Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Giả thuyết nghiên cứu

H: Quy mô hoạt động có tác động đồng biến lên mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

3.2. Mô hình nghiên cứu

Mô hình cơ sở:

  • =Zi = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3STA + α4 FCD + α5CD + α7GEN + εi ▪   Zi = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3STA + α4 FCD + α5CD + α6MB + α5GEN + εi
  • Mô hình 2SLS (Giải quyết nội sinh):
  • Zi = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3STA + α4 FCD + α5CD + εi với mô hình biến công cụ:  SIZE = α0 + α1DEL + α2EMP + α3PPE + α4AGE +α5CASA + εi

Phân tích sâu Zi:

  • CAR = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3AGE + εi
  • ROA = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3AGE + εi
  • σ(ROA) = α0 + α1SIZE + α2CEO + α3AGE + εi

Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình

Ký hiệu Tên biến Công thức
Biến phụ thuộc
Z Điểm số Z hay điểm số chuẩn
ROA Lợi nhuận trên tổng tài sản Thu nhập ròng / Tổng tài sản.

Giá trị càng cao càng ổn định.

CAR Tỷ lệ an toàn vốn Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản.

Giá trị cao hơn thể hiện sự ổn định hơn.

σ(ROA) Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tổng tài sản
Biến độc lập Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.
SIZE Quy mô Ln (Tổng tài sản)
MB Hệ số giá trị sổ sách Giá trị thị trường của cổ phiếu chia cho giá trị sổ sách của cổ phiếu
CEO Sở hữu của giám đốc điều hành Bằng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của hội đồng quản trị tính từ đầu năm
STA Biến giả sở hữu Nhà Nước Big4: 1

Còn lại: 0

FCD Biến giả khủng hoảng 2014-2015: 1
Còn lại: 0
CD Biến giả Covid 2022-2024: 1

Còn lại: 0

GEN Biến giả giới tính của chủ tịch HDQT Nam: 1

Nữ: 0

Biến công cụ
AGE Tuổi ngân hàng Năm i – Năm thành lập
DEL Biến giả sàn niêm yết HOSE: 1

HNX: 0

PPE Tổng giá trị tài sản cố định hữu hình và vô hình Ln (PPE)
EMP Số lượng nhân viên Ln (Employees)
CASA Quy mô tiền gửi không kỳ hạn Ln (Tiền gửi không kỳ hạn)

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp  Tác giả đã thêm ba biến bổ sung so với mô hình của bài nghiên cứu gốc:

Thứ nhất là biến kiểm soát State Ownership (biến tỷ lệ sở hữu Nhà nước) để kiểm chứng mức độ tác động của tỷ lệ sở hữu Nhà nước lên mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

Thứ hai là biến giả Financial Crisis dummy (biến giả khủng hoảng tài chính) để xem xét mức độ tác động của cuộc khủng hoảng đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng.

Thứ ba là biến giả Covid dummy (biến giả đại dịch COVID-19) để xem xét mức độ tác động của dịch bệnh COVID-19 lên mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng.

3.3. Phương pháp ước lượng

Trên cơ sở mẫu được hình thành, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: hồi quy dữ liệu bảng Robust Check, Mô hình Hiệu ứng cố định – Fixed Effect Model (FEM) để kiểm tra mức ý nghĩa trong mối tương quan giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Bên cạnh đó, phương pháp hồi quy 2 giai đoạn Two-Stages Least Squares (2SLS) cũng được sử dụng để khắc phục việc lựa chọn biến đại diện cho phù hợp với nghiên cứu.

3.4. Dữ liệu và mẫu

Mẫu bao gồm dữ liệu tài chính của 34 ngân hàng thương mại trong nước và dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024. Dữ liệu thứ cấp của bài nghiên cứu được thu thập thông qua nguồn từ Vietstock và Vietdata, kết hợp thu thập thủ công từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán và các báo cáo thường niên được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Mẫu nghiên cứu bao gồm 34 ngân hàng thương mại cổ phần với tổng số 442 quan sát tính theo năm. Đây là mẫu đủ điều kiện để thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam. Trong số 34 ngân hàng thương mại cổ phần này, có 6 ngân hàng thương mại chưa được niêm yết và vẫn đang giao dịch trên sàn OTC như BaoVietBank, DongABank, GPBank, Oceanbank, PVcomBank, SCB, còn lại là 27 ngân hàng thương mại cổ phần đã được niêm yết trên sàn HOSE, HNX hoặc UpCom.

3.5. Mô tả và định nghĩa các biến Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

3.5.1. Mô tả và định nghĩa các biến

  • Biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro (Z)

Z (Z-score), hay còn được gọi là Altman Z-score, là một thước đo dùng để xác định liệu một công ty, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, có dẫn đến phá sản hay không. Trong lĩnh vực ngân hàng, Z-score là một công cụ có ích giúp cho các ngân hàng có thể dự báo được khả năng phá sản trong tương lai cũng như giúp cho các ngân hàng có được những kế hoạch cụ thể dự phòng cho các trường hợp xảy ra những rủi ro đặc thù của ngành ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, … Z-score được phát triển và giới thiệu vào cuối những năm 1960 bởi Edward Altman, một giáo sư tại Đại học New York, đã cung cấp cho công chúng hoặc cụ thể hơn là những nhà đầu tư một công cụ để đo lường sức khỏe tài chính tổng thể của một công ty. Giá trị Z-score gần bằng 0 cho thấy một công ty sắp rơi vào tình trạng phá sản, ngược lại, giá trị       Z-score gần bằng 3 cho thấy một công ty đang ở vị trí tài chính vững chắc.

Dựa theo nghiên cứu của Laeven và Levine (2012), Houson và các cộng sự (2013), Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun Lu (2018) và Mohsni và Otchere (2021), Z-score được đo bằng lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) cộng với tỷ lệ tài sản vốn (CAR), chia cho độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tổng tài sản σ(ROA). Tỷ lệ này được tính như sau:

Roy (1952) định nghĩa z-score như một thước đo khoảng cách về sự mất khả năng thanh toán. Điểm z-score cao hơn hàm ý sự ổn định hơn, do đó ngân hàng chấp nhận mức rủi ro thấp hơn và ngược lại. Roy (1952) cũng chỉ ra rằng lợi nhuận không bắt buộc phải được phân phối bình thường để có thể được xem là thước đo xác suất hợp lệ. Về mặt trực quan, phép đo chỉ ra rằng số độ lệch chuẩn dưới mức trung bình lợi nhuận sẽ phải giảm để làm cạn kiệt vốn tự có (Boyd và cộng sự, 2009; Houston và cộng sự, 2013). Tỷ lệ cao hơn cũng có nghĩa là cần phải có lợi nhuận âm lớn hơn để làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán. Do đó, như một thước đo rủi ro theo kinh nghiệm, điểm số Z-score là một thước đo rất phù hợp vì phá sản sẽ xảy ra khi vốn tự có của một ngân hàng cạn kiệt. Với độ lệch cao của điểm z-score, logarit tự nhiên của điểm z-score thu được theo Laeven và Levin (2012), Houston và các cộng sự (2013) và Bhagat và các cộng sự (2018). Trong tính toán điểm số z-score, các giá trị hàng năm của CAR và ROA được sử dụng và thời gian cuốn chiếu 5 năm được sử dụng để tính toán σ(ROA) cho mỗi quan sát trong năm của ngân hàng. CAR được tính bằng tổng vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản của từng ngân hàng. Để biết thêm bằng chứng về điểm số Z-score được sử dụng như là một thước đo mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, hãy xem nghiên cứu của Boyd và cộng sự (2009) và Beltratti và Stulz (2015). Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

Ngoài việc sử dụng điểm số z-score như một thước đo mức độ chấp nhận rủi ro, theo Houston và các cộng sự (2013) và Bhagat và các cộng sự (2018), để hiểu thành phần nào của điểm số z-score chủ yếu ảnh hưởng đến biến quy mô ngân hàng, ba thành phần của điểm số z-score (ROA, CAR và σ(ROA)) được sử dụng làm các biến phụ thuộc riêng biệt để áp dụng vào mô hình.

  • Biến đo lường quy mô hoạt động của ngân hàng (SIZE)

Những thước đo tiềm năng cho việc đo lường quy mô hoạt động của ngân hàng bao gồm các thước đo dựa trên kế toán như tổng tài sản và tổng doanh thu, và các thước đo dựa trên thị trường như vốn hóa thị trường. Bài nghiên cứu sử dụng thước đo theo phương pháp kế toán với lý do thứ nhất, các số liệu như tổng tài sản, tổng lợi nhuận được dễ dàng thu thập thông qua báo cáo tài chính đã kiểm toán qua các năm tài chính của từng ngân hàng, và thứ hai, nếu đo lường theo phương pháp dựa trên thị trường thì số liệu về vốn hóa thị trường trên thị trường chứng khoán rất khó để thu thập vì tình hình niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế.

Dựa theo nghiên cứu của Sanjai Bhagat, Brian Bolton, Jun Lu (2018), tác giả sử dụng tổng tài sản của ngân hàng làm biến đại diện cho quy mô hoạt động của ngân hàng. Vì giá trị tổng tài sản giữa các ngân hàng và giữa các năm với năm có độ lệch lớn, bài nghiên cứu sẽ lấy logarit tự nhiên của tài sản và doanh thu cho giai đoạn từ 2012 – 2024. Tác giả kỳ vọng rằng biến đo lường quy mô hoạt động của ngân hàng sẽ có tương quan dương với biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, hàm ý rằng ngân hàng có quy mô càng lớn sẽ càng dễ dàng chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn.

  • Biến tỷ lệ sở hữu/ khả năng nắm giữ của CEO (CEO)

Lý thuyết về vấn đề đại diện cho rằng các CEO có lý do để lựa chọn các tài sản an toàn hơn so với các cổ đông vì tài sản của CEO bao gồm các tài sản tài chính hữu hình và nguồn nhân lực tập trung ở các công ty mà họ quản lý, trong khi các cổ đông có thể đa dạng hóa rủi ro của họ trên thị trường vốn (Pathan 2012; Tháng 5/1995). Các bằng chứng thực nghiệm về tác động của các CEO đối với rủi ro ngân hàng là trái chiều. Ví dụ, Pathan (2012) báo cáo rằng các CEO quyền lực trong các công ty nắm giữ ngân hàng ở Hoa Kỳ có thể kiểm soát các quyết định của hội đồng quản trị theo cách giảm thiểu việc chấp nhận rủi ro; và Victoravich và các cộng sự (2014) báo cáo rằng các CEO quyền lực giảm bớt việc chấp nhận rủi ro trong các ngân hàng Hoa Kỳ khi kiểm soát việc bồi thường vốn chủ sở hữu cho CEO; họ gợi ý rằng các CEO tác động đến việc ra quyết định của hội đồng quản trị để giảm thiểu rủi ro. Mặt khác, Lewellyn và Muller-Kahle (2015) nhận thấy rằng các CEO quyền lực có liên quan đến các hoạt động cho vay rủi ro quá mức trong một cặp đối sánh các công ty Hoa Kỳ, nơi một nửa số công ty chuyên về cho vay dưới chuẩn; và Adams và các cộng sự (2008) cho thấy rằng các công ty có nhiều CEO quyền lực hơn sẽ theo đuổi các chính sách dẫn đến kết quả rủi ro hơn và cho thấy rằng các CEO quyền lực có ảnh hưởng đến các quyết định của hội đồng quản trị đối với việc theo đuổi các chính sách rủi ro. Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

Hội đồng quản trị là nền tảng của khuôn khổ quản trị nội bộ (Fama và Jensen 1983) giám sát các giám đốc điều hành về tác động của các chính sách đối với rủi ro và đánh giá xem mức độ rủi ro hiện tại và tương lai có phù hợp với khẩu vị rủi ro hay không. Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các đặc điểm của hội đồng quản trị đối với việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng vẫn còn sơ khai (Srivastav và Hagendorff 2019). Pathan (2012) báo cáo rằng các hội đồng quản trị nhỏ hơn làm tăng khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, nhưng đối với hội đồng quản trị có tỷ lệ thành viên độc lập nhiều hơn, sẽ theo đuổi các chính sách ít rủi ro hơn. Akhigbe và Martin (2009) cho thấy rằng các công ty có hội đồng quản trị độc lập nhận thấy sự suy giảm trong biến động cổ phiếu của họ trong dài hạn. Erkens và các cộng sự (2015) không tìm thấy tác động của sự độc lập của hội đồng quản trị đối với rủi ro ngân hàng trong cuộc khủng hoảng tài chính 2011-2013 đối với một số ngân hàng quốc tế lớn. Cuối cùng, Beltratti và Stulz (2015) cho thấy rằng các ngân hàng có hội đồng quản trị thân thiện với cổ đông có nhiều khả năng chấp nhận một số biện pháp rủi ro hơn.

Tỷ lệ sở hữu của CEO có thể là thước đo ràng buộc để họ có những quyết định mang lại lợi ích cho những người sở hữu cổ phần. Tác giả kỳ vọng rằng biến tỷ lệ nắm giữ của CEO có tương quan dương với biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng.

  • Biến giá thị trường trên giá trị sổ sách (MB)

Biến giá thị trường trên giá trị sổ sách là một tỷ số tài chính dùng để đánh giá giá trị thị trường hiện tại của một công ty so với giá trị sổ sách của nó. Một tỷ lệ thấp (nhỏ hơn 1) hàm ý rằng cổ phiếu đang bị định giá thấp (tức là một khoản đầu tư không tốt) và một tỷ lệ cao hơn (lớn hơn 1) hàm ý rằng cổ phiếu đang được định giá cao (tức là nó hoạt động tốt). Một tỷ lệ thấp cũng có thể cho thấy rằng có điều gì đó không ổn trong công ty. Tỷ lệ này cũng có thể tạo ấn tượng rằng bạn đang phải trả quá nhiều cho những gì sẽ còn lại nếu công ty phá sản. Mô hình của Fama và French (1992) đã báo cáo rằng các công ty có giá trị sổ sách trên giá trị thị trường càng cao (hoặc tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách càng thấp) có khả năng đang trong thời kỳ khủng hoảng và nguy cơ phá sản cao. Theo Demsetz và cộng sự (1997), Galloway và cộng sự (1997), đã chứng minh rằng các ngân hàng có tỷ lệ M/B thấp thường sẽ có mức độ rủi ro cao. Tác giả bài nghiên cứu kỳ vọng rằng biến tỷ lệ giá thị trường trên giá trị sổ sách có tương quan âm với biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng.

Việc thu thập giá trị M/B cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam là không đầy đủ về số liệu và đồng nhất về thời gian. Ngoài các ngân hàng chưa được niêm yết trên sàn chứng khoán không lấy được dữ liệu ra, các ngân hàng mới được niêm yết trên sàn chứng khoán thời gian gần đây chỉ lấy được dữ liệu từ năm 2021 hoặc 2022 hoặc 2023 trở về sau như là ABB, BVB, HDB, MSB, NAB, OCB, PGB, SGB, TCB, TPB, VAB, VBB. Các ngân hàng có thể lấy được đầy đủ dữ liệu trong suốt giai đoạn nghiên cứu như là ACB, CTG, VCB, EIB, SHB, STB đều là những ngân hàng đã được niêm yết trên sàn chứng khoán trước giai đoạn nghiên cứu.

  • Biến số năm kinh nghiệm của ngân hàng (AGE)

Số năm thành lập của ngân hàng được sử dụng để đo lường kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng đó. Nhưng ngân hàng đã hoạt động lâu năm trên thị trường được cho là sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc quản lý và xử lý rủi ro tốt hơn so với các ngân hàng mới thành lập có ít kinh nghiệm hoạt động hơn trong thị trường.

Các ngân hàng đã và đang hoạt động lâu năm trên thị trường thường có xu hướng bảo toàn vốn để duy trì rủi ro ở một mức xác định theo ràng buộc của các nhà đầu tư góp vốn lớn lâu năm. Ngoài ra, ngân hàng hoạt động lâu năm đã chiếm được thị phần ổn định, họ sẽ có ít động lực hơn trong việc chấp nhận nhiều rủi ro hơn để gia tăng khách hàng.

Các ngân hàng mới thành lập trên thị trường thường chịu sức ép cạnh tranh và giành lấy thị trường từ thị phần của các ngân hàng hoạt động lâu năm. Họ có nhiều động lực hơn trong việc chấp nhận nhiều rủi ro hơn để đánh đổi lại số lượng khách hàng, gia tăng lợi nhuận để tạo lòng tin cho các cổ đông của mình.

  • Biến giả tỷ lệ sở hữu Nhà nước (STA) Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

Lý thuyết kinh tế về tư nhân hóa liên quan đến sự kém hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, qua đó cung cấp cho chúng ta nền tảng lý thuyết để phát triển các giả thuyết của chúng ta về việc chính phủ chấp nhận rủi ro cho ngân hàng. Clarke và các cộng sự (2008) nhận thấy rằng các ngân hàng quốc doanh có thể trở thành công cụ huy động vốn để tài trợ cho các dự án mang lại lợi nhuận xã hội cao nhưng có thể tiềm ẩn rủi ro cao hoặc cung cấp tài chính cho các đối tượng được ưu đãi như doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, các ngân hàng quốc doanh gặp khó khăn trong việc chống lại sự can thiệp có hại của chính phủ, trong khi các ngân hàng tư nhân có nhiều khả năng chống lại điều đó hơn (Shirley & Nellis, 1991; Shleifer & Vishny, 1997). Kick và Von Westernhagen (2012) nhận thấy rằng sở hữu nhà nước có thể làm tăng tính mong manh của ngân hàng do làm yếu đi các kỹ năng cần có của một ngân hàng, làm yếu kém cơ cấu quản trị, mô hình kinh doanh không ổn định và các khuyến khích sai lệch tổng thể trong các ngân hàng thuộc sở hữu của chính phủ dẫn đến hiệu quả thấp hơn và lợi nhuận thấp hơn, do đó dẫn đến sự mong manh như đã mô tả ở trên. Hơn nữa, các biện pháp khuyến khích hiệu suất thấp hơn (Shleifer & Vishny, 1997) và các ràng buộc ngân sách “mềm” (Sheshinski & López-Calva, 2006) trong các ngân hàng quốc doanh cũng có thể dẫn đến việc chấp nhận rủi ro quá mức. Do đó, việc gia tăng mức độ kiểm soát của nhà nước có thể làm tăng thêm việc chấp nhận rủi ro của các ngân hàng.

Ở Việt Nam, nhóm ngân hàng thương mại nội địa được chia thành hai phần: ngân hàng thương mại cổ phần thuộc tư nhân và ngân hàng thương mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nước chi phối. Hiện nay, quá trình cổ phần hóa đang dần tiến vào các ngân hàng thương mại cổ phần thuộc nhà nước chi phối, tuy nhiên, vốn nhà nước vẫn được giữ lại như là một tỷ lệ đảm bảo khả năng quản lý của nhà nước đối với các ngân hàng này. Ngoài ra, vốn nhà nước ở đây cũng được xem như là một công cụ hữu ích giúp Nhà nước có thể can thiệp dễ dàng vào thị trường thông qua các chính sách tiền tệ của Chính phủ. Hiện nay, nhóm 4 ngân hàng lớn đứng đầu, chiếm ưu thế trong lĩnh vực ngân hàng và đang chịu sự chi phối của vốn nhà nước bao gồm: Agribank, BIDV, Vietinbank và Vietcombank, hay còn được gọi là nhóm “Big 4. Đối với nhóm ngân hàng này, tác giả kiểm nghiệm biến giả ngân hàng thuộc chi phối nhà nước được bảo trợ và nhận được sự trợ giúp của Chính phủ thì khả năng chấp nhận rủi ro sẽ cao hơn so với những ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân. Do đó, nhóm ngân hàng “Big 4” nhận giá trị bằng 1, các ngân hàng còn lại nhận giá trị bằng 0.

  • Biến giả khủng hoảng tài chính (FCD)

Trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2011, nghiên cứu của Rose (2013) được coi là lời giải thích cho mối liên hệ giữa cuộc khủng hoảng với việc chấp nhận rủi ro quá mức là thuyết phục nhất. Để xác định xem cuộc khủng hoảng có phải nguyên nhân do thất bại trong quản trị công ty hay không, ông đã tiến hành các cuộc kiểm tra thực nghiệm về mối liên hệ giữa quản trị rủi ro và các yếu tố quản trị công ty cụ thể. Rose khuyến nghị rằng các cổ đông đa dạng thích chấp nhận rủi ro hơn các khu vực bầu cử khác. Như vậy, việc trao quyền nhiều hơn cho các cổ đông sẽ không làm thay đổi lãi suất chấp nhận rủi ro của họ vì họ phải đối mặt với những rủi ro giảm giá hạn chế. Rose đưa ra kết luận rằng quản trị rủi ro là một khía cạnh thiết yếu của quản trị công ty tốt và ngược lại. Quản lý rủi ro hoạt động song song với quản trị công ty được xem như một phương tiện để hạn chế chi phí đại diện và thúc đẩy sự quản lý hiệu quả. Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã xác định thất bại trong quản trị rủi ro là nguyên nhân quan trọng nhất cho cuộc khủng hoảng tài chính và quan trọng rằng thất bại này là do những yếu kém trong quản trị doanh nghiệp hơn là do các mô hình rủi ro hoặc đánh giá rủi ro mặc định. Kirkpatrick (2012) đưa ra kết luận rằng các chính sách quản trị công ty không phục vụ mục đích của họ là bảo vệ khỏi việc chấp nhận rủi ro quá mức khi chúng được đưa vào thử nghiệm trong một số công ty dịch vụ tài chính. Kirkpatrick đã chỉ ra những thất bại lớn trong quản lý rủi ro nguyên nhân là do các quy trình quản trị công ty không phù hợp trong các tổ chức tài chính chính. Ví dụ, nhiều hội đồng quản trị không đảm bảo rằng các chính sách quản trị rủi ro đã được phê duyệt được đưa vào thực tiễn, trong khi những hội đồng quản trị khác hoàn toàn thậm chí không nhận thức được rủi ro đang hiện hữu (Kirkpatrick, 2012).

Bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng biến giả khủng hoảng tài chính cho giai đoạn 2012 – 2015 và nhận giá trị bằng 1, các năm còn lại nhận giá trị bằng 0. Tác giả kỳ vọng rằng ngân hàng sẽ chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế để tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng thị phần. Các phát hiện của nghiên cứu này ủng hộ tuyên bố rằng rủi ro đã ảnh hưởng đến thu nhập của các ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng. Nó khẳng định những phát hiện của các nghiên cứu trước đây rằng các chiến thuật cho vay năng nổ (hiểu theo hướng tiêu cực) của các chủ ngân hàng đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính và vì thế các ngân hàng đã háo hức mua Chứng khoán Thế chấp, do đó các ngân hàng đánh đổi nguy cơ vỡ nợ để có thu nhập cao hơn. (Rotheli, 2013; Pacces, 2013).

  • Biến giả ngân hàng được niêm yết trên sàn chứng khoán (DEL)

Theo đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2023 và định hướng đến năm 2025” do Chính phủ ban hành với mục tiêu đến hết năm 2023 tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam phải niêm yết và giao dịch trên các sàn chứng khoán như HOSE, HNX hoặc UpCom. Qua đề án này, các ngân hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc huy động vốn và thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn thông qua tính minh bạch và công khai thông tin của ngân hàng trên sàn chứng khoán. Do đó, đề án này là một bước đột phá trong ngành ngân hàng Việt Nam, góp phần thúc đẩy ngành ngân hàng phát triển lên một vị thế mới. Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

Tác giả bài nghiên cứu này sử dụng biến giả ngân hàng đã được niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE, HNX, UpCom, tương ứng với giá trị bằng 1. Các ngân hàng thương mại còn lại chưa được niêm yết, giao dịch qua sàn OTC hoặc không niêm yết sẽ tương ứng với giá trị bằng 0. Trong số mẫu 34 ngân hàng quan sát của bài nghiên cứu, chỉ có 7 ngân hàng hiện vẫn đang giao dịch trên sàn OTC hoặc không niêm yết, 27 ngân hàng thương mại còn lại đã được niêm yết trên sàn chứng khoán.

  • Biến giả dịch bệnh Coronavirus 2022 (COVID-19)

Như những nghiên cứu trước đây cho thấy, đại dịch thường dẫn đến suy thoái kinh tế, có khả năng gây ra những tác động đáng kể đến sự ổn định trong lĩnh vực ngân hàng. Barro và các cộng sự (2023) chỉ ra rằng đại dịch cúm năm 1918–1920 đã khiến GDP giảm 6%. Điều này là do tiêu dùng và đầu tư là động lực chính của nền kinh tế, và đại dịch ảnh hưởng đến cả hai. Mô hình của Eichenbaum và các cộng sự (2023) nghiên cứu sự tương tác giữa hoạt động kinh tế và dịch bệnh chỉ ra rằng quyết định giảm chi tiêu tiêu dùng và năng suất làm việc của mọi người có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh, nhưng rõ ràng là gây ra những hậu quả kinh tế tàn khốc. Chen và các cộng sự (2023) kiểm tra tác động của COVID-19 đối với tiêu dùng ở Trung Quốc và đưa ra kết luận tương tự.

Các tác động lên doanh nghiệp và hộ gia đình cuối cùng ảnh hưởng sang các ngân hàng, ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu, lợi nhuận, khả năng thanh toán và vốn của các ngân hàng (Beck và Keil, 2023). Tuy nhiên, các ngân hàng có thể chống chọi tốt hơn với cú sốc đại dịch hiện nay do các cải cách quy định được thực hiện sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra vào năm 2011 (Carletti và các cộng sự, 2023). Ngoài ra, các doanh nghiệp, hộ gia đình và ngân hàng có thể đã nhận được sự hỗ trợ của chính phủ, làm giảm các tác động tiêu cực tiềm ẩn.

Tác giả của bài nghiên cứu này sử dụng biến giả đại dịch COVID-19 trong giai đoạn 2022 – 2024, tương ứng với giá trị bằng 1, các năm còn lại của giai đoạn nghiên cứu nhận giá trị tương ứng bằng 0, với kỳ vọng rằng biến giả đại dịch COVID-19 có tương quan dương với biến đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, hàm ý rằng ngân hàng giảm mức độ chấp nhận rủi ro trong đại dịch COVID-19.

  • Quy mô tiền gửi không kỳ hạn (CASA)

CASA “Current Account Savings Account” hiểu đơn giản là tài khoản tiết kiệm, tài khoản hiện tại. Thuật ngữ ngân hàng gọi là tiền gửi không kỳ hạn.

Loại hình gửi tiết kiệm này khách hàng chủ động hơn với biến động số dư trong tài khoản tiết kiệm của mình. Khách hàng có thể gửi tiền vào không giới hạn cũng như không ràng buộc về thời gian và rút tùy ý mọi lúc khi nào mình muốn mà vẫn hưởng lãi suất không kỳ hạn. Tuy nhiên lãi suất không kỳ hạn sẽ thấp hơn so với gửi tiền có kỳ hạn. Lãi suất tự động hàng tháng cộng vào tài khoản tiết kiệm của khách hàng.

Nếu tính theo tháng, ta áp dụng công thức sau: Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

  • Tổng tiền lãi = tiền gốc x lãi suất tiết kiệm quy định (theo năm)/ 12 tháng x số tháng đã gửi
  • Nếu tính theo ngày, ta áp dụng công thức sau:
  • Tổng tiền lãi = tiền gốc x lãi suất tiết kiệm quy định (theo năm)/ 365 ngày x số ngày đã gửi

Khi gửi tiền vào ngân hàng theo hình thức CASA thì khách hàng có thề lựa chọn nhiều hình thức giao dịch như: Chuyển khoản tại ngân hàng, chuyển khoản từ smartbanking, chuyển khoản bằng thẻ tín dụng trong nước hoặc ngoài nước.

Ngoài ra khách hàng cũng có thể lựa chọn loại tiền tệ để gửi tiết kiệm không kỳ hạn như USD, EUR, JPY, … Khách hàng gửi loại tiền tệ nào thì ngân hàng sẽ tính lãi và cộng tiền lãi vào tiền gốc bằng loại tiền tệ đó.

Chỉ số CASA của ngân hàng cao cho thấy sức khỏe tài chính tốt, khả năng cung cấp dịch vụ tín dụng với lãi suất thấp làm gia tăng vị thế cạnh tranh của ngân hàng đó trên thị trường.

  • Giới tính chủ tịch HDQT

Theo nghiên cứu mối quan hệ giữa thành phần HĐQT và rủi ro ngân hàng của Berger và cộng sự (2017) sau khi thực hiện nghiên cứu đã cho thấy rủi ro sẽ tăng khi đổ tuổi và số lượng thành viên nữ lơn trong HĐQT của ngân hàng.

Bài phân tích tác động của đặc điểm HĐQT đến mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng của Chan và cộng sự (2019) chứng minh được tính độc lập của HĐQT càng càng cao thì giúp giảm thiểu rủi ro. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy có một mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro ngân hàng và sự đa dạng hóa cũng như độ tuổi bình quân của các thành viên HĐQT. Các vấn đền liên quan đến chính sách quản lý và pháp luật sẽ được giải quyết dễ dàng hơn.

Dong và cộng sự (2020) cũng phân tích tác động của cơ cấu HĐQT đến hiệu quả và rủi ro mang đến cho ngân hàng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đặc điểm của HĐQT có tác động mạnh đến rủi ro cho ngân hàng. Dựa trên dữ liệu từ các ngân hàng giai đoạn 2006- 2014 tại Trung Quốc.

Nhưng theo nghiên cứu của Setiyono và Tarazi (2021) hiệu quả và rủi ro của ngân hàng được xem xét trên mức độ ảnh hưởng của việc đa dạng hóa các thành viên HĐQT. Kết quả chỉ ra rằng, sự đa dạng hóa nữ giới trong HĐQT và kinh nghiệm của họ làm giảm rủi ro. Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến mức độ rủi ro của ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: PPNC của quy mô đến mức độ rủi ro của ngân hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537