng lãnh đạo nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra (mức độ trung bình và chưa tốt chiếm 65,0%) và bầu không khí cởi mở, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau tạo động lực để GV quan tâm cải tiến nâng cao chất lượng dạy và học còn hạn chế (mức độ trung bình và chưa tốt chiếm 58,3%).
- Tiến hành tìm hiểu ảnh hưởng của VHNT đến HS, tác giả đã thu được kết quả như sau:
Các biểu hiện của VHNT ảnh hưởng đến HS được HS đánh giá ở các mức độ khác nhau. Đa số HS đánh giá cả 10 biểu hiện ảnh hưởng nêu trên ở mức độ trung bình, mặc dù tiêu chí “ HS cảm thấy thoải mái, vui vẻ, ham học “ được xếp ở thứ bậc 1 nhưng vẫn được đánh giá chỉ ở mức độ trung bình. Trong đó biểu hiện “HS được cởi mở và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau” chiếm tỉ lệ cao nhất là 70,8% và biểu hiện “HS nỗ lực đạt thành tích học tập tốt nhất” đạt 50,0%. Các biểu hiện khác dao động từ 50,8% đến 67,9%.
- Bảng 2.4. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của VHNT đến HS
Tỷ lệ HS đánh giá VHNT có ảnh hưởng ở mức độ tốt đến HS cao nhất ở nội dung “HS nỗ lực đạt thành tích học tập tốt nhất” chiếm 39,6%; tiếp đến là “HS được tôn trọng, được thừa nhận, cảm thấy mình có giá trị” chiếm 38,3% và “HS cảm thấy thoải mái vui vẻ ham học” chiếm 37,9% và thấp nhất là biểu hiện “HS được cởi mỏ và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau” chiếm 18,8%, “Xây dựng mối quan hệ ứng xử, tôn trọng, hiểu biết, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò” chiếm 26,7% và “HS thấy rõ được trách nhiệm của mình” chiếm 27,9%… Qua đó có thể thấy rằng HS còn chưa tích cực trong việc quan tâm đến bạn bè của mình cũng như chưa chịu khó tìm tòi, khám phá tri thức, các hoạt động trải nghiệm còn hạn chế, sự tương tác giữa GV và HS, giữa HS với nhau còn chưa cao. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Các biểu hiện của VHNT được HS đánh giá ảnh hưởng chưa tốt đến HS có tỷ lệ cao hơn các mặt khác, như: “HS được tôn trọng, được thừa nhận, cảm thấy mình có giá trị” chiếm 10,9%; tiếp đến là “HS nỗ lực đạt thành tích học tập tốt nhất” chiếm 10,4% và “HS được cởi mỏ và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau” chiếm 10,4%. Các nội dung khác thể hiện mức độ ảnh hưởng chưa tốt đến HS có tỷ lệ nhỏ hơn.
- Mối quan hệ giữa các thành viên nhà trường
Nhận thấy việc giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng VHNT và là vấn đề có tính nhạy cảm. Tác giả đã trực tiếp trò chuyện với một số CBQL, GV và HS nhà trường để tìm hiểu thêm về vấn đề này và nhận thấy:
Ở trường THCS Bình Minh : Mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường còn sử dụng nhiều mệnh lệnh hành chính. Điều đó rất tốt trong quá trình triển khai những quy định có tính bắt buộc chung cho tất cả mọi người, bao gồm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định, quy chế chuyên môn của ngành mà tất cả mọi người phải tuân theo. Tuy nhiên, vì các quy định mang tính nguyên tắc nhưng không phải ai cũng nắm vững, hiểu rõ nên rất dễ tạo ra không khí làm việc căng thẳng, là điều kiện thuận lợi để xảy ra mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhà trường, dẫn đến kết quả công tác giáo dục trong nhà trường không cao.
Ở trường THCS Đồng Hướng: Quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường được thể hiện ở nhiều khía cạnh. Nhà trường đã thực hiện tương đối tốt các mối quan hệ trong quản lý mang tính nguyên tắc, song cũng đã có sự vận dụng linh hoạt vào từng hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng quản lý để có cách ứng xử phù hợp, nên đem lại hiệu quả cao hơn. Bên cạnh đó, nhà trường đã quan tâm đến sự đoàn kết, gắn bó chặt chẽ, khích lệ GV, HS dạy tốt, học tốt, thực tế đạt được ở mức khá, song người quản lý cần tôn trọng tập thể, phát huy tính dân chủ trong các hoạt động của nhà trường hơn nữa, hạn chế việc quản lý bằng mệnh lệnh hành chính khô cứng mà cần phải tăng cường các biện pháp năng động linh hoạt mềm dẻo có hiệu quả, tạo bầu không khí dân chủ cởi mở khích lệ động viên mọi người, quan tâm lắng nghe ý kiến nguyện vọng và tâm tư của đội ngũ GV và của HS, tránh các việc làm độc đoán, gia trưởng áp đặt của người quản lý với cấp dưới, với HS, hạn chế tối đa và triệt tiêu sự đố kỵ, ghen ghét giữa các thành viên, gây mất đoàn kết nội bộ.
Ở trường THCS Kim Trung: Các CBQL, GV và HS nhận định: Ứng xử, giao tiếp trong nhà trường có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng bầu không khí vui tươi phấn khởi, xây dựng nội bộ đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; ứng xử và giao tiếp tốt còn góp phần xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người, cũng như góp phần hình thành nề nếp, kỷ cương học đường ngày càng tốt hơn, nên các thầy cô giáo ở trường THCS Kim Trung rất hòa đồng và thân thiện, luôn sẵn sàng chia sẻ những cách làm hay và hiệu quả trong công tác chủ nhiệm lớp cũng như công tác giáo dục đạo đức học sinh. Tuy nhiên, đôi lúc sự cư xử chưa hài hòa, thiếu khéo léo, thiếu tế nhị của một số CBQL với GV, của GV với GV, đặc biệt là của GV với HS và HS với nhau đã tạo ra những mâu thuẫn va chạm không cần thiết khiến cho không khí làm việc căng thẳng, chưa phát huy được tính năng động, sáng tạo của các thành viên trong nhà trường.
- Mức độ biểu hiện của các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường THCS
Quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường được thể hiện ở nhiều khía cạnh. Các nhà trường đã thực hiện tương đối tốt các mối quan hệ trong quản lý mang tính nguyên tắc song cũng cần có sự vận dụng linh hoạt vào từng hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng quản lý để có cách ứng xử phù hợp, sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Bên cạnh đó, các nhà trường cũng đã quan tâm đến sự đoàn kết, gắn bó chặt chẽ, khích lệ GV, HS dạy tốt, học tốt, thực tế đạt được ở mức khá, song người quản lý cần tôn trọng tập thể, phát huy tính dân chủ trong các hoạt động của nhà trường hơn nữa, hạn chế việc quản lý bằng mệnh lệnh hành chính khô cứng mà cần phải tăng cường các biện pháp năng động linh hoạt mềm dẻo có hiệu quả, tạo bầu không khí dân chủ cởi mở khích lệ động viên mọi người, quan tâm lắng nghe ý kiến nguyện vọng và tâm tư của đội ngũ GV và của HS, tránh các việc làm độc đoán, gia trưởng áp đặt của người quản lý với cấp dưới, với HS, hạn chế tối đa và triệt tiêu sự đố kỵ, ghen ghét giữa các thành viên, gây mất đoàn kết nội bộ. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Một trong những điểm yếu mà các CBQL, GV và HS đưa ra là quan hệ trong ứng xử và giao tiếp. Ứng xử, giao tiếp trong nhà trường có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng bầu không khí vui tươi phấn khởi, xây dựng nội bộ đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Đồng thời ứng xử và giao tiếp tốt còn góp phần xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người, cũng như góp phần hình thành nề nếp, kỷ cương học đường ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên, đôi lúc sự cư xử chưa hài hòa, thiếu khéo léo, thiếu tế nhị của CBQL với GV, của GV với GV, đặc biệt là của GV với HS và HS với nhau đã tạo ra những mâu thuẫn, va chạm không cần thiết khiến cho không khí làm việc căng thẳng, chưa phát huy được tính năng động, sáng tạo của các thành viên trong nhà trường.
Để tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường, tác giả tiến hành khảo sát để đánh giá mức độ biểu hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường. Kết quả thu được thể hiện ở bảng sau đây:
- Bảng 2.5. Đánh giá của CBQL, GV về mức độ biểu hiện của các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường
Kết quả khảo ở bảng 2.5 cho thấy: Nhìn chung các biểu hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường được CBQL, GV đánh giá là tương đối tốt, vì tỷ lệ đánh giá ở mức tốt chiếm tỷ lệ cao hơn so với mức trung bình, tỷ lệ đánh giá mối quan hệ là chưa tốt là rất ít. Không có sự khác biệt lớn giữa sự đánh giá của CBQL và GV.
Về mối quan hệ giữa CBQL và GV: Các CBQL đều đánh giá tốt về 5 tiêu chí này mặc dù thứ bậc của các tiêu chí này có thể khác nhau. Với GV thì tiêu chí “Chia sẻ quyền lực, mạnh dạn trao quyền” được đánh giá ở mức độ trung bình, còn các tiêu chí kia đều đánh giá ở mưc độ tốt, tuy nhiên về phần xếp thứ bậc giữa CBQL và GV có sự khác biệt đôi chút, như tiêu chí “Tôn trọng, tin cậy, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích sự tiến bộ” được CBGV xếp ở thứ tự ưu tiên hàng đầu nhưng với GV thì tiêu chí này lại xếp ở thứ bậc số 3, tiêu chí “Đánh giá, đối xử công bằng, bình đẳng giữa các GV, tôn trọng quyết định của tập thể” được GV đánh giá cao xếp ở thứ hạng 1 nhưng với CBQL thì tiêu chí này chỉ xếp ở thứ bậc số 3.
Mối quan hệ giữa CBQL và GV có thể nhận thấy việc chia sẻ quyền lực, mạnh dạn trao quyền chưa được thực hiện tốt, có 33,3% GV đánh giá ở mức độ tốt và 58,4% ở mức trung bình, điều đó có nghĩa là các CBQL chưa hoàn toàn yên tâm, tin tưởng khi giao một số công việc nào đó cho GV hoặc còn có tâm lý e dè, chưa mạnh dạn trao quyền cho họ. Bên cạnh đó chỉ có 43,3% GV tích cực hợp tác, tham gia đóng góp ý kiến với lãnh đạo nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra. Số còn lại (56,7%) đóng góp ý kiến ở mức độ trung bình. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Quan hệ giữa GV với GV: Cả CBQL và GV đều có chung quan điểm đó là đánh giá cao sự đoàn kết, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau vì cùng xếp tiêu chí này ở thứ bậc số 1, còn 2 tiêu chí còn lại thì vị trí của hai tiêu chí này lại đổi chỗ cho nhau. Như vậy mối quan hệ giữa GV và GV có vai trò khá quan trọng trong nhà trường vì trong đội ngũ cán bộ GV, NV của nhà trường thì lực lượng GV là chủ yếu; mặt khác nó liên quan đến một hoạt động chính của nhà trường là hoạt động dạy học. Mối quan hệ hợp tác chia sẻ tin cậy, giúp đỡ nhau trong chuyên môn sẽ giúp mỗi GV trưởng thành hơn trong giảng dạy; sự chia sẻ, cảm thông, tôn trọng lẫn nhau sẽ tạo ra sự đoàn kết thống nhất cao góp phần xây dựng tập thể GV nói riêng và nhà trường nói chung vững mạnh. Mối quan hệ tốt đẹp giữa GV với nhau tạo hình ảnh tốt đẹp trong HS, là tấm gương gián tiếp giáo dục HS. Đa số GV thể hiện sự đoàn kết, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau (61,7%); quan tâm, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ và tiến bộ (58,3%); cởi mở, tin cậy, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau (56,7%). Điều đó tạo nên bầu không khí vui tươi, phấn khởi, tạo động lực để GV quan tâm cải tiến, nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời góp phần cải thiện thành tích giảng dạy và học tập của nhà trường. Việc quan tâm đến mối quan hệ này cũng là việc nhà trường đang hình thành xây dựng một hệ giá trị chung trong đơn vị, làm cho mọi thành viên trong nhà trường hiểu rõ, cùng mong muốn thực hiện theo những giá trị tốt đẹp đó. Bên cạnh đó, một số ít (5,0%) GV cho rằng việc quan tâm, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ và tiến bộ ở mức độ chưa tốt, nghĩa là vẫn có 03 GV chưa hài lòng về một khía cạnh nào đó trong mối quan hệ giữa GV với nhau. Do vậy nhà trường cũng cần chú ý tới mối quan hệ này.
Quan hệ giữa GV và HS trong nhà trường thể hiện rõ nét nhất trong quá trình dạy học và cụ thể qua hoạt động dạy và học, hoạt động giao tiếp ứng xử giữa thầy và trò. Điều này có thể tác động tích cực (hoặc tiêu cực) tới quá trình dạy học và quá trình giáo dục. Quan hệ này có tính hai chiều và diễn ra trong quá trình dạy học và giáo dục. Biểu hiện “GV tôn trọng và có sự cảm thông với HS, HS tôn trọng, lễ phép với GV” ở mức độ tốt là 83,3 % đối với GV và 2,80% đối với CBQL và cùng được CBQL và GV đánh giá cao và xếp ở vị trí thứ nhất; biểu hiện “GV trách nhiệm, yêu thương HS, tin cậy và khuyến khích HS rèn luyện, phấn đấu, bày tỏ, phát biểu quan điểm cá nhân” được CBQL và GV đánh giá ở mức độ trung bình đều là 53,3% và mức độ chưa tốt là 5,0% đối với GV và cùng xếp ở thứ bậc 4; Biểu hiện “GV quan tâm phát huy tích cực của HS, HS tích cực hợp tác với GV” ở mức độ tốt là 48,3% đối với GV, 66,7% đối với CBQL; . Bên cạnh đó 55,0% GV cho rằng “GV đặt ra các mong đợi cao và rõ ràng với HS” ở mức độ trung bình. Có thể thấy rằng mối quan hệ giữa GV và HS trong nhà trường còn có ảnh hưởng lớn của những yếu tố thuộc về truyền thống, nhất là truyền thống “tôn sư trọng đạo”, vì vậy việc HS chưa dám mạnh dạn bày tỏ, nói lên suy nghĩ của mình là điều dễ hiểu. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Mối quan hệ giữa GV và HS có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng giáo dục. Thực trạng nêu trên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, cần phải được đánh giá đầy đủ, chính xác, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp hữu hiệu để làm cho mối quan hệ này ngày càng tốt đẹp hơn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đồng thời giữ gìn phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Về mối quan hệ giữa HS với HS: Các biểu hiện đều được CBQL và GV đánh giá ở mức độ tốt, cả CBQL và GV đều xếp biểu hiện ‘Cởi mở và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau’ ở thứ bậc 1 và hai biểu hiện còn lại thì thứ bậc được hoán đổi vị trí cho nhau. Biểu hiện được đa số CBQL, GV, HS đánh giá ở mức độ tốt đó là “HS chấp thuận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau của HS”, điều đó cho thấy các em đã có sự cảm thông, chia sẻ với các bạn có hoàn cảnh khác nhau, biết chấp nhận những khác biệt về nhu cầu và sở thích cá nhân, ít có sự phân biệt giàu, nghèo… Bên cạnh đó có 63,3% CBQL và 55,0% GV đánh giá HS đoàn kết, thân ái, hợp tác, thân thiện ở mức độ tốt. Điều đó rất thuận lợi trong việc tạo dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh. Ngoài ra, tỷ lệ 70,0% CBQL, 46,7% GV cho rằng HS học hỏi, hiểu biết lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ ở mức độ tốt. Như vậy, có thể nhận thấy vẫn còn tỷ lệ lớn HS được đánh giá chưa chịu khó học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ.
