Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh của nhân viên văn phòng tại TP. HCM dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1 Quy trình nghiên cứu
Từ các mục tiêu cụ thể của vấn đề nghiên cứu, cùng với các cơ sở lý luận khoa học của đề tài, bài nghiên cứu sẽ được triển khai dựa trên hai phương pháp định lượng và định tính, trình tự thể hiện trong sơ đồ 3.1 như sau:

3.2 Nghiên cứu định tính Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Nghiên cứu định tính được hiểu là một hình thức của nghiên cứu khám phá, mà qua đó các thông tin, dữ liệu đều được đưa ra dưới dạng định tính thông qua phương pháp diễn dịch. Các kết quả của phương pháp này sẽ là nền tảng để thực hiện bảng hỏi trong phần nghiên cứu định lượng. Từ các công trình khoa học đi trước, tác giả kế thừa để xây dựng các biến trong thang đo, kết hợp với việc hiệu chỉnh, bổ sung để hợp lý hóa ngữ cảnh cũng như sử dụng các thuật ngữ hiện hành trong lĩnh vực khảo sát. Ngoài ra, các biến trong thang đo sẽ được hiệu chỉnh, bổ sung dựa trên những thông tin được trao đổi với những đối tượng nghiên cứu.
Mục tiêu của phương pháp định tính này là để làm rõ ràng hơn các ý nghĩa của từng nhân tố, thêm vào đó là điều chỉnh và bổ sung biến quan sát để đưa vào phân tích sự phù hợp của những khái niệm. Thêm vào đó, việc kiểm tra tính chính xác và sự rõ ràng của các câu hỏi cũng được tiến hành. Trong bài này, bên cạnh các yếu tố sẵn có của mô hình, tác giả còn đi tìm hiểu và đề xuất thêm những yếu tố khác nhờ sự góp ý từ ý kiến của giảng viên cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực.
Dựa vào thang đo sơ bộ và kết quả từ nghiên cứu định tính, bảng câu hỏi khảo sát sẽ được hoàn thiện để sử dụng trong nghiên cứu định lượng tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu định tính sau khi đóng góp ý kiến của 03 chuyên gia từ hội đồng bảo vệ đề cương và giáo viên hướng dẫn như sau:
Xác định đối tượng nghiên cứu phải có mức thu nhập hàng đạt đạt từ 8 triệu trở lên, bởi vì với mức thu nhập này thì cơ bản nhân viên văn phòng mới thật sự có cơ hội tiếp xúc nhiều với sản phẩm xanh cung như có thể điều tiết các QDTDX
Thay đổi yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi trùng lập với yếu tố Nhận thức rủi ro nên tác giả đã đề xuất yếu tố thay thế là Nhận thức về giá để phù hợp hơn với đối tượng nghiên cứu và đã được thông hội đồng, giáo viên hướng dẫn xem xét thông qua.
3.3 Nghiên cứu định lượng Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Từ kết quả nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm và phỏng vấn chuyên gia, thang đo đã được điều chỉnh lại, sau đó đưa ra thang đo chính thức bao gồm số lượng 38 biến quan sát với 7 biến độc lập, 1 biến phụ thuộc và 8 khái niệm cần triển khai các phân tích đo lường.
3.3.1 Chọn mẫu
3.3.1.1 Kích thước mẫu
Đối với các bài nghiên cứu thực hành, thì ít nhất cần có cỡ mẫu đạt từ 150-200 quan sát (Roger, 2006). Còn theo Hair, Anderson, Tatham và Black (1998) kích thước mẫu ít nhất để thực hiện phân tích nhân tố khám phá phải gấp 5 lần số lượng biến quan sát tổng (5n), mới được coi là phù hợp (Comrey, 1973; Roger, 2006). Theo công thức đó, với số lượng là 38 biến quan sát, bài nghiên cứu cần tiến hành thu thập số mẫu ít nhất là 38 x 5 = 190 quan sát.
Theo Tabachnick và Fidell (1996), cỡ mẫu ít nhất cần có để tiến hành các phân tích hồi quy đa biến phải thỏa mãn công thức n = 50 + 8m, trong đó m là ký hiệu của số biến độc lập. Trong nghiên cứu này phân tích hồi quy được tiến hành trên 7 biến độc lập, do đó cần ít nhất 50 + 8 x 7 = 106 quan sát. Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Tựu chung lại, khi thiết kế số lượng mẫu cần đáp ứng đủ những công thức lý thuyết được đề cập và nguyên tắc có tính phù hợp nghiên cứu, do đó trong bài viết này, số lượng mẫu ít nhất cần đáp ứng là 200, và đây được coi là cơ sở để chuẩn bị số lượng sẽ thực hiện khảo sát. Để đảm bảo rằng có những sai sót trong thu thập dữ liệu nhưng vẫn đạt được kích thước mẫu đề ra thì tác giả tiến hành khảo sát form giấy đến 260 người khảo sát tại 2 khu vực TTTM Gigamall/Sense City (số 242, Phạm Văn Đồng, Thành phố Thủ Đức, TP.HCM) và Aeon Bình Tân (số 1 đường số 17A, Bình Trị Đông B, Bình Tân, TP.HCM).
3.3.1.2 Phương pháp chọn mẫu
Các đối tượng tham gia trả lời khảo sát của bài là tất cả những khách tham quan mua sắm tại khu vực khảo sát thuộc nhân viên văn phòng có thu nhập mỗi tháng ổn định và đã biết hoặc từng mua các sản phẩm xanh đến tham quan mua sắm tại hai trung tâm thương mại (TTTM) tại quận Thủ Đức và quận Bình Tân thuộc TP.HCM.
Qua quá trình khảo sát, 260 người khảo sát đã được thu thập thông tin về việc đưa ra nhận xét về những nhân tố ảnh hưởng đến QDTDX tại 2 khu vực trên và đã thu về đủ 260 mẫu khảo sát. Có 54 mẫu khảo sát không phù hợp bao gồm 35 phiếu khảo sát không biết, không chắc chắn biết về tiêu dùng xanh và 19 phiếu không hoàn thành tất cả các câu hỏi 100%. Vì vậy, có 206 phiếu hợp lệ được dùng để tiến hành triển khai những phân tích tiếp theo.
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Thu thập số liệu thứ cấp: Nguồn số liệu được trích dẫn từ các tài liệu đã công bố như số liệu thống kê của Tạp Chí Công Thương, Tạp Chí Tài Chính, Tạp Chí Tài Chính Việt Nam. Số liệu từ các số liệu báo cáo, số liệu từ các nguồn trên báo và tạp chí khác.
Thu thập số liệu sơ cấp: thiết kế bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 điểm nhằm đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố tác động đến QDTDX của nhân viên văn phòng. Các bảng khảo sát được gửi tới nhóm đối tượng nghiên cứu được thực hiện thông qua liên kết trên Google Form nhưng sau khi tiến hành khảo sát đã gặp rất nhiều vấn đề về đối tượng khảo sát sợ gặp rủi ro về liên kết link khảo sát như lừa đảo. Chính vì điều này tác giả đã chọn phương án khảo sát trên form giấy trực tiếp.
3.3.3 Phương pháp xử lý thông tin
Do mô hình nghiên cứu của tác giả hướng đến việc đưa ra các tác nhân tác động đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại TP.HCM. Chính vì vậy tác giả đã loại bỏ các bảng khảo sát không biết về tiêu dùng xanh. Dựa vào số liệu thứ cấp và sơ cấp nhận được, những phân tích tiếp theo được triển khai sẽ bao gồm: thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá EFA, hồi quy và kiểm định giả thuyết. Những phân tích này sẽ được xử lý bằng cách việc sử dụng phần mềm SPSS 20. Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
3.4 Xây dựng thang đo
Trong bài luận văn này, thang đo được dựng dựa trên các bài viết trước đó, được dịch sang tiếng Việt và đã trải qua quá trình hiệu chỉnh, bổ sung dựa trên các nghiên cứu định tính, cùng sự chỉ dẫn từ giảng viên.
Bảy yếu tố tác động đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại TP.HCM như sau: Giá trị cảm nhận xanh (1), Chất lượng cảm nhận xanh (2), rủi ro nhận thức (3), niềm tin về sản phẩm (4), hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng (5), tiêu chuẩn chủ quan (6), nhận thức về giá (7).
Các nghiên cứu định tính được tiến hành nhằm làm rõ với phỏng vấn chuyên gia từ hai giảng viên và giáo viên hướng dẫn trực tiếp giảng dạy tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, tùy chỉnh và bổ sung những biến quan sát dựa trên cơ sở lý thuyết. Song song đó là việc kiểm tra từ ngữ được sử dụng, thay đổi để hợp lý hóa bối cảnh, nhằm mục tiêu giúp người tham gia có thể hiểu đúng và đủ ý nghĩa để đưa ra những câu trả lời chính xác nhất để có bộ dữ liệu chất lượng nhất. Trong bài này này các biến quan sát sẽ dùng thang đo Likert 5 mức độ để đo lường với sự đồng ý tăng dần từ (1) Hoàn toàn không đồng ý tới (5) Hoàn toàn đồng ý.
3.4.1 Thang đo giá trị cảm nhận xanh Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Giá trị cảm nhận xanh bao gồm 5 biến quan sát được phát triển đã được phát triển từ thang đo của các nghiên cứu trước đó từ các tác giả Hamed Dehganan và Ghasem Bakhshandeh (2014). Wasaya, A và cộng sự (2021); Zhuang, W. và cộng sự (2021); Phan Thị Ân Tình (2021).
Bảng 3. 1 Thang đo Giá trị cảm nhận cảm nhận xanh
| Ký hiệu | Thang đo gốc | Nguồn | Thang đo sau khi hiệu chỉnh |
| GT1 | Sản phẩm xanh có chức năng mang lại giá trị cho tôi. | Hamed Dehganan; Ghasem | Sản phẩm xanh có chức năng mang lại nhiều lợi ích cho con người. |
| GT2 | Sản phẩm xanh có hiệu suất thỏa mãn cho các nhu cầu của tôi. | Bakhshandeh (2014); Wasaya, A và cộng sự (2021); | Hiệu quả của sản phẩm xanh mang lại sẽ thỏa mãn được các nhu cầu của tôi. |
| GT3 | Tôi mua mặt hàng này bởi nó mang nhiều sự quan tâm tới hệ sinh thái hơn những mặt hàng khác. | Phan Thị Ân Tình (2021). | Tôi mua mặt hàng này bởi nó mang nhiều sự quan tâm tới hệ sinh thái hơn những mặt hàng khác. |
| GT4 | Tôi mua mặt hàng này bởi nó có lợi cho môi trường hơn là những mặt hàng khác. | Tôi mua mặt hàng này vì nó có lợi cho môi trường hơn là những mặt hàng khác. | |
| GT5 | Tôi mua mặt hàng này bởi nó mang nhiều lợi ích tới sức khỏe hơn những mặt hàng khác. | Tôi mua mặt hàng này bởi nó mang nhiều lợi ích tới sức khỏe hơn những mặt hàng khác. |
(Nguồn: kết quả phân tích của tác giả, 2024) Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
3.4.2 Thang đo chất lượng cảm nhận xanh
Chất lượng cảm nhận xanh bao gồm 5 biến quan sát được phát triển đã được phát triển từ thang đo của các bài viết trước đó từ các tác giả Wasaya, A và cộng sự (2021); Zhuang, W. và cộng sự (2021); Yang và cộng sự., (2020); Phan Thị Ân Tình (2021); Varah và cộng sự (2020); Choi và Johnson (2019).
Bảng 3. 2 Thang đo Chất lượng cảm nhận xanh
| Ký hiệu | Thang đo gốc | Nguồn | Thang đo sau khi hiệu chỉnh | |
| CL1 | Chất lượng cảm nhận xanh là thước đo chính xác để nhận định mức độ bảo vệ môi trường. | Zhuang, W. và cộng sự (2021); Wasaya, A cộng sự (2021); | Chất lượng cảm nhận xanh là thước đo đáng tin cậy để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | |
| CL2 | Chất lượng cảm nhận xanh là tiêu chí đáng tin cậy để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | Yang và cộng sự., (2020); Phan Thị Ân Tình (2021). | Chất lượng cảm nhận xanh là tiêu chí đáng tin cậy để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | |
| CL3 | Chất lượng cảm nhận xanh là tiêu chí bền vững để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | Varah và cộng sự (2020); Choi và Johnson (2019). | Chất lượng cảm nhận xanh là tiêu chí bền vững để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | |
| CL4 | Chất lượng cảm nhận xanh là tiêu chí tốt nhất để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | Chất lượng cảm nhận xanh là tiêu chí tốt nhất để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | ||
| CL5 | Chất lượng cảm nhận xanh là tiêu chí chuẩn nhất để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | Chất lượng cảm nhận xanh là tiêu chí chuẩn mực nhất để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường. | ||
(Nguồn: kết quả phân tích của tác giả, 2024)
3.4.3 Thang đo rủi ro nhận thức Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Rủi ro nhận thức bao gồm 5 biến quan sát được phát triển đã được phát triển từ thang đo của các bài viết trước đó từ các tác giả Wasaya, A và cộng sự (2021); Zhuang, W. và cộng sự (2021); Dehghanan và Bakhshandeh (2014); Hồ Huy Tựu và Cộng Sự (2018); Lee và cộng sự (2014); Phan Thị Ân Tình (2021).
Bảng 3. 3 Thang đo Rủi ro nhận thức
| Ký hiệu | Thang đo gốc | Nguồn | Thang đo sau khi hiệu chỉnh |
| RR1 | Tôi nghĩ rằng tôi có đủ thời gian để mua các mặt hàng xanh. | Lee và cộng sự (2014); Hồ và Huy Tựu. | Tôi nghĩ rằng tôi có đủ thời gian để xem xét trước khi mua các sản phẩm xanh. |
| RR2 | Tôi cho rằng tôi có đủ tiền bạc để mua các mặt hàng xanh. | Cộng Sự (2018); Phan Thị Ân Tình (2021). | Tôi cho rằng khả năng tài chính của tôi đáp ứng nhu cầu mua các mặt hàng xanh. |
| RR3 | Tôi có đủ kiến thức để mua mặt hàng xanh. | Tôi có đủ kiến thức để mua mặt hàng xanh. | |
| RR4 | Tôi sẽ luôn tìm kiếm các mặt hàng xanh để mua nếu tôi cần đến. | Tôi sẽ luôn tìm kiếm các mặt hàng xanh để mua tôi có nhu cầu. | |
| RR5 | Mua các mặt hàng xanh rất dễ dàng đối với tôi. | Việc mua mặt hàng xanh rất dễ dàng đối với tôi. |
(Nguồn: kết quả phân tích của tác giả, 2024) Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
3.4.4 Thang đo niềm tin về sản phẩm xanh
Niềm tin về sản phẩm xanh bao gồm 5 biến quan sát được phát triển đã được phát triển từ thang đo của những bài viết trước đó từ các tác giả Dehghanan và Bakhshandeh (2014); Yang và cộng sự., (2020); Hồ Huy Tựu và Cộng Sự (2018); Phan Thị Ân Tình (2021).
Bảng 3. 4 Thang đo Niềm tin về sản phẩm xanh
| Ký hiệu | Thang đo gốc | Nguồn | Thang đo sau khi hiệu chỉnh |
| NT1 | Tôi tin tưởng các mặt hàng xanh có danh tiếng. | Dehghanan và Bakhshandeh | Tôi luôn tin tưởng các mặt hàng xanh có thương hiệu. |
| NT2 | Tôi tin tưởng vào chất lượng của các mặt hàng xanh. | (2014); Phan Thị Ân Tình (2021). | Tôi hài lòng và tin tưởng vào chất lượng những mặt hàng xanh |
| NT3 | Tôi tin rằng các mặt hàng xanh góp phần gìn giữ môi trường. | Tôi tin rằng việc sử dụng mặt hàng xanh góp phần bảo vệ và giữ gìn hệ sinh thái. | |
| NT4 | Tôi tin tưởng rằng những mặt hàng xanh sẽ thỏa mãn các mong muốn của tôi. | Tôi cho rằng mặt hàng xanh sẽ thỏa mãn được mong muốn của tôi. | |
| NT5 | Tôi tin tưởng các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh những mặt hàng xanh thực hiện đúng và đủ những cam kết của họ về việc bảo vệ hệ sinh thái. | Tôi tin tưởng các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt hàng xanh đã thực hiện đúng và đủ những cam kết của họ về việc bảo vệ hệ sinh thái. |
(Nguồn: kết quả phân tích của tác giả, 2024)
3.4.5 Thang đo hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng bao gồm 5 biến quan sát được phát triển đã được phát triển từ thang đo của các bài viết trước đó từ các tác giả Zhuang, W. và cộng sự (2021); Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh (2016); Dung và cộng sự (2019); Nguyễn Bá Phước (2015); Hoàng Thị Bảo Thoa (2017); Manzo và Western (1987).
Bảng 3. 5 Thang đo Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng
| Ký hiệu | Thang đo gốc | Nguồn | Thang đo sau khi hiệu chỉnh |
| HQ1 | Tôi nhận thấy quyết định mua những mặt hàng xanh của mình có thể tạo nên một ảnh hưởng tích cực tới hệ sinh thái. | Dung và cộng sự (2019); giả Zhuang, W. và cộng sự (2021); | Tôi nhận thấy quyết định chi tiêu cho những mặt hàng xanh của tôi sẽ ảnh hưởng tích cực đối với hệ sinh thái. |
| HQ2 | Tôi nhận thấy quyết định mua những mặt hàng xanh có ý nghĩa về mặt sức khoẻ cho bản nhân và xã hội. | Manzo và Western (1987) | Tôi nhận thấy quyết định chi tiêu cho những mặt hàng xanh có ý nghĩa về mặt sức khoẻ đối cho cộng đồng. |
| HQ3 | Tôi nhận thấy khi mình sử dụng lại những sản phẩm tái chế thì chất lượng môi trường sống được duy trì | Tôi nhận thấy khi mình dùng lại những sản phẩm tái chế thì chất lượng môi trường sống được duy trì | |
| HQ4 | Tôi nghĩ quyết định mua sắm các mặt hàng xanh của mình sẽ thúc đẩy người thân và bạn bè cùng thực hiện. | Tôi nghĩ quyết định mua sắm các mặt hàng xanh của mình sẽ thúc đẩy người thân và bạn bè cùng thực hiện. | |
| HQ5 | Tôi nhận thấy quyết định mua các mặt hàng xanh của mọi người sẽ đem tới ích lợi nhiều hơn so với cá nhân. | Tôi nhận thấy quyết định mua các mặt hàng xanh của mọi người sẽ đem tới ích lợi nhiều hơn so với cá nhân. |
(Nguồn: kết quả phân tích của tác giả, 2024) Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
3.4.6 Thang đo tiêu chuẩn chủ quan
Tiêu chuẩn chủ quan bao gồm 5 biến quan sát được phát triển đã được phát triển từ thang đo của những bài viết trước đó từ các tác giả Lee và cộng sự (2014), Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh (2016); Hồ Huy Tựu và Cộng Sự (2018); Phan Thị Ân Tình (2021); Choi và Johnson (2019).
Bảng 3. 6 Thang đo Tiêu chuẩn chủ quan
| Ký hiệu | Thang đo gốc | Nguồn | Thang đo sau khi hiệu chỉnh |
| CQ1 | Tôi được khuyên nên mua các mặt hàng xanh bởi những người quan trọng với tôi. | Lee và cộng sự (2014); Hồ Huy Tựu và Cộng Sự (2018); | Tôi được khuyên nên mua các mặt hàng xanh bởi những người có tác động tốt đến tôi. |
| CQ2 | Đa số những người có tác động tích cực lên tôi đều sẽ giúp tôi mua những mặt hàng xanh. | Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh | Đa số những người có tác động tích cực lên tôi đều sẽ giúp tôi mua những mặt hàng xanh một cách dễ dàng hơn. |
| CQ3 | Những người thân thiết với tôi ủng hộ việc tôi mua các mặt hàng xanh. | (2016); Phan Thị Ân Tình | Những người thân thiết với tôi ủng hộ việc tôi mua các mặt hàng xanh. |
| CQ4 | Quyết định mua sắm các mặt hàng xanh của tôi bị ảnh hưởng bởi những phương tiện truyền thông. | (2021); Choi và Johnson (2019). | Quyết định mua sắm các mặt hàng xanh của tôi bị ảnh hưởng tích cực bởi những phương tiện truyền thông. |
(Nguồn: kết quả phân tích của tác giả, 2024)
3.4.7 Thang đo nhận thức về giá Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Tiêu chuẩn chủ quan bao gồm 5 biến quan sát được phát triển đã được phát triển từ thang đo của những bài viết trước đó từ các tác giả Philip Kotler và cộng sự (2011); Mark R. Gleim và ctg (2013); Nguyễn Thị Thu Hương (2018); Hồ Mỹ Dung và cộng sự (2019).
Bảng 3. 7 Thang đo Nhận thức về giá
| Ký hiệu | Thang đo gốc | Nguồn | Thang đo sau khi hiệu chỉnh |
| VG1 | Giá thành của các mặt hàng xanh được niêm yết một cách rõ ràng | Mark R. Gleim và ctg (2013); | Giá thành của các mặt hàng xanh được niêm ýt một cách rõ ràng |
| VG2 | Tôi biết rằng giá cả sản phẩm xanh cao hơn vì chi phí sản xuất kinh doanh cao. | Nguyễn Thị Thu Hương (2018); | Tôi biết rằng giá cả mặt hàng xanh cao hơn loại khác vì chi phí sản xuất kinh doanh cao. |
| VG3 | Tôi nhận thức sản phẩm xanh có mức giá đi đôi với chất lượng | Hồ Mỹ Dung và cộng sự (2019). | Tôi nhận thấy mức giá sản phẩm xanh cao nhưng đi đôi với chất lượng mà nó mang lại. |
| VG4 | Tôi đồng ý với giá cả khi mua các mặt hàng xanh tại điểm bán | Philip Kotler và cộng sự (2011) | Tôi đồng ý với giá cả khi mua mặt hàng xanh tại điểm bán. |
(Nguồn: kết quả phân tích của tác giả, 2024)
3.4.8 Thang đo quyết định tiêu dùng xanh
Tiêu chuẩn chủ quan bao gồm 5 biến quan sát được phát triển đã được phát triển từ thang đo của những bài viết trước đó từ các tác giả Philip Kotler và cộng sự (2011); Kamothip Maichum và cộng sự (2017); Adnan Butt (2017); Aibek Doszhanov và cộng sự (2015); Hoàng Thị Bảo Thoa (2017); Hồ Mỹ Dung và cộng sự (2019); Lee và cộng sự (2014); Phan Thị Ân Tình (2021).
Bảng 3. 8 Thang đo Quyết định tiêu dùng xanh Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
| Ký hiệu | Thang đo gốc | Nguồn | Thang đo sau khi hiệu chỉnh |
| QD1 | Tôi quyết định ưu tiên lựa chọn các mặt hàng xanh khi mua hàng | Lee và cộng sự (2014); | Tôi quyết định ưu tiên lựa chọn các mặt hàng xanh khi mua hàng |
| QD2 | Tôi mua những mặt hàng xanh nếu có thể tìm thấy nó dễ dàng theo cách tối ưu. | Phan Thị Ân Tình (2021) | Tôi sẽ quyết định mua các mặt hàng xanh nếu tôi có thể tìm thấy nó dễ dàng. |
| QD3 | Tôi quyết định mua hàng tại các thương hiệu có sự quan tâm tới môi trường thay cho các thương hiệu khác mà tôi đang sử dụng | Kamothip Maichum và ctg (2017); Adnan Butt (2017); | Tôi quyết định mua hàng tại các thương hiệu có sự quan tâm tới môi trường thay cho các thương hiệu khác mà tôi đang sử dụng |
| QD4 | Tôi chấp nhận chi tiền nhiều hơn cho các mặt hàng xanh bởi sự có lợi cho sức khỏe cũng như sự thân thiện với môi trường | Aibek Doszhanov và ctg (2015); Hoàng Thị Bảo Thoa (2017); | Tôi chấp nhận chi tiền nhiều hơn cho các mặt hàng xanh bởi sự có lợi cho sức khỏe cũng như sự thân thiện với môi trường |
| QD5 | Tôi sẽ chia sẻ cho bạn bè, người thân về những lợi ích tích cực mà sản phẩm xanh mang lại. | Hồ Mỹ Dung và cộng sự (2019). | Tôi sẽ chia sẻ cho bạn bè, người thân về những lợi ích tích cực mà sản phẩm xanh mang lại. |
(Nguồn: kết quả phân tích của tác giả, 2024)
3.5 Phân tích dữ liệu khảo sát Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
3.5.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
Những mục hỏi đo lường cùng một khái niệm tiềm ẩn thì phải có mối liên quan với những cái còn lại trong nhóm đó. Hệ số Cronbach’s Alpha là một phương pháp kiểm định thống kê dùng để đánh giá mức độ liên kết giữa các mục trong thang đo, cụ thể là mối tương quan giữa các biến với nhau cũng như mối tương quan của từng biến với tổng điểm của tất cả các biến.
Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha trong quá trình nghiên cứu sẽ cho phép các nhà nghiên cứu loại bỏ các biến không phù hợp, đồng thời bỏ đi những biến không cần thiết, và xác định được mức độ tin cậy dựa vào giá trị của hệ số Cronbach’s Alpha.
Khi thực hiện phân tích này, nghiên cứu tập trung vào một số tiêu chuẩn bao gồm: Nếu một biến quan sát với biến tổng có hệ số tương quan từ 0,3 trở lên thì coi như đạt yêu cầu (Nunnally và Bernstein, 1994); dưới 0,3 sẽ được xem xét cẩn thận và có thể bị loại bỏ. Một thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên sẽ được coi là có độ tin cậy chấp nhận được; trong khoảng từ 0,7 đến 0,8 cho thấy độ tin cậy tốt; và nếu đạt từ 0,8 trở lên, gần đạt giá trị 1, được xem là thang đo lường có chất lượng cao (Nguyễn Đình Thọ, 2012).
3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) là một phương pháp thống kê được sử dụng phổ biến trong việc thu thập và phân tích dữ liệu nhằm xác định các tập hợp biến có liên hệ chặt chẽ với nhau, từ đó giúp ích cho quá trình phân tích về sự liên quan giữa các biến của mô hình.
Hệ số KMO có giá trị trong khoảng 0,5 đến 1 (Kaiser-Meyer-Olkin) dùng để xem xét về sự phù hợp của dữ liệu cho phân tích nhân tố. Theo Nguyễn Đình Thọ (2012), một hệ số KMO từ 0,6 trở lên thường được coi là đạt yêu cầu. Bài kiểm định Bartlett nhằm kiểm tra xem dữ liệu có mối liên hệ thống kê với nhau không. Nếu giá trị Sig. lớn hơn 0,05, thì có nghĩa rằng không tồn tại mối tưng quan tổng thể giữa các biến.
Mối quan hệ giữa các nhóm biến có thể được biểu diễn dưới dạng các nhân tố cơ bản. Từng biến quan sát sẽ có một tỷ lệ cụ thể, được gọi là hệ số tải nhân tố, nhằm xác định mỗi biến thuộc về nhân tố nào trong phân tích.
Trong phân tích EFA, biến quan sát cần có giá trị hệ số tải ít nhất là 0,5, và Eigenvalue (phần biến thiên mà mỗi nhân tố giải thích) phải lớn hơn 1. Ngoài ra, tổng phương sai được giải thích bởi các nhân tố cần đạt trên 50% theo yêu cầu phân tích nhân tố (Nguyễn Đình Thọ, 2012). Phân tích nhân tố tương đương với hồi quy bội, nhưng các biến được biểu diễn dưới dạng tổ hợp tuyến tính của các nhân tố. Biến thiên chung của các biến được mô tả thông qua một số nhân tố chung và các nhân tố đặc trưng cho mỗi biến. Các nhân tố này giúp làm rõ mối quan hệ giữa các biến, từ đó chọn ra nhân tố tiếp theo. Mỗi nhân tố được chọn dựa trên việc tối đa hóa biến thiên chung, không phải giá trị của các biến gốc. Nhân tố đầu tiên thường giải thích nhiều biến thiên nhất, tiếp theo là nhân tố thứ hai, thứ ba, và v.v. Như vậy, các nhân tố sẽ lần lượt được xác định dựa trên hệ số tải của chúng với các biến. Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
3.5.3 Phân tích hồi quy
Phân tích hồi quy tuyến tính là một kỹ thuật nhằm xem xét ảnh hưởng của biến độc lập lên biến phụ thuộc. Trong bài viết này, phương pháp hồi quy tuyến tính được thực hiện theo cách Enter, nghĩa là tất cả các biến được nhập vào cùng lúc để kiểm tra mức độ liên kết giữa các yếu tố thống kê (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Các bước trong phân tích hồi quy bao gồm:
- Thực hiện phân tích mối tương quan để xem xét mối quan hệ giữa các biến trong ma trận tương quan.
- Xem xét sự phù hợp của mô hình và kiểm định tính chặt chẽ.
- Xác định mức độ tác động của từng biến bằng hệ số Beta chuẩn hóa.
- Phát hiện lỗi thông qua giả định về tính tuyến tính, phân phối chuẩn, kiểm tra phương sai đồng nhất và hiện tượng tự tương quan, hay đa cộng tuyến.
3.5.4 Kiểm định sự khác biệt của giá trị trung bình Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Các biến định tính được kiểm định giá trị trung bình để xem xét sự khác biệt giữa các nhóm có thuộc tính định tính. Khi có hai giá trị cho biến định tính, thường sử dụng kiểm định T-test độc lập (còn gọi là kiểm định T độc lập). Trong trường hợp biến định tính có từ ba nhóm trở lên, người ta sử dụng phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA).
3.5.4.1 Kiểm định T-test
Kiểm định T-Test được áp dụng nhằm kiểm tra xem giữa trung bình 2 nhóm đối tượng có sự khác biệt hay không (chẳng hạn như yếu tố giới tính giữa du khách nữ và nam trong sự hài lòng về địa điểm). Kiểm định T-Test thường được đánh giá với 5% mức ý nghĩa, nó có 2 trường hợp:
Nếu đám đông có phân phối chuẩn (Levene’s Test > 0,05) thì ta xem xét giá trị Sig. T-test của Equal variances assumed. Trong trường hợp Sig. > 0,05 thì không tồn tại sự khác biệt về giá trị giữa hai nhóm này và ngược lại.
Nếu đám đông có không có phân phối chuẩn (Levene’s Test <0,05) thì ta xem xét giá trị Sig. T-test của Equal variances not assumed. Trong trường hợp Sig. <0,05 thì tức là tồn tại sự khác biệt về giá trị giữa hai nhóm này.
3.5.4.2 Phân tích phương sai (ANOVA)
Phân tích phương sai được áp dụng để kiểm tra giả thuyết rằng các nhóm tổng thể có giá trị trung bình không khác biệt, dựa trên sự biến thiên bên trong từng nhóm và giữa giá trị trung bình của các nhóm. Qua đó, có thể nhận định về sự khác biệt giữa các trung bình nhóm. Phân tích này giúp đối chiếu giá trị trung bình của ba nhóm hoặc hơn (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).
Để nhận định sự chênh lệch giữa trung bình của các tập hợp (khi các tập hợp này không có phân phối chuẩn), ta áp dụng phân tích One-way ANOVA. Thông thường, phân tích này được tiến hành với mức ý nghĩa 5%. Các bước triển khai như sau:
Để tiến hành phân tích phương sai một yếu tố thì cần đưa phân tích một biến thỏa mãn giả định phương sai đồng nhất. Để kiểm tra, ta xem xét giá trị Sig. trong bảng “Test of Homogeneity of Variances”. Giả định không bị vi phạm khi Sig.>0,05 và có thể triển khai phân tích tiếp sau.
Kết quả chính của phân tích nằm ở bảng ANOVA. Khi Sig. <0,05 có nghĩa rằng có sự khác biệt giữa các nhóm, cần tiến hành phân tích sâu thêm và ngược lại nếu Giá trị Sig. > 0,05 tức là không tồn tại sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nhóm của biến định tính.
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Tại chương 3, việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu nào đã được tác giả diễn giải chi tiết nhằm thiết lập và đo lường các thang đo cho khái niệm nghiên cứu, cũng như kiểm tra mô hình đề xuất. Chương này còn thiết lập quy trình nghiên cứu cụ thể dựa trên hai phương pháp chính là định lượng và định tính.
Phương pháp định tính được tiến hành dựa trên việc trao đổi nhóm và phỏng vấn chuyên gia, từ đó hiệu chỉnh thang đo ban đầu, và xây dựng nên một thang đo mới với 38 biến quan sát và 8 khái niệm. Đối với phương pháp định lượng, tác giả đã nêu rõ quy trình chọn mẫu với các bước gồm xác định kích cỡ mẫu, phương pháp chọn, cách thức thực hiện khảo sát. Nguồn dữ liệu được lấy từ dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Bảy biến độc lập trong thang đo bao gồm: giá trị cảm nhận xanh (1), chất lượng cảm nhận xanh (2), rủi ro nhận thức (3), niềm tin về sản phẩm (4), hiệu quả cảm nhận của người tiêu dùng (5), tiêu chuẩn chủ quan (6), nhận thức về giá cả (7), và một biến phụ thuộc là QDTDX. Luận văn: PPNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Ngoài ra, các phương pháp phân tích định lượng cũng được giới thiệu sơ bộ để làm cơ sở cho chương 4, bao gồm: Cronbach’s Alpha, kiểm định KMO và Bartlett, phân tích EFA, hồi quy, và kiểm tra sự khác biệt trung bình giữa các nhóm biến định tính.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

