Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam đã có khá nhiều nỗ lực trong tạo dựng và quảng bá hình ảnh ra khu vực và thế giới. Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước và trong công tác đối ngoại đã góp phần làm cho các nước trên thế giới biết đến Việt Nam như một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, chính trị ổn định, với lực lượng lao động trẻ, thông minh sáng tạo. Đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, Việt Nam được biết đến là một điểm đến hấp dẫn với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, có nhiều di sản thiên nhiên, văn hóa, người dân thân thiện, mến khách, giàu truyền thống văn hóa. Trong những năm đầu thế kỉ XXI, với khẩu hiệu “Việt Nam- Điểm đến của thiên niên kỷ mới”và hiện nay là “Việt Nam- Vẻ đẹp tiềm ẩn”đã tạo nên sức cuốn hút đối với khách du lịch nước ngoài.

Những cố gắng này đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, lượng khách du lịch quốc tế đã tăng gần gấp 3 lần từ năm 2013 đến năm 2023 (từ 1,5 triệu lượt năm 2013 lên 4,3 triệu lượt năm 2023 ; năm 2024 chỉ còn hơn 3,8 triệu lượt do khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng đến năm 2025 Việt Nam đã đón được 5 triệu lượt khách quốc tế); khách du lịch nội địa tăng hơn gấp đôi (từ 9,6 triệu lượt năm 2013 lên 20 triệu lượt năm 2023 và năm 2024 là khoảng 23 triệu lượt); thu nhập từ du lịch tăng gần gấp 5 lần (từ 12.700 tỉ đồng năm 2013 lên 60.000 tỉ đồng năm 2023 và năm 2024 là khoảng 64.000 tỉ đồng) ; Tỷ trọng GDP du lịch trong tổng GDP toàn quốc trong những năm qua có những bước tiến đáng kể (năm 2016 chỉ khoảng 3,46% và đến năm 2023 là 4,99%). [2]

Hoạt động du lịch cũng đã chứng minh khả năng là một ngành kinh tế mũi nhọn đem lại doanh thu lớn cho nền kinh tế đất nước như trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2016- 2025 mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định. Đặc biệt năm 2023, 2024 thế giới cũng như Việt Nam trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm lượng khách du lịch. Vì vậy việc đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng hoạt động du lịch đối với mỗi vùng, mỗi địa phương là việc làm cần thiết, quan trọng góp phần định hướng và có những giải pháp cụ thể cho hoạt động phát triển du lịch đạt hiệu quả cao. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Cùng với sự phát triển và định hướng chung của du lịch quốc gia, Tây Ninh là một điểm hấp dẫn khách du lịch. Tây Ninh lại là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí thuận lợi cách thành phố Hồ Chí Minh 99 km dọc theo quốc lộ 22; cách thành phố du lịch Vũng Tàu khoảng 200 km. Từ Tây Ninh còn có thể đến thành phố Buôn Ma Thuột và các tỉnh Tây Nguyên qua đường Hồ Chí Minh; đến các tỉnh Miền Tây Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh qua đường thuỷ trên sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Về phía Tây, Tây Ninh chỉ cách Thủ đô Phnom Penh khoảng 170 km, cách Siem Reap nơi có di sản văn hoá thế giới Angkor Vat khoảng 300 km. Trên trục đường xuyên Á, Tây Ninh có vị trí quan trọng như điểm cầu nối giữa TP. Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Penh, do đó việc thông thương theo tuyến này có nhiều thuận lợi và là cơ hội để phát triển du lịch.

Tiềm năng du lịch của Tây Ninh khá phong phú, với những điểm đến có giá trị lớn về tự nhiên và nhân văn, với các điểm du lịch như hồ Dầu Tiếng – một trong những hồ nước lớn nhất khu vực Nam Bộ và Việt Nam; Núi Bà Đen với những di tích lịch sử – văn hóa, chùa chiền, các hang động hoang sơ cùng với một trong những lễ hội lớn nhất Việt Nam, năm 2024 thu hút hơn 2 triệu lượt khách; Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát với thiên nhiên phong phú, đa dạng; Các di tích lịch sử cách mạng như Căn cứ mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, căn cứ Trung ương cục Miền Nam; Các di tích văn hoá khác như Toà Thánh Cao Đài, Tháp Chóp Mạt, Tháp Bình Thạnh… tất cả làm nên lợi thế về du lịch mà không phải địa phương nào tại Việt Nam cũng có được.

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, các thành quả đã đạt được của du lịch Tây Ninh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do những yếu tố mang tính khách quan cũng như chủ quan mang lại. Tài nguyên du lịch khai thác gần như đơn lẻ. Đóng góp của du lịch trong GDP còn khiêm tốn, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho kinh doanh du lịch chưa đồng bộ, chưa có các loại hình kinh doanh lữ hành quốc tế. Trong thời kì nước ta đang hội nhập với thế giới hiện nay, sự phát triển kinh tế địa phương đã có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân được nâng cao tạo ra tiềm năng và nhu cầu mới đối với ngành du lịch thì đòi hỏi việc khai thác và phát triển du lịch của tỉnh cần mang tính chiến lược và hiệu quả hơn.

Xuất phát từ những nhu cầu cấp bách của thực tiễn, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước về vấn đề du lịch, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Mục đích nghiên cứu

Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch để phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Tây Ninh, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch của tỉnh theo hướng bền vững trong tiến trình hội nhập.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

  • Xác lập cơ sở lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm phát triển du lịch của cả nước và các địa phương nước ta để vận dụng vào việc phát triển du lịch tại Tây Ninh
  • Tổng hợp tư liệu, tài liệu để phân tích tiềm năng du lịch của tỉnh
  • Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch (những mặt mạnh và mặt yếu) từ năm 2015 đến năm 2025
  • Đưa ra định hướng phát triển du lịch phù hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh
  • Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả những định hướng phát triển du lịch của tỉnh theo hướng bền vững trong thời kì hội nhập.

4. Lịch sử nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, ngay từ năm 2004, đặc biệt từ năm 2005 (Năm du lịch Việt Nam) đến nay đã có nhiều đề tài khoa học, dự án nghiên cứu về địa lý du lịch, đặc biệt là cơ sở lý luận và phương pháp luận có thể kể đến như “Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam”do Trần Cầu và Lê Thông chủ biên, 2008; “Khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch Việt Nam”, do Vũ Tuấn Cảnh và các cộng sự thực hiện, 2002; “Kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam”do tổ chức du lịch thế giới thực hiện 2007; Chương trình biển KT03 của Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, đề tài KT-03-18: “Đánh giá tài nguyên ven biển Việt Nam phục vụ cho mục đích du lịch”, 2008; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2010- 2025”do Viện nghiên cứu phát triển du lịch tiến hành, 2010; “Quy hoạch tổng thể phát triển vùng du lịch Bắc Bộ”, 2016; “Quy hoạch phát triển vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ”, 2016; “Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc”, 2010; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng trung du miền núi phía Bắc”, 2021…

Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác như: Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”do Vũ Tuấn Cảnh và cộng sự thực hiện, 2006; Luận án PTS Đặng Duy Lợi, 2007, “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây phục vụ mục đích du lịch”; Luận án PTS Trần Đức Thanh, 2010, “Cơ sở khoa học cho việc xây dựng bản đồ phục vụ mục đích du lịch cấp tỉnh ở Việt Nam- lấy ví dụ tỉnh Ninh Bình”; “Địa lý du lịch”do Nguyễn Minh Tuệ chủ trì, 2009; “Tổ chức lãnh thổ du lịch”của Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, 2014; “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”do Phạm Trung Lương chủ biên, 2015;… Nhiều địa phương cũng đã xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của Tổng cục du lịch như Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú yên, Khánh Hòa, TP.HCM… với sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước.

Tây Ninh, đã có một số báo cáo, tổng kết ban đầu về du lịch như: Chương trình xúc tiến du lịch năm 2024; Các báo cáo hoạt động du lịch hàng năm và kế hoạch năm sau; Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2010 – 2025 do Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch lập năm 2009 (Quy hoạch 2010). Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu quy hoạch về du lịch : Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh chủ trì. Ngoài ra, còn có thể kể đến công trình nghiên cứu về hoạt động marketing có liên quan đến du lịch “Phát triển hoạt động marketing trong du lịch quốc tế tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2025-2030”(2024).

“Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập”là đề tài đầu tiên nghiên cứu tổng thể tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh trong thời kì nước ta đang hội nhập quốc tế và khu vực. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo nên bức tranh vừa tổng quan vừa chi tiết về hoạt động du lịch ở Tây Ninh, cũng như lợi thế so sánh phát triển du lịch với các tỉnh trong tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ nói riêng và vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ nói chung.

5. Giới hạn nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2015- 2025, định hướng phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2035

Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi tỉnh Tây Ninh, tuy nhiên du lịch là ngành kinh tế tổng hợp liên vùng nên đề tài được xem xét trong mối quan hệ với các tỉnh lân cận

Về nội dung: Đề tài tập trung phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch của tỉnh Tây Ninh trong tiến trình hội nhập

6. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1. Hệ quan điểm nghiên cứu

  • Quan điểm hệ thống- lãnh thổ:

Đây là một trong những quan điểm được sử dụng rộng rãi trong du lịch do tính chất tổng thể của đối tượng nghiên cứu. Theo quan điểm này, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong vị trí tương quan với các vấn đề, các yếu tố trong hệ thống cao hơn và trong cấp phân vị thấp hơn. Du lịch Tây Ninh được coi là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng của hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn là tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ, vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như hệ thống du lịch của cả nước nên chúng có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Mặt khác, Tây Ninh cũng là một lãnh thổ du lịch với những mối quan hệ qua lại với các hệ thống khác và vận động theo quy luật của toàn hệ thống.

  • Quan điểm tổng hợp- lãnh thổ:

Hệ thống lãnh thổ du lịch được xem là một hệ thống lãnh thổ có đặc điểm tổng hợp hơn bất kì địa hệ nào, là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó mật thiết với nhau một cách hoàn chỉnh. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các nguồn lực du lịch thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định để đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Để mang lại hiệu quả tổ chức, kinh doanh du lịch cần tìm ra được sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố trong cùng một lãnh thổ cũng như mối quan hệ mở với các lãnh thổ khác.

  • Quan điểm lịch sử- viễn cảnh: Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Tây Ninh là vùng đất có nền văn hóa lâu dài theo chiều dài lịch sử dân tộc. Đến nay Tây Ninh vẫn giữ được những nét đặc sắc, độc đáo về tự nhiên, văn hóa của một tỉnh nằm ở biên giới tây nam của tổ quốc. Sử dụng quan điểm lịch sử- viễn cảnh để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình và kết quả khai thác của các hoạt động du lịch diễn ra trên địa bàn tỉnh. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc và phát huy những thành quả đạt được để có kế hoạch phát triển du lịch bền vững và hợp lí hơn.

  • Quan điểm phát triển bền vững:

Du lịch hiện nay đang trở thành một ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên việc phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững. Từ đó có những kế hoạch và biện pháp phù hợp để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch cũng như làm tốt công tác bảo tồn và tôn tạo. Phát triển du lịch ở Tây Ninh cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường trong sạch, có những biện pháp kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh.

Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED), cũng như khoản 21 (điều 2, chương I) luật du lịch Việt Nam năm 2020 thì phát triển du lịch bền vững được quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”[31]

6.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp và xử lí số liệu, tài liệu:

Phương pháp này được thực hiện nhằm nghiên cứu, xử lí các tài liệu trong phòng dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và từ thực tế, sau đó xử lí chúng để có những kết luận cần thiết. Các tư liệu có thể là những công trình nghiên cứu trước đó, các bài viết, các báo cáo kinh doanh, báo cáo tổng kết…Phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian, tiền bạc mà vẫn có được một tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu.

Số liệu thống kê là một dạng tài liệu cần thiết trong quá trình thu thập tài liệu. Các bảng biểu với những số liệu tuyệt đối cũng như tương đối chính là nguồn tài liệu nói lên thực trạng hoạt động cũng như phát triển của đối tượng. Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài này được lấy từ các nguồn: Tổng cục thống kê, Cục thống kê Tây Ninh, UBND tỉnh Tây Ninh, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Tây Ninh, các công ty du lịch trên địa bàn Tây Ninh…

  • Phương pháp so sánh:

Thông tin, số liệu sau khi được thu thập sẽ được so sánh, phân tích cho phù hợp với mục đích của từng phần. Quá trình so sánh các yếu tố như tài nguyên, thực trạng phát triển du lịch… sẽ rút ra được những mặt mạnh, mặt yếu nhằm mang lại cái nhìn khái quát, đầy đủ về du lịch Tây Ninh. Qua phân tích, so sánh các thông tin sẽ được chắt lọc với độ tin cậy và hiệu quả cao nhất.

  • Phương pháp thực địa: Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm góp phần làm cho kết quả mang tính xác thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập, xử lí số liệu trong phòng. Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh…tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan quản lí tài nguyên, các cơ quan quản lí chuyên ngành của địa phương…

  • Phương pháp bản đồ- biểu đồ:

Để kết quả nghiên cứu được thể hiện một cách trực quan, đề tài đã áp dụng phương pháp bản đồ- biểu đồ trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu định lượng, định tính. Đây là phương pháp quan trọng xác định sự phân bố, mức độ tập trung theo lãnh thổ của các đối tượng nghiên cứu (điểm, tuyến, cụm du lịch) trong không gian, đồng thời thể hiện mối liên hệ với các khu vực lân cận của địa bàn nghiên cứu.

  • Phương pháp chuyên gia:

Phương pháp này góp phần quan trọng trong việc định hướng đưa ra các kết luận, các kiến nghị và lựa chọn các phương án phát triển với những thông tin chính xác. Với việc có cơ hội trao đổi ý kiến với lãnh đạo các cấp địa phương nghiên cứu, các ngành, lĩnh vực có liên quan, tác giả đã vận dụng vào đề tài nghiên cứu. Từ đó đề tài góp phần đánh giá và phân tích tiềm năng, thực trạng của hoạt động du lịch cũng như mạnh dạn đề xuất các giải pháp cho việc phát triển du lịch ở tỉnh Tây Ninh.

7. Cấu trúc đề tài

Luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
  • Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1. Các khái niệm

1.1.1.1. Du lịch Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Hoạt động du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người. Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội và hoạt động du lịch đang phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Song khái niệm “Du lịch”được hiểu rất khác nhau theo các cách tiếp cận và quan điểm riêng.

Theo định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ) “Du lịch là sự kết hợp tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm : du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”[12]

Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố trong du lịch:

Việt Nam, khái niệm về du lịch của I.I.Pirojnik được sử dụng phổ biến. “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức- văn hóa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế và văn hóa”[29]

Theo luật du lịch Việt Nam (2020), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”(Điểm 1, điều 10) [31]

1.1.1.2. Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc, có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao.

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; Là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [31]

Tài nguyên du lịch được chia làm hai nhóm : tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”[31]

Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra hay nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo, nó có những đặc điểm khác biệt so với tài nguyên tự nhiên. Những đặc tính cơ bản của tài nguyên du lịch nhân văn :

  • Mang tính phổ biến
  • Mang tính tập trung dễ tiếp cận
  • Có tính truyền đạt nhận thức nhiều hơn là hưởng thụ, giải trí.

1.1.1.3. Sản phẩm du lịch Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Theo luật du lịch Việt Nam (2020) : “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”[31]

Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách

Sản phẩm du lịch được cấu thành từ những bộ phận sau :

  • Dịch vụ vận chuyển
  • Dịch vụ lưu trú, ăn uống
  • Dịch vụ vui chơi giải trí
  • Dịch vụ mua sắm
  • Dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung Sản phẩm du lịch có bốn đặc điểm chính :
  • Tính chất vô hình
  • Việc sản xuất và tiêu thụ diễn ra cùng một khoảng không gian và thời gian
  • Thành phần tham gia có sự hiện diện của khách du lịch
  • Khả năng tự tiêu hao.

1.1.1.4. Khách du lịch

Luật du lịch Việt Nam (2020) quy định “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.

“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”. [31]

“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”[31]

1.1.1.5. Các loại hình du lịch

Hoạt động du lịch có thể phân thành các nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chí đưa ra [29]

  • Dựa theo mục đích chuyến đi, du lịch được chia thành : du lịch tham quan; du lịch nghỉ ngơi, giải trí; du lịch khám phá; du lịch thể thao; du lịch văn hóa; du lịch tôn giáo; du lịch hội nghị; du lịch mạo hiểm; du lịch thăm thân; du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thăm hỏi…. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
  • Dựa theo lãnh thổ hoạt động, du lịch được chia thành : du lịch quốc tế và du lịch nội địa
  • Ngoài ra còn có các cách phân loại khác như :
  • Dựa theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch, có thể chia ra : du lịch miền biển, du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê…
  • Dựa theo phương tiện giao thông, có thể chia ra : du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng xe máy, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hỏa, du lịch bằng tàu thủy, du lịch máy bay…
  • Dựa theo lứa tuổi của du khách, có thể chia ra : du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên, du lịch cao tuổi…
  • Dựa theo độ dài chuyến đi, có thể chia thành : du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày…
  • Dựa theo hình thức tổ chức, có thể chia thành : du lịch có tổ chức, du lịch cá nhân…

1.1.1.6. Chương trình du lịch- Tour du lịch

Luật du lịch Việt Nam (2020) đưa ra khái niệm : “Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của du khách từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi”[31]

Nội dung của chương trình du lịch bao gồm :

  • Tổng quỹ thời gian : ngày và đêm
  • Lộ trình
  • Kế hoạch chi tiết cho từng ngày
  • Phương án vận chuyển, ăn uống, lưu trú cùng các hoạt động tham quan vui chơi giải trí.

Tour du lịch là một thuật ngữ lấy nguyên gốc từ danh từ “tour”trong tiếng Anh, có nghĩa là “Chuyến đi du lịch”. Tour du lịch là sản phẩm du lịch được đánh giá theo một lộ trình có sự đặt trước về thời gian, địa điểm và những dịch vụ liên quan. Như vậy khái niệm tour du lịch gần nhất với khái niệm chương trình du lịch. Tour du lịch cần được phân biệt rõ với tuyến du lịch, tour du lịch là chương trình du lịch (về mặt sản phẩm có quy định giá bán, lịch trình chuyến đi).

1.1.1.7 Cơ sở lưu trú du lịch

Là cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ du lịch. Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm : khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều và bãi cắm trại cho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu.[29]

1.1.1.8. Doanh thu du lịch Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Bao gồm các khoản thu do khách du lịch chi trả, đó là doanh thu từ lưu trú và ăn uống, từ vận chuyển khách du lịch và lữ hành, từ bán hàng lưu niệm, từ các dịch vụ khác như vui chơi, giải trí, dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng…. Nói cách khác, khách du lịch đến một nơi nào đó, họ chi tiêu hết bao nhiêu thì đó chính là doanh thu du lịch. [29]

1.1.1.9. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch

Trong nghiên cứu du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động này nếu không xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó.

Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất. Đối với phân vùng du lịch Việt Nam có năm cấp:

Điểm du lịch: điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị. Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ. Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt. Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô rất nhỏ nhưng cũng chiếm một diện tích nhất định trong không gian. Sự chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch tương đối lớn.

Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa- lịch sử hoặc kinh tế- xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai với quy mô nhỏ. Vì thế điểm du lịch có thể phân thành hai loại : điểm tài nguyên và điểm chức năng.

Thời gian lưu lại của khách du lịch tương đối ngắn (không quá 1- 2 ngày) vì sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại lệ (điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ cơ quan…)

Các điểm du lịch được nối với nhau bằng tuyến du lịch. Trong trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có khả năng là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung tâm) hoặc tuyến liên vùng (giữa các vùng).

Trung tâm du lịch: là sự kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch cùng loại hay khác loại. Trên lãnh thổ trung tâm du lịch tập trung nhiều điểm du lịch. Nói cách khác, mật độ điểm du lịch trên lãnh thổ tương đối dày đặc. Mặt khác, trung tâm du lịch gồm các điểm chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế- kĩ thuật và tổ chức. Nó có khả năng và sức thu hút khách du lịch rất lớn Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Nguồn tài nguyên du lịch tương đối tập trung và được khai thác một cách cao độ. Có thể nguồn tài nguyên không thật đa dạng (về loại hình), song điều kiện cần thiết là phải tập trung và có khả năng lôi cuốn khách du lịch.

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kĩ thuật khá phong phú để đón, phục vụ và lưu khách trong một thời gian dài.

Có khả năng tạo vùng du lịch rất cao. Về cơ bản, trung tâm du lịch là một hệ thống lãnh thổ du lịch đặc biệt, hạt nhân của vùng du lịch. Chính nó tạo dựng bộ khung cho vùng du lịch hình thành và phát triển. Theo cách nói thông thường, đây là các “cực”để thu hút các lãnh thổ lân cận vào phạm vi tác động của vùng. Chẳng hạn, ở Việt Nam gắn với ba vùng du lịch có ba trung tâm du lịch : Hà Nội, Huế- Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh.

Có quy mô nhất định về diện tích, gồm các điểm du lịch kết hợp với các điểm dân cư và môi trường xung quanh. Về độ lớn, trung tâm du lịch có thể có diện tích tương đương với diện tích của một tỉnh.

Tiểu vùng du lịch: là một tập hợp bao gồm các điểm du lịch và trung tâm du lịch (nếu có). Về quy mô, tiểu vùng du lịch bao trùm lãnh thổ của một vài tỉnh. Tuy vậy, sự dao động về diện tích của các tiểu vùng tương đối lớn.

Tiểu vùng du lịch có nguồn tài nguyên tương đối phong phú về số lượng, đa dạng về chủng loại. Trong thực tế ở nước ta, có thể phân biệt hai loại hình tiểu vùng du lịch : tiểu vùng du lịch đã hình thành (còn gọi là tiểu vùng du lịch thực tế) và tiểu vùng du lịch đang hình thành (tiểu vùng du lịch tiềm năng)

Giữa hai loại tiểu vùng du lịch có sự chênh lệch về trình độ phát triển. Loại tiểu vùng thứ nhất : tập trung nhiều loại tài nguyên và được khai thác mạnh mẽ. Loại thứ hai : có thể có tài nguyên, song do những lí do nhất định, tiềm năng chưa có điều kiện để trở thành hiện thực.

Á vùng du lịch: là tập hợp các điểm, trung tâm (nếu có) và các tiểu vùng du lịch thành một thể thống nhất với mức độ tổng hợp cao hơn, vai trò của cơ sở hạ tầng lớn hơn các thông số hoạt động và lãnh thổ du lịch rộng hơn. Xét về các mối quan hệ dân cư- quần cư và cung cấp những nhu cầu vật chất cho khách du lịch thì á vùng bao gồm cả những địa phương không có các điểm tài nguyên du lịch. Các mối liên hệ bên trong lãnh thổ đa dạng hơn.

Trong á vùng du lịch có nhiều loại tài nguyên. Trong chừng mực nhất định, chuyên môn hóa bắt đầu được thể hiện, dù có thể chưa đậm nét. Sự hình thành và phát triển á vùng du lịch phụ thuộc nhiều yếu tố. Có thể trong một số vùng du lịch, sự phân hóa lãnh thổ chưa dẫn đến việc hình thành các á vùng. Trong trường hợp ấy, hệ thống phân vị chỉ còn bốn cấp

  • Điểm du lịch- Trung tâm du lịch- Tiểu vùng du lịch- Vùng du lịch.

Vùng du lịch: là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị. Đó là một sự kết hợp lãnh thổ của các á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng. Nói cách khác, vùng du lịch như một tổng thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn và xã hội… bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường kinh tế- xã hội xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch.

Nói đến vùng du lịch phải nói đến chuyên môn hóa. Nó chính là bản sắc của vùng, làm cho vùng này khác hẳn với vùng kia. Ở nước ta, chuyên môn hóa các vùng du lịch đang trong quá trình hình thành. Tuy nhiên, mỗi vùng chuyên môn hóa gì và xu hướng phát triển như thế nào thì cần nghiên cứu sâu hơn.

Các mối liên hệ nội, ngoại vùng đa dạng dựa trên nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kĩ thuật sẵn có của vùng. Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn, bao gồm nhiều tỉnh. Ngoài ra, với hoạt động du lịch mạnh mẽ, nó còn bao chiếm cả các khu vực không du lịch (điểm dân cư, các khu vực không có tài nguyên và cơ sở du lịch nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế du lịch) Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Cũng như các tiểu vùng, người ta chia ra vùng du lịch đang hình thành (vùng du lịch tiềm năng) và vùng du lịch đã hình thành (vùng du lịch thực tế). Ở nước ta, có thể có tiểu vùng du lịch thực tế và tiểu vùng du lịch tiềm năng. Song, thực tế chúng ta chưa có vùng du lịch đã hình thành. Vì vậy, vùng du lịch Việt Nam là vùng du lịch đang hình thành. Quan niệm này phù hợp với thực tế khách quan đang diễn ra ở nước ta, và như vậy mới có thể cắt nghĩa một số hiện tượng rất khó lí giải trong thực tế sinh động và đa dạng của hoạt động du lịch.

Chính vì vậy, phân vùng du lịch thể hiện rõ tính kiến thiết của nó. Vùng du lịch là một thực tế khách quan, tồn tại ngoài ý muốn con người. Nói như vậy không có nghĩa là con người không có vai trò gì trong việc hình thành và phát triển vùng. Con người thông qua công tác phân vùng du lịch, có thể thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các vùng du lịch nếu như việc nghiên cứu của họ tôn trọng các quy luật và thực tế khách quan. Ngược lại, nếu nghiên cứu hoàn toàn chủ quan thì họ sẽ phải trả giá đắt cho hành động của mình [29]

1.1.1.10. Phát triển bền vững

Cụm từ “phát triển bền vững”có nguồn gốc từ thực tiễn quản lý rừng ở Đức vào thế kỉ XIX nhưng mãi đến thập kỉ 80 của thế kỉ XX mới được phổ biến rộng rãi.

Năm 1980, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) cho rằng “phát triển bền vững”phải cân nhắc đến hiện tượng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động.

Đến năm 2003, Ủy ban môi trường và phát triển thế giới (WCED) đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững”trong báo cáo “tương lai của chúng ta”như sau: “phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”[13]

Ngày nay tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững”trong quá trình hoạch định chính sách và quản lí phát triển kinh tế, với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển.

1.1.1.11. Phát triển du lịch bền vững

Xu thế phát triển du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.

Khái niệm phát triển du lịch bền vững xuất hiện trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, trên cơ sở cải thiện và nâng cấp khái niệm du lịch mềm (soft tourism), được nhiều quốc gia và hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ. Tuy nhiên một khái niệm “du lịch bền vững”hoàn chỉnh được tất cả mọi người thống nhất sử dụng chung đến nay chưa có.

Năm 2007, Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai.

Năm 2011, Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) đưa ra khái niệm: “Du lịch bền vững là sự đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”.

Theo luật du lịch Việt Nam năm 2020 thì phát triển du lịch bền vững được quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”[31].

1.1.1.12. Bảo vệ môi trường và cảnh quan du lịch Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Sự tiêu thụ quá mức các nguồn tài nguyên sẽ dẫn đến sự hủy hoại môi trường toàn cầu và đi ngược lại với sự phát triển bền vững lâu dài của du lịch. Việc giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng du lịch.

Việc sử dụng bền vững, bảo tồn và bảo vệ các nguồn tài nguyên cũng như cảnh quan du lịch là vấn đề sống còn đối với việc quản lý và kinh doanh du lịch. Việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên nhiên, cảnh quan du lịch là rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của du lịch, là chổ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch.

1.1.2. Hội nhập và những yêu cầu của thời kì hội nhập

Hội nhập: xuất phát từ phương Tây và được sử dụng nhiều từ giữa thập niên 90 trở lại đây. Hội nhập (INTERGRATION) được hiểu là sự liên kết của mỗi quốc gia vào các tổ chức khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng buộc chung theo quy định của khối. Nói cách khác : Hội nhập là quá trình chủ động gắn kết của từng nước về một hay nhiều lĩnh vực khác nhau với khu vực và thế giới trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.[11]

Hội nhập là xu thế chung của thế giới hiện nay trong điều kiện toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra nhanh chóng cùng với sự tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.

Yêu cầu của hội nhập: Để phát triển kinh tế trong thời kì hội nhập, cần xây dựng được một nền kinh tế thị trường bền vững kết hợp tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội; gìn giữ môi trường trong sạch, xây dựng một cơ cấu sản phẩm và dịch vụ giàu sức cạnh tranh, một hệ thống tài chính tiền tệ chắc chắn và linh hoạt; một mạng lưới thông tin đầy đủ và cập nhật cùng với một trình độ dân trí ngày càng được nâng cao. [11]. Để tham gia hội nhập quốc tế, cần thực hiện tốt một số việc sau:

  • Cần phổ biến đến toàn dân những nhận thức về sự chủ động hội nhập quốc tế.
  • Trên cơ sở nhận thức trên, xây dựng và thực hiện một chiến lược chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đủ định tính và định lượng, đủ tầm nhìn xa, rộng và tính chất thiết thực.
  • Cần xem chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế là một phần của chiến lược tổng thể phát triển kinh tế- xã hội.
  • Cần xây dựng và đổi mới hệ thống thể chế, chú trọng vai trò của ba mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Các doanh nghiệp là người trực tiếp tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, cần có ý thức đầy đủ về sự vừa hợp tác vừa đấu tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đối với du lịch hội nhập vừa là thời cơ để cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng quảng bá hình ảnh đẹp đẽ về thiên nhiên, văn hóa, con người của mỗi dân tộc với bạn bè thế giới, đồng thời đặt ra không ít thách thức cho sự phát triển của ngành trong quá trình hội nhập.

1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

1.1.3.1. Vị trí địa lý

Trong quá trình phát triển du lịch, vị trí địa lý được coi như một nguồn lực quan trọng. Vị trí địa lý bao gồm vị trí về mặt tự nhiên (phạm vi lãnh thổ có giới hạn và tọa độ địa lý), vị trí về kinh tế- xã hội và chính trị. Đồng thời vị trí địa lý có ý nghĩa về mặt giao thông, giao lưu trao đổi.

Đối với các hoạt động du lịch, yếu tố quyết định của điều kiện vị trí là điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn. Khi phân tích và đánh giá vị trí địa lý, cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế (nếu có).

1.1.3.2. Tài nguyên du lịch

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên được sử dụng cho mục đích du lịch, bao gồm : địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên sinh vật

Tài nguyên địa hình: Địa hình là một thành phần quan trọng của tự nhiên, là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài. Đối với hoạt động du lịch, bề mặt địa hình là nơi diễn ra các hoạt động của du khách, là nơi xây dựng các công trình phục vụ du khách. Đặc điểm địa hình góp phần quy định các loại hình du lịch. Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nền cho phong cảnh. Các dấu hiệu bên ngoài và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn với du khách, như các dạng địa hình núi, địa hình Karst, các kiểu địa hình ven bờ… có giá trị phục vụ cho nhiều loại hình du lịch.

Trong các loại địa hình thì địa hình miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch…

Ngoài các dạng địa hình chính có giá trị du lịch, các kiểu địa hình đặc biệt khác như : địa hình Karst, địa hình ven bờ cũng có giá trị rất lớn cho việc tổ chức du lịch [29] Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Kiểu địa hình Karst là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các loại đá dễ hòa tan (đá vôi Đolomit, đá phấn, thạch cao…). Một trong các kiểu Karst có ý nghĩa rất lớn với du lịch là hang động Karst, những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của hang động Karst có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch.

Các kiểu địa hình ven biển, hải đảo, đới bờ và các kho chứa nước (đại dương, biển, sông, hồ…) cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Địa hình ven bờ có thể tận dụng khai thác du lịch với mục đích khác nhau : tham quan du lịch theo chuyên đề khoa học, nghỉ ngơi an dưỡng, tắm biển, thể thao nước…

Tài nguyên khí hậu: Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với du lịch, bao gồm hai chỉ tiêu chính : nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lí hóa của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt.

Để đánh giá cụ thể các điều kiện khí hậu đối với hoạt động du lịch, ngoài các đặc điểm chung của từng khu vực, cần thiết phải đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện đó tới sức khỏe con người và các loại hình du lịch. Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người, các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ tiêu khí hậu sinh học.(phụ lục 1)

Điều kiện khí hậu được xem như tài nguyên khí hậu của du lịch, có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch. Khí hậu ảnh hưởng rõ rệt đến các hoạt động du lịch và đã tạo nên tính mùa vụ trong các hoạt động du lịch. Ứng với mỗi loại hình du lịch, đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau, các vùng khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau.

Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng, du lịch trên núi cả mùa đông và mùa hè. Tuy nhiên, trong thực tế hiếm khi có sự phân phối đồng đều các dòng du lịch theo mùa vì du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân như tự nhiên, kinh tế- xã hội, kĩ thuật…

Mùa đông : là mùa du lịch trên núi. Ở những nơi mùa đông kéo dài thường phát triển du lịch thể thao mùa đông và các loại hình du lịch mùa đông khác.

Mùa hè : là mùa du lịch quan trọng nhất. Đây là mùa du lịch sôi động với các loại hình du lịch biển, du lịch núi, du lịch tới những vùng đồi, đồng bằng… Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Tài nguyên nước: bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn, bao gồm : đại dương, biển, sông, hồ, suối, thác nước…Các nguồn tài nguyên nước mặt có giá trị cho nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng… Tùy theo thành phần lí hóa học có thể phân thành : nước ngọt và nước mặn.

Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng tùy theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia. Giới hạn nhiệt độ lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 18- 20 độ C, ngoài ra cần chú ý đến một số chỉ tiêu khác như tần số và tính chất sóng của dòng chảy, độ sạch của nước… Nguồn nước trên mặt không chỉ cung cấp nhu cầu sinh hoạt của khu du lịch, tạo ra các hoạt động du lịch đa dạng mà còn ảnh hưởng đến các thành phần khác của môi trường sống, điều hòa khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch.

Trong tài nguyên nước, nước ngầm có giá trị lớn với du lịch, đó là các nguồn nước khoáng thiên nhiên. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh. Nước khoáng là nước thiên nhiên có chứa một số thành phần vật chất đặc biệt hoặc có một số tính chất lí hóa có tác dụng sinh lí đối với con người.

Tài nguyên sinh vật: là một dạng tài nguyên đặc biệt có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành du lịch, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, khám phá và nâng cao nhận thức cho khách du lịch. Xu thế hiện nay đang xuất hiện những hình thức mới như du lịch sinh thái, du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là các loài động- thực vật. Việc tham quan du lịch trong thế giới sinh vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống. Để phục các mục đích du lịch khác nhau (tham quan, săn bắn thể thao, nghiên cứu khoa học…), các tài nguyên động- thực vật phải đạt được một số chỉ tiêu nhất định.

  • Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra có giá trị văn hóa, tinh thần và phục vụ nhu cầu du lịch. Loại tài nguyên này bao gồm : dân tộc, các di tích lịch sử- văn hóa, lễ hội và các tài nguyên du lịch nhân văn khác (làng nghề, đặc sản địa phương, các món ăn dân tộc, các sự kiện văn hóa- thể thao…)

Dân tộc: Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định. Có thể nói du lịch dân tộc học vẫn còn là những bí ẩn mà mỗi du khách đều muốn khám phá. Những đặc thù của từng dân tộc, đó chính là những tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc… vẫn luôn có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch. [29] Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Đồng thời những nét đặc sắc và phong phú của các yếu tố về dân tộc học có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định các loại hình du lịch đa dạng như du lịch văn hóa, du lịch về cội nguồn, du lịch cộng đồng…

Di tích lịch sử- văn hóa: là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại. [29]

Di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh ở mỗi dân tộc, quốc gia được phân chia thành :

Di tích văn hóa khảo cổ : là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kì lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại. Đa số các di tích này nằm trong lòng đất, còn được gọi là di chỉ khảo cổ bao gồm di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng. Loại di tích này có ý nghĩa với loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu khoa học.

Di tích lịch sử : Những đặc điểm lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc được ghi dấu ở những di tích lịch sử, bao gồm : Di tích ghi dấu về dân tộc học; Di tích ghi dấu về sự kiện chính trị quan trọng; Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược; Di tích ghi dấu những kỉ niệm; Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động; Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến…có ý nghĩa rất lớn đối với loại hình du lịch về nguồn.

Di tích văn hóa nghệ thuật : là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật. Chúng không chỉ chứa đựng các giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần.

Danh lam thắng cảnh : là những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban cho. Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ, thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay, khối óc của con người tạo dựng nên và chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di tích văn hóa- lịch sử. Chúng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động du lịch. Ở nước ta, phần lớn các danh lam thắng cảnh đều có chùa thờ Phật. [29]

Để đánh giá ý nghĩa của các di tích lịch sử- văn hóa phục vụ mục đích du lịch thường dựa vào các chỉ tiêu quan trọng, thể hiện số lượng cũng như chất lượng của các di tích :

  • Số lượng di tích
  • Mật độ di tích
  • Số lượng di tích được xếp hạng
  • Số lượng di tích đặc biệt quan trọng

Ngoài ra, lễ hội cũng có ý nghĩa rất lớn cho sự phát triển du lịch, là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được. [29]

Lễ hội đã tạo nên “tấm thảm muôn màu. Mọi sự ở đó đều đan quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng”[29]

Lễ hội gồm hai phần : phần nghi lễ và phần hội. Khi nghiên cứu , đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích phát triển du lịch cần chú ý những đặc điểm sau : Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

  • Tính thời gian của lễ hội : các lễ hội không phải diễn ra quanh năm mà chỉ tập trung trong thời gian ngắn. Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân, thời gian tiến hành lễ hội thường 1- 2 tháng, có khi chỉ một vài ngày.
  • Quy mô của lễ hội : Các lễ hội có quy mô lớn nhỏ khác nhau, điều này ảnh hưởng tới hoạt động du lịch, nhất là khả năng thu hút khách du lịch.
  • Các lễ hội thường được tổ chức ở các di tích lịch sử- văn hóa, điều đó cho phép khai thác có hiệu quả hơn cả di tích và lễ hội vào mục đích du lịch.

Các tài nguyên du lịch nhân văn khác

Nghề và làng nghề thủ công truyền thống : trở thành một tài nguyên du lịch nhân văn được khai thác phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch. Nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người.[17]

Các đối tượng văn hóa, thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện : Đó chính là các trung tâm khoa học, các trường đại học, thư viện lớn, bảo tàng, trung tâm tổ chức liên hoan âm nhạc, phim ảnh quốc tế, các sự kiện thể thao…đều có sức thu hút khách du lịch tới tham quan, nghiên cứu, vui chơi với nhiều mục đích khác nhau. Do vậy, những thành phố có các đối tượng văn hóa hoặc tổ chức các hoạt động văn hóa- thể thao đều trở thành trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia và khu vực, đồng thời là những hạt nhân của các trung tâm du lịch.

 Ngoài ra các đặc sản địa phương và các món ăn dân tộc: với nghệ thuật chế biến cao, chúng cũng là những tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, hấp dẫn khách du lịch.

Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt. Như vậy, sự phát triển du lịch có mối quan hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch. Du lịch không thể phát triển nếu thiếu tài nguyên và tách rời khung cảnh môi trường du lịch hoạt động. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ ngành du lịch, ảnh hưởng đến việc hình thành chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch.

1.1.3.3. Nhân tố kinh tế- xã hội Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Có nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng tới sự phát triển ngành du lịch, có thể kể ra [29]

Dân cư và nguồn lao động: Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội. Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch. Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch. Cần phải nghiên cứu, phân tích kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, vì đây là nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển .

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế: Nhân tố này làm nẩy sinh nhu cầu du lịch trong xã hội, đồng thời thúc đẩy du lịch phát triển với tốc độ cao. Trong nền sản xuất xã hội, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…đều liên quan mật thiết tới việc phát triển ngành du lịch

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: có tính chất kinh tế- xã hội, là sản phẩm của sự phát triển xã hội, đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống.

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch là một hệ thống và được thể hiện ở ba mức độ : xã hội-nhóm người- cá nhân. Trong các mức trên, quan trọng hàng đầu là nhu cầu nghỉ ngơi phát triển xã hội. Nó được xác định như nhu cầu của xã hội về phục hồi sức khỏe và khả năng lao động, về sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần cho mỗi thành viên trong xã hội.

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch theo nhóm thể hiện nhu cầu của một nhóm dân cư phân theo nghề nghiệp, lứa tuổi…

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch cá nhân gồm những đòi hỏi của cá nhân về hoạt động nghỉ ngơi du lịch nhằm nâng cao sức khỏe, giảm mệt mỏi, mở rộng khả năng lao động và tầm hiểu biết cho bản thân. Nhu cầu của xã hội, nhóm người và cá nhân không tách rời nhau mà có mối liên hệ qua lại biện chứng.

Điều kiện sống: là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch, nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới giao thông, y tế, văn hóa, giáo dục…

Du lịch chỉ được phát triển khi đời sống vật chất và tinh thần của con người được cải thiện, then chốt là mức thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội. Nhìn chung ở những nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập cao thì hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ.

Thời gian rỗi: Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, khi đó thường diễn ra các hoạt động nhằm phục hồi và phát triển trí lực, thể lực và tinh thần con người. Nguồn quan trọng nhất để tăng thời gian rỗi là giảm thời gian làm việc tại các công sở và các công việc nội trợ. Thời gian rỗi là một trong những tiền đề quan trọng để phát triển du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch ngắn ngày hay du lịch cuối tuần.

Nhân tố chính trị: Là điều kiện đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng đến việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển du lịch. Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia. Do vậy, hòa bình được coi là đòn bẩy của hoạt động du lịch. Đồng thời, con người cũng muốn thể hiện ước nguyện được sống trong hòa bình, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới.

1.1.3.4. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Cơ sở hạ tầng (CSHT) là tiền đề, là đòn bẫy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động du lịch. Trong CSHT, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu. Đồng thời, hệ thống TTLL, mạng lưới cung cấp điện- nước sạch cũng là những thành phần phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch.

Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải (GTVT): Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định. Chính vì thế, du lịch phụ thuộc vào giao thông (mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông). Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được khi thiếu nhân tố giao thông, việc phát triển giao thông cho phép mau chóng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch.

Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận lợi, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội. Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng biệt tác động tích cực đến hoạt động du lịch. Chẳng hạn, giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho du khách dễ dàng đi theo lộ trình đã lựa chọn; giao thông đường sắt rẻ tiền; giao thông đường không tuy đắt tiền nhưng nhanh chóng và tiết kiệm được thời gian đi lại; giao thông đường thủy tuy chậm nhưng kết hợp được với tham quan, giải trí dọc sông hoặc ven biển.

Hệ thống TTLL: là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch, nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Trong hoạt động du lịch, TTLL đảm nhận việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng kịp thời, góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các nước. Đặc biệt trong đời sống KT- XH hiện đại nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng, càng không thể thiếu được ngành TTLL. Mạng lưới TTLL ngày càng trở nên phong phú và hiện đại hơn trước đã tạo những điều kiện tiện ích, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian, giảm giá thành sản phẩm cho du khách. Đây là những điều kiện thuận lợi để hấp dẫn du khách và triển khai hoạt động kinh doanh của các công ty du lịch.

Mạng lưới cung cấp điện- nước sạch: Hệ thống các công trình cấp điện và nước sạch là điều kiện cần thiết đảm bảo nhu cầu tối thiểu của khách du lịch tại các điểm đến. Hệ thống điện đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên và liên tục. Hệ thống thiết bị xử lí cấp thoát nước, giảm lượng chất thải và xử lí chất thải đúng tiêu chuẩn, kĩ thuật quy định vừa tạo ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu về nước sạch cho du khách và các hoạt động du lịch, vừa tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách. Đồng thời, đó cũng là một trong những yêu cầu quan trọng để mỗi doanh nghiệp du lịch, mỗi địa phương, mỗi quốc gia phát triển du lịch bền vững. [32]

  • Một số cơ sở khác Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú : bao gồm các công trình đặc biệt nhằm đảm bảo nơi ăn, ngủ và giải trí cho khách du lịch. Chúng được phân hạng tùy theo tiêu chuẩn và mức độ đồng bộ của dịch vụ có trong đó. Cơ sở lưu trú được phân thành nhiều loại :

Các cơ sở lưu trú du lịch xã hội : chủ yếu đón nhận khách du lịch trong nước, thường nằm ở các đô thị và điểm du lịch

Nhà khách : là các cơ sở kinh doanh nhỏ có thể phục vụ cả vấn đề ăn uống cho khách, thường nằm ở các vùng nông thôn hay ngoại vi thành phố

Khách sạn trung chuyển du lịch : là các cơ sở kinh doanh nhỏ, đáp ứng các tiêu chuẩn phân loại khách sạn, thường nằm tại vùng nông thôn và được xây dựng theo sắc thái kiến trúc địa phương.

Khách sạn thông thường : là các cơ sở kinh doanh quy mô trung bình, đối tượng phục vụ là khách du lịch, thương nhân hay khách công vụ. Vị trí thường nằm ở các đô thị hoặc các danh lam thắng cảnh

Khách sạn du lịch lớn : là các cơ sở kinh doanh quy mô lớn. Đối tượng phục vụ là các thương gia hay khách du lịch nhiều tiền, thường nằm ở trung tâm đô thị hay các khu du lịch nổi tiếng.

Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp : nhằm đáp ứng nhu cầu về hàng hóa của khách du lịch bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác. Mạng lưới này gồm hai phần : một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu; phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương với nhiệm vụ phục vụ nhân dân địa phương.

 Cơ sở thể thao : tạo điều kiện thuận lợi cho kì nghỉ của khách du lịch, làm cho nó trở nên tích cực hơn. Cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng hay trung tâm thể thao với nhiều loại trang thiết bị khác nhau làm tăng hiệu quả sử dụng của các khách sạn và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch.

Cơ sở y tế : được xây dựng tại các điểm, các trung tâm du lịch nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch. Đó là các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng…), các phòng luyện tập chức năng, phòng xông hơi…

Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa : đáp ứng nhu cầu hiểu biết những kiến thức văn hóa, xã hội cho khách du lịch, tạo điều kiện giao tiếp xã hội, tuyên truyền về truyền thống, thành tựu văn hóa của các dân tộc.

Các công trình này bao gồm : các trung tâm văn hóa, thông tin, phòng chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm…có thể bố trí tại khách sạn hoặc hoạt động một cách độc lập tại các điểm hoặc trung tâm du lịch. Hoạt động của các cơ sở này giúp cho khách sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lí, làm cho chuyến đi du lịch có ý nghĩa hơn.

Ngoài ra, còn có các công trình phục vụ cho khách du lịch nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu sinh hoạt trong thời gian du lịch như hiệu hớt tóc, hiệu ảnh…

1.1.4. Phát triển du lịch trong thời kì hội nhập Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Trong tiến trình đất nước hội nhập toàn cầu, ngành du lịch cũng không nằm ngoài xu thế đó. Việc phát triển du lịch, những kết quả thu được từ ngành kinh tế này được coi là biểu hiện của toàn cầu hóa. [32]

Ngành du lịch là ngành mang tính quốc tế hóa cao. Vì vậy nhiều quốc gia đã gia nhập các tổ chức du lịch trong khu vực và quốc tế, tham gia kí kết các hiệp định về phát triển du lịch khu vực và liên quan đến khu vực, nhằm phối hợp hoạt động hợp tác, liên kết để phát triển du lịch. Ví dụ : phát triển các tuyến du lịch xuyên Á, đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập cảnh, miễn thị thực xuất nhập cảnh, giảm giá các dịch vụ, hợp tác kinh doanh, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực…là những điều kiện hấp dẫn du khách và thuận lợi cho phát triển du lịch của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. [32]

Ngày nay hội nhập quốc tế được coi như xu thế tất yếu, hội nhập giúp các quốc gia hiểu biết nhau hơn, các tổ chức khu vực và quốc tế hình thành nhiều hơn. Khoảng cách đi lại giữa các quốc gia và châu lục trở nên gần hơn. Do đó, hoạt động du lịch càng có điều kiện và cơ hội phát triển. Đầu tư phát triển du lịch và dành quan tâm thích đáng cho du lịch là lựa chọn đúng đắn, góp phần hưng thịnh nền kinh tế của các quốc gia có tiềm năng du lịch. [14]

Sự phát triển của ngành du lịch có ý nghĩa to lớn về mặt KT- XH. Phát triển du lịch với các nhiệm vụ cụ thể như : quy hoạch, đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh; xây dựng các điểm, tuyến, cụm du lịch khai thác một cách hiệu quả những tiềm năng du lịch địa phương. Đó là một trong những lộ trình cụ thể để du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch Tây Ninh nói riêng chủ động hội nhập sâu và toàn diện. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của các tổ chức du lịch quốc tế như: UNWTO, PATA, ASEANTA…

Hội nhập trong lĩnh vực du lịch vừa là thời cơ để Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng quảng bá hình ảnh đẹp đẽ về thiên nhiên, văn hóa, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, góp phần thu hút lượng khách quốc tế lớn, tăng doanh thu từ du lịch nhưng cũng vừa là thách thức không nhỏ đối với ngành du lịch trong việc tạo ra sản phẩm phong phú, độc đáo; phát triển du lịch gắn với giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ cảnh quan- môi trường du lịch trong sạch.

1.2. Cơ sở thực tiễn Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

1.2.1. Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam

Việt Nam có điều kiện tự nhiên, tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú. Nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Bắc Bán Cầu, thuộc khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới: Châu Á- Thái Bình Dương, Việt Nam có vị trí thuận lợi trong giao lưu và hội nhập quốc tế, khu vực.

Việt Nam hấp dẫn về vẻ đẹp sinh thái tự nhiên, nền văn hóa đa dạng và truyền thống lịch sử lâu đời, phong phú về di sản văn hóa, các làng nghề và các lễ hội truyền thống gắn với các nhóm dân tộc của cả nước. Đặc biệt, Việt Nam có nhiều di sản được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên và di sản văn hóa thế giới (đến năm 2025 Việt Nam có 11 di sản được công nhận), cùng với nhiều nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn có giá trị. Chính vì vậy, Việt Nam có tiềm năng dồi dào để phát triển hoạt động du lịch.

Ngay từ những lễ hội truyền thống có từ bao đời nay của nhân dân ta như Hội đền Hùng, Hội Gióng… gắn với lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc đã góp phần thu hút đông đảo du khách thập phương, cho đến sự xuất hiện của những khu biệt thự, khách sạn nghỉ dưỡng tại Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo… xây dựng từ thời kì Pháp thuộc đã chứng tỏ hoạt động du lịch của nước ta đã ra đời, hình thành và phát triển từ rất sớm.

Tuy nhiên từ thập niên 60 của thế kỉ XX, ngành du lịch mới trở thành một ngành kinh tế độc lập, từ đó có những bước phát triển nhanh chóng. Sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, du lịch đã khẳng định vị thế là một ngành kinh tế mũi nhọn.

Trong những năm qua, du lịch Việt Nam tăng trưởng tương đối ổn định với tốc độ trung bình ở mức tương đối cao (khoảng 20%/năm), thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5% (năm 2010) lên trên 8% (năm 2020), thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều lần. Đây là một thành công lớn góp phần giúp du lịch trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP.

Giai đoạn 2005- 2015 có thể khẳng định là giai đoạn bức phá trong tăng trưởng khách và thu nhập. Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250.000 lượt (năm 2005) lên 2,05 triệu lượt (năm 2015); Khách nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần từ 1.350 tỉ đồng lên 17.400 tỉ đồng. [19]

Giai đoạn 2016-2020, tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời nên lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số. Khách quốc tế tăng từ 2,33 triệu lượt lên gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa tăng từ 11,7 triệu lượt lên 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch ở nước ngoài năm 2020 ước khoảng 900.000 lượt. Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỉ trọng GDP của ngành dịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 5% GDP cả nước, theo cách tính của UNWTO thì con số này khoảng 10%) [19] Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Đến năm 2022, nước ta đã đón 4,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 16,6% so với năm 2021, khách nội địa đạt khoảng 20 triệu lượt, tăng 14,5% so với năm 2021. Năm 2023, mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, khách quốc tế đến Việt Nam vẫn giữ được 4,2 triệu lượt. Năm 2025, lần đầu tiên số khách quốc tế đến Việt Nam đạt 5 triệu lượt người, tăng 34,8% so với năm 2024. Như vậy, tính chung giai đoạn 2021- 2025, khách quốc tế đã tăng từ 3,58 triệu lượt (năm 2021) lên 5 triệu lượt (năm 2025), còn khách du lịch nội địa đã tăng tương ứng từ 17,5 triệu lượt lên khoảng 25 triệu lượt. [2]

Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước ta mang lại nguồn thu trên 2 tỉ USD/ năm. Hơn 10 năm trước, du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực nhưng đến nay khoảng cách này đã được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philippin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Theo UNWTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới. Năm 2019, du lịch Việt Nam được Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng khách trong số 174 nước; Việt Nam được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới.[19]

Với doanh thu và lượng khách du lịch ngày càng tăng, ngành du lịch Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT- XH. Từ đó, ngành du lịch Việt Nam cần chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch cả về số lượng và chất lượng; xây dựng hệ thống CSHT- CSVCKT cho hoạt động du lịch; tăng cường tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế; đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; tăng cường đầu tư, hội nhập quốc tế và khu vực.

1.2.2. Du lịch tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ là vùng có địa hình chuyển tiếp giữa vùng đồi núi, cao nguyên đồ sộ Tây Nguyên với vùng địa hình bằng phẳng đồng bằng sông Cửu Long. Vùng gồm 6 tỉnh, thành : Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa- Vũng Tàu. Đông Nam Bộ có diện tích vào loại nhỏ so với các vùng khác (23.600km2), dân số vào loại trung bình (12 triệu người, năm 2021), nhưng lại dẫn đầu cả nước về GDP, giá trị sản lượng công nghiệp và giá trị hàng xuất khẩu.

Đông Nam Bộ là vùng có nền kinh tế hàng hóa sớm phát triển, cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển hơn so với các vùng khác trong cả nước. Với những ưu thế về vị trí địa lí, về nguồn lao động lành nghề, cơ sở vật chất kĩ thuật, lại có những chính sách phát triển phù hợp, thu hút được các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, Đông Nam Bộ đang sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao.

Đây là tiểu vùng có khoảng 480 km đường biên giới với Campuchia, nơi có các cửa khẩu quan trọng, đặc biệt là hai cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát (Tây Ninh) cùng hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch khác. Với vị trí và tiềm năng của mình, đặc biệt là vùng giữ vị trí chủ đạo trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nên đây là khu vực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung.

Tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ có nhiều kiểu địa hình phong phú và đa dạng, phần lớn diện tích là các bề mặt bán bình nguyên với các bậc thềm phù sa cổ có độ cao khoảng 100m và bề mặt phủ badan có độ cao khoảng 200m. Đây là vùng có nhiều cảnh quan tự nhiên và nhân tạo đẹp như núi Bà Đen, núi Bà Rá, hồ Dầu Tiếng cùng hàng trăm km đường bờ biển ở Vũng Tàu, trong đó có hơn 70 km có thể sử dụng làm bãi tắm…có giá trị lớn về du lịch. Vùng còn là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em như Xtieng, Tày, Nùng, Mường, Thái, Mơ Nông, Chăm, Khmer… với nhiều lễ hội, sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc.

Tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng như nhà tù Côn Đảo (Bà Rịa- Vũng Tàu), chiến khu D (Bình Dương), Dinh Thống Nhất, Địa đạo Củ Chi (TP.HCM), Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh)… Vì đây vốn là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, là căn cứ địa vững chắc của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ có quan hệ chặt chẽ với các tiểu vùng du lịch khác như tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ, tiểu vùng du lịch Tây Nguyên, tiểu vùng du lịch Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long)…qua quốc lộ 1, 14, 20, 28… tạo nên mối quan hệ liên vùng trong phát triển du lịch của vùng.

Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là trung tâm của tiểu vùng, nơi đây xưa kia từng được mệnh danh là “hòn ngọc Viễn Đông”có thể dễ dàng giao lưu, thu hút khách du lịch từ các thị trường khác trong vùng Đông Nam Á cũng như các khu vực kế cận xung quanh. Ngoài ra các trung tâm khác như Vũng Tàu cũng có sức thu hút lớn đối với du khách trong nước và quốc tế.

Các sản phẩm du lịch cụ thể của tiểu vùng: giao tiếp về phát triển KT- XH, hội nghị, hội chợ triển lãm; Các cảnh quan nghỉ dưỡng ven biển, hồ, vùng ngập mặn; Tham quan nghiên cứu các di tích chống Mỹ cứu nước; Tham quan nghiên cứu các vùng văn hóa và di sản tôn giáo; Du lịch sinh thái ở biển, các vườn quốc gia…. Cùng với sự phát triển và định hướng chung của du lịch quốc gia, tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ cũng là điểm đến hấp dẫn thu hút khách du lịch. Mặc dù vậy, du lịch các tỉnh trong tiểu vùng chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, tương đối mờ nhạt, ít hấp dẫn về hình thức. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

Trong thời kì đất nước hội nhập với khu vực và thế giới như hiện nay, tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ cần có một quy hoạch chung mang tính liên vùng, thể hiện mối liên kết giữa các địa phương trong nỗ lực phát triển du lịch, làm phong phú và tăng thêm sức hấp dẫn cùng tính khả thi cho sản phẩm du lịch của mỗi tỉnh và cả khu vực. Tây Ninh với vai trò là cầu nối giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh với thủ đô Phnompenh của Campuchia, với hệ thống di tích lịch sử cách mạng phong phú và khu du lịch núi Bà Đen nổi tiếng hứa hẹn sẽ là một địa chỉ du lịch đáng tin cậy, hấp dẫn khách du lịch về với căn cứ địa cách mạng của quân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *