Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên: nghiên cứu tại TP Tân An dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên: nghiên cứu tại TP Tân An.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, đặc biệt trong giáo dục, Nhà nước đã nhận thấy lợi ích của chuyển đổi số và ban hành các chính sách hỗ trợ thúc đẩy quá trình này. Những chính sách này không chỉ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mà còn mở rộng khả năng tiếp cận của người học, cá nhân hóa trải nghiệm học tập và trang bị kỹ năng số cần thiết, tạo nền tảng cho một nền giáo dục hiện đại và phù hợp với yêu cầu của xã hội trong kỷ nguyên số hóa. Do đó, nghiên cứu này đặt mục tiêu xây dựng các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy quyết định tiếp tục thực chuyển đổi số cho giáo viên tại TP Tân An. Tính mới của đề tài nằm ở chỗ hiện chưa có nghiên cứu nào về quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại địa phương này, nên đây là một chủ đề rất cần thiết.
Dựa trên các lý thuyết về ý định hành vi như TAM, TRA, TPB, và UTAUT2, nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng, bao gồm: phỏng vấn nhóm, phỏng vấn tay đôi, thu thập dữ liệu, phân tích thống kê, kiểm định độ tin cậy, hệ số tương quan, hồi quy tuyến tính, EFA và SEM. Kết quả nghiên cứu đã xác định các yếu tố tác động gồm: chiến lược chuyển đổi số, cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực kỹ thuật số, nhu cầu sử dụng công nghệ, dễ sử dụng của công nghệ và rủi ro bảo mật thông tin, với trọng số hồi quy chuẩn hoá lần lượt là 0.210, 0.225, 0.161, 0.139, 0.249, và 0.191.
Từ kết quả kiểm định này, tác giả đề xuất các hàm ý quản trị và các phương án nhằm thúc đẩy quyết định tiếp tục chuyển đổi số của giáo viên tại TP. Tân An. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất hướng nghiên cứu sâu hơn về quyết định chuyển đổi số, xuất phát từ nhu cầu và sự quyết tâm thực hiện của giáo viên.
Từ khoá: Các nhân tố, quyết định tiếp tục, chuyển đổi số, chuyển đổi số trong giáo dục, giáo viên.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, chuyển đổi số trong giáo dục tại Việt Nam nói chung và thành phố Tân An nói riêng đã có nhiều bước tiến đáng kể. Với sự hỗ trợ của công nghệ, các phương pháp giảng dạy ngày càng hiện đại hơn, giúp nâng cao chất lượng giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho cả giáo viên lẫn học sinh. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Trong những năm gần đây, chuyển đổi số trong giáo dục đã có những bước tiến đáng kể tại Việt Nam, đặc biệt là tại thành phố Tân An. Việc triển khai rộng rãi các nền tảng học tập trực tuyến như K12Online, VNPT E-learning đã tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới phương pháp giảng dạy. Nhiều trường học đã ứng dụng các phần mềm hỗ trợ giảng dạy, bảng tương tác thông minh và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm cá nhân hóa nội dung học tập. Đồng thời, các hệ thống quản lý giáo dục như cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, sổ điểm điện tử đã giúp giảm tải đáng kể công việc hành chính cho giáo viên.
Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức. Một số giáo viên vẫn e ngại trong việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy do lo lắng về độ phức tạp và tính hiệu quả của các công cụ số. Hơn nữa, sự thiếu đồng bộ trong trang thiết bị giảng dạy, đặc biệt là ở các trường công lập, cùng với hạn chế về kỹ năng số của giáo viên khiến việc tiếp cận và sử dụng các công cụ giảng dạy trực tuyến gặp không ít khó khăn.
Chuyển đổi số không chỉ là xu hướng mà còn là yêu cầu tất yếu của nền giáo dục hiện đại. Trong đó, giáo viên đóng vai trò trung tâm, quyết định đến sự thành công của quá trình này. Vì vậy, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP. Tân An là cần thiết, nhằm cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chiến lược hỗ trợ hiệu quả. Có ba lý do chính cho việc lựa chọn đề tài này:
Thứ nhất là tầm quan trọng của giáo viên trong chuyển đổi số: Giáo viên không chỉ là người truyền tải kiến thức mà còn là nhân tố quyết định trong việc triển khai công nghệ giảng dạy. Nếu giáo viên không sẵn sàng thay đổi, quá trình chuyển đổi số sẽ gặp nhiều trở ngại.
Thứ hai là TP. Tân An đang đẩy mạnh giáo dục số: Là trung tâm kinh tế – xã hội của tỉnh Long An, thành phố Tân An đang tích cực thực hiện các chính sách chuyển đổi số trong giáo dục. Tuy nhiên, việc triển khai các mô hình giảng dạy số vẫn còn gặp nhiều thách thức, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ phù hợp. Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Thứ ba là khoảng trống nghiên cứu về quyết định tiếp tục thực hiên chuyển đổi số của giáo viên: Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chuyển đổi số trong giáo dục tại Việt Nam, phần lớn các công trình hiện nay tập trung vào lợi ích, thách thức và giải pháp tổng thể. Trong khi đó, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP. Tân An. Việc hiểu rõ những yếu tố này sẽ giúp đề xuất các chính sách hiệu quả nhằm nâng cao năng lực số của giáo viên và đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục tại địa phương.
Với những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên: Nghiên cứu tại TP. Tân An” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ. Nghiên cứu này không chỉ góp phần bổ sung cơ sở lý luận về chuyển đổi số trong giáo dục mà còn cung cấp dữ liệu thực tiễn giúp các trường học tại TP. Tân An xây dựng kế hoạch thúc đẩy mạnh mẽ quá trình ứng dụng công nghệ trong giảng dạy, góp phần thực hiện hiệu quả chiến lược chuyển đổi số quốc gia.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Xác định và phân tích nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Xác định nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An.
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An.
Đề xuất hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn quyết định tiếp tục thực hiện đổi số của giáo viên tại TP Tân An.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Những nhân tố nào tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An?
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên như thế nào tại TP Tân An?
Hàm ý quản trị nào được đề xuất nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An? Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và khảo sát
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu và khảo sát
Đối tượng mà đề tài nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An.
Đối tượng thực hiện khảo sát là giáo viên tại các trường Tiểu Học, THCS, THPT trên địa bàn TP Tân An.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu và khảo sát
Phạm vi nội dung: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An.
Phạm vi không gian và thời gian: Mẫu khảo sát được thu thập tại các trường Tiểu học, THCS, THPT trên địa bàn TP Tân An từ tháng sáu đến tháng chín năm 2024.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Nghiên cứu định tính
Trong giai đoạn sơ bộ của nghiên cứu, tác giả tiến hành nghiên cứu định tính dựa trên các thang đo từ những nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước, kết hợp với tổng hợp lý thuyết liên quan. Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp bảy chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, để đánh giá, điều chỉnh và bổ sung các yếu tố cần thiết cho thang đo. Sau đó, tác giả tổ chức thảo luận nhóm với 10 người gồm giáo viên, đại diện ban giám hiệu các trường tại TP Tân An nhằm điều chỉnh và hoàn thiện thang đo cho nghiên cứu này.
1.5.2 Nghiên cứu định lượng
Phương pháp định lượng tiến hành đo lường vai trò chuyển đổi số, các nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục tham gia chuyển đổi số của giáo viên. Nghiên cứu thực hiện thống kê mô tả, Phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để phân tích dữ liệu, đồng thời đối chiếu với các nghiên cứu trước để bàn luận về kết quả khảo sát và đề xuất hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An.
Phân tích thống kê mô tả: Các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp sẽ được thu thập, tổng hợp và phân tích để đạt được mục đích của nghiên cứu. Công cụ này được sử dụng để mô tả bức tranh tổng quan về địa bàn nghiên cứu, thực trạng quyết định tiếp tục tham gia chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An. Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Phân tích mô hình hồi quy: Tác giả phân tích xác định mối quan hệ giữa một biến phụ thuộc và một hoặc nhiều biến độc lập. Phân tích hồi quy cho phép xác định độ mạnh và hướng của mối quan hệ giữa các biến, đo lường sức mạnh và hướng của mối quan hệ đó.
Phân tích hệ số tương quan Pearson (kí hiệu là r): Tác giả sử dụng hệ số này để đo lường mối liên hệ tuyến tính giữa các biến có mức độ chặc chẽ hay không.
Phân tích Cronbach’Anpha: Tác giả phân tích đánh giá được mức độ tin cậy cũng như các giá trị của một thang đo, đánh giá xem các biến có cùng đo lường một giá trị hay không để từ đó cho phép chúng ta bỏ đi những biến không phù hợp.
Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Tác giả phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm thực hiện các nội dung bao gồm kiểm định chất lượng thang đo, phân tích nhân tố khám phá. Phân tích nhân tố khám phá EFA sẽ được sử dụng để kiểm tra sự hội tụ của các biến quan sát nhằm xác định các nhân tố tác động.
Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM): Kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu để đánh giá mức độ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc của mô hình.
1.6 Đóng góp của đề tài
1.6.1 Về mặt lý luận
Nghiên cứu áp dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng để không chỉ khám phá các khía cạnh lý luận về chuyển đổi số trong giáo dục mà còn đưa ra một bức tranh toàn diện về hiện trạng chuyển đổi số. Qua đó, nghiên cứu phân tích sâu sắc các yếu tố tác động đến quyết định tiếp tục tham gia vào quá trình chuyển đổi số của giáo viên. Phương pháp định tính giúp làm rõ những khái niệm và nhận thức về chuyển đổi số, trong khi phương pháp định lượng cung cấp các dữ liệu cụ thể, hỗ trợ việc đo lường và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng. Sự kết hợp này đảm bảo tính khoa học, chính xác và khách quan trong việc nhận định tình hình và xu hướng chuyển đổi số của giáo viên hiện nay.
1.6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực tiễn làm rõ bức tranh hiện tại và những hạn chế trong việc quyết định tiếp tục tham gia chuyển đổi số của đội ngũ giáo viên. Từ các phát hiện này, nghiên cứu đề xuất những kiến nghị và hàm ý quản trị cụ thể nhằm thúc đẩy quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên tại TP Tân An, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục tại các bậc Tiểu Học, THCS và THPT. Bên cạnh đó, những kết quả này còn mang tính ứng dụng rộng rãi, có thể được triển khai tại các địa phương khác nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục trên quy mô lớn.
1.7 Kết cấu luận văn Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Chương 1 – Tổng quan về nghiên cứu: Trong chương này, tác giả trình bày vấn đề nghiên cứu, lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đối tượng khảo sát, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài, cùng với cấu trúc tổng thể của luận văn.
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Chương này, tác giả trình bày các lý thuyết liên quan đến chuyển đổi số và quá trình ra quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số. Đồng thời, tác giả cũng đánh giá các nghiên cứu trước đây, cả trong và ngoài nước, để xây dựng các giả thuyết và mô hình nghiên cứu cho luận văn của mình.
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: Chương này, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, xác định các biến quan sát, xây dựng thang đo và mô tả phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu: Chương này tác giả tiến hành phân tích kiểm định thang đo, kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu.
Chương 5 – Kết luận và hàm ý quản trị: Tác giả tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã thực hiện, đưa ra các hàm ý quản trị, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu và đề xuất hướng phát triển cho các nghiên cứu trong tương lai.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố cơ bản của nghiên cứu, bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Đồng thời, chương cũng trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để giải quyết các vấn đề nghiên cứu và những đóng góp của đề tài đối với lĩnh vực. Bên cạnh đó, chương này còn giới thiệu cấu trúc của luận văn, giúp người đọc dễ dàng theo dõi và nắm bắt mạch nghiên cứu, từ đó hiểu rõ hơn về mục đích và kết quả của nghiên cứu.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Chuyển đổi số
Chuyển đổi số, theo Berman và cộng sự (2016), là quá trình tổ chức phải xây dựng chiến lược mới, mở rộng kiến thức chuyên môn và áp dụng phương pháp làm việc mới. Điều này đòi hỏi phải đổi mới từ cấp độ chiến lược, hoạt động cho đến công nghệ, tạo ra một nền tảng vững chắc để chuyển đổi kỹ thuật số thành công. Từ góc nhìn khác, Drechsler và cộng sự (2020) cho rằng chuyển đổi số là sự tích hợp chặt chẽ giữa cấu trúc, chiến lược và công nghệ nhằm đáp ứng các yêu cầu của môi trường kỹ thuật số. Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Norton và cộng sự (2020) nhấn mạnh rằng chuyển đổi số không chỉ là áp dụng công nghệ mà còn là quá trình thay đổi cách thức tổ chức công việc và kết nối giữa công nghệ, con người và tổ chức. Chuyển đổi số bắt đầu từ việc số hóa, tức là chuyển đổi thông tin từ dạng vật lý sang kỹ thuật số. Đây là bước nền tảng, cho phép tự động hóa và cải thiện quy trình, nhưng chưa nhằm mục tiêu tối ưu hóa. Sau đó, số hóa dần tiến đến điều chỉnh mô hình kinh doanh và mở ra các cơ hội tạo giá trị mới (Francesca Checchinato và cộng sự, 2021).
Trong nước, một số nghiên cứu cho rằng chuyển đổi số giúp các tổ chức thay đổi nhận thức, hình thành văn hóa chấp nhận và thử nghiệm đổi mới. Quá trình này bao gồm áp dụng công nghệ để thay đổi phương thức quản lý, vận hành và cung cấp dịch vụ theo cách mới (Mai, 2023). Bộ Thông tin và Truyền thông (2021) cũng khẳng định chuyển đổi số là bước phát triển tiếp theo của quá trình tin học hóa, giúp cá nhân và tổ chức thay đổi toàn diện về cách sống, làm việc và sản xuất dựa trên công nghệ số.
Theo Thu Vân (2021), chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang số hóa thông qua các công nghệ mới như liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (loT), điện toán đám mây (Cloud computing), Chuỗi khối (Blockchain), an ninh mạng (Cybersecurity)… Với mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành, cải tiến quy trình làm việc và thay đổi văn hóa tổ chức. Hưng (2021) bổ sung rằng chuyển đổi số là sự tích hợp công nghệ vào mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý, nhằm gia tăng hiệu quả, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo lợi thế cạnh tranh.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm “Chuyển đổi số là bước phát triển tiếp theo của tin học hóa, có được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số. Hay nói cách khác, chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số” theo định nghĩa của Bộ Thông tin và Truyền thông (2021).
2.1.2 Chuyển đổi số trong giáo dục Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Chuyển đổi kỹ thuật số trong giáo dục liên quan đến việc tái cấu trúc quá trình dạy và học đối với học sinh và sinh viên, xem xét các yếu tố thực tế của chuyển đổi này, bao gồm kiến thức và kỹ năng kỹ thuật số, cũng như việc kết hợp tư duy và thái độ kỹ thuật số. Quá trình này nhằm hướng tới mô hình Giáo dục 4.0, được hình thành và hỗ trợ bởi các yếu tố công nghệ, con người và nhà trường (SousaOliveira & Souza, 2020). Theo nghiên cứu của Demartini và cộng sự (2020), chuyển đổi kỹ thuật số trong giáo dục bao gồm nhiều yếu tố như cơ sở hạ tầng, tổ chức, dạy học, đào tạo, học tập, nội dung, công cụ, cũng như các yếu tố về kinh tế, môi trường, an ninh và quyền riêng tư.
Một số nghiên cứu trong nước cho rằng chuyển đổi số trong giáo dục là quá trình ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, mở rộng khả năng tiếp cận thông tin và kiến thức, giúp sinh viên chuẩn bị tốt hơn cho thế giới số hóa (Ngô, 2021). Bộ Thông tin và Truyền thông (2021) định nghĩa chuyển đổi số trong giáo dục là việc phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, áp dụng công nghệ số vào quản lý, giảng dạy, học tập, số hóa tài liệu và giáo trình, xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học. Đồng thời, triển khai mô hình giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học, nghệ thuật, kinh doanh, đào tạo tiếng Anh và kỹ năng công nghệ số, bảo đảm an toàn, an ninh mạng ở các cấp học.
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng định nghĩa của Bộ Thông tin và Truyền thông (2021) về chuyển đổi số trong giáo dục. Theo đó, “Chuyển đổi số là quá trình phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, tích hợp công nghệ số vào quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng các nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo hình thức trực tiếp và trực tuyến. Đồng thời, nghiên cứu còn đề cập đến việc triển khai mô hình giáo dục tích hợp các lĩnh vực như khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học, nghệ thuật, kinh doanh, đào tạo tiếng Anh và kỹ năng công nghệ số, đảm bảo an toàn và bảo mật mạng tại các cấp học”.
2.1.3 Quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số
- Quyết định tiếp tục thực hiện
Nghiên cứu của Hernandez và Smith (2022) cho rằng quyết định tiếp tục thực hiện là quá trình mà cá nhân chọn lựa duy trì hoặc theo đuổi một hành động hay mục tiêu trong bối cảnh phải đối mặt với khó khăn, thách thức hoặc thất bại. Điều này có thể hiểu là cá nhân sẽ tiếp thu và rút ra bài học từ những phản hồi và trải nghiệm, như Schunk (2023) đã đề cập. Bên cạnh đó, Wrosch và các cộng sự (2003) chỉ ra rằng khi đối mặt với khó khăn hoặc rào cản, cá nhân sẽ gặp thách thức trong việc duy trì hành động hoặc dự án của mình. Ngoài ra, một nghiên cứu khác cho thấy những cá nhân đam mê hoặc yêu thích một hoạt động nào đó thường sẽ kiên trì hơn trong quyết định tiếp tục thực hiện (Ryan & Deci, 2000).
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng khái niệm “Quyết định tiếp tục thực hiện là quá trình mà cá nhân lựa chọn để duy trì hoặc theo đuổi một hành động hoặc mục tiêu nào đó trong bối cảnh gặp phải khó khăn, thách thức hoặc thất bại” của Hernandez và Smith (2022) làm khái niệm chính. Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
- Quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số
Davis (1989) cho rằng sự chấp nhận công nghệ của giáo viên và học sinh đóng vai trò quan trọng trong quyết định tiếp tục tham gia chuyển đổi số. Quyết định này còn phụ thuộc vào trải nghiệm học tập, chất lượng các khóa học và tính ứng dụng của kiến thức trong các bài giảng (Alraimi và cộng sự, 2015).
Thanh Hương (2021) chỉ ra rằng việc tiếp tục thực hiện chuyển đổi số và mở rộng việc sử dụng công nghệ trong công việc hàng ngày thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như nhận thức về lợi ích của chuyển đổi số, sự hỗ trợ từ tổ chức và kỹ năng số của cá nhân. Theo Lê Văn An (2020), quyết định tiếp tục sử dụng các công nghệ và nền tảng kỹ thuật số (như phần mềm quản lý, công cụ cộng tác trực tuyến, hệ thống ERP, v.v.) sau khi đã trải nghiệm thường bị chi phối bởi tính tiện dụng, hiệu quả trong công việc và hỗ trợ kỹ thuật từ tổ chức.
Tóm lại, “Quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số là việc tiếp tục áp dụng công nghệ trong giảng dạy, học tập, quản lý lớp học, và tương tác giữa giáo viên và học sinh, sau khi đã xem xét và đánh giá hiệu quả cũng như những thách thức phát sinh từ việc áp dụng công nghệ”.
2.2 Cơ sở lý thuyết Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
2.2.1 Lý thuyết xác nhận – kỳ vọng ECM (Expectation – confirmation model)
Mô hình xác nhận – kỳ vọng (ECM), được phát triển từ lý thuyết xác nhận – kỳ vọng của Ollver (1980), là một công cụ phổ biến trong việc phân tích quá trình hình thành sự hài lòng của người tiêu dùng. Mô hình này chỉ ra mối liên hệ giữa sự hài lòng và kỳ vọng của người sử dụng sau khi trải nghiệm dịch vụ hoặc sản phẩm (Nam và cộng sự, 2020).
Lý thuyết này tập trung vào hành vi người dùng sau khi lần đầu sử dụng, một lĩnh vực mà học giả Bhattacherjee đã tiên phong nghiên cứu. Bhattacherjee (2001) đã kết hợp các yếu tố kỳ vọng, hiệu suất và tính hữu ích mà người dùng cảm nhận, qua đó phát triển mô hình xác nhận – kỳ vọng (ECM). Ông chỉ ra rằng sự hài lòng là yếu tố cơ bản giúp xây dựng lòng trung thành và là động lực chính thúc đẩy người dùng tiếp tục sử dụng hệ thống thông tin.
2.2.2 Lý thuyết chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model)
Dựa trên lý thuyết hành động hợp lý của Ajzen & Fishbein (1975), một mô hình chung để giải thích hành vi con người, Davis (1989) đã sử dụng mô hình này để phân tích các yếu tố quyết định sự chấp nhận công nghệ trong môi trường làm việc. Trong nghiên cứu của mình, Davis và cộng sự (1989) đã đề xuất mô hình TAM (Technology Acceptance Model), giải thích việc chấp nhận công nghệ thông qua ba yếu tố chính: nhận thức về tính hữu ích, tức là mức độ người dùng tin tưởng rằng công nghệ sẽ nâng cao hiệu quả công việc của họ; nhận thức về tính dễ sử dụng, hay niềm tin rằng công nghệ dễ dàng và thuận tiện khi sử dụng; và thái độ đối với công nghệ, là đánh giá tổng thể của người dùng về công nghệ, được thể hiện qua cảm giác tích cực hoặc tiêu cực khi sử dụng nó.
2.2.3 Lý thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) được Ajzen & Fishbein (1975) phát triển, cho rằng xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự báo quan trọng nhất về hành vi tiêu dùng. Đây là mô hình nghiên cứu theo quan điểm tâm lý xã hội, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi có ý thức của con người (Ajzen & Fishbein, 1980). Theo đó, ý định hành vi được hình thành từ hai yếu tố chính: yếu tố cá nhân, gọi là “thái độ” và yếu tố xã hội, gọi là “chuẩn mực”. Dựa trên thông tin thu được từ môi trường, người tiêu dùng sẽ đánh giá và giải thích để hình thành niềm tin, thái độ và quyết định mua hoặc sử dụng sản phẩm/dịch vụ, đồng thời phản hồi lại qua các hành động như chấp nhận hoặc từ chối sản phẩm/thương hiệu. Lý thuyết này giúp nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng, đặc biệt tập trung vào thái độ của khách hàng đối với sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ hoặc các vấn đề liên quan (Evans & Jamal, 2009).
2.2.4 Lý thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior)
Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA), bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi để cải thiện khả năng dự đoán hành vi của con người. TPB ra đời nhằm khắc phục hạn chế của TRA, khi cho rằng hành vi của con người hoàn toàn phụ thuộc vào kiểm soát lý trí. Giống như TRA, TPB cho rằng ý định hành vi là yếu tố thúc đẩy mức độ mà mọi người sẵn sàng nỗ lực thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Theo lý thuyết TPB của Ajzen (1991), hành vi được xác định bởi ba yếu tố: thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Nghiên cứu của Hansen, Jensen, & Solgaard (2004) kiểm tra cả hai mô hình TRA và TPB, cho thấy TPB giải thích hành vi của khách hàng hiệu quả hơn TRA.
2.2.5 Lý thuyết kết hợp TAM và TPB
Taylor và Todd (1995) đã mở rộng mô hình TAM bằng cách bổ sung hai yếu tố quan trọng: chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Mô hình TAM ban đầu giải thích cách thức nhận thức về tính hữu ích và tính dễ sử dụng của công nghệ ảnh hưởng đến thái độ và ý định sử dụng của người dùng, từ đó dự đoán sự chấp nhận và sử dụng hệ thống (Ajzen & Fishbein, 1975; Davis, 1989). Trong khi đó, mô hình TPB của Ajzen (1991) cho rằng thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi thực tế. Để giải thích rõ hơn về việc sử dụng công nghệ thông tin, Taylor và Todd (1995) đã kết hợp mô hình TAM và TPB. Theo mô hình kết hợp này, hành vi người dùng được quyết định bởi ý định, và ý định lại được hình thành dựa trên thái độ cá nhân đối với hành vi (Taylor & Todd, 1995). Tuy nhiên, mô hình TAM chỉ tập trung vào đặc điểm công nghệ và hành vi người dùng mà không phản ánh đầy đủ sự tác động của các yếu tố xã hội, nhận thức về công nghệ và ý định sử dụng như TPB. Vì vậy, sự kết hợp giữa TPB và TAM là cần thiết và hợp lý khi nghiên cứu hành vi chấp nhận phương tiện học trực tuyến của người học (Thúy & Trường, 2020). Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
2.2.6 Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT 2 (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology 2)
Nghiên cứu của Venkatesh, Thong và Xu (2012), dựa trên lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT), đã phát triển mô hình UTAUT2 để làm rõ hơn quá trình chấp nhận và sử dụng công nghệ. Mô hình UTAUT ban đầu gồm bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định và hành vi sử dụng công nghệ: hiệu suất kỳ vọng, nỗ lực kỳ vọng, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi (Venkatesh và cộng sự, 2003). Tuy nhiên, UTAUT2 đã loại bỏ yếu tố “tự nguyện” và bổ sung ba yếu tố mới: “động lực thúc đẩy” (Hedonic Motivation), “giá trị chi phí” (Price Value), và “thói quen” (Habit), nhằm làm rõ hơn tác động của động lực cá nhân và yếu tố cảm xúc đối với quyết định sử dụng công nghệ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm và sự tình nguyện tham gia có ảnh hưởng đến các yếu tố quyết định việc chấp nhận và sử dụng công nghệ. Mục tiêu của lý thuyết này là cung cấp một khung lý thuyết toàn diện, giúp tăng độ chính xác trong việc giải thích hành vi của người dùng (Alvesson & Rreman, 2007).
2.3 Một số nghiên cứu liên quan trước đây
2.3.1 Nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ý định và khả năng thực hiện chuyển đổi số ở các tổ chức khác nhau:
Chuyên (2023) đã nghiên cứu các trường tiểu học khu vực phía Bắc và phát hiện ra các yếu tố tác động đến việc chuyển đổi số là: chiến lược chuyển đổi số của nhà trường, điều kiện thực hiện, năng lực công nghệ số của giáo viên, biện pháp triển khai và mục đích hoạt động của trường.
Trang và Phương (2023) nghiên cứu các trường tiểu học ở các tỉnh biên giới phía Nam Việt Nam, chỉ ra rằng ý định chuyển đổi số của giáo viên, chiến lược của trường, cảm nhận về tính hữu ích của công nghệ số, điều kiện thực hiện và nhu cầu sử dụng công nghệ số là những yếu tố quan trọng.
Nghiên cứu của Hương và Sen (2021) tại Hà Nội về các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy trình độ sử dụng công nghệ, văn hóa doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng công nghệ, năng lực tài chính và mục tiêu của doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến ý định thực hiện chuyển đổi số.
Nghiên cứu của Nhan Cẩm Trí (2024) tại TP. Hồ Chí Minh đối với các doanh nghiệp logistics cho thấy chiến lược chuyển đổi số, bảo mật thông tin, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, sự hỗ trợ của chính phủ và thị hiếu khách hàng là các yếu tố ảnh hưởng chính.
Cuối cùng, nghiên cứu của Chử Bá Quyết (2021) xác định các yếu tố tác động đến chuyển đổi số thành công của doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm quy trình số hóa, an toàn dữ liệu, sự sẵn có của dữ liệu, chiến lược chuyển đổi số, nhân lực, quy trình kinh doanh, dịch vụ logistics bên ngoài, sự lựa chọn của khách hàng và sự hỗ trợ của chính phủ.
2.3.2 Nghiên cứu nước ngoài Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ trong giáo dục như:
Nghiên cứu của Wei, Abdullah và Nordin (2023) tại Thành phố Định Tây, Trung Quốc, tập trung vào nhận thức của giáo viên trung học cơ sở về việc sử dụng công nghệ trong dạy và học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. Kết quả cho thấy các yếu tố ảnh hưởng mạnh đến ý định sử dụng công nghệ bao gồm kinh nghiệm với công nghệ, kỹ năng sử dụng công nghệ và bối cảnh sử dụng (cơ sở hạ tầng công nghệ).
Nghiên cứu của Du, Liang, Zhang và Wang (2023) về sự hài lòng và hiệu quả giảng dạy trực tuyến của giáo viên tại các trường đại học, chỉ ra rằng hiệu quả dạy học trực tuyến, sự hài lòng khi dạy trực tuyến, và nhận thức về tính hữu ích và dễ sử dụng của công nghệ có ảnh hưởng lớn đến quá trình giảng dạy.
Nghiên cứu của Sánchez-Caballé và Esteve-Mon (2022) về năng lực giảng dạy số của giảng viên đại học tại hai trường đại học châu Âu cho thấy các yếu tố như năng lực công nghệ số của giảng viên, nguồn lực kỹ thuật số, và công việc dạy học đều có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình chuyển đổi số.
Bài nghiên cứu của Cavalcanti, Oliveira và Santini (2022) phân tích động lực thúc đẩy việc áp dụng chuyển đổi số và cho thấy hành vi có chủ đích, sự hài lòng, tính hữu ích và dễ dàng sử dụng của công nghệ là những yếu tố tác động mạnh nhất đến ý định chuyển đổi số.
Cuối cùng, Dubey và Sahu (2022) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng công nghệ học tập nâng cao của sinh viên và chỉ ra rằng khả năng tương thích, nguồn lực sẵn có, năng lực bản thân và sở thích môn học là các yếu tố quan trọng quyết định đến việc áp dụng công nghệ học tập.
Bảng 2.1 Bảng đánh giá các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.4 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
2.4.1 Giả thuyết nghiên cứu
Chiến lược chuyển đổi số là một phương thức đổi mới tổ chức, tập trung vào việc thay đổi sản phẩm, quy trình và các khía cạnh khác nhờ vào ứng dụng công nghệ mới. Chiến lược này bao gồm việc tích hợp công nghệ với các sản phẩm và dịch vụ, qua đó tạo ra những mô hình kinh doanh và dịch vụ mới (Matt và cộng sự, 2015). Đồng thời, chiến lược số có thể được hiểu là một chiến lược tổ chức, trong đó các nguồn lực kỹ thuật số được khai thác để tạo ra giá trị mới (Bharadwaj et al., 2013). Porfírio và cộng sự (2021) cho rằng chiến lược chuyển đổi số liên quan đến việc kết hợp các sáng kiến chiến lược bắt nguồn từ công nghệ thông tin và hệ thống thông tin, được thúc đẩy bởi các quyết định quản lý về việc kết nối các cơ sở hạ tầng hiện có.
Tác động của chiến lược chuyển đổi số thể hiện qua những thay đổi trong cách thức phân phối thị trường và tạo ra các hình thức tương tác mới với khách hàng, chẳng hạn như điều chỉnh sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu thay đổi của khách hàng thông qua mạng xã hội (Bilgeri và cộng sự, 2017). Quá trình lập kế hoạch chiến lược bao gồm việc xác định mục tiêu và phân bổ nguồn lực để thực hiện chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Theo Mikalef và cộng sự (2019), để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, cần xây dựng chiến lược số mạnh mẽ và luôn sẵn sàng áp dụng vào thực tiễn chuyển đổi số. Nghiên cứu của Yao và cộng sự (2023) chỉ ra rằng chiến lược đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết mối quan hệ giữa áp lực cạnh tranh và hiệu quả quản trị, làm nổi bật sự quan trọng của chiến lược chuyển đổi số trong quá trình này. Từ những lập luận trên tác giả đưa ra giả thuyết H1 như sau:
H1: Chiến lược chuyển đổi số tác động cùng chiều với quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.
Cơ sở hạ tầng công nghệ được hiểu là một tập hợp các tài nguyên công nghệ thông tin (CNTT) dùng chung, đóng vai trò nền tảng cho việc giao tiếp trong tổ chức và triển khai các ứng dụng kinh doanh hiện tại và tương lai. Cơ sở hạ tầng này bao gồm hai phần chính: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bao gồm phần cứng, phần mềm, mạng, viễn thông, ứng dụng và tài nguyên CNTT hữu hình và cơ sở hạ tầng con người (Chanopas và cộng sự, 2006). Trong môi trường giáo dục, cơ sở hạ tầng công nghệ không chỉ bao gồm các yếu tố kỹ thuật mà còn phải đảm bảo tính bền vững, tiện nghi và khả năng tiếp cận, nhằm tạo ra không gian học tập tốt hơn cho sinh viên và giáo viên (Miranda và cộng sự, 2021). Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Nghiên cứu cho thấy cơ sở hạ tầng công nghệ là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Công nghệ số, với sự xuất hiện của các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn và robot, đã giúp phá vỡ các rào cản kỹ thuật số, trở thành nền tảng cho việc tăng tốc chuyển đổi số trên toàn cầu (Sĩ, 2024). Theo nghiên cứu của Genest và Gamache (2020), để thực hiện chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần có các yếu tố tiên quyết như văn hóa kinh doanh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kiến thức và kỹ năng của nhân viên, cùng năng lực tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Peillon và Dubruc (2019) cũng chỉ ra rằng các rào cản lớn nhất trong việc chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa là hạ tầng kỹ thuật số không đủ mạnh, thiếu nguồn nhân lực có kỹ năng phù hợp với công nghệ mới và năng lực tài chính hạn chế của doanh nghiệp. Từ những lập luận trên tác giả đưa ra giả thuyết H2 như sau:
H2: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số tác động cùng chiều với quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.
Năng lực kỹ thuật số của giáo viên được hiểu là tổng hợp kiến thức, kỹ năng và khả năng áp dụng các công nghệ thông tin và phương tiện kỹ thuật số vào công tác giảng dạy, sáng tạo, giao tiếp, cộng tác, quản lý thông tin và phản hồi. Struyven và Meyst (2010) mô tả năng lực này như khả năng sử dụng công nghệ để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy. Theo McGill và cộng sự (2014), năng lực kỹ thuật số của giáo viên không chỉ là việc sở hữu công cụ mà là khả năng ứng dụng hiệu quả công nghệ vào công việc giảng dạy. UNESCO (2018) cũng định nghĩa năng lực kỹ thuật số là khả năng truy cập, quản lý, thấu hiểu, tích hợp và sáng tạo thông tin một cách an toàn và có trách nhiệm qua công nghệ, phục vụ cho công việc, học tập và tham gia xã hội.
Khái niệm này được mở rộng bởi Europea và Consejo (2018), khi họ cho rằng năng lực kỹ thuật số bao gồm khả năng sử dụng công nghệ an toàn và hiệu quả trong học tập, làm việc và tham gia vào xã hội, với những kỹ năng quan trọng như giao tiếp, sáng tạo nội dung số, bảo mật và tư duy phê phán. Nghiên cứu của Zhao và cộng sự (2021) chỉ ra rằng năng lực kỹ thuật số, mặc dù có thể được gọi theo nhiều thuật ngữ khác nhau, vẫn bao gồm khả năng truy cập, quản lý, hiểu và tạo thông tin thông qua các công nghệ số phục vụ các mục đích học tập, nghiên cứu và công việc chuyên nghiệp (Law và cộng sự, 2018).
Ngoài ra, năng lực kỹ thuật số của giáo viên cũng bao gồm việc sử dụng các công cụ giao tiếp kỹ thuật số với học sinh và đồng nghiệp, áp dụng công nghệ đám mây trong trao đổi tài liệu và học liệu, sử dụng phần mềm để tạo và điều chỉnh tài liệu học, bảo vệ thông tin cá nhân và xác định thông tin chính xác trong môi trường học tập trực tuyến (Zabolotska và cộng sự, 2021). Trong bối cảnh chuyển đổi số, các công cụ công nghệ như xây dựng cơ sở dữ liệu số, thiết kế bài giảng số và kiểm tra, đánh giá qua phần mềm đã trở thành phần không thể thiếu trong công tác giảng dạy (Giang, 2022). Những tiến bộ công nghệ này giúp nâng cao hiệu quả dạy học và tạo ra môi trường học tập thú vị và phát triển tư duy phản biện cho học sinh, điều này càng trở nên quan trọng trong thời kỳ chuyển đổi số hiện nay (Babenko và cộng sự, 2020). Từ những lập luận trên tác giả đưa ra giả thuyết H3 như sau: Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
H3: Năng lực kỹ thuật số tác động cùng chiều đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.
Nhu cầu sử dụng công nghệ kỹ thuật số (KTS) của giáo viên là mong muốn có được những công cụ tiên tiến nhằm cải thiện quá trình giảng dạy theo nhiều cách khác nhau. Cụ thể, công nghệ giúp giáo viên dễ dàng tạo ra tài liệu giảng dạy và cung cấp các phương pháp học tập mới, hỗ trợ học sinh học hiệu quả hơn (Varea và cộng sự, 2022). Trong thời đại công nghệ 4.0, sự phát triển của internet và kết nối kỹ thuật số tạo cơ hội cho giáo viên thiết kế bài giảng phù hợp, tận dụng tối đa tiềm năng của công nghệ số để làm bài giảng trở nên hiệu quả và dễ tiếp thu, đồng thời tăng sự hứng thú cho người học (Carvalho và cộng sự, 2022).
Việc tích hợp công nghệ vào giáo dục không chỉ mang lại cho học sinh một trải nghiệm học tập hấp dẫn mà còn giúp duy trì sự hứng thú của họ với các chủ đề bài giảng mà không bị phân tâm. Các công cụ công nghệ như máy chiếu, máy tính và thiết bị tiên tiến khác có thể làm cho việc học trở nên sinh động và thú vị hơn (Penprase, 2018). Bằng cách kết hợp các tài nguyên công nghệ trong các nhiệm vụ lớp học, học sinh có thể tham gia vào các nhóm, thảo luận và thuyết trình vấn đề mà giáo viên đưa ra, từ đó làm cho quá trình học tập trở nên năng động và hấp dẫn hơn (Lopez-Fernandez, 2021). Từ những lập luận trên tác giả đưa ra giả thuyết H4 như sau:
H4: Nhu cầu sử dụng kỹ thuật số tác động cùng chiều với quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.
Tính hữu ích của công nghệ kỹ thuật số (KTS) trong dạy học được hiểu là mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng một hệ thống công nghệ cụ thể sẽ nâng cao hiệu quả công việc của họ (Davis, 1989). Các công cụ kỹ thuật số không chỉ giúp giải quyết những vấn đề sư phạm hiện có mà còn cải thiện hiệu quả giảng dạy (Pankowska và cộng sự, 2020). Tính hữu ích của KTS còn thể hiện ở khả năng tiết kiệm thời gian và công sức, nâng cao động lực học tập của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá và phân tích hiệu suất học tập, cũng như tăng cường giao tiếp trong cộng đồng giáo dục, giúp duy trì việc học và đào tạo thông qua các nền tảng ảo (Althubyani, 2024).
Nghiên cứu của Mugo, Njagi và Motanya (2017) chỉ ra rằng tính hữu ích được cảm nhận là mức độ mà người dùng tin rằng công nghệ sẽ mang lại lợi ích cho họ. Khi người dùng nhận thấy công nghệ có thể cải thiện cuộc sống của họ, khả năng sử dụng nó sẽ cao hơn. Tính hữu ích của KTS cũng có thể được đánh giá qua khả năng nâng cao chất lượng giáo dục mà các cơ sở giáo dục cung cấp (Teo, 2011). Nếu các giải pháp công nghệ mang lại giá trị gia tăng như hiệu quả công việc, giảm bớt khối lượng công việc và tiết kiệm thời gian, người dùng sẽ có xu hướng sử dụng chúng nhiều hơn. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhận thức về tính hữu ích có mối liên hệ tích cực với thái độ và sự sẵn lòng sử dụng công nghệ mới (Ashraf và cộng sự, 2020; Ashrafi và Easmin, 2022; Lara-Rubio và cộng sự, 2020; Singh và cộng sự, 2020). Vì vậy, tính hữu ích được cảm nhận là yếu tố quyết định giá trị của công nghệ đối với người dùng (Zhao và Bacao, 2021). Từ những lập luận trên tác giả đưa ra giả thuyết H5 như sau:
H5: Tính hữu ích của kỹ thuật số có tác động cùng chiều với quyết định thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.
Tính dễ sử dụng của công nghệ được định nghĩa là mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không đòi hỏi nhiều nỗ lực (Davis, 1993). Cùng quan điểm, nghiên cứu của Davis và cộng sự (1989) cho rằng tính dễ sử dụng phản ánh sự nhận thức của người dùng về việc sử dụng dịch vụ công nghệ một cách thoải mái và không cần tốn công sức. Theo Al-Maroof và các cộng sự (2021), tính dễ sử dụng là niềm tin của khách hàng rằng việc sử dụng một hệ thống sẽ không đòi hỏi nhiều nỗ lực. Nghiên cứu của Akbari và các tác giả (2020) liên kết tính dễ sử dụng với sự dễ dàng trong việc truy cập, sử dụng, giao diện và tính khả dụng của công nghệ học tập thông minh. Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
Nghiên cứu của Mugo và cộng sự (2017) chỉ ra rằng nhận thức về tính dễ sử dụng là mức độ mà người dùng cảm thấy không cần tốn nhiều công sức để sử dụng công nghệ. Nếu người dùng nhận thấy công nghệ dễ sử dụng, họ sẽ có xu hướng sử dụng nó nhiều hơn. Davis và Arbor (1989) cũng nhận định rằng khi người dùng tin rằng việc sử dụng sản phẩm công nghệ sẽ không đòi hỏi nhiều nỗ lực, họ sẽ cảm thấy thoải mái và dễ dàng hơn khi sử dụng sản phẩm đó. Nhận thức về tính dễ sử dụng liên quan đến sự đơn giản trong việc làm quen hoặc xử lý công nghệ mới và niềm tin này sẽ thúc đẩy thái độ tích cực đối với việc áp dụng và tiếp tục sử dụng công nghệ (Taylor và Todd, 1995). Hơn nữa, Yuanquan và cộng sự (2008) đã chứng minh rằng nhận thức về tính dễ sử dụng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tính hữu ích và ý định hành vi sử dụng công nghệ. Từ những lập luận trên tác giả đưa ra giả thuyết H6 như sau:
H6: Tính dễ dàng sử dụng của kỹ thuật số có tác động cùng chiều với quyết định thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.
Rủi ro bảo mật trong chuyển đổi số (CĐS) liên quan đến những nguy cơ có thể gây tổn thất tài chính do các vấn đề như mất mát dữ liệu, trộm cắp, truy cập trái phép hoặc các hành vi gian lận và sử dụng sai mục đích (Kalakota và Whinston, 1997). Bảo mật thông tin là quá trình bảo vệ các dữ liệu và hạ tầng thông tin, nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và sự ổn định của các quy trình liên quan đến thông tin trước các tác động có thể đến từ cả yếu tố tự nhiên và các mối đe dọa có chủ ý (Litvinenko, 2019). Theo Vimalkumar và cộng sự (2021), rủi ro về quyền riêng tư thường được cân bằng bởi hai yếu tố quan trọng: lo ngại về quyền riêng tư và niềm tin vào sự an toàn của công nghệ mới. Đặc biệt, đối với các ứng dụng trực tuyến, rủi ro bảo mật luôn là một vấn đề lớn mà người dùng quan tâm. Họ mong muốn các sản phẩm và dịch vụ có mức độ bảo mật cao và ít có khả năng gặp phải rủi ro (Wu và cộng sự, 2015; Lim và Choi, 2015). Do đó, vấn đề bảo mật và an toàn thông tin có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình chuyển đổi số trong các cơ sở giáo dục (Rasskazovaa và Yurgensonb, 2021). Từ những lập luận trên tác giả đưa ra giả thuyết H7 như sau: Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
H7: Rủi ro bảo mật có tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên.
2.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Nội dung chương đã làm rõ hai vấn đề. Thứ nhất, có rất ít các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam quan tâm đến sự tác động của các nhân tố đến quyết định tiếp tục thục hiện chuyển đổi số của giáo viên. Thứ hai, nghiên cứu làm rõ các khái niệm về chuyển đổi, chuyển đổi số trong giáo dục, quyết định tiếp tục thực hiện và các lý thuyết liên quan đến hành vi như ECM, TAM, TRA, TPB, UTAUT2. Từ các lập luận trên, tác giả đã đưa ra các giả thuyết và đề xuất mô hình bảy nhân tố tác động đến quyết định tiếp tục thực hiện chuyển đổi số của giáo viên. Luận văn: Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến quyết định chuyển đổi số
