Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương – Lý luận và thực tiễn tại tỉnh Tây Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI NÓI ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh có vai trò đặc biệt trong việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; thiết lập trật tự, kỷ cương tại địa phương; góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát triển kinh tế – xã hội. Trong những năm qua, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã có những chuyển biến tích cực, từng bước đi vào nề nếp, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao. Việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh cơ bản đảm bảo thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định; nội dung của văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất. Sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, các cơ quan được giao nhiệm vụ đã chủ động tham mưu, triển khai thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương. Bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động này cũng còn một số hạn chế (việc tổ chức khảo sát, sơ, tổng kết, đánh giá tác động, nhất là đối với văn bản ban hành chính sách chưa được cơ quan chủ trì soạn thảo quan tâm thực hiện; một số công chức chuyên môn sở, ban, ngành thực hiện còn lúng túng, chưa nắm rõ quy trình trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đội ngũ công chức trực tiếp làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở các sở, ban, ngành còn thiếu, ít ổn định, chất lượng chưa đồng đều, đã làm ảnh hưởng đến tiến độ tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật; một số nội dung văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ban hành chưa sát tình hình thực tế của địa phương; không mang tính khả thi).

Tây Ninh, chính quyền địa phương tỉnh xác định doanh nghiệp là cộng đồng quan trọng nhất trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế. Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất là tạo ra việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo…Việc các doanh nghiệp chết, giải thể hoặc phá sản có thể sẽ kéo theo sự thất nghiệp, khó khăn trong việc làm, khó khăn cho nền kinh tế và có thể gây mất ổn định, an ninh, xã hội. Do đó, để nhanh chóng tháo gỡ các vướng mắc pháp lý trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và nhận thức pháp lý trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, hạn chế các rủi ro pháp lý trong quá trình sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển doanh nghiệp, Tây Ninh đã ban hành nhiều giải pháp để hỗ trợ và đồng hành, chia sẽ khó khăn cùng doanh nghiệp. Tuy nhiên, tình hình các doanh nghiệp đăng ký mới không có nhiều biến động (Năm 2016 là 562 doanh nghiệp; Năm 2017 là 598 doanh nghiệp. Năm 2018 là 559 doanh nghiệp; Năm 2019 là 657 doanh nghiệp. Lũy kế đến 31/12/2019 là 5.684 doanh nghiệp. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chưa phát huy hết hiệu quả. Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách đặc thù gặp khó khăn, vướng mắc như: một số điều kiện hỗ trợ chưa phù hợp với tình hình thực tế địa phương; nội dung hỗ trợ chưa hấp dẫn được các nhà đầu tư; quá trình triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ chưa kịp thời, chưa đồng bộ … Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Từ những phân tích trên cho thấy, công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh phải tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện. Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương – Lý luận và thực tiễn tại tỉnh Tây Ninh” làm luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu

2.1. Giả thuyết nghiên cứu

Trong giai đoạn 2016 – 2019, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy nhiên, các văn bản này còn dàn trải, chưa đáp ứng được yêu cầu doanh nghiệp trên địa bàn. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu quả công tác văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nói riêng.

2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn được thực hiện nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu:

Thứ nhất, cơ sở pháp lý nào cho hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương cấp tỉnh?

Thứ hai, thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh hiện nay như thế nào? Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện?

Thứ ba, giải pháp, kiến nghị nào để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay?

3. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Liên quan đến hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã có nhiều văn bản, công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề cập. Có thể nêu một số công trình tiêu biểu như:

3.1. Tình hình nghiên cứu về văn bản quy phạm pháp luật

Tài liệu hội nghị tập huấn chuyên sâu “Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015” (phần 1, 2), năm 2016. Tài liệu này giới thiệu chi tiết các nội dung được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, đặc biệt là quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh.

Hoàng Thị Minh Tuyên, “Nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay”, 2017, Luận văn thạc sĩ luật học tại trường Đại học Luật Hà Nội. Trong Luận văn này, tác giả làm sáng tỏ các tiêu chí để đánh giá chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật nói chung, tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành nói riêng. Đánh giá tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn thi hành các quy định pháp luật này trên cơ sở các tiêu chí được đưa ra nhằm đánh giá chất lượng một văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương.

Trần Thị Kim Ngọc, Đề án “Nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh tây ninh giai đoạn 2017 – 2020”, 2017, Đề tài tốt nghiệp lớp Cao cấp lý luận chính trị Học viện Chính trị khu vực II. Trên cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng của hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tác giả đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh Tây Ninh.