Qua thực tế quan sát và tìm hiểu của tác giả được biết đa số các HS trong các nhà trường đều có mối quan hệ đoàn kết, bình đẳng, hợp tác và thân thiện, song bên cạnh đó vẫn có một số HS còn những biểu hiện cá nhân, ích kỷ, thậm chí thiếu văn hóa: nói tục, chửi bậy, gây mất đoàn kết, gây gổ đánh nhau ngay trong trường…điều đó làm cho mối quan hệ giữa các HS chưa thực sự tốt đẹp. Học sinh ở hai trường là trường THCS Đồng Hướng và trường THCS Bình Minh được đánh giá là có ý thức học tập, biết học hỏi lẫn nhau tốt hơn so với trường THCS Kim Trung song với tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, cởi mở và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau thì học sinh trường THCS Kim Trung lại được đánh giá cao hơn hai trường bạn, vì các em sống ở vùng nông thôn nên các em thật thà, chất phát, ngoan hơn và lễ phép hơn.
Việc GD đạo đức, lối sống, kỷ cương, nề nếp học đường cho HS đôi lúc còn chưa được quan tâm đúng mức. Thực trạng trên đòi hỏi nhà trường phải tăng cường các biện pháp giáo dục đạo đức, lý tưởng cho HS, giáo dục kỹ năng sống và tăng cường các biện pháp đảm bảo kỷ cương, nề nếp học đường, ngăn chặn đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong HS.
Đối với học sinh, tác giả tiến hành khảo sát về mối quan hệ giữa GV và HS; giữa HS và HS và thu được kết quả sau:
- Bảng 2.6. Đánh giá của HS về mức độ biểu hiện của các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường
Kết quả khảo ở bảng 2.6 cho thấy: Nhìn chung các biểu hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường được HS đánh giá ở mức tốt. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Về mối quan hệ giữa GV với HS: Biểu hiện “GV tôn trọng và có sự cảm thông với HS, HS tôn trọng, lễ phép với GV” xếp ở thứ bậc 1 với 70,4% HS nhận xét ở mức tốt còn lại là ở mức trung bình chiếm 29,6%, tiếp theo là biểu hiện “GV trách nhiệm, yêu thương HS, tin cậy và khuyến khích HS rèn luyện phấn đấu, bày tỏ, phát biểu quan điểm cá nhân” xếp ở vị trí thứ 2, thứ 3 là biểu hiện “GV quan tâm phát huy tính tích cực của HS, HS tích cực hợp tác với GV” và cuối cùng là biểu hiện “GV đặt ra các mong đợi cao và rõ ràng với HS”. Qua đó chúng ta thấy rằng HS rất cần sự tôn trọng, cảm thông, yêu thương, tin cậy và khuyến khích HS rèn luyện phấn đấu từ giáo viên hơn là đặt ra các mong đợi cao và rõ ràng với HS.
Về mối quan hệ giữa HS với HS: Biểu hiện “Cởi mở và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau” được HS đánh giá tốt nhất, tiếp theo là biểu hiện “Đoàn kết, thân ái, hợp tác thân thiện” xếp ở vị trí thứ 2 và biểu hiện “Học hỏi, hiểu biết lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” xếp ở vị trí thứ 3.
Nhìn chung mối quan hệ giữa các thành viên trong các nhà trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình được đa số CBQL, GV, HS đánh giá tốt, tỷ lệ đánh giá các mối quan hệ này chưa tốt hay không rõ là không nhiều. Tuy nhiên ở một số tiêu chí mức độ trung bình vẫn chiếm tỷ lệ cao đòi hỏi nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng VHNT ngày càng lành mạnh, tích cực và thân thiện hơn. Đồng thời có các biện pháp để ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực trong nhà trường cũng như sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào nhà trường.
- Các hành vi vi phạm các chuẩn mực, nội quy của học sinh nhà trường THCS.
Mức độ biểu hiện của các hành vi văn hóa của HS các nhà trường được biểu hiện qua bảng tổng hợp sau:
Bảng 2.7. Mức độ biểu hiện của các hành vi vi phạm chuẩn mực, nội quy của HS nhà trường
- Kết quả ở bảng 2.7 cho thấy:
Các hành vi liên quan đến việc chấp hành các quy định về giờ giấc, nề nếp ra vào lớp, bao gồm các hành vi ở STT 1. Kết quả khảo sát cho thấy: Phần lớn HS nhà trường chấp hành tốt các quy định về giờ giấc. Có đến 84,6% HS chưa bao giờ mắc một trong số các lỗi như: Đi học muộn. Trốn học, bỏ tiết, nghỉ học không phép. La cà hàng quán, trốn học chơi bi-a, game online ; có 14,6% số HS đôi khi mắc các lỗi trên và có 02 HS chiếm 0,8% nói rằng thường xuyên mắc một trong các lỗi trên nhưng đa số là mắc lỗi đi học muộn. Điều đó cho thấy công tác quản lý về giờ giấc, nề nếp ra vào lớp của các nhà trường được thực hiện tốt, HS có ý thức trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, cũng cần quan tâm đến việc vẫn có HS thường xuyên đi học muộn.
Việc chấp hành các nội quy, quy định về học tập: Được thể hiện qua các hành vi có STT 2, 3. Đây là nội dung cần được quan tâm nhiều nhất. HS thể hiện mức độ chấp hành tốt (tức là chưa bao giờ vi phạm) các quy định về nề nếp học tập ở mức độ trung bình (từ 52,9 % đến 72,9%). Đáng chú ý là có tới 12,9 % HS thường xuyên và 34,2 HS đôi khi chưa chuyên cần trong học tập, thực hiện chưa tốt nề nếp tự học; có 2,5% HS thường xuyên và 24,6 HS đôi khi còn mắc một số lỗi như:mất trật tự trong giờ học, chuẩn bị bài ở nhà chưa đầy đủ. Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử . Tuy nhiên, có 72,9% HS không bao giờ mất trật tự trong giờ học, luôn chuẩn bị bài ở nhà đầy đủ, luôn trung thực trong học tập, kiểm tra, thi cử. Như vậy, có thể thấy học tập là nhiệm vụ chính của HS song việc thực hiện các nhiệm vụ về nề nếp học tập của HS nhà trường thực sự còn chưa tốt. Vẫn còn nhiều HS chưa tích cực, chủ động trong học tập (32,4%) và đặc biệt vẫn còn 2,5% HS số học sinh còn gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử . Nhà trường chưa có biện pháp quyết liệt, hữu hiệu để nâng cao chất lượng các giờ học, giải quyết vấn đề về HS lười học.
Mức độ thể hiện các hành vi về đạo đức, lối sống được biểu hiện ở các hành vi có STT 3;,4; 5; 6; 7. Đây là phần dễ dàng nhìn thấy trong “phần nổi” của “tảng băng chìm” về VHNT. Ở mức độ thường xuyên, chỉ có 2,1% HS thể hiện còn nói tục, chửi bậy hay gây gổ đánh nhau trong và ngoài nhà trường; ở mức độ đôi khi chỉ có 5,4% HS chưa tôn trọng, thân thiện, hòa nhã, đoàn kết với bạn, 32,1% HS còn nói tục, chửi bậy, gây gổ đánh nhau trong và ngoài nhà trường và 27,1% trang phục, đầu tóc chưa nghiêm chỉnh, đúng quy định. Phần lớn (93,7%) HS nhà trường không hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, chất kích thích; 94,6% HS lễ phép, kính trọng thầy cô giáo và người trên và vẫn còn 5,4% HS đôi khi còn vô lễ với các thầy cô giáo và người trên, điều này cần phải được uốn nắn và điều chỉnh kịp thời. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Việc chấp hành pháp luật của Nhà nước và ý thức, trách nhiệm của HS được biểu hiện ở các hành vi có STT 8;9;10. Có 96,2% HS chấp hành tốt pháp luật của nhà nước, đặc biệt là Luật giao thông đường bộ, có ý thức tốt trong việc giữ gìn an ninh trật tự, an toàn trong trường học. Không có HS nào thường xuyên vi phạm các nội dung trên. Một số ít HS (3,8%) đôi khi còn vi phạm luật giao thông đường bộ. Đa số các em 76,7% HS có ý thức giữ gìn vệ sinh trường lớp, bảo vệ cơ sở vật chất, tài sản của nhà trường và 75,4% HS tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội, văn nghệ, thể thao, hoạt động trải nghiệm… nhằm nâng cao kỹ năng sống cho HS.
Qua việc phân tích số liệu khảo sát HS ở bảng 2.7 tác giả đặt ra một số câu hỏi: Tại sao trong khi đa số HS chấp hành tốt các quy định về giờ giấc vẫn còn có HS thường xuyên đi học muộn, nói tục, chửi bậy, gây gổ đánh nhau trong và ngoài nhà trường, mất trật tự trong giờ học, chuẩn bị bài chưa đầy đủ hay tỷ lệ HS thường xuyên chưa chuyên cần trong học tập, thực hiện chưa tốt nề nếp tự học còn cao?… Để tìm hiểu rõ hơn thực trạng này, tác giả tiến hành quan sát thực tế, nghiên cứu các báo cáo, tài liệu liên quan đến việc theo dõi, đánh giá HS của GV chủ nhiệm lớp, của Liên đội nhà trường, sổ ghi đầu bài các lớp và phỏng vấn trực tiếp một số HS. Kết quả thu được như sau:
Về hiện tượng một số HS đi học muộn được ghi nhận nhiều nhất trong sổ trực tuần của Liên đội và Sổ đầu bài của các lớp. Số HS thường xuyên đi học muộn (từ 03 lần trở lên/tháng) không nhiều, chiếm 2,3% HS toàn trường. Những HS này đa số ở ngoài đầm cách xa trường, lại cách sông cách cầu, nhiều khi bị ảnh hưởng bởi thời tiết không thuận lợi dẫn đến việc đi lại khó khăn nên các em thường xuyên đi học muộn. Về hiện tượng này tập trung nhiều ở HS của trường THCS Kim Trung.
Về hiện tượng HS nói tục, chửi bậy, gây gổ đánh nhau trong và ngoài nhà trường, hiện tượng này thì phổ biển ở cả ba nhà trường( THCS Đồng Hướng, THCS Bình Minh, THCS Kim Trung), qua quan sát của tác giả thấy rằng trong khi đùa nghịch, giao tiếp giữa HS với nhau một số em đôi lúc còn nói tục, chửi bậy một cách vô ý thức, nhất là các HS nam. Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận nhỏ HS chưa thật sự có ý thức tốt, còn có thái độ thiếu tôn trọng đối với GV và bài giảng của thầy, cũng như thiếu lịch sự và lễ độ trong giao tiếp với GV, nhất là đối với GV trẻ. Riêng về hiện tượng HS đánh nhau trong nhà trường, qua ghi nhận tại các hồ sơ lưu trong 5 năm trở lại đây các nhà trường không có HS đánh nhau phải mở hội đồng kỷ luật nhưng vẫn có hiện tượng HS có những mâu thuẫn, xích mích dẫn đến tụ tập đông người, gây mất trật tự, bình quân mỗi năm học có khoảng 03 vụ việc / 01 trường buộc phải xử lý. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Trao đổi về vấn đề HS hay nói tục, chửi bậy, bạn L.V.Q trường THCS Kim Trung cho biết: “Nói tục, chửi bậy, chửi thề là rất xấu, em chưa bao giờ nói tục chửi bậy cả, mặc dù trong lớp em cũng có rất nhiều bạn hay nói tục, thậm chí các bạn ấy còn nói những ngôn ngữ mà theo các bạn gọi là ngôn ngữ thời @, em nghe mà không hiểu gì hết”.
Về trang phục và cách ăn mặc, kiểu tóc của HS. Hiện nay các nhà trường đều đã có quy định bắt buộc HS mặc đồng phục đến trường. Nhìn chung, hầu hết các em có ý thức tốt thực hiện. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận HS nam, không tuân theo quy định của nhà trường, mặc không đúng đồng phục hoặc áo bỏ ngoài quần, không sơ vin gọn gàng, tóc để quá dài hoặc nhuộm màu không tự nhiên.
Trao đổi về vấn đề mặc đồng phục khi đến trường, bạn N.T.L.H trường THCS Bình Minh cho biết: “Mặc đồng phục trông sẽ rất đẹp, chúng em sẽ có trách nhiệm hơn với trường, mặc đồng phục sẽ không có sự phân biệt nào được thể hiện, môi trường học sẽ trở nên thân thiện và hòa đồng hơn rất nhiều”.
Về các biểu hiện vi phạm nề nếp học tập, qua nghiên cứu sổ ghi đầu bài của các lớp, hầu hết trong các tuần học lớp nào cũng có HS bị GV ghi vào sổ nhắc nhở về ý thức, thái độ học tập. Các lỗi vi phạm thường gặp là HS còn mất trật tự, làm việc riêng trong giờ học, chưa chuẩn bị bài cũ trước khi đến lớp, chưa tích cực, tự giác trong học tập, lỗi này thường gặp ở các bạn HS trường THCS Kim Trung hơn vì thực tế HS Kim Trung ít nhận được sự quan tâm đầu tư về học tập cũng như mọi điều kiện khác từ gia đình và người thân.
Thực tế những lỗi trên HS hay mắc phải nhưng lại chưa có một biện pháp hữu hiệu nào để giải quyết triệt để các vấn đề nêu trên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng trên nhưng trên hết vẫn là do ý thức cá nhân của mỗi HS chưa có sự cố gắng, nỗ lực vươn lên trong học tập và rèn luyện. Cần có các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho cá nhân mỗi HS, đặc biệt là các HS vi phạm khuyết điểm, giúp các em có động lực để phấn đấu vươn lên. Giải quyết tốt các vấn đề tồn tại trong học tập là điều kiện tốt để xây dựng và phát triển VHNT. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
- Các con đường giáo dục văn hóa nhà trường THCS
Hiện nay các văn bản “pháp lý” mang tính chế tài nhằm điều chỉnh các hành vi văn hóa trong phạm vi nội bộ nhà trường còn thiếu và chưa đồng bộ. Chẳng hạn như chưa có chiến lược phát triển VHNT hay kế hoạch cụ thể trong việc định hướng thực hiện xây dựng VHNT. Vì vậy, trong công tác thực hiện còn nhiều vấn đề bất cập, cách hiểu và cách làm của các thành viên trong nhà trường chưa thống nhất và đồng bộ, còn mang tính tự phát, dẫn đến hiệu quả chưa cao.
Tác giả đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi để tìm hiểu về thực trạng các con đường hình thành VHNT và thu được kết quả cho trong bảng dưới đây:
- Bảng 2.8. Các con đường hình thành VHNT
Kết quả ở bảng 2.8 cho thấy: Các con đường hình thành VHNT rất đa dạng và phong phú, sự đánh của các đối tượng khác nhau có sự khác biệt không nhiều:
Đối với CBQL: 50% cho rằng VHNT hiện tại được hình thành chủ yếu từ việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực và nội quy; 33,3% cho rằng VHNT hình thành từ kinh nghiệm tích lũy được qua thời gian, biểu tượng và truyền thống của nhà trường và 16,7% đánh giá VHNT hình thành từ cách xử lý công việc và việc xây dựng các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường.
Đối với GV: Có 40,0% cho rằng VHNT hiện tại được hình thành chủ yếu từ việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực và nội quy; tiếp đến là từ kinh nghiệm tích lũy được qua thời gian, biểu tượng và truyền thống của nhà trường (25,0%); từ các mục tiêu, chính sách và sự nhất quán trong việc thực hiện những chính sách ấy (11,7%); từ những giá trị và niềm tin, các loại thái độ, cảm xúc và ước muốn cá nhân (10,0%); từ cách xử lý công việc và việc xây dựng các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường (8,3%) và cuối cùng là từ những nghi thức, hành vi và đồng phục của nhà trường (5,0%).
Kết quả đánh giá chung của CBQL và GV: Phần lớn (43,3%) cho rằng VHNT hiện tại được hình thành chủ yếu từ việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực và nội quy, sau đó là từ kinh nghiệm tích lũy được qua thời gian, biểu tượng và truyền thống của nhà trường (27,8%), các nội dung khác dao động từ 3,3 % đến 11,1% và chênh lệch nhau không nhiều.
Như vậy, tuy không có một kế hoạch chuyên đề riêng về xây dựng VHNT giúp cho công tác xây dựng VHNT được đầy đủ, khoa học và toàn diện song có thể thấy trong các mặt hoạt động của các nhà trường cũng đã thể hiện được các nội dung cốt lõi của việc xây dựng VHNT đó là các giá trị và các chuẩn mực văn hóa ứng xử. Hiện tại việc hình thành VHNT chủ yếu được tạo nên qua việc thực hiện các chuẩn mực hành vi, các thủ tục, quy trình mang tính nguyên tắc, tức là mới chú ý đến “bề nổi” của VHNT mà chưa chú ý nhiều đến việc xây dựng thái độ và niềm tin của các thành viên trong nhà trường để từ đó tạo ra động lực để phấn đấu, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục VHNT.
2.2.3. Thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường trung học cơ sở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Văn hóa tổ chức của mỗi nhà trường cũng giống như tính cách của một con người. Nó có cội nguồn trong văn hóa của môi trường xã hội mà trường học ấy đang hoạt động, cũng như trong lịch sử của nhà trường. Nó có tương tác với môi trường, bị chi phối bởi đặc điểm văn hóa của từng cá nhân và nó rất chậm thay đổi. Với cách tiếp cận quản lý VHNT là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến toàn bộ các giá trị, niềm tin và các chuẩn mực xử sự được hình thành và duy trì trong quá trình dạy và học, xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của nhà trường… nhằm đảm bảo xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở HS tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng công tác quản lý VHNT ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình ở các nội dung sau:
- Thực trạng hình thành (xây dựng) văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình hiện nay.
Để tìm hiểu công tác xây dựng VHNT, tác giả tiến hành nghiên cứu các tài liệu thu thập được từ 03 nhà trường (trong các năm học 2023-2024; 2024-2025; 2025-2026) bao gồm: Chiến lược phát triển của nhà trường giai đoạn 2026 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030; kế hoạch của từng năm học; các báo cáo tổng kết năm học; báo cáo tự đánh giá của nhà trường hàng năm, kết hợp với quan sát thực tế ở nhà trường. Kết quả thu được như sau:
Ba nhà trường đã xây dựng được Chiến lược phát triển của nhà trường giai đoạn 2026 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 trong đó có thể hiện một số nội dung cơ bản của xây dựng VHNT, bao gồm: tầm nhìn, sứ mệnh và hệ thống các giá trị cơ bản mà nhà trường hướng tới, xác định các vấn đề ưu tiên trong đó có vấn đề giáo dục thái độ, động cơ học tập; giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho HS, xây dựng thương hiệu và tín nhiệm của xã hội đối với nhà trường… Tuy nhiên chiến lược này lại không được công khai trên các phương tiện thông tin của nhà trường. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Trong khuôn viên các nhà trường đều có trang trí logo – biểu tượng về nhà trường; có treo các nội quy, quy định đối với CB, GV, NV và HS; các tiêu chuẩn về cơ quan, đơn vị văn hóa mà nhà trường hướng tới; có bảng chuẩn mực đạo đức của GV và HS.
Các nhà trường đều có phòng truyền thống được thiết kế, trưng bày các tư liệu, số liệu, hình ảnh, hiện vật thể hiện được chặng đường xây dựng và phát triển của nhà trường trong những năm qua.
Tuy nhiên trong các kế hoạch năm học cũng như các báo cáo tổng kết năm học của các nhà trường không có nội dung riêng nào về xây dựng VHNT. Trong các văn bản này ít nhiều có đề cập đến các nội dung nhận thức, tu dưỡng rèn luyện và thực hiện các hành vi, chuẩn mực về đạo đức lối sống, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn dạy và học, xây dựng tình thần đoàn kết trong tập thể sư phạm… để xây dựng tập thể sư phạm nhà trường vững mạnh, các tiêu xây dựng chất lượng đội ngũ, chất lượng học lực và hạnh kiểm của HS, việc xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm của nhà trường.
- Thực trạng việc lập kế hoạch xây dựng văn hóa nhà trường
Tiến hành tìm hiểu thực trạng việc lập kế hoạch xây dựng VHNT ở một số trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, tác giả tiến hành quan sát thực tế, nghiên cứu các tài liệu về các nhà trường. Kết quả thu được như sau:
Hàng năm các nhà trường đều xây dựng kế hoạch năm học trong đó có đề ra các nhiệm vụ trọng tâm, các chỉ tiêu và biện pháp chủ yếu thực hiện trong năm học như: Công tác xây dựng đội ngũ, kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục, công tác xây dựng cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường sư phạm; công tác phối hợp với cha mẹ học sinh, các tổ chức, đoàn thể, cá nhân để giáo dục HS về truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc và huy động các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường; xây dựng các chỉ tiêu về kết quả xếp loại GV, xếp loại học lực, hạnh kiểm của HS; kế hoạch thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động trong năm học… Chỉ đạo thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu trong Chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2026 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 cũng như các nội dung đặt ra trong kế hoạch mỗi năm học. Thực hiện chính sách toàn diện đối với các đối tượng là thành viên của nhà trường và các mối quan hệ giữa các thành viên đó.
