Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
- Tiêu đề
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Bình Dương.
- Tóm tắt
Nghiên cứu thực hiện nhằm mục tiêu xác định “các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh tại ngân hàng VietinBank – Bình Dương” thông qua 200 khảo sát bằng phương pháp chọn mẫu phi xác suất. Đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA được thực hiện. Kết quả phân tích hồi quy đa tham số cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn tại NHCS gồm 07 thành phần theo mức độ ảnh hưởng giảm dần là: (1) LS > (2) TT > (3) NV > (4) GT > (5) CS . Kết quả thực nghiệm cho thấy yếu tố “lãi suất, phí cạnh tranh” có tác động động lớn nhất đếnquyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp. Dựa trên các nhân tố này, tác giả đưa ra các khuyến nghị để ngân VietinBank – Chi nhánh Bình Dương có thể thu hút thêm các khách hàng tiềm năng.
- Từ khoá
Khách hàng doanh nghiệp; Quyết định vay vốn; Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương
ABSTRACT
- Title
The factors affecting the decision-making of customers in choosing bank loans at the Viet Nam Bank for Industry and Trade (VietinBank) Binh Duong branch.
2. Abstract Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
“Research was conducted with the objective of identifying the “factors affecting loan decisions of customers of Vietinbank – Binh Duong branch through 200 surveys using the probability sampling method. The reliability assessment was done through the Cronbach’s Alpha coefficient and EFA factor analysis was performed. The results of multiple regression analysis showed that the factors affecting loan decisions at Vietinbank include 07 components in decreasing order of impact: (1) LS > (2) TT > (3) NV > (4) GT > (5) CS > (6) DT. The results show that the factor “interest rate, competitive fee” has the greatest impact on the loan selection decision of business customers. Based on these factors, the author provides recommendations for Vietinbank – Binh Duong branch to attract more potential customers.”
- Keywords
Corporate customer; decision-making; Vietinbank Branch Bình Dương.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do nghiên cứu
Giữ vai trò trung gian tài chính, các ngân hàng thương mại góp phần vô cùng quan trọng trong các hoạt động tài chính của nền kinh tế. Trong khu vực ngân hàng, hoạt động tín dụng giữ vai trò quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng đáng kể trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, đặc biệt là cho vay đối với các khách hàng doanh nghiệp. Việc cho vay cho khách hàng doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng để hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế. Nó cung cấp nguồn vốn để các doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh, tạo việc làm và góp phần tạo ra sự phát triển của nền kinh tế. Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh hiện nay, các ngân hàng đều cố gắng cung cấp các sản phẩm vay vốn tốt nhất với lãi suất ưu đãi, điều kiện vay linh hoạt và hỗ trợ tài chính cho khách hàng doanh nghiệp của họ. Do vậy, việc giữ chân được các khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng mới đang ngày càng thách thức hơn đối với các các NHTM hiện nay.
Cùng bối cảnh trên, theo số liệu từ Ngân hàng nhà nước Chi nhánh Bình Dương năm 2022, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh Bình Dương phát triển mạnh mẽ cả quy mô, mạng lưới hoạt động, các dịch vụ ngân hàng cung ứng ngày càng đa dạng và hiện đại với mạng lưới TCTD, công ty tài chính và tổ chức tài chính vi mô trên địa bàn là 79 đơn vị, điều này cho thấy mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng đang ngày càng khốc liệt hơn, nhất là lĩnh vực cho vay khách hàng doanh nghiệp. Tình hình này đã ảnh hưởng trực tiếp hoạt động kinh doanh của VietinBank – Chi nhánh Bình Dương. Lượng khách hàng mới tăng trưởng chậm so với thời điểm 2018 (trước khi xảy ra đại dịch Covid-19). Nhận thức được áp lực từ thị trường ngân hàng và nền kinh tế, Ban Giám đốc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương đã tìm nhiều giải pháp để cải thiện song chưa đem lại kết quả cao, một phần nguyên nhân do chỉ dựa trên đánh giá phân tích chủ quan từ chi nhánh mà chưa tìm hiểu thực tế khách hàng cũng như sử dụng các công cụ nghiên cứu khoa học để đánh giá.
Bên cạnh đó, Vietinbank Bình Dương có trụ sở tại khu vực trung tâm thành phố Bình Dương là nơi tập trung của nhiều doanh nghiệp với nhiều quy mô khác nhau, trong đó có những doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài với nhu cầu vay vốn lưu động thường xuyên như một chiến lược tài chính của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này là khách hàng tiềm năng mà nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng có vốn cổ phần nhà nước như Vietcombank, BIDV hay Agribank muốn tiếp cận và cung cấp dịch vụ, do vậy để thu hút được các doanh nghiệp này quyết định vay vốn tại Vietinbank Bình Dương trước sự cạnh tranh của những ngân hàng lớn khác trong khu vực thì chi nhánh cần phải tìm hiểu được đặc điểm của khách hàng và những nhân tố tác động đến khách hàng doanh nghiệp để có những chính sách phù hợp.
Từ những thực tế trên, là nhân viên đang làm việc tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương tác giả mong muốn góp phần cải thiện hoạt động kinh doanh tại chi nhánh hiện nay dựa trên những kiến thức đã học từ cao học ngành tài chính ngân hàng, vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận văn nhằm xác định và đo lường được mức độ tác động của các nhân tố đến quyết định vay vốn của nhóm khách hàng doanh nghiệp. Từ đó đề xuất những hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả cho vay vốn đối với khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh hiện nay.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu tổng quát trên, luận văn xây dựng các mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, xác định có nhân tố có ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương.
Thứ hai, đo lường mức độ tác động của nhân tố đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương.
Thứ ba, Đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự lựa chọn của KHDN để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu đã xác định, luận văn đặt ra các câu hỏi nghiên cứu gồm:
Câu hỏi 1: Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương?
Câu hỏi 2: Mức độ tác động của nhân tố đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương như thế nào?
Câu hỏi 3: Sau khi nghiên cứu, những hàm ý quản trị nào được đưa ra nhằm gia tăng sự lựa chọn của khách hàng doanh nghiệp quyết định vay vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương?
1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố có ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại VietinBank – Chi nhánh Bình Dương.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Các khách hàng doanh nghiệp hiện đang vay vốn tại VietinBank – Chi nhánh Bình Dương.
Phạm vi thời gian: Thời gian khảo sát của luận văn từ tháng 11 năm 2022 đến tháng 01 năm 2023.
1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Để thực hiện luận văn, luận văn được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua hai giai đoạn nghiên cứu là nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính, phương pháp này được kế thừa từ các nghiên cứu là : File and Prince (1991); Nielsen et al (1995); Schlesinger và cộng sự (1987); Edris and Almahmeed (1997); Ernst&Young (2013); Kennington et al (1996); Đỗ Văn Lộc, Lê Vũ Hà, Huỳnh Mẫn Kỳ (2022); Anderson và cộng sự (1976); Rehman và Ahmed (2008) và Rao (2010):
Giai đoạn nghiên cứu định tính: Trong giai đoạn nghiên cứu định tính, luận văn tiến hành tìm hiểu, tổng hợp cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài để xây dựng mô hình nghiên cứu và thang đo sơ bộ. Từ bảng thang đo sơ bộ, tác giả thực hiện phỏng vấn một số cán bộ, nhân viên trong ngân hàng cùng với một số khách hàng là những người đang vay vốn tại VietinBank nhằm điều chỉnh, bổ sung thang đo để phù hợp với các đối tượng khảo sát hơn. Từ kết quả nghiên cứu sơ bộ, tác giả hình thành được thang đo chính thức và bảng câu hỏi khảo sát để tiến hành nghiên cứu chính thức.
Giai đoạn nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu định lượng được bắt đầu bằng việc khảo sát khách hàng để thu thập dữ liệu nghiên cứu. Sau khi làm sạch và mã hoá dữ liệu thu thập được, tác giả sẽ tiến hành phân tích hồi quy dữ liệu bằng phần mềm SPSS 22.0. Với SPSS 22.0, tác giả đánh giá mức độ tin cậy của thang đo nghiên cứu, phân tích khám phá nhân tố EFA để xác định các biến phụ thuộc và biến độc lập cho mô hình nghiên cứu. Từ các nhân tố được lựa chọn, luận văn phân tích hồi quy mô hình để xác định mức độ tác động của các biến độc lập đến phụ thuộc là quyết định vay vốn của khách hàng.
1.6. Ý nghĩa của luận văn
Về mặt lý luận, đề tài có sự hệ thống hóa khung lý thuyết và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và ngoài nước về xu hướng lựa chọn ngân hàng để vay vốn, từ đó phát triển thành hệ thống thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp.
Về mặt thực tiễn, qua việc đo lường tác động của từng yếu tố để tìm ra nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KHDN, tác giả đưa ra một số hàm ý giải pháp nhằm mục đích là vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa duy trì được khách hàng cũ đồng thời thu hút thêm nhiều khách hàng mới, tăng trưởng dư nợ và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong thời điểm hiện nay. Bên cạnh đó, đề tài có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu có liên quan.
1.7. Kết cấu của luận văn
Ngoài danh sách các từ viết tắt, bảng, sơ đồ, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có các phần chính sau đây:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 1 sẽ giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu – trình bày các nội dung sau: tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và pham vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và kết cấu của đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu – trình bày cơ sở lý thuyết liên quan, tổng quan về các nghiên cứu trước từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu – trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định các thang đo, các phương pháp phân tích nhằm đo lường các khái niệm nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu – trình bày thống kê mô tả về mẫu khảo sát, kiểm định mô hình và đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích, đánh giá các kết quả có được và kết luận các giải thuyết nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Chương 5 sẽ tóm tắt kết quả chính của nghiên cứu, đưa ra hàm ý quản trị, đồng thời trình bày những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
Tóm tắt chương 1 Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Chương 1 luận văn đã trình bày tổng quan về luận văn bao gồm: lý do nghiên cứu đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu luận văn, phương nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, ngoài ra luận văn còn trình bày ý nghĩa của đề tài và kết cấu toàn bài của luận văn.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 trình bày những lý thuyết tổng quan về sản phẩm cho vay, cho vay khách hàng doanh nghiệp đồng thời khảo lược các công trình nghiên cứu trước đây để đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu dựa trên khái niệm, học thuyết và các nghiên cứu trước đây về cho vay của các ngân hàng.
2.1 Tổng quan về cho vay và cho vay khách hàng doanh nghiệp
2.1.1. Khái niệm
Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), vay vốn ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang cho khách hàng trong một khoản thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Theo Trầm Thị Xuân Hương (2012), ngân hàng cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng cho mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả nợ gốc và lãi.
Theo Luật các tổ chức tín dụng ngày 16/06/2010, vay vốn ngân hàng được định nghĩa như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian xác định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.”
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu cho vay là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng khi thực hiện tín dụng ngân hàng. Đây là nghiệp vụ chủ yếu khi ngân hàng quyết định cấp tín dụng cho khách hàng và cũng là nghiệp vụ mang về thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với ngân hàng.
2.1.2. Một số nguyên tắc cho vay của ngân hành thương mại
Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), Nguyên tắc cho vay góp phần rất quan trọng vào việc hạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản:
Sàng lọc: Lựa chọn đối nghịch trong các thị trường cho vay đòi hỏi ngân hàng phải lọc những người đi vay có triển vọng tốt ra khỏi những người có triển vọng xấu, nhờ vậy các khoản cho vay sẽ an toàn hơn và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Giám sát: Ngân hàng phải tiến hành hoạt động giám sát nhằm hạn chế rủi ro đạo đức, cần xác định rõ những quy định và hạn chế trong các hợp đồng vay, đồng thời giám sát xem người đi vay có tuân thủ theo các quy định, hạn chế đó không và có thể cưỡng chế thi hành nếu người đi vay không tuân thủ.
Quan hệ khách hàng thường xuyên và lâu dài: Một khách hàng đi vay có quan hệ tín dụng với ngân hàng trong khoảng thời gian dài trước đó thì ngân hàng sẽ nhìn vào các hoạt động quá khứ của khách hàng để nắm bắt được một số lượng thông tin đáng kể về người này. Điều này sẽ giảm rủi ro đạo đức trong cho vay, tiết kiệm được chi phí và thời gian thẩm định khách hàng.
Tài sản đảm bảo và có số dư bù: Ngân hàng yêu cầu người đi vay phải có tài sản đảm bảo, đây là nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng khi nguồn thứ nhất là nguồn thu nhập từ hoạt động kinh doanh của người đi vay không đảm bảo trả được nợ.
Hạn chế tín dụng: Đó là việc ngân hàng từ chối cho vay mặc dù người vay sẵn lòng thanh toán lãi suất đã được công bố thậm chí với một lãi suất cao hơn.
Tương hợp ý muốn: Đó là vấn đề giữa ngân hàng và khách hàng về: nhu cầu vay vốn, quy mô của loại hình cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, thời điểm giải ngân, …
Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích đã thỏa thuận với ngân hàng, không được trái với quy định của pháp luật và của ngân hàng cấp trên. Mục đích của việc cho vay được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái phép và viêc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh hoạt động của ngân hàng.
Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn và lãi đúng thời hạn: Đây là điều bắt buộc đối với khách hàng nhận tiền vay của ngân hàng và là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển. Trong hợp đồng tín dụng luôn ghi rõ thời hạn hoàn trả vốn và lãi, khách hàng phải cam kết hoàn trả đúng thời hạn đó.
2.1.3. Vai trò của cho vay Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), hoạt động cho vay đảm bảo nhu cầu về vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh vốn nhu cầu tiêu dùng cho các cá nhân trong nền kinh tế: Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp. Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Ngoài ra cho vay còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện cung cấp vốn cho đầu tư phát triển. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và cố định của các doanh nghiệp. Vì vậy hoạt động cho vay đã góp phần động viên vật tư đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Riêng trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối, lạm phát và thất nghiệp vẫn còn ở mức độ cao. Vì vậy, thông qua việc đầu tư tín dụng sẽ góp phần sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Mặt khác, thông qua hoạt động cho vay mà sử dụng nguồn lao động và nguồn nguyên liệu một cách hợp lý, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.
Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, mà vốn này nằm phân tán ở khắp mọi nơi, trong tay các nhà doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước và của cá nhân, trên cơ sở đó cho các đơn vị kinh tế vay. Tuy nhiên, quá trình đầu tư tín dụng không phải rải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu, mà việc đầu tư được tiến hành một cách tập trung, chủ yếu là cho các doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Đầu tư tập trung là quá trình tất yếu, vừa đảm bảo tránh rủi ro tín dụng, vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế.
Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp: Đặc trưng cơ bản của cho vay là hoạt động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức. Vì vậy, hoạt động của cho vay đã góp phần kích thích sử dụng vốn vay có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng thì các doanh nghiệp phải tôn trọng hoạt động cho vay, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay theo đúng thời hạn và tôn trọng các điều kiện khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện để nâng cao doanh lợi doanh nghiệp. Hoạt động cho vay của các NHTM đã và đang ngày một có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế xã hội.
2.1.4. Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng của thương mại
2.1.4.1 Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp
Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009), cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản bằng tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Khách hàng doanh nghiệp của các NHTM có nhiều phân khúc tương ứng với những đặc điểm khác nhau, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh, quyết định đầu tư, vay vốn của các doanh nghiệp. Có ba nhóm khách hàng doanh nghiệp chính bao gồm: Khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), khách hàng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và Khách hàng doanh nghiệp quy mô lớn.
2.1.4.2. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009), ngân hàng thương mại được coi như là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt bởi lẽ đây là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay là hoạt động đóng góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Cho vay doanh nghiệp của NHTM có những đặc điểm sau:
- Đối tượng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng và phong phú, từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các doanh nghiệp xây lắp hay cho vay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các doanh nghiệp sản xuất cà phê, cao su…
- Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn và có thể rất lớn
- Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý của doanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân. Bên cạnh đó các doanh nghiệp có giá trị khoản vay lớn thì tài sản đảm bảo thường phức tạp và khó định giá hơn, hầu hết các doanh nghiệp thường thế chấp chính nhà máy, máy móc thiết bị và hàng hóa luân chuyển của mình để đảm bảo cho khoản vay. Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
- Nguồn trả nợ của người vay từ tiền bán hàng (T-H-T’), lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác.
- So với cho vay khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính. Các thông tin về tài chính được khách hàng cung cấp từ các báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thuế… Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không, uy tín tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp cao hay thấp.
- Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng thương mại. Do đó, các lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khoản cho vay doanh nghiệp.