3.2. Tình hình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp

Tạp chí Dân chủ và phát luật, số chuyên đề “Môi trường pháp lý cho doanh nghiệp”, NXB Tư pháp, Hà Nội 2016. Số chuyên đề này xoay quanh chủ đề xây dựng và hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển.

Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề “Nhận diện rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp”, NXB Tư pháp, Hà Nội 2019. Số chuyên đề này đã xác định cụ thể những rào cản và nguyên nhân dẫn đến những rào cản pháp lý trong hoạt động khởi nghiệp, đồng thời đưa ra những giải pháp tổng thể, căn bản nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động khởi nghiệp. Luận văn: Ppháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề “Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”, tháng 6-2019. Số chuyên đề này phân tích về sự cần thiết xây dựng Nghị định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đối tượng thụ hưởng, tổ chức thực hiện, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương đã đưa ra những định nghĩa về văn bản quy phạm pháp luật nói chung cũng như văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh nói riêng một cách tổng quát nhất. Trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu cũng đưa ra các dấu hiệu, đặc trưng, đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật. Đánh giá những mặt tồn tại, hạn chế của hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại từ đó đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Đối với các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đã phân tích một số chính sách liên quan đến hoạt động khởi nghiệp, hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp…Nhưng có thể khẳng định rằng, có rất ít công trình nghiên cứu về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh. Đồng thời, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá về tình hình thi hành pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh. Những công trình nghiên cứu trên là những tư liệu có giá trị tham khảo, giúp tác giả tiến hành nghiên cứu trực tiếp hoạt động ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

4. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tập trung làm rõ cơ sở lý luận của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương cấp tỉnh; trên cơ sở đánh giá thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh để đưa ra các giải pháp kiến nghị.

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Các nguồn nghiên cứu của Luận văn là: các quan điểm, tư tưởng về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định pháp luật về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

Khuôn khổ hỗ trợ doanh nghiệp thông qua hoạt động ban hành pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh và thực tiễn tại tỉnh Tây Ninh.

Thi hành pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh và thực tiễn tại tỉnh Tây Ninh.

4.3 Phạm vi nghiên cứu

  • Về không gian : Luận văn nghiên cứu hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
  • Về thời gian : Từ 01/7/2016 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 có hiệu lực) đến ngày 30/12/2019.
  • Các văn bản của Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh được đề cập trong Luận văn này là văn bản quy phạm pháp luật.

5. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch được sử dụng linh hoạt và xuyên suốt trong toàn bộ luận văn để làm rõ các luận điểm khoa học được đề cập Chương 1.
  • Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng để phân tích ở Chương 2 và kiến nghị khoa học ở Chương 3.

6. Giá trị ứng dụng của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn đối với các vấn đề liên quan đến hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại tỉnh Tây Ninh.

7. Kết cấu dự kiến của Luận văn Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương cấp tỉnh
  • Chương 2: Thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền tỉnh Tây Ninh
  • Chương 3: Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh

1.1.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh

Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam không có quy định riêng về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Mặc dù, Luật năm 2004 có quy định về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nhưng sau khi Luật năm 2015 được ban hành thì khái niệm này không còn được sử dụng nữa. Do đó, để hiểu nội hàm của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh theo quy định của Luật năm 2015 ta tìm hiểu một số nội dung sau: Luận văn: Phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Một là, về khái niệm “văn bản quy phạm pháp luật”. Văn bản quy phạm pháp luật là công cụ quan trọng để chính quyền địa phương cấp tỉnh quản lý nhà nước. Giúp chính quyền địa phương cấp tỉnh truyền tải các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân. Đồng thời, văn bản quy phạm pháp luật cũng giữa vai trò quan trọng trong việc tổ chức, thực hiện các quy định đó tại địa phương; điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh ở địa phương. Do đó, việc nắm rõ khái niệm văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền, nội dung ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh khi xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của khái niệm văn bản quy phạm pháp luật và để khắc phục những hạn chế từ thực tiễn triển khai, Luật năm 2015 đã tách khái niệm “Văn bản quy phạm pháp luật” và khái niệm “Quy phạm pháp luật”, theo đó văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật năm 2015. Văn bản quy phạm pháp luật là tập hợp nhiều quy phạm pháp luật. Trong đó, “quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi, lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành, được Nhà nước đảm bảo thực hiện”. Theo quy định, một văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật năm 2015 thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

Hai là, về “Chính quyền địa phương”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 111 Hiến pháp năm 2013, Điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính. Có ba cấp đơn vị hành chính phổ biến là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và một cấp không phổ biến là đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Nhiệm vụ của cấp chính quyền địa phương là (i) tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương và (ii) quyết định các vấn đề của địa phương do luật định. Như vậy, Hiến pháp năm 2013 tăng tính tự quản cho chính quyền địa phương nhằm phát huy lợi thế của mỗi địa phương trên thực tế. Luận văn: Phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Theo quy định trên, để thực hiện nhiệm vụ được quy định trong Hiến pháp thì chính quyền địa phương cấp tỉnh sẽ phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa, chi tiết hóa những quy định của Trung ương cho phù hợp với điều kiện địa phương, đảm bảo pháp luật được thực thi một cách đúng đắn, hiệu quả. Bởi ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Đây cũng là cơ sở để chính quyền địa phương cấp tỉnh ban hành các chính sách đặc thù để thu hút, hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp với tình hình thực tế địa phương.

Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh như sau: Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là văn bản có chứa quy phạm pháp luật dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương do HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục pháp luật quy định và có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được nhà nước bảo đảm thi hành bằng biện pháp theo quy định pháp luật.

1.1.1.2. Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh

Từ khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh có thể nhận thấy văn bản QPPL có những dấu hiệu đặc điểm sau:

Thứ nhất, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước ở địa phương.

Đặc điểm này xuất phát từ vị trí, vai trò và nhiệm vụ được giao của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Theo đó, Điều 113, 114 Hiến pháp năm 2013 và Điều 6, 8 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 xác định HĐND vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương vừa là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương. HĐND có quyền quyết định các vấn đề của địa phương do luật định. Và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính cấp trên. UBND có trách nhiệm tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Trong phạm vi thẩm quyền được giao, chính quyền địa phương cấp tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Theo đó, HĐND cấp tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương… UBND cấp tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương… Tất cả những cá nhân, tổ chức ở địa phương thuộc đối tượng điều chỉnh của những văn bản trên đều bắt buộc phải thực hiện. Chính vì vậy, có thể khẳng định hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là hoạt động gắn liền với nhà nước nhằm thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương.

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là sự cụ thể hóa các quy định pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương

Đây là đặc điểm phản ánh bản chất của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Trên thực tế cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương không thể ban hành một văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với tất cả những đặc điểm, điều kiện đặc thù từng địa phương trong cả nước. Do đó, cần có sự cụ thể hóa văn bản của Trung ương, cấp trên cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Mặt khác, do điều kiện tự nhiên, đất đai, văn hóa… mà mỗi địa phương có sự khác biệt, có những vấn đề chỉ có ở địa phương này mà không có ở địa phương khác. Cho nên văn bản do Trung ương ban hành khó có thể được phù hợp với tất cả các địa phương trong cả nước. Trong trường hợp này cũng cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật của địa phương trực tiếp điều chỉnh các vấn đề đó. Ví dụ, tại khoản 7 Điều 1 Nghị định số 149/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá giao thẩm quyền cho UBND tỉnh quy định giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Trên cơ sở quy định này, mỗi địa phương sẽ ban hành mức giá tối đa phù hợp tình hình thu nhập của người dân địa phương.

Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi do mình quản lý Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, chính quyền địa phương cấp tỉnh có nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong mọi lĩnh vực tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương theo quy định của pháp luật. Như vậy, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể việc thi hành pháp luật là một trong những công cụ để chính quyền địa phương cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý xã hội. Ngoài ra, nhằm điều chỉnh một số quan hệ xã hội phát sinh mang tính đặc thù tại địa phương kịp thời thì trong phạm vi thẩm quyền của mình, chính quyền địa phương cấp tỉnh có thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội nói trên.

Ví dụ: để quản lý hệ thống các cửa hàng kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 08/2018/QĐ-UBND ngày 16 tháng 4 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định quản lý đầu tư xây dựng hệ thống cửa hàng kinh doanh xăng dầu, kho xăng dầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Đối với nội dung này, không có văn bản nào trực tiếp giao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định quản lý đầu tư xây dựng hệ thống cửa hàng kinh doanh xăng dầu. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế địa phương UBND tỉnh có thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là quyết định của UBND tỉnh điều chỉnh hoạt động quản lý đầu tư xây dựng hệ thống cửa hàng kinh doanh xăng dầu, kho xăng dầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh chỉ có hiệu lực trên phạm vi địa giới hành chính của địa phương

Đây là đặc điểm thể hiện tính hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương. Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND ở đơn vị hành chính cấp nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính cấp đó và phải được quy định cụ thể ngay trong văn bản. Trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính thì hiệu lực về của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Luật năm 2015.

1.1.2. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Thẩm quyền là quyền chính thức được xem xét, kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề. Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của họ. Thẩm quyền của mỗi cơ quan và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, khu vực hành chính, cấp hành chính.

“Thẩm quyền” của HĐND và UBND cấp tỉnh được quy định trong Luật năm 2015 bao gồm thẩm quyền nội dung và thẩm quyền hình thức. Thẩm quyền nội dung chỉ ra chủ thể luật định được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật về những vấn đề gì. Thẩm quyền hình thức chỉ ra chủ thể có quyền được quy định những vấn đề thuộc nội dung luật định dưới hình thức văn bản nào. Khi điều chỉnh một vấn đề pháp lý, cơ quan có thẩm quyền phải sử dụng đúng hình thức văn bản mà mình được phép ban hành. Ví dụ: HĐND cấp tỉnh chỉ có thể ban hành nghị quyết, UBND cấp tỉnh chỉ được ban hành quyết định. Nếu quy định đó không được chấp hành, văn bản đó bị coi là vi phạm thẩm quyền về mặt hình thức và sẽ bị xử lý theo các quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Việc tuân thủ quy định về thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung khi soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là yếu tố chứng minh tính hợp pháp của văn bản và là yêu cầu để văn bản đó phát huy hiệu lực pháp luật. Dưới góc độ tổ chức nhà nước, việc tuân thủ hình thức văn bản còn là minh chứng cho kỷ luật và kỷ cương hành chính, thể hiện tính pháp chế trong quản lý nhà nước.

Đối với văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh, để khắc phục quy định dàn trải, thiếu rõ ràng trong thẩm quyền ban hành của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong Luật năm 2004, Luật năm 2015 phân định rõ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Nội dung nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và quyết định của UBND cấp tỉnh được quy định như sau:

Thứ nhất, nội dung nghị quyết thuộc thẩm quyền ban hành của HĐND cấp tỉnh

Một là, nghị quyết của HĐND quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Nghị quyết của HĐND là một trong những phương tiện quan trọng để thể chế hóa, phản ánh đúng các mục tiêu trong đường lối, chủ trương của các cấp ủy Đảng, cụ thể hóa các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên cho phù hợp với điều kiện địa phương. Do đó, HĐND cấp tỉnh khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần phải năng động, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Hiện nay, để nâng cao và đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của các văn bản pháp luật, hiện nay đang có xu hướng các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành các văn bản với các quy định cụ thể, trong đó có tính đến các đặc điểm kinh tế – xã hội của từng địa phương sao cho phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, cho dù các văn bản trên có phù hợp với thực tiễn thì cũng không thể phủ nhận tầm quan trọng của Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh trong việc thực thế hóa và địa phương hóa các văn bản của Đảng và của cấp trên, làm cho những chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn của địa phương. Ví dụ: Nghị quyết số 21/2019/NQ-HĐND ngày 6/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh quy định mức chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Đây là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để quy định chi tiết quy định tại khoản 5 Điều 8 Thông tư số 36/2018/TT-BTC ngày 30 tháng 3 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.

Hai là, Nghị quyết của HĐND quy định chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Chính sách được hiểu là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định (Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP). Phạm vi ban hành các chính sách của HĐND cấp tỉnh dựa trên cơ sở đường lối, chính sách và hệ thống pháp luật chung. Đây là quy định mới trong công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương thể hiện vị trí quyền lực của HĐND cấp tỉnh trong việc quyết định các vấn đề của địa phương; tạo sự thống nhất trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước. Ví dụ: Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND ngày 06/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh về chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020 – 2025. Đây là văn bản được ban hành để quy định chính sách nhằm thực thi văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Mà cụ thể là khoản 1 Điều 19 Nghị định số 57/2018/NĐ-CP quy định: “…ban hành chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tại địa phương, trong đó quy định chính sách tín dụng tại địa phương quy định tại Điều 8 Nghị định này…”. Ngoài quy định chính sách, nghị quyết của HĐND cấp tỉnh còn đề ra các “biện pháp” để giải quyết một vấn đề cụ thể.

Ba là, Nghị quyết của HĐND quy định biện pháp nhằm phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương. Ví dụ: Nghị quyết số 20/2019/NQ-HĐND ngày 6/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định chính sách hỗ trợ đối tượng thuộc hộ gia đình không khả năng thoát nghèo trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Đây là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để thực hiện giải pháp phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017-2021. Theo đó, các đối tượng không có khả năng thoát nghèo sẽ được Tỉnh Tây Ninh hỗ trợ một khoản tiền nhằm đảm bảo cuộc sống cơ bản không bị thiếu hụt; có điều kiện sống tốt hơn, được tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ xã hội. Từ đó ổn định tình hình xã hội ở địa phương.

Bốn là, Nghị quyết của HĐND quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đây là một nội dung mang tính chung chung, Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung này. Tuy nhiên, cho dù các biện pháp có đặc thì đến đâu thì việc quy định các biện pháp có tính chất đặc thù ở địa phương phải đảm bảo phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Thứ hai, nội dung quyết định thuộc thẩm quyền ban hành của UBND cấp tỉnh Một là, quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Đây là nội dung quan trọng để UBND cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Định kỳ hàng năm, Sở Tư pháp sẽ phối hợp với Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh lập danh sách các nội dung mà UBND tỉnh có trách nhiệm ban hành trong năm cùng với kế hoạch ban hành cụ thể. Ví dụ: Trong năm 2019, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 02/01/2019 ban hành Chương trình công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh năm 2019. Theo đó, trong năm 2019, UBND tỉnh Tây Ninh sẽ ban hành 46 quyết định để điều chỉnh các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý; trình HĐND tỉnh Tây Ninh thông qua 23 nghị quyết.

Hai là, quy định biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp về phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương. Nhiệm vụ này là nhiệm vụ hiến định, được quy định tại khoản 2 Điều 114 Hiến pháp năm 2013. Do đó, để thực hiện nhiệm vụ của mình, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm đề ra các biện pháp để thực thi các văn bản trên. Đảm bảo cho các văn bản được triển khai thực hiện trên thực tế. Ví dụ: Tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐND giao cho UBND tỉnh “tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết”. Để thực hiện nhiệm vụ được giao, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND ngày 17/6/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành quy định về mức hỗ trợ lãi vay phát triển thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2019-2025

Ba là, quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Với vai trò là cơ quan hành chính tại địa phương, UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi địa phương. Do đó, UBND tỉnh có thẩm quyền đưa ra các biện pháp thực hiện cho phù hợp.

Thứ ba, về hình thức văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh

Theo quy định Điều 4 Luật năm 2015 thì thẩm quyền về hình thức của chính quyền địa phương cấp tỉnh được quy định như sau: Hình thức văn bản quy phạm pháp luật do HĐND cấp tỉnh ban hành là nghị quyết; UBND cấp tỉnh ban hành là quyết định. Việc quy định rõ hình thức văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương góp phần thể hiện tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Về hình thức văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh, ngoài văn bản quy phạm pháp luật được ban hành độc lập, còn có văn bản quy phạm pháp luật được ban hành dưới hình thức văn bản chính và văn bản phụ. Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP không quy định cụ thể về mối quan hệ văn bản chính – phụ này. Nhưng theo hướng dẫn tại mẫu số 16, 17, 18, 19 Phụ lục I kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì ngoài văn bản quy phạm pháp luật được ban hành dưới dạng độc lập, trực tiếp đặt ra các quy định pháp luật ngay trong nội dung văn bản đó (được gọi là văn bản quy phạm pháp luật quy định trực tiếp) còn có loại văn bản quy phạm pháp luật được hình thành từ hai loại: văn bản có hình thức văn bản quy phạm pháp luật (văn bản chính) và văn bản được ban hành kèm theo (văn bản phụ). Theo đó, văn bản chính chỉ tuyên bố về việc ban hành văn bản phụ và hiệu lực pháp lý; văn bản phụ chứa đựng các quy phạm pháp luật quy định nội dung chính, cụ thể của văn bản (được gọi là văn bản quy phạm pháp luật quy định gián tiếp). Như vậy, các quy tắc xử sự chung được quy định trong văn bản phụ (quy định, quy chế, điều lệ). Văn bản phụ là một phần không thể tách rời của văn bản chính và chỉ có hiệu lực pháp luật do được ban hành kèm theo văn bản chính dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND ngày 28/6/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Quy định về hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2019-2025.

1.1.3. Vai trò của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh

Một là, vai trò đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.

Pháp luật là phương tiện quan trọng nhất để nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình. Thông qua hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính quyền địa phương cấp tỉnh định hướng phát triển kinh tế, hoạch định chính sách thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp…phù hợp với tình hình thực tế địa phương. Ngoài ra, hoạt động này còn có tác dụng giúp địa phương tạo dựng môi trường kinh doanh an toàn, thuận lợi, có trật tự và đạt hiệu quả cao nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Hiện nay, nước ta đang có những quy định nhằm tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương cấp tỉnh, để mỗi địa phương có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình. Do đó, trong quá trình chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực kinh tế, chính quyền địa phương cấp tỉnh cần chủ động trong việc ban hành nhiều biện pháp, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân.

Hai là, vai trò đảm bảo việc đưa những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân.

CQĐP cấp tỉnh được xác định là cấp chiến lược, là cầu nối đầu tiên, truyền tải những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân. Đồng thời, đây cũng là cấp có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, thực hiện các quy định đó trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Ba là, văn bản quy phạm pháp luật có thể giúp chính quyền địa phương cấp tỉnh điều tiết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Vai trò này được ghi nhận thông qua quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27; khoản Điều 28 Luật năm 2015. Cuộc sống luôn phong phú và không ngừng biến đổi, do đó, không phải khi nào văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương cũng điều chỉnh hết tất cả các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, khi có những vấn đề nảy sinh ở địa phương, không có tính phổ biến, mang tính đặc thù của địa phương thì chính quyền địa phương cấp tỉnh phải chủ động ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh góp phần làm ổn định trật tự xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, những văn bản này phải đảm bảo không trái với chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, việc chính quyền địa phương cấp tỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những vẫn đề phát sinh sẽ là tiền đề cơ sở cho các cơ quan nhà nước ở Trung ương đặt ra các quy phạm pháp luật mang tính phổ biến, áp dụng chung cho nhiều địa phương. Ví dụ: Nghề nuôi chim yến với mục đích thương mại xuất hiện từ năm 2004. Ngày 22/07/2013, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã ban hành Thông tư số 35/2013/TT-BNNPTNT quy định tạm thời quản lý nuôi chim yến. Tuy nhiên, hướng dẫn này chỉ phần nào tháo gỡ khó khăn cho địa phương. Tình hình dẫn dụ, nuôi chim yến vẫn diễn ra nhanh và phức tạp. Để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước về chim yến, một số địa phương đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh nội dung này (Quyết định số 17/2013/QĐ-UBND ngày 28/5/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang quy định tạm thời về việc dẫn dụ và gây nuôi chim yến trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; Quyết định số 22/2018/QĐ-UBND ngày 21/9/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ban hành quy định tạm thời về nuôi chim yến trên địa bàn tỉnh Kiên Giang). Hiện nay, nội dung về nuôi chim yến đã được luật hóa trong Luật Chăn nuôi năm 2018.

Bốn là, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh làm thay đổi các hành vi xử sự không mong muốn của một bộ phận người dân và thiết lập các hành vi xử sự phù hợp Văn bản quy phạm pháp luật phải đặt ra khuôn mẫu, quy tắc mang tính chuẩn mực chung cho hành vi xử sự của con người. Nói cách khác, văn bản quy phạm pháp luật đã góp phần mô hình hóa cách thức xử sự của con người. Do đó, để quản lý xã hội, chính quyền địa phương cấp tỉnh cần phải dùng pháp luật để làm thay đổi cách hành xử của một bộ phận người dân để đảm bảo trật tự chung. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức có hành vi không phù hợp với những quy tắc xử sự chung thì cá nhân, tổ chức phải thay đổi hành vi xử sự của mình (tự nguyện hoặc bắt buộc) cho phù hợp với những quy tắc xử sự chung. Ví dụ: Tại điểm h khoản 1 Điều 80 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định UBND cấp tỉnh có trách nhiệm trình HĐND cấp tỉnh quyết định khu vực thuộc nội thành của thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư không được phép chăn nuôi, quyết định vùng nuôi chim yến và chính sách hỗ trợ khi di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi. Theo quy định trên thì những đối tượng đang nuôi chim yến trước thời điểm nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định vùng nuôi chim yến thì sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ di dời. Nhưng nếu cố tình không di dời hoặc cố tình nuôi chim yến ngoài khu vực quy định sẽ bị cưỡng chế di dời và không được hưởng chính sách hỗ trợ. Như vậy, trong trường hợp này, các cá nhân, tổ chức buộc phải thay đổi hành vi nuôi chim yến hiện tại của mình (địa điểm nuôi chim yến).

Năm là, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh là một trong những cơ sở để kiểm tra, theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Hoạt động kiểm tra có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước. Không có kiểm tra, theo dõi thường xuyên, thì một số hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương sẽ lỏng lẽo, không thực hiện tốt chức năng được giao. Một trong những phương tiện quan trọng được sử dụng trong công tác kiểm tra, theo dõi chính là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Đây là cơ sở để tiến hành hoạt động kiểm tra, xử lý các sai phạm.

Từ những phân tích trên cho thấy hoạt động văn bản quy phạm pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Hoạt động này không chỉ giúp ổn định trật tự xã hội mà còn thúc đẩy kinh tế phát triển phù hợp với điệu kiện của địa phương. Do đó trong quá trình quản lý, chính quyền địa phương cấp tỉnh cần quan tâm sâu sắc đối với hoạt động này. Đặc biệt đối với việc ban hành các chính sách hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp tại địa phương.

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP

1.2.1. Sự cần thiết của việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh

Một là, xuất phát từ vai trò đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của doanh nghiệp

Sự đóng góp của các doanh nghiệp rất đáng kể. Theo Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh năm 2018 thì tổng doanh thu thuần của toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh năm 2017 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đạt 176.232.476 triệu đồng, tăng 23.963.360 triệu đồng so với năm 2016. Trên cơ sở cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và thương mại điện tử thì các doanh nghiệp sẽ là động lực để phát triển kinh tế địa phương nói riêng, cả nước nói chung.

Hai là, tạo động lực cho việc thúc đẩy các hoạt động tạo công ăn việc làm cho người lao động

Các doanh nghiệp góp phần tạo ra nhiều cơ hội việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, qua đó góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư. Theo Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh năm 2018 thì tổng số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh năm 2017 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh là 187.125 người, tăng 6.489 người so với cùng thời điểm năm 2016.

Ba là, góp phần tăng hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế. Sự cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải luôn năng động, nhạy bén trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Càng cạnh tranh các doanh nghiệp sẽ càng nâng cao được năng lực cạnh tranh và hoạt động hiệu quả. Ở đâu thiếu cạnh tranh ở đó có biểu hiện độc quyền và doanh nghiệp kém phát triển. Chính vì vậy, sự ra đời của nhiều doanh nghiệp trong cùng một ngành, một lĩnh vực sẽ làm tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp; làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới để có thể tồn tại và phát triển. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Bốn là, doanh nghiệp đóng góp vào quá trình tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới

Để tồn tại và phát triển trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, các doanh nghiệp phải linh hoạt, ứng dụng nhanh nhạy các thành quả công nghệ vào quá trình quản lý, sản xuất, kinh doanh. Việc đổi mới công nghệ sẽ cho phép doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm tạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lý tiết kiệm nguyên vật liệu …Nhờ vậy sẽ tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Ngoài ra, các doanh nghiệp còn là trụ cột của nền kinh tế địa phương. Giúp địa phương khai thác và huy động các nguồn lực tài chính tiềm năng tại chỗ của dân cư tại địa phương.

Từ những phân tích trên cho thấy, mặc dù các doanh nghiệp có đang giữ vai trò thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển nhưng bản thân doanh nghiệp luôn gặp nhiều khó khăn (vốn, mặt bằng, công nghệ…) trong quá trình hoạt động. Do đó, việc chính quyền địa phương cấp tỉnh cụ thể hóa các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tại địa phương là việc làm hết sức cần thiết nhằm tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

1.2.2. Một số nội dung hỗ trợ doanh nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành

Một là, hỗ trợ tiếp cận tín dụng

Vốn tín dụng là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng cho các doanh nghiệp trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ và siêu nhỏ; năng lực tài chính yếu kém trong khi đây lại là yếu tố tiên quyết giúp doanh nghiệp có thể đáp ứng điều kiện để được ngân hàng chấp thuận cho vay. Do đó, khả năng tiếp cận các gói tín dụng của ngân hàng thương mại rất khó khăn.

Hiện nay, Trung ương có rất nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Các chính sách này được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Có thể kể đến một số chính sách như: hỗ trợ lãi suất vay thương mại sau khi dự án hoàn thành cho các doanh nghiệp có dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Các doanh nghiệp, ký hợp đồng cung cấp, tiêu thụ đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án vay theo mô hình liên kết…Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành còn được hỗ trợ vay vốn trực tiếp, gián tiếp, tài trợ vốn… từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; được cấp bảo lãnh tín dụng thông qua Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Nhưng trên thực tế các doanh nghiệp khó tiếp cận được nguồn vốn này. Cho dù tiếp cận được thì lãi suất cũng quá cao. Một trong những nguyên nhân là do doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện của các tổ chức tín dụng (thiếu minh bạch trong việc lập các báo cáo tài chính, kế hoạch kinh doanh dẫn tới họ rất khó để vay được vốn từ ngân hàng; không có tài sản bảo đảm…). Do đó, việc chính quyền địa phương cấp tỉnh ban hành cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng dễ dàng sẽ thu hút được nhà doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư.

Hai là, hỗ trợ về công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải có những giải pháp công nghệ để tăng năng suất và hiệu quả ở tất cả các khâu, từ cung ứng, tổ chức sản xuất, đến phân phối sản phẩm. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 thì công nghệ sẽ là chìa khóa thành công của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vẫn còn chậm. Một trong những nguyên nhân là tài chính còn hạn chế. Do đó, việc cải thiện các chính sách hỗ trợ công nghệ cho doanh nghiệp là vấn đề cấp thiết.

Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ thường hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, thương mại hóa kết quả khoa học về công nghệ; hỗ trợ khuyến khích ứng dụng, đổi mới công nghệ; hỗ trợ về kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, mua bản quyền công nghệ hoặc mua kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, cải tiến công nghệ, công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, tiết kiệm năng lượng; hoặc hỗ trợ thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm phục vụ áp dụng công nghệ mới, công nghệ cao, sản xuất sản phẩm mới…

Ba là, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị

Đây là hình thức hợp tác kinh doanh mang lại hiệu quả cao trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng. Cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội nâng cao năng lực cũng như mang lại lợi ích lớn hơn khi được tham gia vào chuỗi giá trị cũng như trở thành thành viên của cụm liên kết ngành. Ngoài ra, Nhà nước hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp công nghệ cáo, chế biến để tạo ra sản phẩm chất lượng cao giá thành hợp lý; có áp dụng sáng tạo các giải pháp công nghệ, vật liệu, linh kiện, máy móc, thiết bị. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Bốn là, hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản suất

Ngoài vốn, thì mặt bằng sản xuất là một trong các vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm. Mặt bằng phục vụ sản xuất ổn định có thể đóng góp đến 50% vào thành công của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp phải đi thuê mặt bằng luôn phải đối mặt với sự bất ổn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đây cũng là nguyên nhân khiến không ít doanh nghiệp không mạnh dạn mở rộng sản xuất, kinh doanh… Do đó, việc ban hành cơ chế đặc thù hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận mặt bằng, yên tâm sản xuất là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay. Bởi sau khi có mặt bằng, nhiều doanh nghiệp sẽ mạnh dạn mở rộng hoạt động sản xuất để đem lại những lợi ích lớn hơn cũng như đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội chung của tỉnh.

Năm là, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với nền kinh tế địa phương nói riêng, cả nước nói chung do đóng góp vào GDP ngày càng nhiều. Nhờ tính sáng tạo, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo luôn là những doanh nghiệp dẫn đầu công nghệ tạo ra những giá trị mới cho xã hội.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

Từ việc nghiên cứu nội dung của Chương 1 đã cho phép tác giả đi đến một số kết luận sau:

Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật tác giả đã đưa ra được khái niệm, đặc điểm về văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Đồng thời tác giả cũng đi sâu phân tích thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh để từ đó nêu lên vai trò của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật với việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh.

Mặt khác, để nghiên cứu tổng thể những vấn đề lý luận chung nhất về hỗ trợ doanh nghiệp tác giả đã nghiên cứu sự cần thiết thể chế hoá chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh và một số nội dung hỗ trợ doanh nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành.

Việc nghiên cứu những vấn đề lý chung về ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương sẽ là cơ sở để tác giả nghiên cứu thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền tỉnh Tây Ninh tại Chương II. Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh

2 thoughts on “Luận văn: Pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của địa phương

  1. Pingback: Luận văn: Hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

  2. Pingback: Luận văn: Kiến nghị pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp địa phương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *