Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Quy trình nghiên cứu

  • Bước 1. Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

Trước hết, nghiên cứu tập trung làm rõ vấn đề liên quan đến các yếu tố tác động đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, mục tiêu nghiên cứu được định hình là đưa ra các khuyến nghị quản trị nhằm hỗ trợ các ngân hàng thương mại nhận diện được những nhân tố gây ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng. Qua đó, nghiên cứu hướng đến việc đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp để chủ động kiểm soát và hạn chế rủi ro này.

  • Bước 2. Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Sau khi xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, tác giả tiến hành tổng hợp và đánh giá các tài liệu hiện có để có cái nhìn rộng hơn, hiểu sâu hơn về vấn đề đang nghiên cứu.

  • Bước 3. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

Dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây, tác giả đã tiến hành xác định và phân tích các yếu tố có khả năng tác động đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Từ đó, một danh sách các biến số phù hợp được chọn lọc để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu. Trên cơ sở các biến này, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với dữ liệu thu thập trong bối cảnh thị trường Việt Nam.

  • Bước 4. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 8 yếu tố bao gồm: tỷ lệ thu nhập lãi thuần, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân, tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy mô Ngân hàng, năng lực quản trị, thanh khoản, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát của 23 Ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2023. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

Dữ liệu được sử dụng trong bài viết là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính nội bộ và các báo cáo có liên quan (báo cáo trích lập dự phòng, báo cáo phân loại nợ,…) của 23 Ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2013 – 2023.

Dữ liệu để xây dựng các biến nhân tố vĩ mô bao gồm chỉ số GDP và lạm phát được thu thập từng năm tại thời điểm cuối mỗi năm từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê.

  • Bước 5. Phân tích dữ liệu, bao gồm các bước:

Thống kê mô tả: Tác giả sử dụng phần mềm Stata17 để trình bày các đặc tính cơ bản của tập dữ liệu, bao gồm số lượng quan sát, giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất và lớn nhất, cùng độ lệch chuẩn. Ngoài ra, tiến hành kiểm tra hiện tượng tương quan giữa các biến và vấn đề đa cộng tuyến nhằm đảm bảo tính ổn định của mô hình. Các phương pháp định lượng như Pooled OLS (POLS), Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM), và Feasible Generalized Least Squares (FGLS) được sử dụng để ước lượng mức độ tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc.

Lựa chọn mô hình phù hợp: Sau khi thực hiện ước lượng bằng ba phương pháp POLS, FEM và REM, tác giả tiến hành các kiểm định như F–test, kiểm định Breusch–Pagan và kiểm định Hausman để xác định phương pháp ước lượng tối ưu, đảm bảo tính chính xác và phù hợp với cấu trúc dữ liệu.

Kiểm tra và xử lý sai lệch mô hình: Nhằm nâng cao độ tin cậy và khả năng khái quát hóa của kết quả phân tích, các kiểm định như hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi được thực hiện, góp phần hoàn thiện mô hình nghiên cứu.

  • Bước 6. Kết luận và đưa ra hàm ý quản trị

Ở bước này, tác giả trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam. Sau đó, kết luận và đưa ra hàm ý quản trị phù hợp để kiểm soát rủi ro.

Quy trình nghiên cứu được tóm tắt theo sơ đồ 3.1:

  • Sơ đồ 3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

Từ việc tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đó, có thể nhận thấy Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Một số nhân tố chỉ mang tính đặc thù đối với từng nền kinh tế riêng biệt, trong khi đó có những yếu tố phổ quát tác động đến Rủi ro tín dụng ở phần lớn các quốc gia, chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy mô tổ chức tín dụng, tỷ lệ dự phòng thanh khoản, và khả năng sinh lợi. Do vậy, nghiên cứu này sẽ lựa chọn các biến số có tính ứng dụng rộng để triển khai phân tích dựa trên dữ liệu thu thập tại Việt Nam.

Luận văn tham khảo phương pháp tiếp cận của Foos và cộng sự (2010); Pestova & Mamonov (2011); Zribi & Boujelbène (2011) nhằm xây dựng khung mô hình nghiên cứu, qua đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, đề tài tiến hành đề xuất mô hình phù hợp với bối cảnh trong nước như sau:

Trong đó:

  • LLRi,t: Biến đo lường Rủi ro tín dụng của Ngân hàng i năm t
  • γ: là hệ số hồi quy của biến Rủi ro tín dụng năm t–1 đến Rủi ro tín dụng năm t
  • Mt: Vector các biến nhân tố vĩ mô
  • Βj: Hệ số hồi quy của vector các biến nhân tố vĩ mô đến Rủi ro tín dụng.
  • BSi,t: Vector các biến nhân tố đặc trưng Ngân hàng
  • δh: Hệ số hồi quy của vector các biến nhân tố đặc trưng Ngân hàng α: Hệ số chặn
  • εit: Phần dư mô hình
  • i: Đại diện cho các Ngân hàng thương mại
  • t: Đại diện cho thời gian từ năm 2013 – 2023

Trong các nghiên cứu thực nghiệm về Rủi ro tín dụng tại ngân hàng, các học giả đã sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá mức độ rủi ro. Một số nghiên cứu như của Pestova và Mamonov (2011), Castro (2013), Chaibi & Ftiti (2015) đã lựa chọn tỷ lệ nợ xấu – được tính bằng số dư nợ xấu chia cho tổng dư nợ như một thước đo Rủi ro tín dụng.

Ngoài ra, Laeven & Majnoni (2003), cùng Zribi & Boujelbene (2011) đề xuất sử dụng tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng chia cho tổng tài sản, với lý do rằng dư nợ cho vay thường chiếm phần lớn trong tổng tài sản ngân hàng, nên việc sử dụng chỉ tiêu tổng tài sản là hợp lý để phản ánh rủi ro. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

Một phương pháp khác được áp dụng bởi Foos et al. (2010), Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản (2014) là đo lường Rủi ro tín dụng thông qua tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng trong năm hiện tại chia cho tổng dư nợ cho vay của năm trước. Khoản dự phòng này là chi phí hoạt động dự kiến để bù đắp rủi ro từ các khoản nợ khó thu hồi. Đáng chú ý, Foos và cộng sự lý giải rằng do phần lớn các khoản vay không bị vỡ nợ ngay trong năm đầu, việc sử dụng biến trễ của tổng dư nợ là phù hợp để phản ánh tính chất rủi ro. Phương pháp này cũng gián tiếp đánh giá vai trò của tài sản đảm bảo, vì ngân hàng chỉ trích lập dự phòng cho phần vay không được bảo đảm. Nếu ngân hàng nới lỏng chính sách tài sản thế chấp, tỷ lệ vay không bảo đảm tăng lên, dẫn đến khoản dự phòng Rủi ro tín dụng và xóa nợ có thể cao hơn.

Trong giai đoạn 2021 – 2023, các quy định tại Thông tư số 02/2023/TT–NHNN và 14/2021/TT–NHNN về điều chỉnh kỳ hạn nợ và giữ nguyên nhóm nợ, cùng với chính sách bán nợ xấu cho VAMC từ cuối năm 2013, đã khiến số liệu nợ xấu không còn phản ánh chính xác bản chất của Rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, chi phí dự phòng Rủi ro tín dụng hiện nay bao gồm cả dự phòng trái phiếu VAMC – là khoản chi liên quan đến tài sản suy giảm như nợ nhóm 2 và các khoản nợ chưa được xử lý. Do đó, việc sử dụng chỉ số chi phí dự phòng Rủi ro tín dụng sẽ phản ánh rõ hơn bản chất rủi ro thực tế mà các Ngân hàng thương mại Việt Nam đang đối mặt. Chính vì vậy, luận văn này lựa chọn phương pháp của Foos và cộng sự (2010), lấy tỷ lệ chi phí dự phòng Rủi ro tín dụng làm biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu.

3.3. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

3.3.1. Tốc độ tăng trưởng GDP và Rủi ro tín dụng

Nghiên cứu của Zribi, Nabila và Boujelbene (2011) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP và Rủi ro tín dụng. Kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Bích Trâm (2014) khi xem xét tác động vĩ mô lên Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam và Castro (2013) khi phân tích tại các quốc gia thuộc nhóm GIPSI (Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý).

Giả thuyết H1: Có mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP trong năm hiện hành và tăng trưởng GDP với độ trễ một năm với Rủi ro tín dụng.

3.3.2. Tỷ lệ lạm phát và Rủi ro tín dụng

Các kết quả thực nghiệm của Nkusu (2011), thu thập từ 26 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1998 – 2009, cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa lạm phát và Rủi ro tín dụng. Ngược lại, nghiên cứu của Zribi, Nabila và Boujelbene (2011) lại chỉ ra rằng hai yếu tố này có xu hướng biến động ngược chiều.

Trong khi đó, Castro (2013) cho rằng ảnh hưởng của lạm phát đến Rủi ro tín dụng là không nhất quán. Cụ thể, lạm phát cao có thể giúp người vay trả nợ dễ dàng hơn do giá trị thực của khoản vay suy giảm. Tuy nhiên, nếu lạm phát làm giảm thu nhập thực, thì khả năng chi trả của người vay sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.

Vì vậy, tác động của lạm phát đối với Rủi ro tín dụng có thể vừa thuận chiều vừa nghịch chiều, phụ thuộc vào từng bối cảnh kinh tế.

Giả thuyết H2: Có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ lạm phát với Rủi ro tín dụng.

3.3.3. Tỷ lệ thu nhập lãi thuần và Rủi ro tín dụng Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

Khi ngân hàng gia tăng biên lợi nhuận lãi qua các khoản vay có lãi suất cao, họ cũng đang gia tăng khả năng đối mặt với nợ xấu và thiệt hại tín dụng.

Nghiên cứu của Rajan (1994) cho rằng ngân hàng khi theo đuổi lợi nhuận (qua lãi suất cao) thường nới lỏng điều kiện tín dụng, dễ dẫn tới tăng Rủi ro tín dụng. Theo Boudriga, Taktak, Jellouli (2009) nghiên cứu 59 quốc gia cho thấy: các ngân hàng có NIM cao hơn thường có tỷ lệ nợ xấu cao hơn, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Phân tích dữ liệu ngân hàng Trung Quốc giai đoạn 2003–2009 của Tan & Floros (2013) cho thấy mối quan hệ dương giữa NIM và tỷ lệ nợ xấu (NPL), hàm ý rằng NIM tăng không đi kèm với chất lượng tín dụng cao hơn.

Giả thuyết H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ thu nhập lãi thuần với Rủi ro tín dụng

3.3.4. Khả năng sinh lợi và Rủi ro tín dụng

Nghiên cứu của Zribi, Nabila và Boujelbene (2011) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa khả năng sinh lợi và Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng ở Tunisia, mẫu bao gồm 10 Ngân hàng thương mại trong giai đoạn 1995 – 2008. Đồng quan điểm này, Louzis và cộng sự (2012) cũng cho rằng Rủi ro tín dụng và khả năng sinh lợi có mối quan hệ ngược chiều, Lê Duy Khánh (2021): cũng cho rằng: tại Việt Nam, khả năng sinh lợi cũng được xác định là biến có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại. Khả năng sinh lợi của ngân hàng cao là kết quả của việc hoạt động kinh doanh hiệu quả, làm giảm Rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Giả thuyết H4: Có mối quan hệ ngược chiều giữa khả năng sinh lợi với Rủi ro tín dụng.

3.3.5. Tốc độ tăng trưởng tín dụng và Rủi ro tín dụng

Foos và cộng sự (2010) phát hiện rằng sự gia tăng tín dụng trong hệ thống ngân hàng thường dẫn đến mức độ Rủi ro tín dụng cao hơn, với độ trễ từ hai đến bốn năm. Tương tự, nghiên cứu của Thiagarajan và đồng nghiệp (2011) cũng khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa tăng trưởng tín dụng và Rủi ro tín dụng ngân hàng, xuất hiện sau khoảng hai năm. Das và Ghosh (2007) đưa ra kết luận tương tự nhưng với độ trễ ngắn hơn, khoảng một năm.

Dù vậy, không phải lúc nào tăng trưởng tín dụng cũng làm tăng Rủi ro tín dụng. Một số bằng chứng, như nghiên cứu của Clair (1992) về các ngân hàng ở Texas trong giai đoạn 1976 –1990, chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng trong năm hiện hành hoặc năm liền trước có thể làm giảm Rủi ro tín dụng. Điều này cho thấy tác động của tăng trưởng tín dụng đến Rủi ro tín dụng là không nhất quán, tùy thuộc vào từng thời kỳ và bối cảnh kinh tế cụ thể.

Giả thuyết H5: Có mối quan hệ cùng chiều giữa tăng trưởng tín dụng năm hiện hành và tăng trưởng tín dụng với độ trễ một năm với Rủi ro tín dụng. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

3.3.6. Quy mô ngân hàng và Rủi ro tín dụng

Các nghiên cứu trước đây chưa đạt được sự nhất quán về mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và Rủi ro tín dụng. Cụ thể, Hess và cộng sự (2008), trong phân tích 32 ngân hàng tại Úc giai đoạn 1980 – 2005, cùng với Thiagarajan và đồng nghiệp (2011) nghiên cứu các ngân hàng Ấn Độ từ 2001–2010, đều chỉ ra mối liên hệ tiêu cực giữa quy mô ngân hàng và mức độ Rủi ro tín dụng. Trong khi đó, Foos và cộng sự (2010) và Zribi & Boujelbene (2011) đều không ghi nhận ảnh hưởng đáng kể từ quy mô ngân hàng đến Rủi ro tín dụng trong bối cảnh nghiên cứu tại Đức và Tunisia.

Ngược lại, khi nghiên cứu hệ thống ngân hàng Ấn Độ giai đoạn 1994–2005, Das & Ghosh (2007) lại phát hiện mối quan hệ tích cực giữa quy mô ngân hàng và Rủi ro tín dụng. Riêng tại Việt Nam, các ngân hàng lớn thường ưu tiên cho vay đối với các doanh nghiệp Nhà nước hoặc các tập đoàn lớn, vốn có lợi thế trong đàm phán tín dụng. Điều này dẫn đến xu hướng đơn giản hóa quy trình thẩm định hồ sơ vay, tiềm ẩn nguy cơ Rủi ro tín dụng cao hơn. Do đó, có thể kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và Rủi ro tín dụng trong bối cảnh Việt Nam.

Giả thuyết H6: Có mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng với Rủi ro tín dụng.

3.3.7. Năng lực quản trị và Rủi ro tín dụng Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

Theo các mô hình quản trị Rủi ro tín dụng như CAMELS hay Basel II/III, Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro trọng yếu trong ngân hàng. Việc quản lý Rủi ro tín dụng phụ thuộc rất lớn vào hệ thống quản trị và cơ chế ra quyết định. Năng lực quản trị tốt sẽ giúp thiết lập quy trình tín dụng chặt chẽ, phân tích khách hàng kỹ lưỡng, tăng khả năng phát hiện sớm dấu hiệu rủi ro, và từ đó giúp giảm thiểu Rủi ro tín dụng.

Laeven & Levine (2009) cho rằng các ngân hàng có cơ cấu quản trị tốt (Hội đồng quản trị độc lập, CEO có chuyên môn) có Rủi ro tín dụng thấp hơn.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi (2017) cũng chỉ ra rằng trong bối cảnh Việt Nam, năng lực quản trị và chất lượng giám sát tín dụng là yếu tố then chốt trong việc hạn chế nợ xấu.

Giả thuyết H7: Có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ chi phí hoạt động so với tổng tài sản bình quân với Rủi ro tín dụng.

3.3.8. Thanh khoản và Rủi ro tín dụng

Các nghiên cứu trước đây cho thấy ảnh hưởng của thanh khoản đối với Rủi ro tín dụng không mang tính thống nhất. Pestova và Mamonov (2011) ghi nhận rằng tỷ lệ cho vay trên tiền gửi có mối quan hệ tích cực với Rủi ro tín dụng, tức thanh khoản thấp hơn có thể làm tăng rủi ro. Trái lại, nghiên cứu của Louzis và cộng sự (2012) lại phát hiện mối liên hệ ngược chiều giữa hai yếu tố này. Trong khi đó, Poudel (2013) không tìm thấy sự ảnh hưởng đáng kể nào từ chỉ số thanh khoản đến Rủi ro tín dụng.

Thực tế, khi thị trường đối mặt với áp lực thanh khoản, các ngân hàng thường cạnh tranh lãi suất đầu vào một cách gay gắt. Điều này kéo theo việc tăng lãi suất cho vay, làm suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy, trong bối cảnh như tại Việt Nam, có thể kỳ vọng rằng tỷ lệ thanh khoản sẽ có mối quan hệ cùng chiều với Rủi ro tín dụng.

Giả thuyết H8: Có mối quan hệ cùng chiều giữa thanh khoản với Rủi ro tín dụng.

  • Bảng 3. 1. Bảng mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu

Dựa trên các biến nghiên cứu đã được trình bày ở trên, mô hình nghiên cứu kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam được viết lại như sau:

3.4. Phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

Dữ liệu được sử dụng trong bài viết là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính nội bộ và các báo cáo có liên quan (báo cáo trích lập dự phòng, báo cáo phân loại nợ,…) của 23 Ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2013 – 2023.

Dữ liệu các biến kinh tế vĩ mô, bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số lạm phát, được thu thập định kỳ vào thời điểm cuối mỗi năm. Nguồn dữ liệu được lấy từ cơ sở dữ liệu chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam, đảm bảo tính tin cậy và độ chính xác phục vụ cho quá trình phân tích.

  • Kết luận chương 3

Dựa trên nền tảng lý thuyết được trình bày ở Chương 2, Chương 3 xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với mục tiêu đặt ra. Nội dung chương bao gồm: thiết kế mô hình nghiên cứu với các biến độc lập và phụ thuộc phản ánh mối quan hệ được đề xuất; mô tả chi tiết các biến trong mô hình, bao gồm định nghĩa, đơn vị đo lường và kỳ vọng lý thuyết; trình bày nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu, đảm bảo tính tin cậy và đại diện; lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp với đặc điểm dữ liệu, chẳng hạn như hồi quy tuyến tính, mô hình panel, hay kiểm định mối quan hệ nhân quả; lập quy trình phân tích để từ đó đưa ra kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết đã đặt ra. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng

One thought on “Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng

  1. Pingback: Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *