Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh của nhân viên văn phòng tại TP. HCM dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 Xử lý dữ liệu
Đối tượng tham gia khảo sát là khách hàng đến mua sắm tại hai trung tâm thương mại là Gigamall/Sense và Aeon Bình Tân tại TP.HCM. Dựa trên phương pháp lấy mẫu thuận tiện được sử dụng cho việc phát phiếu khảo sát. Với lý do trong quá trình khảo sát sơ bộ tác giả gặp phải rất nhiều lời từ chối vì sự lo ngại về rủi ro lừa đảo và trộm cắp. Bên cạnh đó thời gian thực hiện khảo sát mất từ 15 đến 20 phút nên cần phải có thời gian lưu trú lại nên TTTM là nơi phù hợp nhất. Hoạt động này được diễn ra vào cuối tuần (chiều thứ 7 và cả ngày chủ nhật), bởi thời gian này có đông khách nhất, lượng khách đến trung tâm thương mại để mua sắm cao nhất. Quy trình khảo sát được thực hiện bởi tác giả và 1 bạn học viên cao học cùng lớp, sẽ tiến hành phỏng vấn trước 2 câu hỏi trước là có thuộc đối tượng NVVP hay không và có biết về tiêu dùng xanh là gì không? Nếu đối tượng trả lời có cho cả 2 câu hỏi thì tác giả sẽ giải thích và hướng dẫn khách hàng cách điền vào bảng khảo sát. Cuộc khảo sát được tổ chức tại hai trung tâm thương mại, mỗi địa điểm một ngày. Trong hai tuần đầu, có 200 bản khảo sát được phát mỗi tuần, và tuần thứ ba phát 60 bảng, chia đều cho cả hai địa điểm. Tổng cộng đã phát ra 275 phiếu khảo sát và nhận về 260 phiếu. Trong số đó, có 54 phiếu không phù hợp (lý do gồm: bỏ trống câu trả lời, chọn nhiều đáp án cho câu hỏi chỉ có một lựa chọn, hoặc trả lời giống nhau cho tất cả các câu), và còn lại 206 phiếu đạt tiêu chuẩn. Như vậy, yêu cầu về kích thước mẫu cho phân tích EFA và hồi quy được đáp ứng, theo công thức: N ≥ 5x = 190 (Hair và cộng sự, 2006).
4.2 Phân tích thống kê mô tả Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Sau khi thu thập, các phiếu khảo sát đã được kiểm tra kỹ lưỡng, tác giả tiến hành loại bỏ những phiếu không hợp lệ, có lỗi hoặc nghi ngờ về tính chính xác, như là thiếu sót câu trả lời, trả lời thiếu nhất quán, hoặc trả lời theo một kiểu duy nhất, không phù hợp với yêu cầu của nghiên cứu. Với 206 phiếu hợp lệ, bảng dưới đây là mô tả về nhân khẩu của những người tham gia như sau:
Bảng 4. 1 Thống kê các yếu tố liên quan đến nhân khẩu học
Giới tính: Có 109 người là nam (chiếm tỷ lệ 52,9%) và 97 người là nữ (chiếm tỷ lệ 47,7%).
Học vấn: Có 17 người có trình độ học vấn là trung học phổ thông (chiếm tỷ lệ 8,3%), có 55 người là trung cấp hoặc cao đẳng (chiếm tỷ lệ 26,7%), có 109 người học đại học (chiếm tỷ lệ 52,9%), có 25 người có trình độ học vấn sau đại học (chiếm tỷ lệ 12,1%).
Phòng ban: Có 08 người thuộc Phòng kinh doanh (chiếm tỷ lệ 3,9%), có 08 người thuộc đối tượng thuộc Phòng tài chính – kế toán (chiếm tỷ lệ 3,9%), có 01 người thuộc Phòng kế hoạch – kỹ thuật (chiếm tỷ lệ 0,5%), có 174 người thuộc Phòng tổ chức – hành chính (chiếm tỷ lệ 84,4%), Phòng ban khác là 15 người (chiếm tỷ lệ 7,3%).
Thu nhập hàng tháng: trong số 206 người tham gia khảo sát thì có 09 người có thu nhập dưới 10 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 4,4%), có 139 người thu nhập từ 10-15 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 67,5%), có 36 người thu nhập từ 16-20 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 17,5%), có 07 người thu nhập từ 21-25 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 3,4%), có 15 người thu nhập trên 25 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 7,3%).
Độ tuổi: Có 43 người dưới 25 tuổi (chiếm tỷ lệ 20,9%), có 106 người trong độ tuổi từ 25 đến 34 tuổi (chiếm tỷ lệ 51,5%), có 41 người trong độ tuổi từ 35 đến 44 tuổi (chiếm tỷ lệ 19,9%), có 07 người ở tuổi từ 45 đến 55 tuổi (chiếm 3,4%), có 09 người trong độ tuổi từ 55 tuổi trở lên (chiếm 4,4%). Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
4.3 Kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu
Các bước được triển khai thông qua phần mềm SPSS 20 bao gồm:
- Bước 1: Sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để xem xét độ tin cậy cho từng thang đo.
- Bước 2: Thực hiện phân tích EFA riêng lẻ và tổng hợp cho các yếu tố thuộc đề tài nhằm xác định tính hội tụ và sự phân biệt giữa các nhóm yếu tố
4.3.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
Kiểm định Cronbach’s Alpha là một phương pháp đo lường mức độ đáng tin của các câu hỏi trong thang đo, nhằm xác định xem trong cùng một thang đo, các biến quan sát có cùng giải thích cho một khái niệm không. Để tránh kết quả bị sai lệch, kiểm định này sẽ loại bỏ những biến không phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phân tích EFA.
Ban đầu, các thang đo được kiểm tra mức độ chặt chẽ thông qua hệ số Cronbach’s Alpha nhằm bỏ đi các biến rác. Mức độ tin cậy càng cao thì khả năng tránh được sai sót ngẫu nhiên càng lớn, đảm bảo tính chuẩn chỉnh và đồng nhất của kết quả. Kiểm định Cronbach’s Alpha được áp dụng để đo lường độ tin cậy cho từng thang đo ứng với mỗi nhân tố. Hệ số này sẽ giúp loại bỏ các biến rác có hệ số tương quan biến tổng dưới 0,3. Bên cạnh đó, các biến được chọn cần có hệ số Cronbach’s Alpha > 0,6. Kết quả chi tiết được trình bày ở Phụ lục, và tóm tắt kết quả qua bảng sau.
4.3.1.1 Thang đo giá trị cảm nhận xanh Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Bảng 4. 2 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo giá trị cảm nhận xanh
Theo bảng 4.2 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo giá trị cảm nhận xanh ghi nhận giá trị bằng 0,833 > 0,6. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến – tổng của toàn bộ biến quan sát đều ghi nhận mức > 0,3 và khi loại từng biến thì Cronbach’s Alpha đều có giá trị thấp hơn 0,833. Như vậy, toàn bộ biến quan sát thuộc thang đo giá trị cảm nhận xanh đều đáp ứng yêu cầu và phù hợp để triển khai các phân tích sau.
4.3.1.2 Thang đo chất lượng cảm nhận xanh
Bảng 4. 3 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo chất lượng cảm nhận xanh
Theo bảng 4.3 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo chất lượng cảm nhận xanh ghi nhận giá trị bằng 0,869 > 0,6. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến – tổng của toàn bộ biến quan sát đều ghi nhận mức > 0,3 và hệ số Cronbach’s Alpha khi loại từng biến đều thấp hơn 0,869. Như vậy, toàn bộ biến quan sát thuộc thang đo chất lượng cảm nhận xanh đều đáp ứng yêu cầu và phù hợp để triển khai các phân tích sau.
4.3.1.3 Thang đo rủi ro nhận thức
Bảng 4. 4 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo rủi ro nhận thức
Theo bảng 4.4 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo rủi ro nhận thức ghi nhận giá trị bằng 0,837 > 0,6. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến – tổng của toàn bộ biến quan sát đều ghi nhận mức > 0,3 và khi loại từng biến thì Cronbach’s Alpha đều có giá trị thấp hơn 0,837. Như vậy, toàn bộ biến quan sát thuộc thang đo rủi ro nhận thức đều đáp ứng yêu cầu và phù hợp để triển khai các phân tích sau. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
4.3.1.4 Thang đo niềm tin về sản phẩm xanh
Bảng 4. 5 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo niềm tin về sản phẩm xanh
Theo bảng 4.5 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo niềm tin về sản phẩm xanh ghi nhận giá trị bằng 0,862 > 0,6. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến – tổng của toàn bộ biến quan sát đều ghi nhận mức > 0,3 và khi loại từng biến thì Cronbach’s Alpha đều có giá trị thấp hơn 0,862. Như vậy, toàn bộ biến quan sát thuộc thang đo niềm tin sản phẩm xanh đều đáp ứng yêu cầu và phù hợp để triển khai các phân tích sau.
4.3.1.5 Thang đo hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng
Bảng 4. 6 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng
Theo bảng 4.6 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng ghi nhận giá trị bằng 0,854 > 0,6. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến – tổng của toàn bộ biến quan sát đều ghi nhận mức > 0,3 và khi loại từng biến thì Cronbach’s Alpha đều có giá trị thấp hơn 0,854. Như vậy, toàn bộ biến quan sát thuộc thang đo hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng đều đáp ứng yêu cầu và phù hợp để triển khai các phân tích sau.
4.3.1.6 Thang đo tiêu chuẩn chủ quan
Bảng 4. 7 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo tiêu chuẩn chủ quan
Theo bảng 4.7 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo tiêu chuẩn chủ quan ghi nhận giá trị bằng 0,856 > 0,6. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến – tổng của toàn bộ biến quan sát đều ghi nhận mức > 0,3 và khi loại từng biến thì Cronbach’s Alpha đều có giá trị thấp hơn 0,856. Như vậy, toàn bộ biến quan sát thuộc thang đo tiêu chuẩn chủ quan đều đáp ứng yêu cầu và phù hợp để triển khai các phân tích sau. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
4.3.1.7 Thang đo nhận thức về giá
Bảng 4. 8 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo nhận thức về giá
Theo bảng 4.8 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo nhận thức về giá ghi nhận giá trị bằng 0,847 > 0,6. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến – tổng của toàn bộ biến quan sát đều ghi nhận mức > 0,3 và khi loại từng biến thì Cronbach’s Alpha đều có giá trị thấp hơn 0,847. Như vậy, toàn bộ biến quan sát thuộc thang đo nhận thức về giá đều đáp ứng yêu cầu và phù hợp để triển khai các phân tích sau.
4.3.1.8 Thang đo quyết định tiêu dùng xanh
Bảng 4. 9 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo quyết định tiêu dùng xanh
Theo bảng 4.9 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo quyết định tiêu dùng xanh ghi nhận giá trị bằng 0,867 > 0,6. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến – tổng của toàn bộ biến quan sát đều ghi nhận mức > 0,3 và khi loại từng biến thì Cronbach’s Alpha đều có giá trị thấp hơn 0,867. Như vậy, toàn bộ biến quan sát thuộc thang đo quyết định tiêu dùng xanh đều đáp ứng yêu cầu và phù hợp để triển khai các phân tích sau.
4.3.2 Kết quả phân tích giá trị nhân tố khám phá Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Giá trị thang đo được đánh giá qua hai tiêu chí là tính phân biệt và tính hội tụ bằng cách phân tích EFA. Qua phân tích này, các biến đo lường không đáp ứng yêu cầu sẽ bị loại bỏ, từ đó giúp tác giả tìm ra cấu trúc các biến trong mô hình nghiên cứu. Để tiến hành điều này, phân tích EFA sẽ được tiến hành tách biệt cho các biến độc lập riêng và phụ thuộc riêng (Nguyễn Đình Thọ, 2012). Sau khi trải qua kiểm định Cronbach’s Alpha, số lượng biến độc lập và phụ thuộc vẫn giữ nguyên vì tất cả đều đáp ứng tiêu chí yêu cầu. Cụ thể, số biến quan sát của các biến độc lập còn lại là 33, trong khi số biến quan sát của biến phụ thuộc là 5. Các biến này sẽ tiếp tục được đưa vào quá trình phân tích EFA ở bước kế tiếp.
4.3.2.1 Phân tích nhân tố khám phá của biến độc lập
Mục tiêu của việc phân tích EFA của biến độc lập là để kiểm tra sự phân biệt và sự hội tụ của các biến quan sát trong thang đo. Trong trường hợp hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5 thì biến quan sát đó sẽ bị loại bỏ.
Bảng 4. 10 Bảng kiểm định KMO và Barlett của các biến độc lập
Hệ số KMO được ghi nhận bằng 0,939, thuộc khoảng từ 0,5 đến 1, do vậy việc áp dụng phương pháp EFA là hoàn toàn phù hợp. Bên cạnh đó, mức ý nghĩa của kiểm định Barlett’s ghi nhận mức kết quả là 0,000 < 0,05, có nghĩa là những biến quan sát ghi nhận sự tương quan tổng thể với nhau, từ đó phù hợp để tiến hành tiếp phân tích EFA.
Bảng 4. 11 Bảng Tổng phương sai trích ngang của các biến độc lập
Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) kết hợp phép quay Varimax được sử dụng làm phương pháp trích hệ số. Theo bảng 4.11, có 6 yếu tố đã được trích xuất với Eigenvalue ghi nhận giá trị là 1,053 (>1), giải thích được 64,124% mức độ biến thiên của toàn bộ dữ liệu. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Bảng 4. 12 Bảng ma trận nhân tố xoay biến quan sát của các biến độc lập
Kết quả sau phân tích EFA cho thấy các biến quan sát đều ghi nhận hệ số tải nhân tố > 0,5 (Hair, 1998) và quy tụ lại thành từng nhóm mang tính chất giống nhau, và được chia thành 6 thang đo để giải thích cho các yếu tố. Nhưng kết quả từ bảng 4.12 ma trận nhân tố xoay cho thấy 2 biến quan sát VG3 và VG1 có hệ số tải nhân tố < 0.5 thuộc thang đo nhận thức về giá. Với giá trị hiển thị tác giả chọn 0.5 theo đó VG3 và VG1 đã không hiển thị kết quả. Vì vậy, 02 biến quan sát này sẽ được hiểu là biến biến xấu. Với lý do hiện tại khi xây dựng thang đo biến quan sát cho nhân tố nhận thức về giá không thể đo lường trực tiếp mà phải đo lường gián qua các biến quan sát có thể đo lường trực tiếp VG1, VG2, VG3, VG4. Hiện tại có đến 02 biến quan sát VG1 và VG2 tách biệt hoàn toàn thành 2 nhân tố trong ma trận xoay, nghĩa là biến quan sát VG1, VG3 biểu diễn 2 khái niệm riêng biệt so với lý thuyết nền. Nên 02 biến quan sát này bị bỏ đi bởi khả năng đại diện cho một khái niệm nhân tố mới của một biến quan sát là rất thấp. Cũng chính vì điều này thang đo nhận thức về giá sẽ bị loại bỏ khỏi dữ liệu phân tích.
Số biến độc lập hiện tại sẽ là 6 biến, với 29 biến quan sát sẽ được tiến hành chạy lại dữ liệu phân tích EFA của biến độc lập lần 02 như sau:
Bảng 4. 13 Bảng kiểm định KMO và Barlett của các biến độc lập
Kết quả bảng 4.13 cho thấy KMO đạt giá trị 0,930, đáp ứng điều kiện thuộc từ 0,5 đến 1, do đó phân tích EFA được dùng là phù hợp. Kiểm định Bartlett’s có mức ý nghĩa 0,000 (< 0,05), điều này có nghĩa rằng các biến quan sát ghi nhận sự tương quan với nhau trong tổng thể, và dữ liệu này phù hợp để tiến hành phân tích EFA.
Bảng 4. 14 Bảng Tổng phương sai trích ngang của các biến độc lập
Phân tích thành phần chính (PCA) cùng với phép quay Varimax đã được tác giả sử dụng để trích hệ số. Dựa trên kết quả, có 6 yếu tố được trích xuất từ dữ liệu nghiên cứu (hệ số Eigenvalue = 1,0045 > 1) và giải thích 66,223% mức độ biến thiên của toàn bộ dữ liệu.
Bảng 4. 15 Bảng ma trận nhân tố xoay biến quan sát của các biến độc lập
Kết quả thu được sau khi thực hiện phân tích EFA, sau khi đã bỏ đi yếu tố nhận thức về giá, thu được rằng ghi nhận hệ số tải > 0,5 ở toàn bộ các biến quan sát (Hair, 1998). Các biến này đã tập hợp lại thành những nhóm có cùng đặc điểm, được phân loại thành 6 thang đo để làm rõ các nhân tố. Điều này đáp ứng đủ các yêu cầu cần thiết để tiến hành các phân tích tiếp theo.
4.3.2.2 Phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Tác giả triển khai tiếp phân tích EFA đối với biến phụ thuộc với mục tiêu kiểm tra sự hội tụ của các biến quan sát này trong thang đo, đồng thời với các biến quan sát mang hệ số tải < 0,5 sẽ được loại bỏ.
Bảng 4. 16 Bảng kiểm định KMO và Barlett’s của biến phụ thuộc
Kết quả bảng 4.16 cho thấy hệ số KMO đạt 0,860, đáp ứng điều kiện thuộc khoảng 0,5-1, do đó phân tích EFA được dùng là phù hợp. Kiểm định Bartlett’s có mức ý nghĩa 0,000 (< 0,05), điều này có nghĩa rằng các biến quan sát ghi nhận sự tương quan với nhau trong tổng thể, và dữ liệu này phù hợp để tiến hành phân tích EFA.
Bảng 4. 17 Bảng Tổng phương sai của biến phụ thuộc
Dựa vào kết quả tại bảng 4.17 có thể thấy biến quan sát của biến phụ thuộc được trích thành một yếu tốt có Eigenvalue đạt 3,263, lớn hơn 1 và nó giải thích được 65,257% mức độ biến thiên của dữ liệu.
Bảng 4. 18 Bảng ma trận nhân tố phụ thuộc
Thông qua kết quả của phân tích EFA đối với biến phụ thuộc, cho thấy các biến quan sát liên quan đến QDTDX đều đáp ứng đầy đủ các tiêu chí (hệ số KMO>0,5; giá trị ý nghĩa của kiểm định Bartlett nhỏ hơn 0,05; phân tích PCA chỉ ra rằng chỉ có một thành phần chính với giá trị Eigenvalue > 1 và các biến quan sát đều có hệ số tải cao hơn 0,5). Do đó, những biến này sẽ được dùng để tiến hành những phân tích tiếp sau đó. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Kết luận: Mô hình đề xuất ban đầu được rút gọn sau khi thực hiện phân tích EFA Bảng 4.12 ma trận nhân tố xoay biến quan sát của các biến độc lập loại bỏ 2 biến quan sát VG1 và VG3 khi có hệ số tải < 0.5 thuộc biến độc lập “nhận thức về giá”, khi thông thể hiện được tính tương quan và chỉ tồn tại 2 biến quan sát là VG2 và VG4 nên biến nhận thức về giá bắt buộc loại khỏi mô hình tác giả đề xuất ban đầu. Chính vì vậy tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu rút gọn thể hiện như sau:
- Giá trị cảm nhận xanh
- Chất lượng cảm nhận xanh
- Rủi ro nhận thức
- Niềm tin về sản phẩm xanh
- Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng
- Tiêu chuẩn chủ quan
Sơ đồ 4.1 Mô hình nghiên cứu rút gọn
Tóm lại, từ thang đo ban đầu, sau khi thực hiện Cronbach’s Alpha, các giá trị thang đo đã được xác minh về tính hội tụ và tính phân biệt thông qua phân tích EFA. Kết quả cho thấy cần loại bỏ 01 yếu tố độc lập do có 02 biến quan sát không phù hợp, cụ thể là VG1, VG3 trong tổng 4 biến quan sát VG1, VG2, VG3, VG4. Do chỉ còn có 02 biến quan sát thuộc biến độc lập nên không đảm bảo về điều kiện yêu cầu có ít nhất từ 3 biến quan sát đối với một biến độc lập để đảm bảo tính tương quan. Kết quả kiểm định được trình bày sơ bộ tại Bảng 4.19 như sau:
Bảng 4. 19 Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo
Kết quả phân tích của các biến độc lập cho thấy, từ 38 biến quan sát ban đầu sau phân tích EFA có 34 biến quan sát phù hợp và trích được thành 06 nhân tố độc lập, bao gồm Giá trị cảm nhận cảm nhận xanh với 5 biến quan sát, Chất lượng cảm nhận xanh với 5 biến quan sát, Rủi ro nhận thức với 5 biến quan sát, Niềm tin về sản phẩm xanh với 5 biến quan sát, Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng với 5 biến quan sát, Tiêu chuẩn chủ quan với 4 biến quan sát và biến phụ thuộc Quyết định tiêu dùng xanh với 5 biến quan sát. Tác giả sẽ tính trung bình cộng các biến quan sát thuộc mỗi thang đo để xác định giá trị đại diện, và giá trị này được thực hiện trước khi tiến hành phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính.
4.3.3 Phân tích tương quan Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Trước khi thực hiện phân tích hồi quy, tác giả đi thiết lập ma trận hệ số tương quan nhằm nhận xét về mối quan hệ tương quan giữa biến độc lập và phụ thuộc, cụ thể được trình bày dưới đây:
Bảng 4. 20 Bảng kết quả phân tích tương quan Pearson
Với mức ý nghĩa sig < 0,05 và hệ số Pearson thuộc từ từ 0,635 đến 0,726, ta kết luận rằng giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập tồn tại mối tương quan mạnh mẽ.
Dựa trên mối tương quan này, tác giả sẽ đánh giá tác động của các biến độc lập đối với QDTDX thông qua mô hình hồi quy tổng quát đã được chuẩn hóa như sau: QD = β1GT + β2CL + β3RR + β4NT + β5HQ+ β6CQ
4.3.4 Phân tích mô hình hồi quy đa biến
Tiếp theo, tác giả tiến hành phân tích hồi quy với những biến độc lập có mối liên hệ chặt chẽ ở mức ý nghĩa 5% với biến phụ thuộc.
Bảng 4. 21 Bảng tóm tắt mô hình
Dựa trên kết quả trên, có thể thấy R2 hiệu chỉnh ghi nhận giá trị bằng 0,696. Điều này phản ánh rằng 69,6% sự biến thiên của biến phụ thuộc đã 6 biến độc lập giải thích. Hay có thể nói, 69,6% khác biệt về QDTDX của nhân viên văn phòng trong mẫu nghiên cứu có thể được giải thích bởi sự khác biệt của 06 yếu tố trong mô hình. Với 30,4% còn lại có thể do ảnh hưởng của biến khác không nằm trong mô hình hoặc do những sai số ngẫu nhiên.
Hệ số Durbin Watson d nhận giá trị bằng 2,077, thuộc khoảng từ 1 đến 3, vì vậy giữa các phần dư không tồn tại sự tương quan.
Sau khi nhận định được mô hình nghiên cứu là phù hợp với bộ số liệu, người viết triển khai tiếp phân tích nhằm kiểm tra tính hợp lý của mô hình hồi quy tổng thể bằng cách xem xét giá trị của đại lượng Fisher.
Bảng 4. 22 ANOVA Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Kết quả của phân tích phương sai ANOVA cho thấy giá trị đại lượng Fisher (F) là F (6; 206) = 79,402, với mức ý nghĩa Sig = 0,000 < 0,05, ở mức ý nghĩa 5%. Điều này chứng tỏ sự phù hợp của mô hình, có tính đại diện cho tổng thể.
Để đo lường mức độ tác động của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đến biến phụ thuộc QDTDX dựa trên kết quả phân tích hồi quy tuyến tính với độ tin cậy chấp nhận là 95%, và để dễ dàng cho việc so sánh mức độ tác động giữa các yếu tố lên QDTDX, hệ số hồi quy của các yếu tố được chuẩn hóa để quy về cùng đơn vị đo lường.
Bảng 4. 23 Hệ số hồi quy
Bảng 4.23 cho thấy tồn tại mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc về QDTDX của nhân viên văn phòng tại TP.HCM. Có sáu biến độc lập ghi nhận mức ý nghĩa dưới 0,05 bao gồm Giá trị cảm nhận xanh, Chất lượng cảm nhận xanh, Rủi ro nhận thức, Niềm tin vào sản phẩm xanh, Hiệu quả cảm nhận từ người tiêu dùng và Tiêu chuẩn chủ quan. Có nghĩa rằng, đối với biến phụ thuộc thì các biến trên đều mang tác động và đạt ý nghĩa về mặt thống kê, với độ tin cậy trên 95%.
Từ kết quả phân tích hồi quy, ta có phương trình hồi quy đã chuẩn hóa như sau:
QD= 0,150×GT + 0,144×CL + 0,114×RR + 0,159×NT + 0,234×HQ + 0,219×CQ
4.3.5 Kiểm định các giả định hồi quy
Cần xem xét các giả định hồi quy để xác định xem có xuất hiện lỗi vi phạm nào không, mục tiêu của việc này là để chắc chắn kết quả ước lượng có độ tin cậy, sự chính xác. Ngoài ra, cũng cần xem xét tới hiện tượng đa cộng tuyến, tự thay đổi của phương sai phần dư, hiện tượng tự tương quan giữa các phần dư và phần dư không tuân theo phân phối chuẩn.
4.3.5.1 Hiện tượng đa cộng tuyến Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Đa cộng tuyến (VIF) là hiện tượng xảy ra mối tương quan rất mạnh giữa bản thân những biến độc lập với nhau trong hồi quy. Khi xảy ra hiện tượng này, số lượng lớn các chỉ số sẽ bị sai lệch, từ đó các kết quả không mang lại nhiều ý nghĩa.
Kết quả chỉ ra có sự tương quan khá chặt chẽ giữa các biến độc lập với nhau thông qua phân tích tương quan Pearson. Cũng theo kết quả bảng 4.20 Bảng kết quả phân tích tương quan Pearson quan hệ cặp biến độc lập HQ và NT có giá trị tương quan là 0,000 < 005. Hệ số tương quan pearson (Pearson correlation) có giá trị lớn nhất là 0.674 thể hiện mối tương quan ở mức độ trung bình nên có khả năng sẽ không xuất hiện đa cộng tuyến. Vì vậy, hiện tượng này cần được kiểm tra thông qua hệ số hồi quy.
Từ bảng 4.23, ta thấy rằng hệ số phóng đại phương sai VIF thay đổi trong khoảng từ 1,871 đến 2,436; các hệ số VIF điều < 10, chỉ xoay quanh giá trị 2 mức độ biến động tương đối nhỏ và kích thước mẫu là 206 tương đối nhỏ. Điều này đã chứng tỏ hiện tượng đa cộng tuyến không xuất hiện hoặc xảy ra không đáng kể. Vì khi tăng kích cỡ mẫu lớn hơn sẽ làm giảm phương sai và ý nghĩa các giả định cũng sẽ có giá trị hơn. Nên giả định này không bị vi phạm.
4.3.5.2 Phần dư có phương sai không đổi
Đối với biến phụ thuộc, hình 4.1 thể hiện đồ thị phần dư chuẩn hóa theo giá trị dự báo. Có thể thấy các phần dư được phân tán ngẫu nhiên quanh trục 0 trong một khoảng nhất định. Nó có nghĩa là phương sau của phần dư được duy trì ổn định và không tồn tại sự vi phạm gì với giả thuyết thứ hai của mô hình hồi quy.
Hình 4. 1 Đồ thị phần dư chuẩn hóa theo giá trị dự báo của biến phụ thuộc
4.3.5.3 Phần dư có phân phối chuẩn
Nhìn vào hình 4.2 về đồ thị tần số Histogram, có thể thấy đồ thị thể hiện hình chuông và giá trị về độ lệch chuẩn ghi nhận mức 0,985. Vì thế giả định phần dư phân phối chuẩn được chấp nhận và không tồn tại vi phạm đối với giả định thứ 3.
Hình 4. 2 Đồ thị phân phối của phần dư
4.3.5.3 Hiện tượng tương quan Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Để phát hiện giữa các phần dư có xuất hiện hiện tượng tự tương quan, cần dựa vào giá trị của Durbin-Watson (d), nằm trong khoảng từ 0 đến 4.
Nếu giá trị d này nhỏ hơn 1 hoặc lớn hơn 3 thì hiện tượng tự tương quan rất có khả năng xảy ra (Field, 2009). Nếu giá trị d này thuộc khoảng 1,5 -2,5 thì hiện tượng tự tương quan sẽ không xảy ra (Yuhua Qiao, 2011).
Trong mô hình nghiên cứu này, hệ số d=2,077 được thể hiện tại bảng 4.21. Do đó, hiện tượng tự tương quan được kết luận rằng không xảy ra giữa các phần dư. Vì thế giả định thứ tư không bị vi phạm.
Tổng kết lại, cả 4 giả định của mô hình đều không bị vi phạm, bao gồm: không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan, không thay đổi phương sai của phần dư, phần dư có phân phối chuẩn không xảy ra. Từ đây, giá trị ước lượng của mô hình hồi quy được kết luận là đáng tin cậy và có ý nghĩa về mặt thống kê.
Ở mức ý nghĩa 5%, chấp nhận những giả thuyết có giá trị p_value (hệ số Sig.) ≤ (0,05). Kết quả kiểm định giả thuyết được thể hiện tại bảng sau:
Bảng 4. 24 Bảng tóm tắt kết quả kiểm định giả thuyết
4.3.6 Kiểm định sự khác biệt về ý nghĩa tiêu dùng xanh của các yếu tố nhân khẩu họcLuận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Trong phân tích này, những yếu tố nhân khẩu học sẽ được xem là biến định tính, và sẽ được tiến hành kiểm định giá trị trung bình, với mục đích là để nhận xét về sự chênh lệch trong QDTDX của nhóm nhân viên văn phòng tại khu vực TP.HCM giữa các nhóm giá trị trong từng biến.
Ngoài ra, trong bài viết này, các biến định tính có 2 giá trị, nghiên cứu sẽ áp dụng kiểm định T-test mẫu độc lập (Independent Sample T-test). Còn với những biến có lớn hơn hoặc bằng 3 giá trị sẽ được triển khai phân tích phương sai một chiều (ANOVA).
4.3.6.1 Kiểm định sự khác biệt theo giới tính
Trong nghiên cứu, với mức ý nghĩa 5%, kiểm định t-test sẽ được thực hiện. Kết quả tại Bảng 4.25 cho thấy kiểm định Levene có mức ý nghĩa là 0,243 > 0,05, điều này cho thấy biến giới tính có hai giá trị mang phương sai không có sự khác biệt. Vì vậy, cần tiếp tục nhìn nhận mức ý nghĩa của kiểm định t theo Giả định phương sai bằng nhau.
Bảng 4. 25 Kiểm định Independent Sample t-test của biến Giới tính
Kết quả mức ý nghĩa của kiểm định t là 0,493 > 0,05; do đó, chứng tỏ rằng không có sự khác biệt về giới tính có ý nghĩa thống kê đối với QDTDX của nhân văn phòng tại TP.HCM giữa những người được khảo sát có giới tính khác nhau.
4.3.6.2 Kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi
Về độ tuổi, biến định tính được chia thành 5 nhóm đó là: <25 tuổi; 25-34 tuổi; 45-55 tuổi; và >55 tuổi. Do đó, phương pháp phân tích one-way ANOVA sẽ được triển khai để kiểm định giá trị trung bình.
Kết quả kiểm định tính đồng nhất của phương sai ghi nhận mức ý nghĩa Sig = 0,295 > 0,05. Vậy, giả thuyết H0 được chấp nhận, phương sai giữa các nhóm tuổi là bằng nhau, tức là không có sự khác biệt đáng kể về phương sai QDTDX giữa các nhóm tuổi. Vì thế, kết quả phân tích ANOVA là hợp lệ và có thể sử dụng (xem Bảng 4.26).
Giá trị Sig = 0,429 có nghĩa là mức ý nghĩa lớn hơn 0,05, điều này chứng tỏ không tồn tại sự chênh lệch mang ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi về QDTDX của họ. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Bảng 4. 26 Bảng kết quả phân tích ANOVA theo độ tuổi
Kiểm định tính đồng nhất của phương sai
4.3.6.3 Kiểm định sự khác biệt theo trình độ học vấn
Biến định tính Học vấn gồm 4 nhóm: Trung học phổ thông, Trung cấp/Cao đẳng, Đại học, và Sau đại học. Do đó, phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (one-way ANOVA) sẽ được sử dụng để kiểm định giá trị trung bình, nhằm nhận định về sự chênh lệch theo trình độ học vấn trong QDTDX.
Kiểm định tính đồng nhất của phương sai cho thấy mức ý nghĩa Sig = 0,723 > 0,05, Vậy, chấp nhận giả thuyết H0, phương sai giữa các nhóm trình độ học vấn là bằng nhau, tức là không có sự khác biệt đáng kể về phương sai QDTDX giữa các nhóm trình độ học vấn. Vì thế, ANOVA cho ra kết quả hợp lệ và có thể dùng được (xem Bảng 4.27).
Giá trị Sig = 0,019 có nghĩa là mức ý nghĩa < 0,05, nó chứng tỏ tồn tại sự chênh lệch mang ý nghĩa thống kê giữa các nhóm trình độ học vấn về QDTDX của họ. Dựa vào bảng mô tả cho thấy cụ thể sự khác biệt với giá trị trung bình lớn nhất thuộc về nhóm có học vấn Sau đại học với mức giá trị trung bình là 4,5520. Trong khi đó, mức trung bình của nhóm Trung cấp hoặc Cao đẳng là thấp nhất với giá trị trung bình là 4,0400. Nhưng xét trên tổng thể thì sự khác biệt giữa các nhóm thuộc học vấn là nhỏ.
Bảng 4. 27 Bảng kết quả phân tích ANOVA theo trình độ học vấn
Kiểm định tính đồng nhất của phương sai
4.3.6.4 Kiểm định sự khác biệt theo phòng ban Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Biến định tính Phòng ban có 05 nhóm đối tượng gồm Phòng kinh doanh, Phòng tài chính – kế toán, Phòng Kế hoạch – sản xuất, Tổ chức – hành chính và Phòng ban khác. Do đó, phương pháp phân tích phương sai một yếu tố sẽ được sử dụng để kiểm định giá trị trung bình, nhằm nhận định về sự chênh lệch theo phòng ban trong QDTDX.
Kiểm định tính đồng nhất của phương sai cho thấy mức ý nghĩa Sig = 0,276 > 0,05, Vậy, chấp nhận giả thuyết H0, phương sai giữa các nhóm phòng ban là bằng nhau, tức là không có sự khác biệt đáng kể về phương sai QDTDX giữa các nhóm phòng ban.
Vì thế, ANOVA cho ra kết quả hợp lệ và có thể dùng được (xem Bảng 4.28).
Giá trị Sig = 0,307 có nghĩa là mức ý nghĩa lớn hơn 0,05, điều này chứng tỏ không tồn tại sự chênh lệch mang ý nghĩa thống kê giữa các nhóm phòng ban về QDTDX của họ
Bảng 4. 28 Bảng kết quả phân tích ANOVA theo phòng ban
Kiểm định tính đồng nhất của phương sai
4.3.6.5 Kiểm định sự khác biệt theo thu nhập
Biến định tính Thu nhập có 05 nhóm đối tượng gồm: Dưới 10 triệu, 10-15 triệu, 16-20 triệu, 21-25 triệu và > 25 triệu Do đó, phương pháp phân tích phương sai một yếu tố sẽ được sử dụng để kiểm định giá trị trung bình, nhằm nhận định về sự chênh lệch theo thu nhập trong QDTDX.
Kết quả kiểm định tính đồng nhất của phương sai cho thấy mức ý nghĩa Sig = 0,490 > 0,05, Vậy, chấp nhận giả thuyết H0, phương sai giữa các nhóm thu nhập là bằng nhau, tức là không có sự khác biệt đáng kể về phương sai QDTDX giữa các nhóm thu nhập. Vì thế, ANOVA cho ra kết quả hợp lệ và có thể dùng được (xem Bảng 4.29).
Giá trị Sig = 0,663 có nghĩa là mức ý nghĩa < 0,05, điều này chứng tỏ không tồn tại sự chênh lệch mang ý nghĩa thống kê giữa các nhóm thu nhập về QDTDX của họ.
Bảng 4. 29 Bảng kết quả phân tích ANOVA theo thu nhập
Kiểm định tính đồng nhất của phương sai
Kết luận: Qua kết quả phân tích các kiểm định về sự khác biệt theo nhóm giới tính, độ tuổi phòng ban và thu nhập đều có Sig > 0,05. Do đó, không có sự khác biệt đáng kể về phương sai QDTDX tại khu vực TP.HCM giữa các nhóm giới tính, độ tuổi, phòng ban và thu nhập. Chỉ có yếu tố cá nhân về học vấn tồn tại sự khác biệt do có giá trị Sig<0,5.
4.4 Thảo luận chung về kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Từ phân tích có thể nhận định rằng, các yếu tố về nhân khẩu học được tổng hợp từ các mẫu phần lớn không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm giá trị trong cùng một tác nhân tác động đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại khu vực TP.HCM. Vì vậy, phần thảo luận chung về kết quả này sẽ chỉ chú trọng tới phân tích hồi quy tuyến tính bao gồm kết quả và những bước phân tích liên quan.
Mô hình với 06 yếu tố tác động đến kết quả hồi quy chỉ ra, với mức ý nghĩa 5%, các yếu tố có ảnh hưởng đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại khu vực TP.HCM bao gồm: Giá trị cảm nhận xanh (1), Chất lượng cảm nhận xanh (2), rủi ro nhận thức (3), niềm tin về sản phẩm (4), hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng (5), chuẩn chủ quan (6). Thì có cả 06 yếu tố này đều có tác động thuận chiều đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại khu vực TP.HCM. Tức là, thông qua giá trị Beta của từng yếu tố, nếu một yếu tố trong đây có sự thay đổi thì QDTDX của nhân viên văn phòng tại khu vực TP.HCM cũng sẽ thay đổi theo hướng tương ứng (tăng lên hoặc giảm xuống). Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Để nhận định về mức tác động cụ thể của từng tác nhân đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại khu vực TP.HCM, ta cần nhận định giá trị của hệ số hồi quy riêng phần đã chuẩn hóa (Bảng 4.23). Đồng thời, bài luận văn đưa ra kết quả tương đồng với các bài viết đi trước với: Giá trị cảm nhận xanh (Wasaya, A và cộng sự, 2021), Chất lượng cảm nhận xanh (Wasaya, A và cộng sự, 2021), Rủi ro nhận thức (Choi và Johnson, 2019; Dehghanan và Bakhshandeh, 2014), Niềm tin sản phẩm xanh (Dehghanan và Bakhshandeh, 2014), Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng (Zhuang, W. và cộng sự 2021; Wasaya, A và cộng sự, 2021)Tiêu chuẩn chủ quan (Lee và cộng sự, 2014; Choi và Johnson, 2019) tác động đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại khu vực TP.HCM. Để nhận xét rõ nét hơn về sự chi phối của từng yếu tố tới QDTDX, giá trị trung bình của từng nhóm sẽ được thực hiện tính toán. Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4. 30 Tính giá trị trung bình của các nhóm nhân tố
Trong mô hình ghi nhận giá trị trung bình của Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng là cao nhất trong 6 biến độc lập, với giá trị bằng 4,2194 và cũng là yếu tố mang ảnh hưởng mạnh nhất tới QDTDX với hệ số beta là 0,234. Điều này cho thấy người dân tại khu vực TP.HCM cảm nhận một cách hiệu quả được sự quan trọng và lợi ích của việc tiêu dùng xanh. Từ đây, họ sẽ luôn ưu tiên lựa chọn những hàng hóa xanh khi đi mua sắm. Bên cạnh đó, với mức thu nhập trung bình nhưng chi phí tại TP.HCM lại đắt đỏ, kết hợp với việc giá thành của những mặt hàng xanh này có phần cao hơn, chưa tạo được điều kiện thuận lợi để họ mua các sản phẩm xanh. Ở phía ngược lại, giá trị trung bình thấp nhất được ghi nhận cho yếu tố Rủi ro nhận thức với giá trị = 4,0252, nhưng vẫn đạt mức trên trung bình. Đây cũng là yếu tố mang ảnh hưởng ít nhất lên QDTDX, với beta = 0,114, điều này cho thấy nhìn chung khu vực TP.HCM đã có sự ủng hộ việc mua hàng hóa xanh và có ý thức về an toàn hơn từ những hiểu biết cá nhân về việc chọn mua các sản phẩm xanh. Bên cạnh các rủi ro về môi trường cũng ở mức khá.
Bởi vì, kết quả phân tích chung về rủi ro nhận thức với (Mean=4,0252), hệ số beta (β=0,114); rủi ro nhận thức xanh mang tác động tích cực tới QDTDX nhưng nó lại cho thấy người tiêu dùng còn chưa nhận thức về rủi ro nhiều về việc nếu người tiêu dùng không có thói quen tiêu dùng xanh tốt hơn trong tương lai. Người tiêu dùng nhận thức rủi ro càng lớn đối với việc không đưa ra các quyết định mua, tiêu dùng các sản phẩm xanh thì các vấn đề về sức khoẻ học trong tương lai sẽ gặp rất nhiều ảnh hưởng bao gồm ảnh hưởng từ môi trường sống, khí hậu thiên tai hay dịch bệnh… Do đó, các doanh nghiệp cần nêu rõ được các rủi ro nhận thức của người dùng liên quan đến việc tiêu dùng hàng xanh kể cả việc sử dụng sản phẩm hay thói quen sử dụng tiết kiệm năng lượng, cũng như sử dụng các năng lượng thay thế trong đời sống hằng ngày. Như vậy, những ảnh hưởng về suy nghĩ nhận thức rủi ro đối với việc chi tiêu cho các mặt hàng, hàng hóa xanh đã tiến triển tích cực hơn đặc biệt là sau đại dịch Covid-19 (Từ năm cuối 2019 đến năm 2023), bởi vì người tiêu dùng có thể nhận thấy được những hậu quả to lớn từ chính các quyết định tiêu dùng trước đó. Hơn thế nữa, các cách thức mua các sản phẩm và cụ thể là sản phẩm xanh qua các nền tảng trực tuyến như Lazada, Shopee, Sendo… Hay các cửa hàng, đơn vị cung cấp dịch vụ mua hàng thông qua app mua hàng và giao hàng trong thời gian ngắn như Bách Hoá Xanh, Coopmart, Vinmart… ngày nay, đã hạn chế được rất nhiều các rủi ro về vật chất và các đánh giá từ những người xung quanh mang lại là ít hơn rất nhiều. Đây một nhân tố quan trọng giúp nâng cao QDTDX của người dân tại 2 khu vực trên tại TP.HCM. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Ngoài ra, kết quả phân tích chung về Giá trị cảm nhận cảm nhận xanh với (Mean=4,2010), hệ số beta (β=0,150); Chất lượng cảm nhận xanh với (Mean =4,1777), hệ số beta (β=0,144) và Niềm tin về sản phẩm xanh với (Mean=4,1874), hệ số beta (β=0,159). Tất cả đều có tác động cùng chiều đáng kể lớn đến QDTDX. Người tiêu dùng bị thúc đẩy bởi giá trị, thường cân nhắc lợi ích và tiện ích mà họ nhận được khi mua sản phẩm (Kim và cộng sự, 2012). Khi người tiêu dùng nhận thức được giá trị đối với cá nhân và môi trường khi mua sản phẩm xanh, họ sẽ sẵn lòng chi tiêu cho các mặt hàng xanh hơn, điều này đồng nhất với những phát hiện trước đó (Chaudhary, 2018). Do đó, các doanh nghiệp nên tăng giá trị nhận thức về tiêu dùng xanh càng nhiều càng tốt. Người tiêu dùng có thái độ tích cực đối với sản phẩm xanh cũng có ý định mua hàng xanh cao hơn, điều này củng cố những phát hiện trước đây (Ruangkanjanases và cộng sự, 2020). Chất lượng nhận thức xanh, mối quan tâm về môi trường và kiến thức về môi trường cũng có một số ảnh hưởng tới ý định chi tiêu cho các mặt hàng xanh của người mua hàng. Người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến môi trường sinh thái và có kiến thức liên quan sẽ sẵn sàng mua các sản phẩm xanh hơn (Choi và Johnson, 2019; Varah và cộng sự, 2020). Do vậy, nhà nước và tổ chức doanh nghiệp nên phổ biến kiến thức liên quan về các vấn đề về hệ sinh thái cho người tiêu dùng. So với các biến khác, chủ nghĩa tập thể ít quan trọng hơn. Điều này cho thấy chủ nghĩa tập thể ít ảnh hưởng đến QDTDX. Ảnh hưởng của niềm tin xanh đến QDTDX nhắc nhở các doanh nghiệp rằng họ nên truyền đạt cho người tiêu dùng về độ tin cậy và khả năng bảo vệ môi trường mà các sản phẩm xanh mang lại. Điều này, cho thấy người dân tại TP.HCM đã đang dần quan tâm nhiều hơn tới những vấn đề về thiên nhiên, và nó khuyến khích cũng như có ảnh hưởng đáng kể tới QDTDX của họ.
Trong tương lai, còn tiềm năng lớn để nâng cao nhân tố Tiêu chuẩn chủ quan với β=0,219 và Mean=4,0494 có tương quan đến vừa phải đến QDTDX. Nhờ việc phát triển kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập và nâng cao kiến thức gia tăng nên nhận thức thức xã hội của tiêu dùng của người dân cũng được nâng cao đáng kể. Đối với mỗi cá nhân trong quá trình ra quyết định thường bị tác động bởi những người xung quanh. Nó phản ánh cách cá nhân bị ảnh hưởng trong xã hội chính vì vậy quyết định về tiêu dùng xanh cũng không là trường hợp ngoại lệ. Nghĩa là, nếu họ tham gia vào một số hành vi nhất định, nhóm tham chiếu của họ sẽ nhận thức về họ như thế nào. Ví dụ như: đồng nghiệp trong công ty, các thành viên trong gia đình hay thậm chí là hàng xóm láng giềng của họ. Nên rất nhiều tài liệu đi trước đã kết luận rằng mọi người tuân thủ các chuẩn mực chủ quan vì họ sợ áp lực xã hội từ những người tham chiếu chính hoặc vì những người tham chiếu cung cấp cho họ hướng dẫn về các QDTDX phù hợp hoặc có lợi trong xã hội. Đồng thời mở rộng phạm vi các kênh truyền thông, các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy được áp lực xã hội đặt ra về các vấn đề môi trường trong sự phát triển bền vững đối với người tiêu dùng. Tương tự như vậy, nếu người tiêu dùng nhận thức được việc bảo vệ môi trường phát sinh từ các QDTDX của cá nhân, QDTDX của họ sẽ tăng lên. Vì hành của người tiêu dùng dễ bị ảnh hưởng bởi những người khác và các quy tắc của nhóm (Wang, 2014), các phòng ban liên quan nên tăng cường các tiêu chuẩn mực xã hội về bảo tồn năng lượng, bảo vệ môi trường một cách bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Nhìn chung, bài nghiên cứu đã đạt được những kết quả tích cực đáng kể trong việc thiết lập mô hình giải thích cho QDTDX của người tiêu dùng tại khu vực TP.HCM. Tuy sự ảnh hưởng của các yếu tố là không như nhau nhưng nhìn chung, cả 6 yếu tố đều mang ý nghĩa quan trọng vào nhiệm vụ gia tăng QDTDX của người dùng nơi đây. Hơn nữa, QDTDX của người dân còn được nhận định là chưa cao, nhưng đã được nâng cao rất nhiều với sự sống còn sau đại dịch Covid-19 và bằng cách thúc đẩy 6 lý do chính trên, QDTDX này có nhiều khả năng được nâng cao. Sáu lý do này bao gồm:
Giá trị cảm nhận xanh (GTCNX), Chất lượng cảm nhận xanh (CLCNX), Rủi ro nhận thức (RRNT), Niềm tin về sản phẩm xanh (NTVSPX), Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng (HQCNNTD), Tiêu chuẩn chủ quan (TCCQ).
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Trong chương 4, những nội dung được trình bày bao gồm việc thống kê mô tả mẫu, tiến hành các phân tích như Cronbach’s Alpha, EFA, hồi quy, cũng như đưa ra thảo luận về kết quả. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã khẳng định được rằng mô hình và giả thuyết đưa ra là phù hợp. Ta kết luận rằng nhân tố mang ảnh hưởng tới Quyết định tiêu dùng xanh (QDTDX) mạnh nhất là Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng (HQCNNTD) tiếp đến là Tiêu chuẩn chủ quan (TCCQ), Niềm tin về sản phẩm xanh (NTVSPX), Giá trị cảm nhận xanh (GTCNX), Chất lượng cảm nhận xanh (CLCNX) và ít nhất là Rủi ro nhận thức (RRNT).
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
5.1 Kết luận
Bài nghiên cứu này được tác giả triển khai dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng. Trong đó, để hoàn thành mô hình đề xuất và thiết lập thang đo, tác giả sử dụng phương pháp định tính, bên cạnh đó, phương pháp trọng tâm là định lượng với tổng số người tham gia khảo sát là 260. Ghi nhận 206 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ hoàn thành là 79,23% và để tiến hành các phân tích.
- Giá trị cảm nhận xanh
- Chất lượng cảm nhận xanh
- Rủi ro nhận thức
- Niềm tin về sản phẩm xanh
- Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng
- Tiêu chuẩn chủ quan
Sơ đồ 5.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Có 06 tác nhân tác động tới QDTDX của nhân viên văn phòng tại TP.HCM bao gồm: (1) Giá trị cảm nhận xanh, (2) Chất lượng cảm nhận xanh, (3) Rủi ro nhận thức, (4) Niềm tin về sản phẩm xanh, (5) Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng, (6) Tiêu chuẩn chủ quan, với 66,2% ý nghĩa biến thiên được giải thích. Trong đó, yếu tố Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng và tiêu chuẩn chủ quan có sự tác động lớn nhất đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại TP.HCM căn cứ theo hệ số Beta là 0,234 và 0,219 xấp xỉ 1/2 tổng hệ số Beta của tất cả yếu tố trong mô hình. Mức độ ảnh hưởng của 03 yếu tố Niềm tin về sản phẩm xanh, Giá trị cảm nhận xanh và Chất lượng cảm nhận xanh xếp tiếp theo trong các yếu tố của mô hình với hệ số Beta là 0,159, 0,150 và 0.144. rủi ro nhận thức xếp vị trí cuối cùng có mức tác động thấp nhất (hệ số Beta là 0,114). Kiểm định giá trị trung bình (kiểm định t-test và one-way ANOVA) của các nhân tố nhân khẩu học bao gồm các đặc điểm cá nhân như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, phòng ban và thu nhập hàng tháng của hầu hết người thực hiện khảo sát. Và đưa ra kết luận rằng chỉ có duy nhất một yếu tố tồn tại sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê đó là Trình độ học vấn, ngoài ra tất cả các yếu tố còn lại đều không có. Điều này có nghĩa rằng những nhân viên văn phòng khác nhau về trình độ học vấn sẽ có tác động tới QDTDX một cách khác nhau. Với mức ý nghĩa lớn nhất là đối với nhân viên văn phòng có trình độ học vấn Sau đại học với mức ý nghĩa 4,5520 và thấp nhất thuộc về nhân viên văn phòng có trình độ Trung cấp hoặc Cao đẳng với mức ý nghĩa là 4,0400.
5.2 Một số hàm ý quản trị đề xuất Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Có 06 nhân tố chính được xác định và được chứng minh rằng mang sự ảnh hưởng tới QDTDX của nhân viên văn phòng tại TP.HCM bao gồm: Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng (HQ); Tiêu chuẩn chủ quan (CQ), Niềm tin về sản phẩm xanh (NT), Giá trị cảm nhận xanh (GT), Chất lượng cảm nhận xanh (CL) và Rủi ro nhận thức (RR). Thực trạng về QDTDX được chỉ ra trong bài viết đối với nhân viên văn phòng tại TP.HCM là có nhưng chưa cao và có nhiều tiềm năng để nâng cao chúng. Dựa trên kết quả được chỉ ra, nhằm nâng cao QDTDX của người dân nói chung và của nhân viên văn phòng nói riêng, các tổ chức công ty có thể chú trọng tới 6 nhân tố như sau:
5.2.1 Giá trị cảm nhận xanh
Yếu tố mang ảnh hưởng chính tới QDTDX là giá trị cảm nhận xanh (GT) với hệ số β=0,150. Do đó, để tăng cường mức độ QDTDX, một số biện pháp quản trị được tác giả đề xuất bao gồm:
Các doanh nghiệp cần truyền tải rõ ràng giá trị môi trường của sản phẩm xanh thông qua chiến dịch truyền thông và quảng cáo. Điều này có thể được thực hiện qua các chứng nhận môi trường, cam kết sử dụng nguyên liệu tái chế hoặc công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, với giá trị trung bình Mean = 4,2010 trong thang đo likert chi thấy người tiêu dùng mới trên mức đồng ý. Vì vậy, doanh nghiệp cần đẩy mạnh các hoạt động quảng bá, truyền thông để gia tăng nhận biết của người dùng về ảnh hưởng của việc mua sắm và tiêu dùng hiệu quả các mặt hàng này tới hệ sinh thái, qua đây thúc đẩy QDTDX một cách thường xuyên hơn. Hơn nữa, đối với những doanh nghiệp sản xuất, trách nhiệm của họ không chỉ có đưa ra cam kết về vấn đề bảo vệ môi trường mà còn cần thực thi một cách thực sự nghiêm túc, đúng đắn, và cụ thể hoá bằng các chính sách hỗ trợ ngắn hạn và các chương trình tài trợ dài hạn. Ví dụ điển hình như trích số tiền cụ thể trên từng sản phẩm và phục vụ cho các chương trình tài trợ mang tính khả thi, lâu dài. Việc truyền thông về trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp sẽ mang đến những hiệu quả tích cực cho việc kinh doanh các mặt hàng xanh.
5.2.2 Chất lượng cảm nhận xanh Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Chất lượng cảm nhận xanh (với β=0,144) thấp thứ 2 trong sáu yếu tố tác động đến việc hình thành quyết định mua là cơ sở tiềm năng để xây dựng những chiến lược, kế hoạch nhằm thúc đẩy nhận thức để tăng cường việc khách hàng tự đưa ra quyết định.
Tổ chức doanh nghiệp, công ty có thể tận dụng quảng cáo và các phương pháp khác tiếp thị thực tế để tiếp cận và thu hút khách hàng đối với tiêu dùng xanh thông qua sản phẩm xanh. Cung cấp cho người tiêu dùng được khuyến khích với nhiều trải nghiệm thực tế xanh hơn, thiết lập hình ảnh tốt về tính thực tế của các mặt hàng xanh. Đảm bảo sản phẩm xanh đạt chất lượng tốt và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Với chỉ số trung bình Mean = 4,1777 cũng thấp thứ 3 trong nhóm cùng với hệ số beta phản ánh tác động ít hơn đến các QDTDX. Các nhà sản xuất cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) để cải tiến chất lượng sản phẩm và tổ chức các buổi trải nghiệm thực tế để xây dựng niềm tin của khách hàng. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể bồi dưỡng thái độ cảm nhận về chất lượng xanh nhờ các phương tiện truyền thông hay mạng xã hội và truyền bá lợi ích của các sản phẩm xanh đến công chúng thông qua nhiều kênh trực tuyến khác nhau. Ví dụ như các buổi toạ đàm, cách chương trình tiếp dân của địa phương. Song song phải có những qui định nghiêm, các hình thức xử phạt phù hợp đối với các cơ sở sản xuất, nhập khẩu và phân phối các sản phẩm tiêu dùng xanh theo đúng tiêu chuẩn ban hành. Cũng nên có những chính sách hỗ trợ, khen thưởng khích lệ đối với những doanh nghiệp có đóng góp trong công cuộc bảo vệ môi trường, kinh tế, xã hội phát triển bền vững. Tổ chức doanh nghiệp nên tăng cường chức năng môi trường của các sản phẩm xanh và hình ảnh môi trường của các thương hiệu, đồng thời cung cấp các sản phẩm xanh đáp ứng được kỳ vọng của người tiêu dùng để nâng cao lòng tin của người tiêu dùng.
5.2.3 Rủi ro nhận thức
Từ kết quả chỉ ra Rủi ro nhận thức (RR) tác động ít nhất (với β=0,114) đến việc đưa ra các quyết định tiêu dùng, có thể thấy đây là một cơ hội để các doanh nghiệp đưa ra những kế hoạch thúc đẩy nhận thức và nâng cao khả năng người mua tự đưa ra quyết định. Việc kiểm soát nhận thức về rủi ro sẽ đạt kết quả tốt hơn khi người mua có hiểu biết về chất lượng, những lợi ích về sức khoẻ vẫn chưa được người tiêu dùng chú trọng cũng như đặc điểm của loại hàng hóa này dựa trên những trải nghiệm tốt trước đó hoặc đã có kinh nghiệm sử dụng chúng trong quá khứ. Ngược lại, những khách hàng thiếu nguồn lực như thông tin hay thời gian thường sẽ khó kiểm soát nhận thức về rủi ro, dẫn đến quyết định mua hàng kém hiệu quả hơn. Do đó, một số hàm ý quản trị được tác giả đề xuất với các doanh nghiệp như sau: Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Với cả giá trị beta bằng 0.114 và giá trị trung bình từ Mean = 4,0252 của thang đo likert đều là yếu tố tác động bé nhất đến quyết định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng là NVVP. Thông tin được doanh nghiệp cung cấp cần được truyền tải qua nhiều kênh khác nhau như tại điểm bán hay những phương tiện truyền thông, mạng xã hội… Để người dùng tiếp cận và tìm kiếm chúng một cách thuận tiện nhất. Việc truyền thông hiệu quả sẽ không chỉ giúp người dùng đỡ mất công sức khi tìm hiểu, so sánh mà còn góp phần gia tăng sự tự tin của họ trong việc quyết định các khoản mua sắm phù hợp.
Nhận thức tâm lý của người mua về khả năng chi trả tốt sẽ là yếu tố giúp đẩy nhanh quyết định chi tiêu của họ. Người tiêu dùng sẽ luôn kỳ vọng nhận được giá trị xứng đáng với số tiền mà mình bỏ ra cho các giá trị về sức khoẻ kỳ vọng. Vì vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược giá phù hợp, linh hoạt tùy theo sự nhạy cảm về giá của từng mặt hàng. Đây chính là sợi dây vô hình gắn kết được mối quan hệ bền chặt giữa khách hàng và nhà cung cấp, doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, rủi ro nhận thức cũng đóng vai trò trong việc giải thích về các thói quen của người dùng, vì họ có phản xạ phòng vệ nhằm phòng tránh rủi ro hơn là đối mặt với rủi ro trước rồi xử lý sau bởi những kỳ vọng thực tế mà quyết định tiêu dùng xanh mang lại, để tối đa hóa hiệu ứng trong quá trình mua hàng, sử dụng xanh. Vì rủi ro nhận thức xanh làm gia tăng các quyết định tiêu dùng xanh, nên các nhà tiếp thị cần chỉ rõ được các rủi ro nếu người tiêu dùng không tiêu dùng xanh trong tương lai và từ đó làm tăng nhận thức của họ về rủi ro xanh nếu không đưa ra các quyết định mua hàng hóa, tiêu dùng xanh.
5.2.4 Niềm tin về sản phẩm xanh
Yếu tố mang ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới QDTDX là yếu tố Niềm tin sản phẩm xanh (NT) với hệ số β=0,159. Do đó, nhằm thúc đẩy nhận thức để đưa ra các QDTDX, một số đề xuất được đưa ra như sau:
Các doanh nghiệp sản xuất cần triển khai các chiến lược và phương pháp tiếp thị phù hợp để không chỉ nâng cao vị thế sản phẩm trên thị trường mà còn củng cố niềm tin và sự trung thành từ phía người mua. Bên cạnh đó, với hệ số trung bình của thang đo Likert với Mean = 4,1874 đứng thứ ở vị trí thứ 3 nên phải nhờ có các chiến lược quảng bá phù hợp, doanh nghiệp sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của từng yếu tố trong quản lý chiến lược marketing, chẳng hạn như tổ hợp 4P bao gồm sản phẩm, giá cả, địa điểm, quảng bá, phải được thể hiện một cách chính xác và minh bạch. Nắm vững các nhân tố này sẽ hỗ trợ các tổ chức công ty xây dựng chiến lược định vị mang lại kết quả tốt cho từng thành phần, đảm bảo rằng sản phẩm xanh sẽ có giá thành, đặc điểm và kênh bán thỏa mãn nhu cầu mua hàng. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh là việc gia tăng chất lượng của mặt hàng để được ghi nhận thông qua các chứng nhận về tiêu chuẩn chất lượng được cấp bởi những đơn vị có thẩm quyền. Xây dựng niềm tin qua việc hợp tác với các tổ chức uy tín để kiểm định và chứng nhận sản phẩm xanh. Doanh nghiệp cần duy trì hình ảnh tích cực bằng cách liên tục cải thiện các quy trình sản xuất và thực hiện trách nhiệm xã hội. Bên cạnh đó, Chính phủ cần có đưa ra biện pháp bảo hộ tiêu dùng bằng cách kiểm duyệt khắt khe về nội dung các tiếp thị, quảng cáo và các chương trình truyền thông. Tổ chức các đội ngũ thanh tra, kiểm tra định kỳ theo tháng, quý và năm.
5.2.5 Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng
Theo quan điểm này, doanh nghiệp nên đưa ra cho người mua những thông tin đáng tin cậy về lợi ích của các sản phẩm xanh. Thông tin Hiệu quả cảm nhận xanh (HQ) với β= 0,234 là yếu tố tác động mạnh nhất đến các QDTDX trong nghiên cứu này và cũng rất quan trọng đối với quá trình ra quyết định của họ, điều này đảm bảo rằng họ có sự tự tin vào khả năng mua các sản phẩm xanh của mình cũng như sử dụng xanh một cách hiệu quả và tiết kiệm. Để gia tăng được hiệu quả người tiêu dùng nhận thức, doanh nghiệp nên truyền đạt những ý tưởng cụ thể đến người tiêu dùng thông qua nhãn xanh, thương hiệu xanh. Với hệ số trung bình Mean = 4,2194 cao nhất hướng đến sự đồng tình hoàn toàn đồng ý, mục tiêu là để thúc đẩy họ hành động để giữ gìn hệ sinh thái, từ đó phát triển bền vững và thông báo rõ ràng cho người tiêu dùng về cách họ đóng góp vào việc đó bằng cách mua các sản phẩm xanh. Các nhà hoạch định có thể tăng cường các chuẩn mực xã hội về hành vi tiết kiệm năng lượng. Ví dụ, họ có thể tổ chức các dự án bảo vệ môi trường xanh quy mô lớn hoặc tận dụng phương tiện truyền thông hay mạng xã hội để phổ biến các chuẩn mực khuyến khích các QDTDX hơn. Từ đó, rút ngắn được thời gian đưa ra các QDTDX thông qua việc mua lại các sản phẩm đáng tin cậy đã sử dụng trước đó mà không cần cân nhắc suy nghĩ thông qua hình thức tái mua sản phẩm những lần tiếp theo.
5.2.6 Tiêu chuẩn chủ quan Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Thông qua nghiên cứu, yếu tố mang ảnh hưởng lớn thứ hai tới các Quyết định tiêu dùng xanh là yếu tố Tiêu chuẩn chủ quan với giá trị β= 0,219 cho thấy mức ảnh hưởng lớn cho các khảo sát lựa chọn hoàn toàn đồng ý. Do đó, để thúc đẩy QDTDX, các hàm ý quản trị được tác giả đề xuất cho doanh nghiệp bao gồm:
Đầu tiên, cần xây dựng một xu hướng tiêu dùng sản phẩm xanh trong xã hội, thúc đẩy mọi người sử dụng những loại hàng hóa không gây hại tới môi trường. Để xu hướng này có ảnh hưởng tới sự nhận thức của mọi người thì cần triển khai các chiến dịch tuyên truyền xã hội hiệu quả, giúp hướng dẫn người dùng đưa ra lựa chọn đúng đắn và an toàn, từ đó hình thành thói quen tiêu dùng xanh trong cuộc sống hàng ngày theo chuẩn mực xã hội.
Tiếp theo, doanh nghiệp nên đẩy mạnh tiếp thị truyền miệng, liên tục cập nhật tình hình, tin tức mới, thú vị nhằm tạo được sự chú ý của khách hàng thông qua sức ảnh hưởng của chuyên gia, người nổi tiếng và các khách hàng trung thành, từ đó gia tăng sự tin tưởng của người mua cũng như tạo dựng sự gắn kết nhiều hơn trong cộng đồng.
Bên cạnh đó, với giá hệ số trung bình Mean = 4,0449 thấp thứ 2 nên cần đẩy mạnh những chiến lược truyền thông đại chúng, sử dụng để truyền tải thông tin về thương hiệu, sản phẩm, giúp hình thành nên nhận thức tốt về các mặt hàng xanh. Doanh nghiệp có thể nêu gương các cá nhân tiêu biểu. Khuyến khích người tiêu dùng thông qua các chiến dịch xã hội nhằm tạo ra sự đồng thuận và áp lực xã hội trong việc lựa chọn sản phẩm xanh. Doanh nghiệp có thể sử dụng hình ảnh của các KOLs (Key Opinion Leaders) hoặc tổ chức các chương trình cộng đồng để thúc đẩy nhận thức về tiêu dùng xanh. Nhằm tăng cường sức ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm xanh trong tương lai. Thông tin truyền tải phải chính xác, đáng tin cậy, nhằm tạo nên niềm tin cho người dùng và khuyến khích họ chọn mặt hàng sản phẩm xanh.
Nhìn chung, những chiến lược xây dựng thông tin hướng đến người dùng sẽ củng cố niềm tin của họ trong việc tin dùng những sản phẩm xanh. Tạo dựng một hình ảnh thương hiệu uy tín và sản phẩm chất lượng cao luôn là điểm lợi thế trong việc nâng cao tiêu chuẩn chủ quan.
5.3 Đóng góp của đề tài Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Từ các mô hình trong những công trình nghiên cứu liên quan tới hành vi, ý định trong tiêu dùng xanh của các tác giả đi trước, đề tài này đã tổng hợp các yếu tố để xây dựng mô hình về QDTDX của nhóm đối tượng cụ thể là nhân viên văn phòng tại TP.HCM. Trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và chính thức, việc thu thập dữ liệu đã cho ra kết quả rằng thang đo khái niệm lý thuyết được kế thừa đều phù hợp và có tính ứng dụng trong bối cảnh Việt Nam. Trong mô hình này, có 5 giả thuyết được chấp nhận và giải thích được 65,3% ý nghĩa biến thiên trong QDTDX của đối tượng nhân viên văn phòng tại TP.HCM. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình tiêu dùng xanh của nhân viên văn phòng tại TP.HCM, cũng như nhận xét và cảm nhận của họ về việc sử dụng các mặt hàng xanh, ý thức tiết kiệm năng lượng, và xu hướng sử dụng các nguồn thay thế ngày càng phổ biến hơn. Về mặt lý thuyết, nghiên cứu đã đóng góp vào việc bổ sung và làm phong phú hơn bộ tài liệu tham khảo về chủ đề liên quan, hỗ trợ cho những nghiên cứu sau này. Cuối cùng, nghiên cứu còn đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hành vi tiêu dùng xanh của nhóm đối tượng là nhân viên văn phòng tại khu vực TP.HCM nói riêng và toàn dân Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, với xu hướng toàn cầu đang hướng đến tăng trưởng xanh bền vững và nỗ lực sử dụng các giải pháp thân thiện với hệ sinh thái, hạn chế biến đổi khí hậu, không chỉ riêng lĩnh vực nông nghiệp mà tất cả các lĩnh vực khác như công nghiệp, dịch vụ, thương mại… đều chuyển hướng ưu tiên sang những mô hình, cách thức sản xuất xanh. Xanh hóa sản xuất đóng góp vào việc giảm thiểu ô nhiễm và phát thải nhà kính, hướng tới tăng trưởng bền vững đem tới nhiều hơn các lợi ích thực tiễn, cả về kinh tế và những giá trị vô hình cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó các quyết định tiêu dùng như sử dụng ít, tiết kiệm năng lượng, tiêu dùng sản phẩm một cách hợp lý và việc tái sản xuất, tái sử dụng cũng không hề kém phần quan trọng. Đối với đất nước ta, việc theo kịp các xu hướng mới là một hướng đi mở ra nhiều tiềm năng tăng trưởng nhanh chóng, gia tăng thị phần, đồng thời tận dụng sự hỗ trợ từ Chính phủ. Tuy nhiên, tiêu dùng xanh cũng đang phải đối mặt với những rào cản như việc giải quyết vấn đề lợi nhuận và tăng trưởng xanh, hay những chính sách của Chính phủ tăng cường sản xuất và tiêu dùng xanh, và cả thói quen của người tiêu dùng. Do vậy, cần có các biện pháp đồng bộ để đẩy mạnh tiêu dùng xanh, đảm bảo cho phát triển bền vững, theo kịp xu thế phát triển toàn cầu.
5.4 Hạn chế của đề tài
- Đề tài nghiên cứu của tác giả vẫn tồn tại những hạn chế nhất định như sau:
Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong hai quận của TP.HCM nên kết quả của bài viết này chưa đủ để khái quát cho tất cả người dân tại TP.HCM nói riêng hay toàn bộ người dân Việt Nam nói chung. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nhân viên văn phòng, điều này có thể chưa phản ánh đầy đủ các nhóm người tiêu dùng khác. Các tác giả tương lai cần mở rộng phạm vi nghiên cứu ra nhiều tỉnh thành khác nhau và bao quát được toàn bộ dân cư.
Mô hình nghiên cứu trong bài viết này đang tập trung vào việc chuyển đổi từ nhận thức sang quyết định mua hàng mà chưa xem xét trực tiếp thực tế các QDTDX của nhân viên văn phòng. Trên thực tế, hành vi tiêu dùng xanh có thể thay đổi sau thời gian. Do đó, các nghiên cứu trong tương lai nên kiểm tra các QDTDX của người dân một cách định kỳ, hàng ngày, hàng tháng, hoặc theo quý, để đánh giá tính bền vững của các quyết định này. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
Ngoài ra, đề tài hiện nay chủ yếu dựa vào phương pháp định lượng và ít áp dụng phương pháp định tính, dẫn đến một số điểm chưa đầy đủ trong việc giải thích chi tiết các khái niệm và yếu tố liên quan. Do đây là nghiên cứu định lượng nhằm đưa ra kết quả phân tích từ dữ liệu thu thập, nên chưa chú trọng tới việc giải thích lý do của kết quả. Mà chủ yếu chú trọng tới phân tách số liệu phản ánh qua dữ liệu chạy SPSS để đưa ra các nhận xét. Do đó, những nghiên cứu tiếp theo nên sử dụng đồng đều cả hai phương pháp nhằm giải thích sâu sắc hơn về các khái niệm và yếu tố, cũng như hiểu rõ nguyên nhân của các kết quả được chỉ ra.
Cuối cùng, các khái niệm mới được đo lường theo cách khá đơn giản, đó là việc dựa vào một nguồn chính duy nhất là bảng khảo sát theo thang đo Likert để có được các thông tin về nhận thức, thái độ và lo ngại rủi ro của người tiêu dùng khi tham gia khảo sát qua các liên kết trực tuyến. Thời gian khảo sát thường không đảm bảo sự tập trung cao, khiến người tham gia thiếu sự quan tâm và nhiệt tình, dẫn đến kết quả có thể không phản ánh chính xác mong đợi. Để gia tăng sự chính xác của quá trình đo lường, các nghiên cứu sau này nên áp dụng nhiều phương pháp đa dạng hơn để nhận xét các yếu tố này.
TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Trong nội dung chương 5, dựa trên nội dung phân tích kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra kết luận về kết quả của nghiên cứu tập trung vào hệ số Mean và β. Đồng thời, người viết cũng đã gợi ý các hàm ý quản trị dựa trên từng nhân tố tác động đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại TP.HCM gồm: Hiệu quả cảm nhận người tiêu dùng (HQ); Tiêu chuẩn chủ quan (CQ), Niềm tin về sản phẩm xanh (NT), Giá trị cảm nhận xanh (GT), Chất lượng cảm nhận xanh (CL) và Rủi ro nhận thức (RR). Các yếu tố định tính cũng có yếu tố học vấn có tác động đến QDTDX của nhân viên văn phòng tại TP.HCM nhưng không đáng kể. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nêu lên các đóng góp mà tác giả đã phân tích nhưng vẫn còn nhiều hạn chế còn tồn tại của đề tài chưa làm được và gợi ý các hướng nghiên cứu mới cho các đề tài sau. Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Các yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: KQNC yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng xanh […]