Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền tỉnh Tây Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. TÌNH HÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LĨNH VỰC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TỈNH TÂY NINH

2.1.1. Kết quả ban hành và thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

Trong những năm qua, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh đã dần đi vào nề nếp, phần nào đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước của địa phương và thực tiễn cuộc sống nói chung, yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nói riêng.

Từ năm 2016 đến tháng 12/2019, ngoài những chính sách chung hỗ trợ cho doanh nghiệp do Trung ương ban hành, chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh đã ban hành 13 văn bản quy phạm pháp luật để hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong đó 05 văn bản đã hết hiệu lực; văn bản đang được sửa đổi, bổ sung; 07 văn bản đang triển khai thực hiện (gồm nghị quyết của HĐND tỉnh và 03 quyết định của UBND tỉnh). Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao; sở hữu trí tuệ; mở rộng thị trường; hay hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (Xin xem chi tiết tại Phụ lục 1 – Danh mục văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp). Công tác triển khai thực hiện các chính sách nói trên đã được các sở, ban, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố triển khai kịp thời. Cụ thể:

Thứ nhất là hỗ trợ tiếp cận tín dụng. Từ năm 2016 đến năm 2019, chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Nhìn chung, các chính sách hỗ trợ tín dụng trên địa bàn tỉnh đều tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp. Điều này cho thấy chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh đang tập trung khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất nông nghiệp cao, phát triển thế mạnh nông nghiệp tiềm năng của tỉnh. Trong thời gian qua, các chính sách này đã phát huy được hiệu quả của mình. Số dư nợ các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay từ năm 2016 đến 2018 liên tục tăng. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Thứ hai là hỗ trợ về công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ năm 2016 đến năm 2019, chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh đã ban hành 03 chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ gồm: (i) hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ; (ii) hỗ trợ phát triển thị trường trí tuệ; (iii) hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ. Các chính sách đã phần nào phát huy được hiệu quả của mình như: Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018, UBND tỉnh đã tiến hành hỗ trợ cho 22 doanh nghiệp với 30 lượt hỗ trợ. Trong đó: 03 doanh nghiệp với 05 lượt hỗ trợ (đã xin ngưng không hỗ trợ), còn lại là 19 doanh nghiệp với 25 lượt hỗ trợ bao gồm: 19 hệ thống quản lý, 02 công cụ và 04 sản phẩm chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy, chứng nhận hợp chuẩn, công bố hợp chuẩn với tổng kinh phí là 1.170.000.000 đồng. Hướng dẫn 23 hồ sơ đăng ký tham gia với nội dung hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, phát triển sản phẩm đặc thù; tiếp nhận 07 hồ sơ đăng ký tham gia. Tiếp nhận 04 hồ sơ doanh nghiệp tham gia hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ; năm 2019 hỗ trợ 02 doanh nghiệp xây dựng hệ thống “Thực hành nông nghiệp tốt”.

Thứ ba là hỗ trợ doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Hiện nay, tỉnh Tây Ninh đang chú trọng phát triển các hình thức liên kết trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có năng suất, chất lượng và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp; hướng đến hình thành vùng sản xuất tập trung, khắc phục tình trạng sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu…Theo đó, các doanh nghiệp tham gia liên kết sẽ được hỗ trợ chi phí tư vấn xây dựng liên kết; hỗ trợ đầu tư hạ tầng phục vụ xây dựng liên kết; hỗ trợ khuyến nông, đào tạo, tập huấn và giống vật tư, bao bì, nhãn mác hàng hóa.

Trong thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh mà việc xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện các chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của tỉnh đạt được nhiều kết quả khả quan. Từ năm 2016 đến nay, tỉnh Tây Ninh đã có 05 dự án được hỗ trợ 30% chi phí mua giống cây (gồm cây dứa (thơm), chanh dây và chuối già Nam Mỹ); tổng diện tích các dự án là 349 ha, tổng kinh phí hỗ trợ là 3.725 triệu đồng; đồng thời đã nhận hồ sơ thẩm định dự án xây dựng cánh đồng lớn liên kết sản xuất và tiêu thụ bưởi da xanh của Công ty TNHH Sau Như Một và một số nông dân liên kết sản xuất.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Tác động của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Qua hơn 03 năm triển khai thực hiện, các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã đạt được nhiều kết quả khả quan, đáp ứng phần nào nhu cầu của doanh nghiệp tại địa phương được thể hiện ở những phương diện sau:

Một là, thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp sạch ngày một nhiều. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực nông nghiệp tăng dần qua các năm. Điều này đã làm số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng tăng dần qua các năm. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Hai là, số dự án nông nghiệp công nghệ cao ngày càng nhiều. Tính đến tháng 3 năm 2019 trên địa bàn tỉnh có 79 dự án nông nghiệp đăng ký đầu tư (chiếm 9,68% tổng số dự án trên địa bàn), trong đó có 69 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 4.379,5 tỷ đồng vào 10 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 87,74 triệu USD. Các doanh nghiệp thường đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi heo, gà theo mô hình trại lạnh khép kín, nuôi trồng thủy sản và tập trung tại các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn như Dương Minh Châu, Trảng Bàng, Châu Thành… Một số dự án đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao nổi bật tại tỉnh Tây Ninh như: Thu hút xây dựng và đưa vào hoạt động 01 nhà máy chế biến rau quả Tanifood với tổng mức đầu tư 1.820 tỷ đồng, công suất 500 tấn nguyên liệu/ngày với nhu cầu diện tích vùng nguyên liệu 7.125 ha; 01 trang trại bò sữa Vinamilk Tây Ninh đạt tiêu chuẩn GlobalGAP với tổng đàn 8.000 con; Công ty TNHH Pacow.

Ba là, thu hút được nhiều doanh nghiệp chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ; áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến năng suất và chất lượng; xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật. Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018, UBND tỉnh đã tiến hành hỗ trợ cho 22 doanh nghiệp với 30 lượt hỗ trợ. Trong đó: 03 doanh nghiệp với 05 lượt hỗ trợ (đã xin ngưng không hỗ trợ), còn lại là 19 doanh nghiệp với lượt hỗ trợ bao gồm: 19 hệ thống quản lý, 02 công cụ và 04 sản phẩm chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy, chứng nhận hợp chuẩn, công bố hợp chuẩn với tổng kinh phí là 1.170.000.000 đồng. Hướng dẫn 23 hồ sơ đăng ký tham gia với nội dung hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, phát triển sản phẩm đặc thù; tiếp nhận 07 hồ sơ đăng ký tham gia. Tiếp nhận 04 hồ sơ doanh nghiệp tham gia hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ.

2.1.3. Đánh giá tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh lĩnh vực hỗ trợ phát triển doanh nghiệp

Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh ban hành nói chung ngày càng được nâng cao. Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh được thực hiện theo quy định Luật năm 2015, đảm bảo tính khoa học, tính thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Đội ngũ cán bộ, công chức pháp chế và cán bộ, công chức trực tiếp tham gia vào công tác xây dựng, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng soạn thảo, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng được phần nào yêu cầu thực tiễn, góp phần tích cự vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Tây Ninh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Tuy nhiên, qua theo dõi, cũng còn một số nội dung vẫn ban hành trễ so với kế hoạch; một số văn bản trong quá trình triển khai thực hiện gặp vướng mắc nhưng chậm phát hiện để sửa đổi, bổ sung.

2.1.3.1. Tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết

Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết luôn được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tỉnh quan tâm từ khâu lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, soạn thảo, thẩm định, kiểm tra văn bản. Do đó, các văn bản quy định chi tiết phần lớn đều đảm bảo tính kịp thời, đầy đủ khi được ban hành. Đồng thời, các văn bản trên được các ngành, các cấp triển khai, thực hiện thống nhất, đồng bộ, được tổ chức, cá nhân đồng thuận thực hiện và mang lại hiệu quả cao.

Từ năm 2016 đến 12/2019, UBND tỉnh Tây Ninh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành tỉnh tiến hành rà soát những văn bản giao quy định chi tiết lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp để lập danh mục và xây dựng kế hoạch ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong năm. Nhìn chung, các văn bản quy định chi tiết lĩnh vực hỗ trợ phát triển doanh nghiệp được chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh quan tâm ban hành nhưng vẫn chưa đầy đủ, chưa kịp thời theo yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp tại địa phương. Cụ thể:

Một là, vẫn còn một số nội dung chưa được chính quyền địa phương tỉnh ban hành như: (i) hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất; (ii) hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo;

Hai là, trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách về hỗ trợ doanh nghiệp, một số chính sách gặp khó khăn, vướng mắc nhưng chậm phát hiện để sửa đổi, bổ sung. Cụ thể: Nghị quyết số 25/2016/NQ-HĐND về chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2016 – 2020; Nghị quyết số 40/2016/NQ-HĐND về mức hỗ trợ xây dựng cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

2.1.3.2. Tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của văn bản Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho thấy phần lớn các văn bản quy định chi tiết đều bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung quy định chi tiết chưa thống nhất, đồng bộ, thiếu tính khả thi cụ thể như sau:

Thứ nhất, điều kiện về hỗ trợ dự án sản xuất nông nghiệp tốt, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ

Tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐND quy định về điều kiện hỗ trợ nhưng nội dung quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐND không phải là điều kiện để doanh nghiệp được hỗ trợ mà là quy trình, phương thức mà chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh sẽ hỗ trợ có từng loại dự án. Cụ thể:

  • Đối với dự án thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, nông nghiệp hữu cơ quy trình hỗ trợ sẽ được thực hiện như sau:
  • Hỗ trợ 50% mức hỗ trợ lãi vay sau khi được ngân hàng thương mại giải ngân;
  • Hỗ trợ 50% mức hỗ trợ lãi vay còn lại khi sản phẩm của dự án được cấp giấy chứng nhận VietGAP, VietGAHP, GlobalGAP và hữu cơ theo quy định. Trường hợp hết thời gian quy định được hỗ trợ lãi vay nhưng chưa được cấp chứng nhận theo quy định thì ngưng việc hỗ trợ 50% mức hỗ trợ lãi vay còn lại;
  • Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2019. Báo cáo số 37/BC-HĐND ngày 29/10/2019 báo cáo kết quả thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
  • Trường hợp sản phẩm của dự án không được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, VietGAHP, GlobalGAP và hữu cơ mà không chứng minh được việc thực hiện để chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn trên thì thu hồi phần đã hỗ trợ;
  • Đối với dự án đầu tư nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thì quy trình được hỗ trợ như sau:
  • Hỗ trợ 100% mức hỗ trợ lãi vay khi có biên bản nghiệm thu nội dung, khối lượng công việc đã hoàn thành theo dự án được phê duyệt theo quy định;
  • Hỗ trợ 100% mức hỗ trợ lãi vay đối với dự án sơ chế, bảo quản và chế biến sản phẩm nông nghiệp khi có biên bản nghiệm thu nội dung, khối lượng công việc đã hoàn thành theo Dự án được phê duyệt và đạt tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm theo quy định. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Tương tự, nội dung quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 3 Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND cũng không thống nhất với nội dung của khoản 2 Điều 3 Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND. Từ phân tích trên cho thấy trong cùng một “khoản” mà việc quy định các điểm không thống nhất với nội dung của khoản. Điều này cho thấy sự thống nhất giữa các nội dung trong văn bản đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, về nguyên tắc hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐND quy định về nguyên tắc hỗ trợ đối với những dự án liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Nhưng nội dung tại khoản 4, 5 của Điều 2 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐND lại không quy định nguyên tắc hỗ trợ mà lại quy định về nguồn vốn thực hiện cũng như việc khuyến khích các nguồn vốn hỗ trợ hợp pháp khác. Từ đó cho thấy, nội dung của khoản 4, 5 Điều 2 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐND đã không thống nhất với nội dung của khoản 1, 2, 3 Điều 2 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐND. Tương tự, nội dung khoản 4, 5 Điều 2 Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND cũng không thống nhất với nội dung khoản 1, 2, 3 Điều 2 Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND.

Thứ ba, về danh mục dự án khuyến khích đầu tư trong nông nghiệp, nông thôn kèm theo Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND (sau đây viết tắt Danh mục dự án)

Tại điểm c khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND quy định thời gian hỗ trợ lãi suất tối đa 06 năm đối với dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư, tối đa 05 năm đối với dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư. Nhưng Danh mục dự án ban hành kèm theo Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND chỉ quy định danh mục dự án khuyến khích đầu tư, không quy định danh mục những dự án được ưu đãi đầu tư. Việc không quy định danh mục dự án ưu đãi đầu tư đã làm cho quy định về thời gian hỗ trợ đối với dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư không khả thi và gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc xác định dự án của mình là thuộc trường hợp ưu đãi đầu tư hay khuyến khích đầu tư. Điều này cũng cho thấy nội dung tại Điều 4 Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND không thống nhất với nội dung tại Danh mục dự án.

Ngoài ra, theo gạch đầu dòng thứ 2 tiểu mục 2 phần I Danh mục dự án quy định “Dự án sản xuất rau – củ – quả thực phẩm có diện tích như sau:..” nhưng trong nội dung lại chỉ quy định diện tích đối với rau ăn lá, rau ăn quả; không quy định diện tích đối với củ. Từ đây cho thấy, chính sách hỗ trợ đối với các dự án đầu tư sản xuất củ không thể triển khai thực thi và gây khó khăn cho các nhà đầu tư nếu có dự án sản xuất củ công nghệ cao.

Thứ tư, về việc phân cấp thẩm quyền phê duyệt mức hỗ trợ dự án liên kết Theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 68 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì nội dung mỗi khoản phải được thể hiện đầy đủ một ý. Nhưng tại nội dung của khoản 2 Điều 7 Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND thì ngoài quy định về mức hỗ trợ đối với chi phí tư vấn xây dựng liên kết còn quy định thêm nội dung phân cấp phê duyệt mức hỗ trợ. Tương tự, tại khoản 2 Điều 8 và khoản 2 Điều 9 Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND cũng quy định lồng ghép nội dung phân cấp trong khoản quy định về mức hỗ trợ. Các quy định trên đã trái với quy định của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP làm cho văn bản không đảm bảo tính hợp pháp.

Thứ năm, về việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định số 57/2018/NĐ-CP giao HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm “ban hành chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tại địa phương, trong đó quy định chính sách tín dụng tại địa phương quy định tại Điều 8 Nghị định“. Để thực hiện nhiệm vụ được giao HĐND tỉnh Tây Ninh đã ban hành 02 văn bản quy phạm pháp luật để cùng điều chỉnh chính sách về tín dụng dành cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐND; Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND). Do đó, qua đối chiếu cho thấy, cùng một chính sách hỗ trợ nhưng 02 văn bản nêu trên lại quy định khác nhau.

Ví dụ: Đối với dự án cây ăn trái, theo quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐND thì dự án phải đạt diện tích tối thiểu 05 ha (nhà đầu tư có thể hợp tác, liên kết để đạt diện tích tối thiểu) hoặc giá trị đầu tư tối thiểu từ 01 tỷ đồng/Dự án; không phân biệt dự án đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Như vậy, với điều kiện này thì các nhà đầu tư sẽ dễ đáp ứng vì có thể họ sẽ hợp tác với các nông dân có đất xung quanh để đạt diện tích tối thiểu theo quy định để được hưởng chính sách hỗ trợ. Điều này không những có lợi cho nhà đầu tư mà còn có lợi cho những nông dân hợp tác. Ngoài ra, nếu nhà đầu tư không thể đáp ứng được điều kiện về diện tích thì vẫn có thể tăng giá trị đầu tư từ 01 tỷ đồng trở lên thì vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ.

Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND thì nếu dự án đạt tiêu chuẩn GlobalGAP thì diện tích dự án phải từ 05 ha trở lên, nếu dự án đạt tiêu chuẩn VietGAP thì diện tích dự án phải từ 10 ha trở lên; nhà đầu tư không được hợp tác, liên kết để đạt diện tích theo quy định. Điều này có nghĩa, nhà đầu tư phải tự tích tụ, tập trung đất để đạt diện tích theo quy định mà không thể liên kết.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 156 Luật năm 2015 thì “trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau”. Nhưng trên thực tế, 02 văn bản trên vẫn được địa phương triển khai thực hiện song song. Việc áp dụng song song 02 văn bản là trái với quy định tại khoản 3 Điều 156 Luật năm 2015.

2.2. NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG THỂ CHẾ HÓA NỘI DUNG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHI THỰC HIỆN CHỨC NĂNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN TỈNH TÂY NINH

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh Tây Ninh trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, bất cập như sau:

2.2.1. Những hạn chế, bất cập xuất phát từ quy định pháp luật Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Một là, xác định văn bản quy phạm pháp luật. Luật năm 2015 đã quy định rõ khái niệm “Văn bản quy phạm pháp luật” và khái niệm “Quy phạm pháp luật”; đồng thời, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã dành 01 Điều (Điều 3) để xác định những nội dung văn bản do một số cơ quan, người có thẩm quyền ban hành không phải VBQPPL. Tuy vậy, trong thực tiễn áp dụng tại địa phương cho thấy, một số nội dung không mang tính quy phạm nhưng do không được quy định tại Điều 3 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP nên vẫn phải thực hiện ban hành văn bản theo hình thức văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị quyết về thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hàng năm. Nội dung những nghị quyết này chủ yếu quy định về việc thu hồi đất để thực hiện một số dự án của tỉnh và chỉ áp dụng một lần cho một hoặc một số dự án cụ thể. Tương tự, nghị quyết về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hàng năm… Nội dung những nghị quyết này chủ yếu quy định việc cho phép các đơn vị thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh được chuyển chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng để thực hiện các dự án. Như vậy, xét về nội dung các nghị quyết này chỉ được ban hành để được áp dụng một lần cho một hoặc nhiều dự án và không mang tính quy phạm pháp luật; nhưng do, nội dung của những nghị quyết này do không được quy định tại Điều 3 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP nên vẫn phải thực hiện ban hành văn bản theo hình thức văn bản quy phạm pháp luật.

Hai là, thẩm quyền ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật năm 2015 thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành nghị quyết để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tuy nhiên, do Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung này nên việc xác định tính chất đặc thù, nội dung đặc thù của các biện pháp có tính chất đặc thù chưa thống nhất. Cụ thể: Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi chính quyền địa phương được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, giao quy định chi tiết thì HĐND cấp tỉnh căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội, khả năng cân đối ngân sách của địa phương để quy định biện pháp có tính chất đặc thù của địa phương. Theo quan điểm này thì chỉ khi nào được phân cấp, giao quyền thì HĐND cấp tỉnh mới được ban hành các biện pháp có tính chất đặc thù. Quan điểm thứ hai cho rằng, HĐND cấp tỉnh được quyền quy định biện pháp có tính chất đặc thù trong phạm vi địa phương mà không phụ thuộc vào việc có văn bản phân cấp, giao quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Với điều kiện những biện pháp này không trái với chính sách của Đảng, không trái với hệ thống pháp luật chung. Theo quan điểm này có thể hiểu nội dung của biện pháp có tính chất đặc thù sẽ không bao gồm nội dung quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 27 Luật năm 2015. Đồng thời, tính chất đặc thù, nội dung đặc thù của nghị quyết phụ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của từng địa phương.

Từ những phân tích trên cho thấy mỗi quan điểm đều có những cơ sở riêng. Do đó, khi cơ quan soạn thảo tham mưu HĐND cấp tỉnh ban hành các biện pháp có tính chất đặc thù thường gặp rất nhiều khó khăn do chưa thống nhất cách hiểu và nội dung của biện pháp có tính chất đặc thù. Tác giả đồng ý theo quan điểm thứ nhất. Bởi vì, về cơ bản các văn bản do HĐND cấp tỉnh ban hành đã mang tính đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương. Và nội hàm của khoản 4 Điều 27 trùng với nội hàm của khoản 1 Điều 27 Luật năm 2015. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Ba là, đối tượng, nội dung và hình thức lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Qua xem xét hồ sơ ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh cho thấy đối tượng thường xuyên được lấy ý kiến đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương là cơ quan nhà nước. Việc lấy ý kiến từ các chuyên gia, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội là rất ít, không đáng kể. Ngoài ra, cơ quan soạn thảo của địa phương thường lấy ý kiến đối với cả dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hơn là lấy ý kiến cho một số nội dung chính hoặc theo vấn đề. Việc lấy ý kiến đối với cả dự thảo văn bản quy phạm pháp luật không mang tính khả thi khi đối với người dân, doanh nghiệp vì họ không có thời gian và hiểu biết đầy đủ để có thể góp ý cho toàn dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Ngoài ra, một hạn chế nữa là nội dung tờ trình và bản thuyết minh thường không đảm bảo nội dung theo quy định; không giải trình hết được những nội dung quy định trong dự thảo. Trong khi đây là tài liệu quan trọng hỗ trợ đối tượng được xin ý kiến trong việc hiểu rõ được nội dung chính của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần lấy ý kiến.

Bốn là, quy định về việc lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trên cổng Thông tin điện tử của tỉnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 113, khoản 1 Điều 120, Điều Luật năm 2015 thì đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và dự thảo quyết định của UBND cấp tỉnh “phải được đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến”. Đây là quy định mang tính tiến bộ nhằm tạo cơ hội cho các đối tượng chịu tác động, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp tham gia ý kiến vào quá trình xây dựng, ban hành chính sách; đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện cho thấy quy định này chưa phù hợp với thực tiễn, chưa đảm bảo tính khả thi. Đồng thời, thủ tục này không được cơ quan soạn thảo và chính quyền địa phương cấp tỉnh quan tâm thực hiện, chỉ mang tính hình thức không mang lại hiệu quả. Do đó, đa số các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật lấy ý kiến công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh đều không có ý kiến góp ý. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là: (i), đa số các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chỉ đăng toàn văn dự thảo (đôi khi rất dài), không nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 113 Luật năm 2015; (ii) pháp luật không bắt buộc cơ quan soạn thảo phải đăng các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được cơ quan soạn thảo sửa đổi sau khi tổng hợp ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định, thẩm tra… trên cổng thông tin điện tử của tỉnh. Do đó, trong một số trường hợp, nội dung dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có nhiều sự thay đổi quan trọng so với dự thảo được lấy ý kiến công khai; thậm chí thay đổi toàn bộ so với nội dung ban đầu. Vì vậy, các đối tượng góp ý không thể biết được ý kiến của mình có được tiếp thu hay không. Việc này sẽ làm ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch của quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (iii) thời gian đăng cổng không được cơ quan soạn thảo và chính quyền địa phương quan tâm thực hiện nghiêm túc. Cụ thể: Theo quy định tại Điều 118 Luật năm 2015, sau khi Thường trực HĐND cấp tỉnh xem xét đề nghị xây dựng nghị quyết và chấp thuận thì phân công cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết. Từ thời điểm này, cơ quan được phân công soạn thảo dự thảo văn bản quy phạm pháp luật mới tiến hành soạn thảo nội dung, lấy ý kiến đối tượng bị tác động trên cổng thông tin điện tử của tỉnh. Tuy nhiên, để tiết kiệm thời gian và kịp tiến độ theo phân công của HĐND cấp tỉnh thì cơ quan soạn thảo thường tiến hành lấy ý kiến đối tượng bị tác động trên cổng thông tin điện tử của tỉnh trước khi Thường trực HĐND cấp tỉnh chấp thuận. Do đó, có lúc thời gian lấy ý kiến trên cổng thông tin điện tử của tỉnh chỉ kết thúc sau khi Thường trực HĐND cấp tỉnh chấp thuận có vài ngày.

Năm là, lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan trong quá trình lập đề nghị xây dựng nghị quyết quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Khoản 3 Điều 10 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đến các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan để lấy ý kiến đối với các chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp hiện nay thì việc lấy ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan không mang tính khả thi và gây khó khăn cho địa phương trong quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp khi các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan chậm hoặc không có văn bản góp ý. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Sáu là, về hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chỉ quy định nội dung của từng loại văn bản do chính quyền địa phương ban hành và mẫu ban hành văn bản quy phạm pháp luật (gồm ban hành theo hình thức quy định trực tiếp và ban hành theo hình thức quy định gián tiếp) của nhưng không hướng dẫn trường hợp nào chính quyền địa phương sẽ ban hành văn bản quy định trực tiếp, trường hợp nào sẽ ban hành văn bản quy định gián tiếp. Điều này sẽ gây khó khăn cho chính quyền địa phương cấp tỉnh trong việc lựa chọn hình thức văn bản phù hợp nội dung văn bản cần ban hành. Đồng thời sẽ tạo nên sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật. Cùng một nội dung nhưng có địa phương ban hành theo hình thức quy định trực tiếp nhưng lại có địa phương ban hành theo hình thức quy định gián tiếp. Ví dụ: để quy định bộ đơn giá sản phẩm đo đạc bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh hóa ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hình thức văn bản quy định gián tiếp (Quyết định số 21/2018/QĐ-UBND ngày 10/7/2018) nhưng UBND tỉnh Tây Ninh lại ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hình thức văn bản quy định trực tiếp (Quyết định số 10/2020/QĐ-UBND ngày 01/4/2020). Từ những phân tích trên cho thấy, cần phân biệt rõ ràng về trường hợp ban hành văn bản quy định trực tiếp và văn bản chính – phụ; xác định rõ trường hợp sử dụng văn bản chính – phụ với các văn bản hành chính có cùng tên gọi; đồng thời, cần quy định rõ trường hợp sử dụng các loại văn bản chính – phụ có tên gọi khác nhau.

2.2.2. Những hạn chế, bất cập xuất phát từ tình hình thực tế tỉnh Tây Ninh

2.2.2.1. Nhiều văn bản sao chép, quy định lại nội dung đã quy định tại văn bản quy phạm pháp luật được quy định chi tiết

Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật năm 2015 thì “văn bản quy định chi tiết chỉ được quy định nội dung được giao và không được quy định lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết”. Tuy nhiên, đa số quyết định của UBND tỉnh lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp sao chép lại một số quy định của nghị định của Chính phủ, nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và bổ sung thêm một số tiêu chí, tưởng như là để cho rõ hơn nhưng đó lại trái với quy định và tinh thần của Luật năm 2015. Cụ thể:

Quyết định số 53/2017/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quy định lại một số nội dung của Nghị quyết số 25/2017/NQ-HĐND như: điều kiện hỗ trợ; các lĩnh vực đổi mới công nghệ được hỗ trợ; các loại hình nghiên cứu, ứng dụng công nghệ được hỗ trợ; mức hỗ trợ; nội dung hỗ trợ; hỗ trợ xác lập quyền sở hữu công nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp đạt giải thưởng về thương hiệu; hỗ trợ sản phẩm đặc thù, sản phẩm làng nghề mang địa danh của tỉnh.

Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quy định lại một số nội dung của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐND như: nguyên tắc và điều kiện hỗ trợ; mức trần vốn vay được hỗ trợ; nội dung, mức hỗ trợ; vốn và nguồn vốn thực hiện. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quy định lại toàn bộ nội dung Chương II Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp gồm: các hình thức liên kết, hợp đồng liên kết, dự án liên kết. Ngoài ra, Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND còn quy định lại Điều 5, 6, 7 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐND.

2.2.2.2. Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật lĩnh vực hỗ trợ phát triển doanh nghiệp của CQĐP tỉnh Tây Ninh.

Việc soạn thảo đã có những chuyển biến tích cực, chất lượng ngày một nâng cao nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Cụ thể:

Một là, trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật là việc tổ chức khảo sát, sơ, tổng kết, đánh giá tác động của chính sách, thủ tục hành chính, dự báo các điều kiện thi hành pháp luật chưa được cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật quan tâm thực hiện, nên một số nội dung văn bản quy phạm pháp luật còn tách rời thực tiễn thực hiện thực thi pháp luật, vẫn mang nặng tư duy pháp lý thuần túy, thiếu nhạy bén trong việc phát hiện, kiến nghị những vấn đề bức xúc trong xã hội. Từ đó dẫn đến tình trạng văn bản Trung ương và địa phương còn tách rời, chưa trở thành một thể thống nhất để tạo nên một hệ thống pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp hoàn chỉnh.

Hai là, một số cơ quan chưa chủ động trong việc tham mưu cho HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành. Do đó đã dẫn đến trường hợp có đăng ký nội dung vào chương trình xây dựng văn bản nhưng không trình kịp theo thời gian đăng ký; một số tờ trình đề nghị xây dựng nghị quyết chính sách của HĐND cấp tỉnh nội dung chưa đảm bảo đầy đủ thông tin theo quy định (những nội dung chính của nghị quyết; dự kiến nguồn lực; điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết…)

Ba là, một số nội dung văn bản được ban hành không đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi. (Xin xem chi tiết tại mục 2.1.3.2 của Luận văn).

2.2.2.3. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thỏa thuận quốc tế

Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế năm 2007 thì chính quyền địa phương cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế. Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế chưa được chính quyền địa phương cấp tỉnh quan tâm thực hiện. Đến thời điểm hiện nay, tỉnh Tây Ninh chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh nội dung này. Nhưng tính đến tháng 10/2019, tỉnh Tây Ninh ký kết tổng cộng 06 bản Thỏa thuận hợp tác quốc tế (02 bản Thỏa thuận hợp tác với 02 Thành phố của tỉnh Chungcheobuk Hàn Quốc; 04 bản Thỏa thuận hợp tác với các tỉnh của Campuchia) . Theo đó, việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế đã ký kết tại địa phương chủ yếu có cơ quan chủ trì quản lý thực hiện chưa có sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành; chưa mang lại hiệu quả cao; chỉ mang tính thời vụ, chủ yếu là thực hiện các báo cáo có liên quan đến các nội dung đã ký kết khi cơ quan Trung ương có yêu cầu. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Việt Nam tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, đánh dấu sự hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Quá trình hội nhập này sẽ thúc đẩy chính quyền địa phương cấp tỉnh ký kết nhiều thỏa thuận quốc tế để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, trong tình hình Trung ương chưa có những quy định chặt chẽ về vấn đề này thì chính quyền địa phương cấp tỉnh phải chủ động ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế phù hợp với tình hình địa phương để đảm bảo việc ký kết và thực hiện các thỏa thuận quốc tế được thực hiện hiệu quả, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo nhiều cơ hội cho doanh nghiệp địa phương phát triển ra thị trường quốc tế.

2.2.2.4. Còn hiện tượng xem nhẹ ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định tại Điều 8 Luật năm 2015 thì ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu. Theo quy định trên thì khi tiến hành soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật cơ quan soạn thảo phải đảm bảo tính chính xác, rõ ràng của pháp luật. Đây không chỉ là vấn đề hình thức mà ngôn ngữ có ảnh hưởng tới nội dung văn bản. Tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo, một số cơ quan soạn thảo vẫn chưa quan tâm đến ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật đã dẫn đến việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật không có chất lượng, không thể hiện được hết mục đích mà văn bản đó hướng đến điều chỉnh. Ví dụ: Tại tiểu mục 2 Phần danh mục dự án kèm theo Nghị quyết số 15/2019/NQ-HĐND sử dụng không thống nhất một số từ như: rau – rau ăn lá – rau ăn quả; quả thực phẩm – rau ăn quả…

2.2.2.5. Hạn chế về nguồn nhân lực

Theo báo cáo số 2652/BC-STP ngày 09/12/2019 của Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh báo cáo công tác pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2019 thì tính đến tháng 12/2019 thì các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh không có phòng Pháp chế; toàn tỉnh có 16 cán bộ làm công tác pháp chế ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, trong đó 14/16 cán bộ là kiêm nhiệm.

Về trình độ chuyên môn thì trong 16 cán bộ phụ trách pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh chỉ có 08 cử nhân luật và 08 cử nhân chuyên ngành khác. Riêng đối với Sở Tư pháp, tính đến tháng 12/2019 thì chỉ có 04 công chức phụ trách công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh (gồm 01 lãnh đạo Phòng và 03 chuyên viên). Từ số liệu trên cho thấy, chất lượng công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn cả về số lượng lẫn chất lượng. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến việc văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh ban hành không đúng trình tự, thủ tục; không mang tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật chung; không phù hợp với tình hình thực tế địa phương.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

Để làm rõ thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền tỉnh Tây Ninh tác giả tiến hành nghiên cứu tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh với các nội dung như (i) kết quả ban hành và thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; (ii) phân tích tác động của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; (iii) đánh giá tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Tây Ninh lĩnh vực hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

Qua phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh tác giả đưa ra những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện. Theo đó, tác giả đã nêu lên được những hạn chế bất cập xuất phát từ quy định pháp luật và những hạn chế, bất cập xuất phát từ thực tiễn của tỉnh Tây Ninh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp tại Tây Ninh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Kiến nghị pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp địa phương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *