Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu

Nhằm đạt được mục tiêu mà nghiên cứu đề ra, quy trình cụ thể về cách tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam được trình bày tóm lược tại hình 3.1 sau.

Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Các bước thực hiện theo quy trình nghiên cứu cụ thể như sau:

Bước 1: Lược khảo cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước ở trong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước để xác định khoảng trống nghiên cứu.

Bước 2: Dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả của các nghiên cứu trước, thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp, giải thích biến phụ thuộc và các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu đề xuất.

Bước 3: Lựa chọn mẫu nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tiến hành thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu theo mô hình nghiên cứu đã đề xuất.

Bước 4: Lựa chọn phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm thống kê mô tả, phân tích sự tương quan, phân tích hồi quy dữ liệu bảng theo các mô hình hồi quy FEM, REM và lựa chọn các loại kiểm định sẽ được thực hiện trong nghiên cứu.

Bước 5: Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và kiểm định để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp trong các mô hình hồi quy đã thực hiện ở bước 4.

Bước 6: Kiểm định các khuyết tật của mô hình được lựa chọn. Trường hợp mô hình được lựa chọn xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi hoặc hiện tượng tự tương quan hay có cả hai hiện tượng thì tiến hành khắc phục bằng phương pháp ước lượng phù hợp để tìm ra kết quả hồi quy đáng tin cậy.

Bước 7: Căn cứ vào kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu, ở bước này sẽ tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu, đưa ra kết luận và đề xuất một số hàm ý chính sách liên quan đến đề tài nghiên cứu.

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính kiểm toán của các ngân hàng thương mại có niêm yết cổ phiếu trên các sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam. Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến thời điểm 31/12/2022 ở Việt Nam có tất cả 31 ngân hàng thương mại, trong đó có 27 ngân hàng thương mại có niêm yết trên sàn chứng khoán. Tuy nhiên, khi thu thập số liệu tài chính thì chỉ có 24 ngân hàng là có đầy đủ dữ liệu 10 năm từ năm 2012 đến năm 2021. Do đó, dữ liệu sau khi thu thập tạo thành 240 quan sát, hình thành nên dữ liệu dạng bảng cân xứng (balanced panel data) của 24 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong thời gian 10 năm (từ năm 2012 đến năm 2021). Danh sách 24 ngân hàng thương mại trong mẫu nghiên cứu được liệt kê chi tiết tại Phụ lục 1 của luận văn.

Đối với các biến độc lập thuộc nhóm các yếu tố nội tại ngân hàng thì dữ liệu được thu thập từ các khoản mục trong báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên của các ngân hàng. Đối với các biến độc lập thuộc nhóm các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế là tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát, tác giả thu thập từ nguồn dữ liệu của Ngân hàng thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Trên cơ sở dữ liệu bảng thu thập được, tác giả sử dụng phần mềm Stata 15.1 để xử lý các dữ liệu. Bảng tổng hợp dữ liệu nghiên cứu được thể hiện chi tiết tại Phụ lục 2 của luận văn.

3.3. Mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Có nhiều phương pháp để đo lường rủi ro thanh khoản như: khe hở tài trợ (FGAP), các hệ số thanh khoản, tài sản thanh khoản (LA), chỉ số trạng thái tiền mặt, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR), …. Trong bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn chỉ số Khe hở tài trợ (FGAP) để đo lường rủi ro thanh khoản vì chỉ số này đại diện cho khả năng thanh khoản của ngân hàng, đồng thời chỉ số này có thể phản ánh được một cách cơ bản nhất về khả năng thanh khoản của ngân hàng (Đặng Văn Dân, 2015). Nhóm tác giả Chung và cộng sự (2009) chỉ ra điểm mạnh của việc sử dụng khe hở tài trợ trong việc đo lường rủi ro thanh khoản đó là khe hở tài trợ được tính bằng chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn trong cả thời điểm hiện tại và tương lai. Chỉ số khe hở tài trợ cũng là chỉ số được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng để đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Đồng thời, chỉ số này cũng được sử dụng phổ biến trong việc phân tích, quản trị rủi ro. Chỉ số khe hở tài trợ (FGAP) được tính như sau:

Trong công thức trên, các yếu tố được lấy từ báo cáo tài chính của ngân hàng, trong đó Tổng dư nợ tín dụng là khoản mục Cho vay khách hàng (chưa trừ đi dự phòng rủi ro) và Tổng nguồn vốn huy động là khoản mục Tiền gửi của khách hàng.

Khe hở tài trợ cho thấy dự báo trong tương lai về rủi ro thanh khoản của ngân hàng vì khi khe hở tài trợ lớn hơn 0 nghĩa là ngân hàng có khe hở tài trợ lớn, tổng dư nợ tín dụng nhiều hơn so với tổng nguồn vốn huy động. Theo Đặng Văn Dân (2015), nếu khe hở tài trợ dương thì ngân hàng phải giảm dự trữ tiền mặt, giảm các tài sản thanh khoản hoặc đi vay thêm trên thị trường tiền tệ, từ đó dẫn đến nguy cơ rủi ro thanh khoản tăng lên. Đồng thời, khi khe hở tài trợ của ngân hàng càng cao thì khi đó ngân hàng có nhu cầu vay trên thị trường tiền tệ nhiều hơn, vì thế nguy cơ đối diện với vấn đề về thanh khoản cũng lớn hơn.

Đối với các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản, qua nghiên cứu cơ sở lý thuyết và lược khảo một số nghiên cứu trước đây thì có nhiều yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước và để phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu, tác giả lựa chọn mô hình nghiên cứu của tác giả Trương Quang Thông (2013) làm mô hình gốc để xây dựng mô hình cho nghiên cứu này, đồng thời dựa trên cách tiếp cận của những nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài như nghiên cứu của Lucchetta (2007), Shen và cộng sự (2009), Vodova (2011), Đặng Văn Dân (2015), Phan Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2019) để sử dụng các biến độc lập phù hợp với hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam và phù hợp với môi trường kinh tế xã hội Việt Nam.

  • Mô hình nghiên cứu đề xuất như sau: Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

FGAP = β0 + β1SIZEi,t + β2ROEi,t + β3CAPi,t + β4TLAi,t + β5NPLi,t + β6LLRi,t + β7GDPt + β8INFt + ɛi,t

Mô hình nghiên cứu này sử dụng khe hở tài trợ (FGAP) là biến phụ thuộc cùng các biến độc lập sau để nghiên cứu tác động của các biến độc lập đó đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng:

Nhóm các yếu tố nội tại của ngân hàng gồm: Quy mô ngân hàng, Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, Tỷ lệ nợ xấu, Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng.

Nhóm các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và Tỷ lệ lạm phát.

  • Trong đó:

Biến phụ thuộc: FGAP : là khe hở tài trợ.

Các biến độc lập gồm:

  • SIZEi,t : là Quy mô của ngân hàng thứ i tại năm t
  • ROEi,t : là Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng thứ i tại năm t
  • CAPi,t : là Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng thứ i tại năm t
  • TLAi,t : là Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng thứ i tại năm t
  • NPLi,t : là Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng thứ i tại năm t
  • LLRi,t : là Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng thứ i tại năm t
  • GDPt : là Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm t
  • INFt: là Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế năm t Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Cách đo lường các biến và chiều hướng tác động kỳ vọng của các biến trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp theo bảng sau:

Bảng 3.1: Mô tả và cách tính các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu đề xuất

STT Tên biến Mô tả biến độc lập Cách đo lường Kỳ vọng Nghiên cứu liên quan
1 SIZE Quy mô của ngân hàng = Logarit (Tổng tài sản) (-) Lucchetta (2007), Bonfim và Kim (2011), Đặng Văn Dân (2015)
2 ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu (+) Bunda và Desquilbet (2008), Shen và cộng sự (2009)
3 CAP Tỷ lệ vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản (+) Munteanu (2012), Bunda và Desquilbet (2008), Vodova (2011), Shah và cộng sự (2018)
4 TLA Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản = Tổng dư nợ cho vay/Tổng tài sản (+) Trương Quang Thông (2013)
5 NPL Tỷ lệ nợ xấu = Tổng nợ xấu/ Tổng dư nợ (+) Lucchetta (2007)
6 LLR Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = Dự phòng rủi ro tín dụng/Tổng dư nợ (+) Shen (2009), Munteanu (2012), Vũ Thị Hồng (2015)
7 GDP Tốc độ tăng trưởng kinh tế = Tỷ lệ tăng trưởng GDP (-) Delechat và cộng sự (2012), Vodova (2011), Bonfim và Kim (2011)
8 INF Tỷ lệ lạm phát = Tỷ lệ lạm phát (+) Delechat và cộng sự (2012), Vodova (2011), Bonfim và Kim (2011)

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan

3.4. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

3.4.1. Nhóm các yếu tố nội tại của ngân hàng

Quy mô của ngân hàng (SIZE): Quy mô của ngân hàng là một biến đặc trưng của ngân hàng, được xác định bằng cách lấy logarit tự nhiên của tổng tài sản. Vì giá trị tổng tài sản của ngân hàng rất lớn nên việc lấy logarit của tổng tài sản nhằm làm giảm sự cách biệt giữa biến tổng tài sản và các biến khác trong mô hình (Delecha và cộng sự, 2012). Có nhiều quan điểm trái chiều về mối quan hệ giữa quy mô của ngân hàng với rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Quan điểm truyền thống thì cho rằng quy mô của ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản của ngân hàng vì việc mở rộng quy mô có thể làm cho ngân hàng gặp phải rủi ro lớn hơn nếu hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Mặt khác, khi ngân hàng có quy mô lớn thì sẽ mạnh dạn đối với khoản cho vay nhiều rủi ro hơn, từ đó làm gia tăng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. Ngược lại, với những ngân hàng có quy mô nhỏ sẽ có xu hướng dự trữ thanh khoản nhiều hơn do hạn chế về việc tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp, do đó ít có khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản (Delecha và cộng sự, 2012).

Quan điểm khác lại cho rằng quy mô ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro thanh khoản. Theo Vodova (2011), ngân hàng có quy mô càng lớn thì sẽ càng ít đối diện với rủi ro thanh khoản. Theo Vodava (2013), ngân hàng lớn có thể dựa vào thị trường liên ngân hàng hoặc được hỗ trợ thanh khoản từ “người cho vay cuối cùng”, vì thế ngân hàng có tổng tài sản càng lớn thì sẽ càng ít gặp rủi ro thanh khoản. Điều đó đồng nghĩa với việc quy mô của ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro thanh khoản ngân hàng. Lập luận này xuất phát từ lý thuyết “quá lớn để sụp đổ” (too big to fail), nghĩa là các ngân hàng có quy mô càng lớn thì sẽ ít đối mặt với rủi ro thanh khoản hơn so với những ngân hàng có quy mô nhỏ. Ngân hàng quy mô lớn có danh tiếng trên thị trường nên thường có nguồn huy động dồi dào với chi phí thấp. Đồng thời, nhóm đối tượng khách hàng của ngân hàng quy mô lớn phần nhiều là khách hàng có tiềm lực tài chính ổn định, các dự án tài trợ vốn cũng thường có hiệu quả tốt, dòng tiền trả nợ ổn định nên rủi ro thanh khoản của ngân hàng giảm xuống.

Thực tế hiện nay trong môi trường hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam thì các ngân hàng quy mô nhỏ đa phần thường tập trung vào hoạt động tín dụng bởi ngân hàng với quy mô nhỏ không có lợi thế về nguồn vốn huy động so với ngân hàng có quy mô lớn. Do vậy, trong đề tài nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô tổng tài sản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Giả thuyết H1: Quy mô của ngân hàng tác động ngược chiều đến rủi ro thanh khoản.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE là thước đo khả năng sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu hay còn gọi là mức hoàn vốn đầu tư của vốn chủ sở hữu. ROE thể hiện cho khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra mức sinh lời và tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông. Nguồn vốn huy động thường được ngân hàng tập trung sử dụng và khai thác tối đa để gia tăng lợi nhuận, khi đó sẽ làm giảm dự trữ bắt buộc và dẫn đến nguy cơ gia tăng rủi ro thanh khoản (Shen và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu của Vodova (2011), Bonfim và Kim (2014) cho kết quả rằng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Ngân hàng có lợi nhuận càng cao vì mong muốn có mức sinh lời cao hơn nên có thể tranh thủ cơ hội mở rộng kinh doanh, đầu tư vào tài sản có độ rủi ro cao, chính vì thế mà rủi ro thanh khoản của ngân hàng gia tăng. Trong bài nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu với rủi ro thanh khoản của ngân hàng.

Giả thuyết H2: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản.

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP): Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thể hiện khả năng tự chủ về mặt tài chính của ngân hàng. Khi tỷ lệ này càng thấp nghĩa là ngân hàng đang sử dụng đòn bẩy tài chính cao, việc này tiềm ẩn rủi ro thanh khoản do ngân hàng phải chi trả chi phí vay vốn cao. Nghiên cứu của Bunda và Desquilbet (2008) chỉ ra kết quả rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu tác động tích cực đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Điều này được lý giải bởi với ngân hàng có vốn lớn thì hay nắm giữ ít tài sản thanh khoản, dẫn tới có rủi ro thanh khoản lớn hơn. Do vậy, tác giả kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và tỷ lệ vốn chủ sở hữu.

Giả thuyết H3: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản.

Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA): Cho vay là hoạt động truyền thống và chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, vì thế các ngân hàng thường tập trung nguồn vốn vào hoạt động này (Trương Quang Thông, 2013). Hoạt động cho vay tạo ra nguồn thu chính cho ngân hàng nhưng lại có tính thanh khoản thấp nên khi tỷ lệ cho vay càng cao thì sẽ làm giảm tài sản ngắn hạn của ngân hàng. Theo Bonin và cộng sự (2008), các khoản cho vay có tính thanh khoản thấp và vì thế những khoản tiền gửi lớn rút ra mà không được dự báo trước sẽ làm ngân hàng mất thanh khoản. Theo Trương Quang Thông (2013), rủi ro thanh khoản tác động cùng chiều với tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản. Trong nghiên cứu này tác giả kỳ vọng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản ngân hàng.

Giả thuyết H4: Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sảntác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL): Tỷ lệ nợ xấu thể hiện chất lượng tín dụng và rủi ro trong danh mục cho vay của ngân hàng. Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý các khoản tín dụng và có nguy cơ đối mặt với rủi ro tín dụng khi tỷ lệ nợ xấu càng gia tăng. Nợ xấu khiến ngân hàng có nguy cơ mất vốn, giảm lợi nhuận và giảm thanh khoản. Khả năng huy động vốn của ngân hàng sẽ giảm xuống khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao, từ đó thanh khoản cũng suy giảm. Nghiên cứu của Vong và Chan (2009), Vodova (2011) chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ nợ xấu với rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Do đó tác giả kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu và rủi ro thanh khoản có mối quan hệ cùng chiều. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Giả thuyết H5: Tỷ lệ nợ xấu tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản.

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR): Dự phòng rủi ro tín dụng là chi phí ngân hàng trích lập đểbù đắp tổn thất khi khách hàng không có khả năng trả nợ. Theo Chung Hua Shen và cộng sự (2009), dự phòng rủi ro tín dụng cho thấy mức độ rủi ro tín dụng của một ngân hàng. Rủi ro tín dụng sẽ có tác động đến lợi nhuận và rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Như vậy, khi một ngân hàng phải duy trì mức trích lập dự phòng rủi ro càng nhiều thì đồng nghĩa hoạt động tín dụng của ngân hàng đó thiếu hiệu quả, có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản là rất lớn. Khi chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng càng cao thì rủi ro thanh khoản cũng càng gia tăng. Do đó, tác giả kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản ngân hàng.

Giả thuyết H6: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản.

3.4.2. Nhóm các yếu tố vĩ mô

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP): GDP là chỉ tiêu đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và đại diện cho chu kỳ kinh tế. Theo Shen và cộng sự (2009), trong thời kỳ suy thoái nền kinh tế thì ngân hàng thường gia tăng việc nắm giữ tài sản thanh khoản và giảm đầu tư, vì trong thời kỳ suy thoái thì việc cho vay sẽ đối diện với nhiều rủi ro hơn. Vào thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng, ngân hàng sẽ giảm dự trữ thanh khoản và gia tăng đầu tư, khi đó nguồn huy động giảm xuống làm gia tăng khe hở tài trợ, đồng nghĩa với việc gia tăng rủi ro thanh khoản. Các nghiên cứu của Bunda và Desquilbet (2008), Mohamed (2015), Trương Quang Thông (2013) đều chỉ ra tốc độ tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Tác giả kỳ vọng kết quả tương tự cho bài nghiên cứu này, trong đó tốc độ tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng chỉ số tăng trưởng nền kinh tế GDP. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

Giả thuyết H7: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản.

Tỷ lệ lạm phát (INF): Tỷ lệ lạm phát là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ phần trăm tăng trưởng về giá của nền kinh tế theo thời gian (Tổng cục Thống kê, 2004). Tương tự như yếu tố quy mô ngân hàng, đối với mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và rủi ro thanh khoản vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều. Nghiên cứu của các tác giả Bonfim và Kim (2011), Delecha và cộng sự (2012), Munteanu (2012) đều cho kết quả rằng tỷ lệ lạm phát có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro thanh khoản ngân hàng. Nghiên cứu của Vodova (2013) lại cho ra kết luận rằng tỷ lệ lạm phát và rủi ro thanh khoản có tác động cùng chiều. Trương Quang Thông (2013) thì cho thấy tỷ lệ lạm phát trong năm không có tác động đến rủi ro thanh khoản của năm đó nhưng lại có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của năm liền kề sau đó, cụ thể là làm giảm rủi ro thanh khoản của năm tiếp theo. Với bài nghiên cứu này tác giả kỳ vọng tỷ lệ lạm phát và rủi ro thanh khoản của ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều.

Giả thuyết H8: Tỷ lệ lạm phát tác động cùng chiều đến rủi ro thanh khoản.

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Chương 3 đã mô tả cụ thể cách thu thập dữ liệu nghiên cứu và trình bày về phương pháp phân tích định lượng thực hiện trong nghiên cứu. Theo đó, luận văn này sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng theo mô hình FEM và mô hình REM. Trên cơ sở lý thuyết và kết quả lược khảo các nghiên cứu có liên quan, trong chương này tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là khe hở tài trợ và các biến độc lập gồm: Quy mô ngân hàng, Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, Tỷ lệ nợ xấu, Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (gọi là nhóm các yếu tố nội tại) và Tốc độ tăng trưởng kinh tế và Tỷ lệ lạm phát (gọi là nhóm các yếu tố vĩ mô).

Từ mô hình nghiên cứu đề xuất, chương 3 cũng đặt ra các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra các kỳ vọng về chiều hướng tác động của các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro thanh khoản ở ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537