- Bảng 2.9. Đánh giá việc thực hiện xây dựng VHNT THCS
Theo kết quả bảng 2.9 ta thấy: Các nội dung đưa ra khảo sát đều được đánh giá ở mức Khá, điều đó chứng tỏ việc lập kế hoạch xây dựng VHNT ở các trường THCS trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình là thường xuyên, có 2 nội dung đạt mức thường xuyên cao nhất là nội dung “ Kế hoạch chỉ rõ mốc thời gian, nội dung phù hợp với hiện tại” và “Kế hoạch tập huấn cho giáo viên về xây dựng VHNT THCS” (đạt 75,6%) còn các nội dung khác dao động từ 57,8% đến 72,2%, như vậy các nhà trường THCS đã thường xuyên đưa ra các mốc thời gian rõ ràng và nội dung phù hợp với điều kiện thực tế tại mỗi nhà trường khi lập kế hoạch xây dựng các nội dung đầu năm học trong đó có các nội dung về xây dựng VHNT các trường THCS.
Mức độ rất thường xuyên cho các nội dung trên ở đa số các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình là còn thấp. Đặc biệt ở một số trường vẫn còn tình trạng 13,3% GV chưa bao giờ biết là có “Kế hoạch kiểm tra, thanh tra việc xây dựng VHNT THCS” hay 8,9% GV cũng chưa bao giờ biết là có nội dung“Kế hoạch tập huấn kĩ năng lôi cuốn các lực lượng khác ở địa phương tham gia xây dựng VHNT THCS”. Điều đó chứng tỏ rằng việc lập kế hoạch xây dựng VHNT ở các trường THCS trên địa bàn huyện Kim Sơn cần được quan tâm hơn nữa song song với việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
- Thực trạng việc tổ chức xây dựng văn hóa nhà trường
Trong những năm qua, để duy trì VHNT cấp ủy, lãnh đạo các nhà trường đã chỉ đạo, tổ chức triển khai việc xây dựng VHNT trong tất cả các hoạt động của nhà trường, Cụ thể: Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Các nhà trường luôn thường xuyên tổ chức quán triệt việc thực hiện đạo đức nhà giáo, ở đó tăng cường bồi dưỡng về nhận thức vị trí vai trò của người thầy; Tổ chức tốt việc đánh giá chuẩn Hiệu trưởng và chuẩn nghề nghiệp GV. Tổ chức tốt việc thực hiện kỷ luật lao động, quy chế chuyên môn. Phổ biến và hướng dẫn kịp thời cho CBGV học tập và thực hiện đúng theo quy chế đánh giá xếp loại HS Bộ mới ban hành. Tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Đề ra quy định về trang phục của GV khi lên lớp, tư thế tác phong, nếp sống, ứng xử mẫu mực; thương yêu giúp đỡ HS.
- Bảng 2.10. Đánh giá việc tổ chức thực hiện xây dựng VHNT THCS
Theo kết quả bảng 2.10 ta thấy: Các nội dung đưa ra khảo sát đều chỉ đạt ở mức Khá, mức độ trường xuyên và rất thường xuyên đạt ở mức độ khá cao, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận nhỏ CBQL, GV chưa bao giờ thực hiện 1 trong 4 nội dung đưa ra. Điều đó chứng tỏ các nội dung trên được các nhà trường thường xuyên triển khai và tổ chức thực hiện lồng ghép với các hoạt động giáo dục trong nhà trường, nhưng vẫn có một bộ phận nhỏ đội ngũ CBQL, GV chưa ủng hộ và tham gia nhiệt tình việc thực hiện xây dựng VHNT .
Mỗi GV trong các nhà trường luôn không ngừng học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt, phong trào rèn luyện đạo đức nhà giáo thể hiện ở các mặt: 100% GV đều có ý thức tổ chức kỷ luật, trách nhiệm với công việc và tinh thần phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, chống lại các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong giáo dục. Các thầy cô luôn yêu ngành, yêu nghề, yên tâm công tác và hết lòng thương yêu HS. đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhà trường thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở và kịp thời uốn nắn các hành vi chưa chuẩn mực của GV. Mỗi cán bộ lãnh đạo thực sự là những tấm gương tiêu biểu vễ đạo đức, lối sống. Phong trào tự học và sáng tạo đối với GV đã thể hiện việc tự học vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa để nêu gương cho HS, các GV không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà còn tự học tin học, ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp. Sáng tạo của các thầy cô chủ yếu thể hiện trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy qua từng bài học, đổi mới trong cách quản lý và giáo dục HS và sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy.
- Thực trạng việc chỉ đạo xây dựng văn hóa nhà trường
Kết quả việc chỉ đạo xây dựng VHNT THCS được cho bằng bảng số liệu sau:
- Bảng 2.11. Đánh giá việc chỉ đạo xây dựng VHNT Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Theo kết quả bảng 2.11 ta thấy: Nội dung ‘‘Chỉ đạo đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức thực hiện xây dựng VHNT” được xếp thứ bậc cao nhất( bậc 1) với mức độ thực hiện thường xuyên cao nhất( 66,7%), tiếp theo là nội dung “Chỉ đạo việc bố trí thời gian hợp lí xây dựng VHNT” xếp thứ bậc số 2 cũng với mức độ thường xuyên cao thứ 2( 64,4%); xếp ở vị trí cuối cùng là nội dung “Chỉ đạo chuẩn bị và sử dụng các thiết bị, phương tiện xây dựng VHNT”với mức độ thường xuyên thấp hơn cả.
Các nhà trường thường xuyên tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, đặc biệt là sử dụng các phần mềm quản lý như phần mềm quản lý chuyên môn, phần mềm quản lý nhân sự EMIS, PMIS, quản lý tài chính, quản lý thư viện… Tích cực bồi dưỡng nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin cho các cán bộ phụ trách các bộ phận; duy tu, bảo dưỡng và mua sắm thêm hệ thống máy vi tính mới, bảng tương tác. Xây dựng Website của trường từ các năm học 2021- 2022 với giao diện đẹp, nội dung toàn diện, phong phú thông tin, phản ánh được đầy đủ, chi tiết vcác hoạt động của nhà trường và ngày càng được hoàn thiện hơn.
- Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá xây dựng văn hóa nhà trường
Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nội dung về VHNT được tiến hành lồng ghép trong công tác kiểm tra việc chấp hành các nội quy, quy định của nhà trường và trong việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Hàng năm định kỳ 2 lần vào cuối học kỳ I và vào cuối năm học, nhà trường tiến hành kiểm tra, đánh giá, bình xét, xếp loại thi đua đối với CB, GV, NV và HS trong việc thực hiện nhiệm vụ, chấp hành những nội quy, quy định của nhà trường. Công tác đánh giá, phân loại được thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định, đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ. Qua việc kiểm tra, đánh giá, bình xét thi đua đã lựa chọn và bình bầu các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đề nghị các cấp có thẩm quyền công nhận, khen thưởng, tạo được động lực cho CB, GV, NV và HS phấn đấu vươn lên.
- Bảng 2.12. Đánh giá việc kiểm tra, đánh giá xây dựng VHNT THCS
Qua bảng 2.12 ta thấy : Các nội dung khảo sát trên đều được đánh giá ở mức độ Khá, xếp ở thứ số 1 là nội dung “ Kiểm tra tiến độ thực hiện xây dựng VHNT” với tỉ lệ rất thường xuyên cao nhất( 20,0%), xếp ở thứ bậc tiếp theo là nội dung “ Kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực trong xây dựng VHNT” với tỉ lệ mức độ thường xuyên cao nhất( 71,1%), xếp ở vị trí cuối cùng là nội dung “ Kiểm tra việc rút kinh nghiệm về việc phát huy xây dựng VHNT” với tỉ lệ của 2 mức độ rất thường xuyên và thường xuyên thấp nhất. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Trong những năm qua, để duy trì VHNT cấp ủy, lãnh đạo các nhà trường đã chỉ đạo, tổ chức triển khai việc duy trì các kết quả đã đạt được trong tất cả các hoạt động xây dựng VHNT, Cụ thể:
Thực hiện tốt việc phối hợp quản lý giáo dục HS giữa các lực lượng: GV chủ nhiệm, đội sao đỏ của liên đội trường, gia đình HS. Tổ chức bồi dưỡng cán bộ lớp, đội sao đỏ xây dựng tập thể tự quản; tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, nâng cao chất lượng các tiết sinh hoạt tập thể, sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi đoàn lớp; tăng cường giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng sống…, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động theo kế hoạch giáo dục và chủ đề, chủ điểm hàng tháng trong năm học; đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao, văn nghệ, tổ chức các cuộc thi, sáng tạo kỹ thuật… Phối hợp tốt với các tổ chức đoàn thể, các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia cùng giáo dục HS, đặc biệt là cha mẹ HS.
Mỗi sáng thứ hai hàng tuần các Hiệu trưởng thường họp giao ban với hội đồng sư phạm nhà trường để đánh giá tình hình HS tuần vừa qua và triển khai kế hoạch tuần tiếp theo. Cuối mỗi tuần Liên đội trưởng cùng với giáo viên tổng phụ trách Đội đều có đánh giá thi đua giữa các tập thể lớp, đánh giá thi đua cuối kỳ, cuối năm học. Nhìn chung các năm qua nền nếp HS đảm bảo tốt, cuối năm số tập thể lớp đạt tập thể lớp tiên tiến đạt tỉ lệ cao; Tỉ lệ HS có hạnh kiểm khá, tốt cao, không có HS xếp loại hạnh kiểm yếu và HS vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội.
Bên cạnh những điểm chung mà các nhà trường đã đạt được thì riêng mỗi nhà trường do có những chiến lược và các cách đi riêng nên mỗi nhà trường lại có những điểm riêng mang tính đặc trưng của từng trường, cụ thể:
Trường THCS Đồng Hướng, một trong những là cờ đầu của ngành giáo dục huyện Kim Sơn thì phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” luôn tiếp tục được phát huy và đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn thu hút 100% CB, GV, HS tham gia. Các hình thức nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt” được tập trung vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với chương trình phân ban và trình độ của HS, nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn ở các tổ, nhóm chuyên môn. Tích cực dự giờ thăm lớp, trao đổi kinh nghiệm trong tổ nhóm chuyên môn, tiến hành hội giảng vào các dịp 20/11, 08/3. Nhiều giờ hội giảng với chủ đề đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học được thực hiện. Thông qua các giờ hội giảng đó mỗi thầy cô giáo thấy được những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác giảng dạy, biết ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại. Trong mỗi năm học, nhà trường đều tổ chức thi GV giỏi cấp trường cho một số các bộ môn, tạo không khí thi đua sôi nổi trong phong trào thi đua dạy tốt tại đơn vị. Công đoàn đã làm tốt công tác vận động đoàn viên tích cực hưởng ứng tham gia cuộc thi, động viên tinh thần tạo điều kiện về thời gian… cho các GV tham gia thi. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Ở trường THCS Bình Minh: Phong trào xây dựng “Cơ quan, đơn vị văn hoá”, “Gia đình văn hoá” đã được chú trọng, cuộc vận động xây dựng gia đình nhà giáo văn hoá được đông đảo CB, GV, NV hưởng ứng và thực hiện có kết quả cao. 100% các gia đình nhà giáo đều là gia đình văn hoá. Nhà trường đã làm tốt việc phối kết hợp với chính quyền phát động các phong trào thi đua, thực hiện dân chủ hoá trường học, quan tâm tới đời sống, cơ sở vật chất và tinh thần của CB, GV, NV nhà trường, xây dựng mối đoàn kết tập thể, tích cực xây dựng cơ quan văn hoá. Bên cạnh đó công tác phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi đã được nhà trường quan tâm. Với các hình thức bồi dưỡng linh hoạt các GV cũng rất tích cực bồi dưỡng đội tuyển HS giỏi, GV nhà trường khi được phân công bồi dưỡng đội tuyển đều có nhận thức đúng đắn với tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình, trách nhiệm nên chất lượng mũi nhọn của nhà trường cũng luôn đứng tốp đầu của tiểu khu và xếp thứ tự cao trong toàn huyện.
Còn ở trường THCS Kim Trung: Tuy là một trường thuộc vùng bãi ngang ven biển, có nền kinh tế đặc biệt khó khăn cũng đã thực hiện tốt phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” của ngành GD, hướng tới xây dựng trường chuẩn quốc gia, nhà trường đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, khuôn viên nhà trường luôn đảm bảo an toàn, sạch sẽ, có nhiều cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn. Lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế phù hợp với lứa tuổi HS. Có đủ nhà vệ sinh cho GV, HS và được giữ gìn sạch sẽ. HS tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường sư phạm. Tổ chức dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện của địa phương, giúp các em tự tin trong học tập. Tăng cường giáo dục đạo đức và rèn luyện kỹ năng sống cho các em HS thông qua các buổi sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp. Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao. Tổ chức các trò chơi dân gian trong các dịp lễ hội…
Nhìn chung, trong những năm qua, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chính của nhà trường là công tác dạy và học, công tác duy trì VHNT tuy không được tách thành nội dung riêng nhưng đã được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động của nhà trường, từ việc xây dựng các mục tiêu, kế hoạch, chính sách, các chuẩn mực, nội quy đến việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cũng như công tác chỉ đạo, kiểm tra tại đơn vị. Có thể thấy các nội dung về VHNT đã được thực hiện một cách nghiệm túc, phát huy được sức mạnh của các tổ chức và cá nhân trong nhà trường, xây dựng khối đoàn kết nhất trí cao trong tập thể nhà trường góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nhà trường qua mỗi năm học.
2.3. Đánh giá thực trạng Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
2.3.1. Điểm mạnh
Cả ba nhà trường đề có đội ngũ CB, GV, NV được biên chế đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng. 100% CB, GV, NV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn. Các thầy cô luôn yêu nghề, yên tâm công tác, nhiệt tình có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc và luôn mong muốn nhà trường phát triển. Có nhận thức tốt về tầm quan trọng của VHNT, sẵn sàng hợp tác, học hỏi và chia sẻ với nhau trong công việc và cuộc sống.
HS nhà trường đa số chăm ngoan, có tinh thần, ý thức cao trong học tập và rèn luyện; đoàn kết, thân thiện và hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Chất lượng giáo dục của nhà trường ngày càng được nâng cao, uy tín của nhà trường ngày càng được khẳng định.
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường từng bước được đầu tư xây dựng đáp ứng yêu cầu của trường chuẩn quốc gia và yêu cầu đổi mới giáo dục.
- Bên cạnh những điểm mạnh chung, thì mỗi nhà trường còn có những mặt mạnh riêng:
Trường THCS Đồng Hướng với bề dày truyền thống 63 năm xây dựng và phát triển, là một trong những là cờ đầu của ngành giáo dục huyện Kim Sơn thì phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” luôn tiếp tục được phát huy và đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn thu hút 100% CB, GV, HS tham gia. Các hình thức nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt” được tập trung vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với chương trình phân ban và trình độ của HS, nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn ở các tổ, nhóm chuyên môn. Tích cực dự giờ thăm lớp, trao đổi kinh nghiệm trong tổ nhóm chuyên môn, tiến hành hội giảng vào các dịp 20/11, 08/3. Nhiều giờ hội giảng với chủ đề đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học được thực hiện. Thông qua các giờ hội giảng đó mỗi thầy cô giáo thấy được những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác giảng dạy, biết ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại. Trong mỗi năm học, nhà trường đều tổ chức thi GV giỏi cấp trường cho một số các bộ môn, tạo không khí thi đua sôi nổi trong phong trào thi đua dạy tốt tại đơn vị. Công đoàn đã làm tốt công tác vận động đoàn viên tích cực hưởng ứng tham gia cuộc thi, động viên tinh thần tạo điều kiện về thời gian… cho các GV tham gia thi.
Trường THCS Bình Minh: Phong trào xây dựng “Cơ quan, đơn vị văn hoá”, “Gia đình văn hoá” đã được chú trọng, cuộc vận động xây dựng gia đình nhà giáo văn hoá được đông đảo CB, GV, NV hưởng ứng và thực hiện có kết quả cao. 100% các gia đình nhà giáo đều là gia đình văn hoá. Nhà trường đã làm tốt việc phối kết hợp với chính quyền phát động các phong trào thi đua, thực hiện dân chủ hoá trường học, quan tâm tới đời sống, cơ sở vật chất và tinh thần của CB, GV, NV nhà trường, xây dựng mối đoàn kết tập thể, tích cực xây dựng cơ quan văn hoá. Bên cạnh đó công tác phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi đã được nhà trường quan tâm. Với các hình thức bồi dưỡng linh hoạt các GV cũng rất tích cực bồi dưỡng đội tuyển HS giỏi, GV nhà trường khi được phân công bồi dưỡng đội tuyển đều có nhận thức đúng đắn với tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình, trách nhiệm nên chất lượng mũi nhọn của nhà trường cũng luôn đứng tốp đầu của tiểu khu và xếp thứ tự cao trong toàn huyện.
Còn ở trường THCS Kim Trung: Tuy là một trường thuộc vùng bãi ngang ven biển, có nền kinh tế đặc biệt khó khăn cũng đã thực hiện tốt phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” của ngành GD, hướng tới xây dựng trường chuẩn quốc gia, nhà trường đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, khuôn viên nhà trường luôn đảm bảo an toàn, sạch sẽ, có nhiều cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn. Lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế phù hợp với lứa tuổi HS. Có đủ nhà vệ sinh cho GV, HS và được giữ gìn sạch sẽ. HS tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường sư phạm. Tổ chức dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện của địa phương, giúp các em tự tin trong học tập. Tăng cường giáo dục đạo đức và rèn luyện kỹ năng sống cho các em HS thông qua các buổi sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp. Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao. Tổ chức các trò chơi dân gian trong các dịp lễ hội…
Nhìn chung, trong những năm qua, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chính của nhà trường là công tác dạy và học, công tác duy trì VHNT tuy không được tách thành nội dung riêng nhưng đã được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động của nhà trường, từ việc xây dựng các mục tiêu, kế hoạch, chính sách, các chuẩn mực, nội quy đến việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cũng như công tác chỉ đạo, kiểm tra tại đơn vị. Có thể thấy các nội dung về VHNT đã được thực hiện một cách nghiệm túc, phát huy được sức mạnh của các tổ chức và cá nhân trong nhà trường, xây dựng khối đoàn kết nhất trí cao trong tập thể nhà trường góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nhà trường qua mỗi năm học.
2.3.2. Điểm yếu Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Nhận thức của một bộ phận CBQL, GV, HS nhà trường về vị trí, vai trò của công tác quản lý VHNT còn hạn chế dẫn đến một bộ phận HS chưa có cố gắng trong học tập và rèn luyện, còn lười học, chưa tự giác, hay vi phạm nội quy, chuẩn mực đạo đức của nhà trường.
Công tác quản lý VHNT còn chưa được quan tâm đúng mức, nội dung quản lý VHNT chưa được cụ thể hóa, chưa có định hướng chiến lược và các biện pháp hữu hiệu nên quá trình thực hiện còn mang tính tự phát nên chưa phát huy được vai trò chủ thể của các cá nhân trong nhà trường và hiệu quả đạt được chưa cao.
Cơ sở vật chất chưa đồng bộ và hiện đại, chưa có nhà đa năng để phục vụ các hoạt động tập thể của nhà trường và luyện tập thể dục, thể thao cho GV, HS.
Công tác kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ và chưa thường xuyên, còn mang nặng tính phong trào, chưa đi vào thực chất của vấn đề. Vì vậy chưa phát huy được hiệu quả, sức mạnh đặc thù của VHNT. Công tác thông tin tuyên truyền chưa được chú trọng.
Kết luận chương 2
Qua nghiên cứu thực trạng VHNT và thực trạng công tác quản lý xây dựng VHNT ở các trường THCS huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình có thể thấy:
Trong những năm qua các nhà trường đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong việc thực hiện nhiệm vụ trên tất cả các mặt hoạt động, trong đó có công tác quản lý VHNT. Các nhà trường đã xây dựng được Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 trong đó nêu rõ tầm nhìn, sứ mạng, hệ thống các giá trị cơ bản mà các nhà trường thực hiện và hướng đến trong tương lai. Đây là văn bản “pháp lý” có tính định hướng rõ nét nhất về công tác quản lý VHNT.
Tuy nhiên, việc quản lý VHNT chưa được thể hiện một cách rõ nét, chưa có tính hệ thống, chuyên sâu và chưa được quan tâm đúng mức, còn bất cập với yêu cầu tác quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay cũng như với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển của khoa học và công nghệ. Vẫn tồn tại một bộ phận HS có các hành vi vi phạm chuẩn mực và nội quy của trường, của ngành; còn một số cán bộ GV chưa nhận thức rõ, đầy đủ về tầm quan trọng của quản lý VHNT, về nội dung, phương thức, con đường, về mối quan hệ giữa các thành viên nhà trường trong công tác quản lý VHNT; các nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động còn riêng lẻ, đơn điệu mờ nhạt, chưa phối kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường; vai trò của các tổ chức đoàn thể và đội ngũ GV chủ nhiệm chưa được phát huy cao, trong khi đó một số thành viên trong nhà trường lại chưa thực sự tích cực, tự giác, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động có tính chất xây dựng VHNT ở đơn vị mình. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS.
Nhận thức quản lý VHNT là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần khẳng định thương hiệu và uy tín của nhà trường, để khắc phục những hạn chế nêu trên cần phải xây dựng một hệ thống các biện pháp đầy đủ, đồng bộ, rõ nét và có tác dụng thiết thực, giúp công tác quản lý của nhà trường ngày càng hoàn thiện và hiệu quả.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

