Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu
Để hoàn thành được các mục tiêu nghiên cứu thì luận văn này sẽ được thực hiện với quy trình bao gồm 7 bước như sau:

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Bước 1: Tìm hiểu vấn đề , mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, sau đó xem xét các nghiên cứu tại Việt Nam và nước ngoài liên quan, từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu.
Bước 2: Tổng hợp các lý thuyết nền liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Bước 3: Lựa chọn các biến phù hợp.
Bước 4: Xây dựng mô hình nghiên cứu giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc.
Bước 5: Thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính năm đã kiểm toán của các NHTMCP niêm yết tại TTCK Việt Nam và xử lý dữ liệu bằng các mô hình hồi quy phù hợp. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Bước 6: So sánh các mô hình hồi quy, từ đó lựa chọn mô hình phù hợp và tiến hành kiểm nghiệm
Bước 7: Trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu, đưa ra những hàm ý phù hợp.
3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
3.2.1. Khái quát mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên cơ sở các lý thuyết nền liên quan đến hoạt động đa dạng hóa của các ngân hàng sẽ giúp cho các tổ chức tận dụng được nguồn lực để có thêm các nguồn thu, đồng thời các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn TNNL thuộc hai nhóm nội tại và vĩ mô nền kinh tế. Đồng thời, dựa trên các lý thuyết nền tảng về quy mô ngân hàng, tính chu kỳ của kinh tế, sự quản lý kinh doanh thì luận văn này sẽ áp dụng để đề xuất các biến số cho luận văn này. Ngoài ra, với việc tóm lược nghiên cứu liên quan được tổng hợp thì luận văn này sẽ lựa chọn nghiên cứu của Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) để làm mô hình gốc để kế thừa một số biến số và phát triển cho bối cảnh các NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu từ 2011 – 2023. Nguyên nhân, tác giả lựa chọn các nghiên cứu này vì được tiến hành phân tích tại các ngân hàng Việt Nam nên tương đồng với phạm vi nghiên cứu về không gian của luận văn. Ngoài ra, nghiên cứu này tổng hợp khung lý thuyết về TNNL phù hợp với định hướng của luận văn này. Đặc biệt, Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) đã xem xét về sự xuất hiện của đại dịch Covid 19 đến TNNL của các NHTM. Trong đó, các biến số độc lập mà luận văn này sẽ kế thừa từ nghiên cứu của Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) đó là quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tài sản, tỷ lệ dự phòng RRTD, tỷ lệ lạm phát và đại dịch Covid 19. Tuy nhiên, để đầy đủ cho mô hình nghiên cứu đề xuất thì luận văn sẽ kế thừa bổ sung các biến số tỷ lệ VCSH, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, đa dạng hóa thu nhập, tăng trưởng GDP, cấu trúc sở hữu Nhà nước. Vì vậy, các biến số được xây dựng tại mô hình nghiên cứu sẽ tổng hợp dưới bảng sau:
Bảng 3.1: Tổng hợp các biến số trong mô hình nghiên cứu
| Tên biến | Ký hiệu | Nguyên nhân lựa chọn | Nguồn | Kỳ vọng |
| Các biến độc lập | ||||
| Quy mô ngân hàng | SIZE |
Biến số này phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng. Quy mô tạo ra lợi thế cho các ngân hàng trong các HĐKD phi truyền thống. |
Atellu (2016); Meng và cộng sự (2018); Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Dương Gia Trân (2022); Lữ Hữu Chí và Nguyễn Văn Thích (2023); Khúc Thế Anh và cộng sự (2023); Atmawidjaya và Nuryakin (2023) |
Cùng chiều (+) |
| Tỷ lệ VCSH | ETA | Biến số này phản ánh nguồn vốn dài hạn, hay sự tự lực tài chính của NHTM. Tạo điều kiện cho các HĐKD phi truyền thống. | Meng và cộng sự (2018);Atmawidjaya và Nuryakin (2023); Lữ Hữu Chí và Nguyễn Văn Thích (2023) | Cùng chiều (+) |
| Tỷ lệ tiền gửi trên tài sản | DTA | Biến số này phản ánh nguồn vốn giúp cho các NHTM thực hiện chức năng trung gian tài chính, chi phí rẻ nên có điều kiện thực hiện các HĐKD phi truyền thống. | Nepali và Niroula (2020); Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018) Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH. | Cùng chiều (+) |
| Tỷ lệ cho vay trên tài sản | CTA | Biến số này phản ánh sự hiệu quả của nguồn lực ngân hàng trong hoạt động cho vay, điều nay gây cản trở lớn cho TNNL nếu nó tăng cao. | Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) | Ngược chiều (+) |
| Tỷ lệ dự phòng RRTD | LLR | Biến số này phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng suy giảm và sự yêu cầu bù đắp nguồn thu đến từ TNNL. | Atmawidjaya và Nuryakin (2023); Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018); Nguyễn Ngọc Thạch và cộng sự (2020) | Cùng chiều (+) |
| Đa dạng hóa thu nhập | DIVER | Biến số này cho biết mức độ đa dạng hóa thu nhập của NHTM đang diễn ra như thế nào ? Nếu càng tăng thì càng có lợi cho TNNL. | Ashraf và cộng sự (2023) | Cùng chiều (+) |
| Cấu trúc sở hữu Nhà nước | STA | Biến số này phản ảnh sự khác nhau giữa hai nhóm NHTM có sở hữu Nhà nước trên 51% và các ngân hàng còn lại trong việc đa dạng hóa HĐKD. | Meng và cộng sự (2018) | Ngược chiều (+) |
| Tăng trưởng kinh tế | GDP | Biến số này phản ánh mức độ thuận lợi của thị trường để cho các NHTM thực hiện các HĐKD của mình. | Ashraf và cộng sự (2023);Atmawidjaya và Nuryakin (2023); Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) | Ngược chiều (+) |
| Tỷ lệ lạm phát | INF | Biến số này phản ánh mức độ khó khăn của thị trường để cho các NHTM thực hiện các HĐKD của mình. | Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Dương Gia Trân (2022); Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) | Ngược chiều (+) |
| Đại dịch Covid 19 | COVID | Biến số này phản ánh sự xuất hiện của đại dịch Covid 19 sẽ có sự khác biệt gì về TNNL so với lúc không xuất hiện ? | Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) | Cùng chiều (+) |
| Biến phụ thuộc | Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH. | |||
|
Thu nhập ngoài lãi |
NII | Biến số phản ánh tỷ lệ TNNL trên tổng tài sản, phản ánh mức độ hiệu quả khi ngân hàng dùng nguồn lực của mình để có TNNL. | Ashraf và cộng sự (2023); Atmawidjaya và Nuryakin (2023); Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Dương Gia Trân (2022); Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) | X |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Mô hình nghiên cứu đo lường sự ảnh hưởng của các nhân tố đến TNNL của các NHTM Việt Nam đó là: NIIi,t = + 𝜷𝟏∗SIZEi,t + 𝜷𝟐∗ETAi,t + 𝜷𝟑∗DTAi,t + 𝜷𝟒∗CTAi,t +
Trong đó các ký hiệu sẽ được đề cập tại Bảng 3.1. Các hệ số βj là hệ số tương quan tác động giữa các biến số độc lập với biến phụ thuộc, là chỉ số biểu diễn sai số của mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, i biểu diễn cho NHTM Việt Nam thứ i và t biểu diễn cho năm thứ t.
Bảng 3.2: Phương pháp đo lường biến trong mô hình nghiên cứu
| STT | Ký hiệu | Tên biến | Công thức đo lường |
| Các biến độc lập | |||
| 1 | SIZE | Quy mô ngân hàng | Log (Tổng tài sản) |
| 2 | ETA | Tỷ lệ VCSH | *100% |
| 3 | DTA | Tỷ lệ tiền gửi trên tài sản | *100% |
| 4 | CTA | Tỷ lệ cho vay trên tài sản | 100% |
| 5 | LLR | Tỷ lệ dự phòng RRTD | *100% |
| 6 | DIVER | Đa dạng hóa thu nhập | |
| 7 | STA | Cấu trúc sở hữu Nhà nước | Biến giả với Agribank, Vietcombank, Vietinbank và BIDV là nhận giá trị (có vốn Nhà nước trên 51%) và các NHTM khác nhận giá trị 0. |
| 8 | GDP | Tăng trưởng kinh tế | *100% GDPt là tổng sản phẩm quốc nội năm t;
GDPt-1 là tổng sản phẩm quốc nội năm t –1. |
| 9 | INF | Tỷ lệ lạm phát | *100% CPIt là chỉ số giá tiêu dùng năm t; CPIt-1 là chỉ số giá tiêu dùng năm t – 1. |
| 10 | COVID | Đại dịch Covid 19 | Biến giả 1 là có xuất hiện đại dịch từ 2020 – 2022; 0 cho các năm còn lại |
| Biến phụ thuộc | |||
| 11 | NII | Thu nhập ngoài lãi | *100% |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
3.2.2.1. Đối với quy mô ngân hàng
Atellu (2016); Meng và cộng sự (2018); Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Dương Gia Trân (2022); Lữ Hữu Chí và Nguyễn Văn Thích (2023); Khúc Thế Anh và cộng sự (2023); Atmawidjaya và Nuryakin (2023) cho rằng các NHTM tăng quy mô sẽ đi kèm với sự mở rộng hoạt động cho vay, cung cấp các dịch vụ tài chính và đầu tư tài sản tài chính. Điều này tạo ra cơ hội tăng thu nhập từ lãi suất, khoản phí và các nguồn thu nhập ngoài lãi khác. Ngược lại, giảm quy mô thì các NHTM có thể hạn chế khả năng cung cấp vốn, mở rộng dịch vụ và đầu tư, dẫn đến giảm thu nhập ngoài lãi. Cho nên có thể hiểu, khi quy mô của ngân hàng tăng cao có thể gia tăng nguồn TNNL. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến quy mô ngân hàng đó là:
H1: Quy mô ngân hàng ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.2. Đối với tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Meng và cộng sự (2018); Atmawidjaya và Nuryakin (2023); Lữ Hữu Chí và Nguyễn Văn Thích (2023) cho rằng VCSH có thể được coi là nguồn vốn sẵn có giúp NHTM cải thiện được nguồn thu ngoài lãi. Các NHTM có thể sử dụng VCSH để mở rộng danh mục dịch vụ tài chính và gia tăng TNNL từ các dịch vụ mới. Ví dụ, các NHTM có thể mở rộng hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, quản lý tài sản, tư vấn tài chính, hoặc các dịch vụ ngân hàng đầu tư. Ngoài ra, các NHTM có thể sử dụng VCSH để đầu tư vào các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư, hoặc sản phẩm tài chính phức tạp khác. Khi đó TNNL có thể được tạo ra từ việc nhận cổ tức, lợi tức từ cổ phiếu và trái phiếu hoặc lợi nhuận từ giao dịch chứng khoán. Mặt khác, nguồn vốn từ chủ sở hữu cũng có thể được sử dụng để mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng như mở thêm chi nhánh, tăng cường hệ thống phân phối hoặc mở rộng dịch vụ tài chính cho các lĩnh vực mới. Điều này có thể tạo ra TNNL khi thu phí dịch vụ, lợi nhuận từ quy mô hoạt động mở rộng và thu nhập từ khách hàng mới. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến tỷ lệ VCSH đó là:
H2: Tỷ lệ VCSH ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.3. Đối với tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản
Nepali và Niroula (2020); Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018) cho rằng tổng tiền gửi tăng, NHTM có nguồn vốn dồi dào để sử dụng cho việc cho vay và đầu tư, tạo ra cơ hội tăng thu nhập từ lãi suất và khoản phí thu được từ các khoản vay và thu nhập từ hoạt động đầu tư. Ngoài ra, mức lãi suất trả cho tiền gửi và chi phí liên quan đến việc quản lý tiền gửi cũng ảnh hưởng đến TNNL. Bằng cách tận dụng nguồn tiền gửi với chi phí rẻ như tiền gửi không kỳ hạn thì các NHTM có thể tạo ra được lợi nhuận cao với chi phí thấp. Tổng tiền gửi tăng cũng là cơ hội để ngân hàng gia tăng TNNL. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến tỷ lệ tiền gửi đó là: Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
H3: Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.4. Đối với tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản
Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) cho rằng các ngân hàng tập trung vào hoạt động cho vay quá nhiều sẽ dẫn đến gia tăng RRTD với các khách hàng có rủi ro cao, thay vì đa dạng hóa hoạt động kinh doanh để tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Hoạt động tín dụng nhiều làm thu nhập của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào một nguồn, nếu có biến động xảy ra trên thị trường, lãi suất thị trường giảm hay tăng cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của ngân hàng. Từ đó, khả năng tạo ra TNNL bị giảm đi, vì nguồn lực của ngân hàng tập nhiều vào hoạt động tín dụng. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến tỷ lệ cho vay đó là:
H4: Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản ảnh hưởng ngược chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.5. Đối với tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Atmawidjaya và Nuryakin (2023); Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018); Nguyễn Ngọc Thạch và cộng sự (2020) khi tỷ lệ dự phòng RRTD của các NHTM gia tăng thì chi phí hoạt động cũng sẽ tăng lên theo. Do đó, các NHTM buộc phải có các khoản thu nhập khác để bù đắp cho khoản thiệt hại này. Vì vậy, với điều kiện này thì các hoạt động đa dạng hóa sẽ được tận dụng triệt để với các nguồn lực sẵn có tại ngân hàng và điều này làm cho TNNL tăng theo. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến tỷ lệ dự phòng RRTD đó là:
H5: Tỷ lệ dự phòng RRTD ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.6. Đối với đa dạng hóa thu nhập
Ashraf và cộng sự (2023) cho rằng các NHTM có chỉ số HHI càng cao có nghĩa là các hoạt động đa dạng hóa phi truyền thống đang được triển khai và tăng trưởng. Đây là điều kiện thuận lợi để các NHTM tận dụng các nguồn lực của mình để tạo ra thu nhập từ những hoạt động truyền thống lẫn phi truyền thống như bảo hiểm, quản lý tài sản, tư vấn tài chính, hoặc các dịch vụ ngân hàng đầu tư. Từ đó, làm gia tăng TNNL cho các NHTM. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến đa dạng hóa thu nhập đó là:
H6: Đa dạng hóa thu nhập ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.7. Đối với cấu trúc sở hữu Nhà nước Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Meng và cộng sự (2018) cho rằng các NHTM quốc doanh có vốn sở hữu Nhà nước chiếm đa số thường ưu tiên cho sự ổn định, khẩu vị rủi ro thấp và việc chuyển đổi công nghệ hay với các hoạt động đa dạng hóa sẽ chậm chạp hơn các NHTM tư nhân. Do đó, NHTM có sở hữu Nhà nước nhiều hơn thì thường ưu tiên các hoạt động truyền thống nên TNNL có phần bị thu hẹp. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến cấu trúc sở hữu Nhà nước đó là:
H7: Cấu trúc sở hữu Nhà nước ảnh hưởng ngược chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.8. Đối với tăng trưởng kinh tế
Ashraf và cộng sự (2023); Atmawidjaya và Nuryakin (2023); Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) cho rằng tăng trưởng GDP có thể góp phần đáng kể vào việc gia tăng TNNL của các ngân hàng. Tăng trưởng GDP đề cập đến sự gia tăng giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. Khi GDP tăng, nền kinh tế mở rộng và hoạt động tăng lên, điều này cũng tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới cho các NHTM. Sự tăng trưởng GDP làm cho các doanh nghiệp và cá nhân có xu hướng thúc đẩy nhu cầu vay mượn để đầu tư trong các dự án, mua sắm hàng hóa và dịch vụ, mở rộng kinh doanh và tiêu dùng. Do đó, các NHTM có thể tăng doanh số cho vay và thu phí dịch vụ. Điều này góp phần gia tăng TNNL của ngân hàng. Mặt khác, tăng trưởng GDP cũng có thể tạo ra lợi suất cao hơn từ các khoản đầu tư của NHTM vào các công ty và doanh nghiệp trên thị trường tài chính nên làm tăng TNNL.
Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến tăng trưởng kinh tế đó là:
H8: Tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.9. Đối với tỷ lệ lạm phát
Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Dương Gia Trân (2022); Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) cho rằng tỷ lệ lạm phát cao có thể ảnh hưởng đến khả năng hạn chế tạo ra nguồn TNNL của ngân hàng. Lạm phát là hiện tượng tăng giá cả tổng hợp và mất giá của tiền tệ trong một thời gian dài. Khi lạm phát tăng cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đối với HĐKD của NHTM. Lạm phát làm giảm giá trị tiền tệ theo thời gian, làm giảm sức mua của người tiêu dùng. Điều này có thể dẫn đến giảm nhu cầu vay mượn và sử dụng dịch vụ ngân hàng nên làm giảm TNNL. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến cấu trúc sở hữu Nhà nước đó là:
H9: Tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng ngược chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.10. Đối với đại dịch Covid 19
Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) cho rằng khi đại dịch Covid 19 xuất hiện thì nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ nó. Tuy nhiên, vào giai đoạn này thì Việt Nam đóng cửa nền kinh tế để ưu tiên chống dịch. Nên việc giao dịch liên quan đến ngân hàng điện tử, thanh toán trực tuyến tại ngân hàng tăng đột biến làm cho các khoản thu phí dịch vụ tăng lên. Ngoài ra, vào thời điểm này các sản phẩm bán lẻ liên quan đến bảo hiểm hay đầu tư của ngân hàng được triển khai hiệu quả. Do đó, TNNL của các NHTM có phần tăng theo. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu liên quan đến tăng trưởng kinh tế đó là:
H10: Đại dịch Covid 19 ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
3.3. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
3.3.1. Dữ liệu nghiên cứu
Theo Tabachnick và Fidell (2001) đã chỉ ra trong nghiên cứu định lượng, số lượng mẫu nghiên cứu cần được đo lường theo công thức sau n ≥ 50 + 8m. Trong đó, n là số lượng mẫu nghiên cứu; m là số biến độc lập và biến kiểm soát có trong mô hình. “Trong luận văn của tác giả có 10 biến độc lập, do đó số lượng mẫu nghiên cứu tối thiểu là 130 quan sát. Tác giả đã thu thập dữ liệu từ 24 NHTM Việt Nam trong vòng 13 năm từ 2011 – 2023, tổng cộng thu thập được 312 quan sát. Do đó, số lượng quan sát trong bài nghiên cứu là hoàn toàn phù hợp và có cơ sở. Tác giả thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán và báo cáo thường niên do các ngân hàng thương mại đăng tải chính thức trên website và trang web www.cafef.vn trong vòng 13 năm từ 2011 đến 2023.
Trong các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam thì tác giả loại trừ các ngân hàng có vốn nước ngoài hay có trụ sợ đặt tại Việt Nam và lựa chọn nhóm NHTM Việt Nam để lấy dữ liệu vì đây là nhóm loại hình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nhóm loại hình NHTM tại Việt Nam (hơn 75%). Do đó, phản ánh một cách gần như chính xác các đặc điểm, tính chất của ngành ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu. Cuối cùng, có 24 NHTM Việt Nam thỏa mãn yêu cầu của tác giả, chi tiết được trình bày trong Phụ lục 01 đính kèm.
Dữ liệu nghiên cứu được tác giả sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các BCTC hợp nhất đã kiểm toán, BCTN của 24 NHTM Việt Nam. Nguồn số liệu tổng hợp vào cuối mỗi năm trong giai đoạn 2011 – 2023 cho nên nghiên cứu gồm tộng cộng 312 quan sát. Trong đó, tác giả sẽ thu thập dữ liệu dưới dạng thô với các chỉ tiêu cần thiết, sau đó thực hiện tính toán các chỉ tiêu cụ thể thông qua các công thức toán học của tài chính.
Đối với các chỉ số kinh tế vĩ mô mỗi năm như tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng được thu thập từ các trang web uy tín như World Bank, Ourworldindata, IMF. Số liệu được thu thập và sắp xếp theo dữ liệu bảng, cấu trúc dữ liệu bảng được kết hợp từ hai thành phần: thành phần dữ liệu chéo và thành phần dữ liệu thời gian.
Đồng thời, trong nghiên cứu tác giả lựa chọn thời gian nghiên cứu là 13 năm (gồm giai đoạn từ 2011 đến 2023). Trong khoảng thời gian này, nền kinh tế Việt Nam đã trả qua nhiều biến động, từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến các vấn đề chính trị trên thế giới, hay gần đây nhất là những ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, lạm phát nghiêm trọng trong 2022 – 2023, chiến tranh giữa Nga và Ukraina, v.v. Do đó, khoảng thời gian này sẽ có những tác động mạnh mẽ đến hoạt động của các NHTM Việt Nam.
3.3.2. Phương pháp tính toán và ý nghĩa Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
3.3.2.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Bước đầu thì luận văn sẽ tiến hành đánh giá tình hình chung về giá trị trung bình tỷ lệ TNNL của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2023, để có cái nhìn tổng quan về sự thay đổi của các biến số đặc trưng này. Sau đó, tiến hành thống kê mô tả với các giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, độ lệch chuẩn với các biến số trong mô hình nghiên cứu, đồng thời đánh giá sự khác biệt giữa các ngân hàng trong mẫu.
3.3.2.2. Phân tích ma trận tương quan của các biến số độc lập và kiểm soát
Đối với mô hình hồi quy đa biến thì giả định ràng buộc cho sự phù hợp của nó là các biến độc lập hay các biến kiểm soát không được tương quan cao với nhau, nếu xảy ra tình trạng này thì hiện tượng đa cộng tuyến xuất hiện. Vì vậy, một phương thức để xác định là sử dụng ma trận cấu trúc tương quan giữa các biến số. Nếu hệ số tương quan trong ma trận của các cặp số lớn hơn 0,8 có nghĩa là cặp biến số đó tương quan mạnh, hay có khả năng mô hình xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng và cần kiểm định sâu hơn để kết luận.
3.3.2.3. Phân tích các mô hình hồi quy đa biến
Mô hình Pooled OLS (hồi quy gộp): Mô hình này theo phương pháp bình phương nhỏ nhất với dữ liệu bảng, đây là mô hình giản đơn và cơ bản nhất khi hồi quy các biến số. Với phương pháp OLS này thì giả định đặt ra không tồn tại khác biệt giữa các đơn vị chéo, tung độ gốc α được dùng chung cho các đơn vị chéo. Do đó, mô hình này không phản ánh sự khác biệt giữa các đơn vị chéo tại mẫu nghiên cứu, do cả hai tham số ước lượng không thay đổi với đơn vị chéo. Nhưng phương pháp này dễ xuất hiện tự tương quan chuỗi, thể hiện qua hệ số d (hệ số Durbin Watson thấp) nên kết quả ước lượng kém chất lượng và thiếu sự tin cậy. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Mô hình FEM (tác động cố định): Để khắc phục các nhược điểm của mô hình Pooled OLS về sự không đồng nhất của các đơn vị chéo thì mô hình FEM sẽ tính đến đặc trung riêng của các đơn vị chéo. Với FEM thì các hệ số hồi quy riêng có giả định giống nhau với các đơn vị chéo nhưng hệ số chặn lại có tính phân biệt. Đặc biệt, trong mô hình FEM thì mỗi thành phần của mẫu nghiên cứu đều có những điểm riêng thuộc các đối tượng hay thời gian khác nhau và được xem như các hằng số có khả năng tác động đến các biến độc lập. Do đó, mô hình FEM sẽ phân tích sự liên hệ giữa các phần dư với từng đơn vị với biên độc lập để kiểm soát và tách sự tác động của các đặc trưng riêng rẻ (không thay đổi với thời gian) khỏi các biến số độc lập.
Mô hình REM (tác động ngẫu nhiên): Mô hình này thì lại tập trung vào việc xác định các hệ số chặn khác nhau với từng đơn vị chéo, tác động chung của các biến độc lập. Với những hệ số chặn tại các đơn vị chéo phát sinh bởi một hệ số chặn chung không thay đổi theo thời gian hay các đối tượng. Mỗi biến ngẫu nhiên là một thành phần sai số thay đổi theo đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian (với thành phần của sau số là biến số không quan sát được thể hiện các sự tác động của yếu tố không quan sát được bằng cách trực tiếp). Do đó, thay vì tiếp cận trực tiếp mỗi đặc điểm riêng của các đơn vị hay cách chúng tương quan với biến độc lập, thì REM xem xét những đặc điểm này là các biến số ngẫu nhiên không tương quan với biến độc lập và được xem là những cơ sở để giải thích đến sự tác động đến biến phụ thuộc. Vì vậy, tại những tình huống nghiên cứu mà có sự khác biệt với các đơn vị tác động đến biến phụ thuộc thì mô hình REM có phần tối ưu hơn mô hình FEM.
3.3.2.4. Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp
Trong ba mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM thì cần phải thực hiện kiểm định lựa chọn một mô hình phù hợp để kết luận. Do đó, các kiểm định tương ứng như sau.
Kiểm định F – Test: Kiểm định này nhằm xác định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM. Với cặp giả thuyết đặt ra gồm H0 là không tồn tại sự khác biệt giữa các đối tượng hay thời gian khác nhau, tương ứng với Pooled OLS được chọn. H1 là tồn tại tồn tại sự khác biệt giữa các đối tượng hay thời gian khác nhau, tương ứng với FEM được chọn. Với kiểm định này thì dựa trên hệ số P – Value của F – Test để kết luận, thông thường nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ bác bỏ H0 thì sẽ lựa chọn mô hình FEM và ngược lại nếu P – Value lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì sẽ lựa chọn mô hình Pooled OLS.
Kiểm định Breusch – Pagan: Kiểm định này nhằm xác định lựa chọn giữa Pooled OLS và REM. Với cặp giả thuyết đặt ra gồm H0 là không tồn tại sự sai khác với phương sai sai số thay đổi, tương ứng với Pooled OLS được chọn. H1: tồn tại sự sai khác với phương sai sai số thay đổi, tương ứng với REM được chọn. Với kiểm định này thì dựa trên hệ số P – Value của Breusch – Pagan để kết luận, thông thường nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ bác bỏ H0 thì sẽ lựa chọn mô hình REM và ngược lại nếu P – Value lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì sẽ lựa chọn mô hình Pooled OLS.
Kiểm định Hausman: Kiểm định này nhằm xác định lựa chọn giữa FEM và REM. Với cặp giả thuyết đặt ra gồm H0 là không có sự xuất hiện các biến số độc lập với những phần dư tương quan, tương ứng với REM được chọn. H1 là có sự xuất hiện các biến số độc lập với những phần dư tương quan, tương ứng với FEM được chọn. Với kiểm định này thì dựa trên hệ số P – Value của Hausman để kết luận, thông thường nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ bác bỏ H0 thì sẽ lựa chọn mô hình FEM và ngược lại nếu P – Value lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì sẽ lựa chọn mô hình REM.
3.3.2.5. Kiểm định các hiện tượng với mô hình được chọn Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Kiểm định đa cộng tuyến: Kiểm định này nhằm phát hiện các biến số độc lập có tương quan cao với nhau hay không ? Nếu các cặp biến độc lập tương quan quan cao với nhau thì mô hình xảy ra đa cộng tuyến (Hoàng Ngọc Nhậm, 2007). Hiện tượng này sẽ được kiểm định thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại đa cộng tuyến, H1 là mô hình tồn tại đa cộng tuyến. Nếu VIF của các biến số và trung bình trong mô hình thấp hơn 10 thì giả thuyết H0 được chấp nhận hay không có đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu và ngược lại.
Kiểm định phương sai sai số thay đổi: Kiểm định nhằm xác định mô hình có xuất hiện phương sai của các phần dư khác hằng số, nó sẽ làm cho các quan sát có sự sai khác và mất đi tính phân phối ngẫu nhiên của dữ liệu. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại phương sai sai số thay đổi, H1 là mô hình tồn tại phương sai sai số thay đổi. Nếu P – Value của kiểm định Breusch – Pagan Lagrangian lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì không tồn tại phương sai sai số thay đổi. Ngược lại, nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ chấp nhận H1 thì tồn tại phương sai sai số thay đổi.
Kiểm định tự tương quan: Kiểm định này nhằm xác định sự tương quan của các biến quan sát trong mẫu, nếu xuất hiện thì sẽ tạo sự sai lệch trong dữ liệu và mô hình. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại tự tương quan, H1 là mô hình tồn tại tự tương quan. Nếu P – Value của kiểm định Wooldridge lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì không tồn tại tự tương quan. Ngược lại, nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ chấp nhận H1 thì tồn tại tự tương quan.
3.3.2.6. Khắc phục các hiện tượng khuyết tật Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Nếu mô hình được chọn thông qua các kiểm định trên gặp phải hiện tượng phương sai sai số thay đổi, tự tương quan thì tiến hành khắc phục theo phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Square). Phương pháp này sẽ tập trung vào việc khắc phục sửa sai cho các phương sai, độ lệch chuẩn và tạo tính ổn định cho sự biến thiên của dữ liệu nhằm đưa ra kết quả thỏa mãn với giả thuyết bình phương nhỏ nhất theo tiêu chuẩn. Đồng thời, sau khi khắc phục theo FGLS thì mô hình hồi quy đa biến mới được thiết lập, từ đó sẽ dựa trên hệ số hồi quy của các biến số và P – Value tương ứng và mức ý nghĩa 5%, để xem xét việc kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đề xuất là phù hợp hay không ? Sau đó, dựa trên kết luận giả thuyết đó tiến hành thảo luận so sánh với các nghiên cứu trước đây.
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Chương 3 đã tiến hành đề xuất mô hình cùng các giả thuyết nghiên cứu tương ứng cho các biến số độc lập. Đồng thời, chương này đã mô tả và phương thức đo lường cho các biến số. Ngoài ra, cách thức chọn mẫu và số lượng NHTM Việt Nam cũng được trình bày. Cuối cùng, phương pháp tính toán và ý nghĩa các hệ số dùng vào các kiểm định cũng đã được trình bày chi tiết.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