2.1.4.3. Vai trò của cho vay khách hàng doanh nghiệp
Là một hoạt động kinh tế quan trọng trong nền kinh tế xã hội, cho vay khách hàng doanh nghiệp có những vai trò cơ bản như sau:
- Góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì sự hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lưu thông nên hiện tượng thừa và thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở doanh nghiệp. Từ đó tín dụng góp đã phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, là nguồn cung ứng vốn cho doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế. Mặt khác, với mục tiêu mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng thị phần đối với các doanh nghiệp thì yêu cầu về nguồn vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Để đẩy mạnh tiến độ sản xuất, doanh nghiệp không chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự có mà còn phải biết tận dụng những dòng chảy khác của vốn trong xã hội. Tín dụng đã chứng minh được đây là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, tín dụng còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho doanh nghiệp, tổ chức trong nền kinh tế. Có thể nói, trong mọi nền kinh tế – xã hội, tín dụng đều phát huy vai trò to lớn nói trên của nó:
Đối với doanh nghiệp: vốn vay luôn chiếm một vị trí đáng kể trong cơ cấu vốn lưu động và cố định của các doanh nghiệp. Nói cách khác, vay vốn ngân hàng là công cụ tài trợ vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.
Đối với công dân: vay vốn ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
Đối với doanh nghiệp và xã hội: vay vốn ngân hàng làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn.
- Góp phần tạo công ăn việc làm và ổn định đời sống tinh thần, vật chất cho người dân
Đây là hệ quả tất yếu của hai vai trò nêu trên: nền kinh tế phát triển trong một môi trường ổn định về tiền tệ là điều kiện để sản xuất hàng hoá và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thoả mãn nhu cầu đời sống của các thành viên trong xã hội. Mặt khác, do cho vay doanh nghiệp cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội do đó có thể thu hút được nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Góp phần nâng cao tiềm lực tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo quy luật khách quan, trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh là một tất yếu, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Việc tạo dựng thương hiệu và phát triển thị phần luôn là thử thách lớn đối với các doanh nghiệp đang trong quá trình khẳng định mình trên thương trường. Để mở rộng sản xuất, tạo vị thế cho mình, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp phải thường xuyên tìm biện pháp huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, trong đó vốn vay ngân hàng được coi là nguồn vốn bổ sung chủ yếu. Khi yêu cầu về vốn của doanh nghiệp được đáp ứng thì mục đích chiễm lĩnh thị trường, tạo thế cạnh tranh của doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn.
- Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thực chất, ngân hàng cũng là doanh nghiệp kinh doanh, nhưng ở dạng kinh doanh tiền tệ hoạt động theo cơ chế “vay để cho vay”, nghĩa là, ngân hàng cũng phải đi vay, phải đi vay, phải tiến hành huy động vốn và có quy định thời hạn trả. Vì vậy, trước khi ký kết hợp đồng vay vốn, ngân hàng tiến hành thẩm định tình hình hoạt động kinh doanh, năng lực tài chính của doanh nghiệp rất kỹ càng và ngân hàng chỉ cho vay đối với những khách hàng có kết quả hoạt động kinh doanh hiệu quả, tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng trả nợ khi đến hạn.
Yêu cầu này của ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay vốn tạo điều kiện nâng cao khả năng tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp.
Mặt khác, thông qua hoạt động cho vay, doanh nghiệp được cung cấp vốn kịp thời tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh, vòng quay vốn được luân chuyển thuận lợi, nhanh chóng, thúc đẩy hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.4.4. Phân loại cho vay doanh nghiệp Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Để phân loại hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, riêng trong phạm vi luận văn này, tác giả phân loại cho vay khác hàng doanh nghiệp dựa trên hai tiêu chí sau: Thời hạn cho vay và Phương thức cho vay.
Phân loại theo thời hạn cho vay bao gồm: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn.
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp. Đặc điểm của loại hình tín dụng này là có mức độ rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, giảm được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô.
Cho vay trung hạn: Là các món vay có khoảng thời gian trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu được mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh, hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập…
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm, phổ biến nhất là 7-15 năm. Cho vay dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như xây dựng nhà ở, sân bay, cầu đường, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng nói chung cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng: Thời gian cho vay càng dài thì rủi ro càng lớn nên lãi suất càng cao. Hơn nữa, việc phân chia theo thời gian còn giúp ngân hàng đảm bảo sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động được và số tiền cho vay.
- Phân loại theo phương thức cho vay:
Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành ngày 31/12/2001, Ngân hàng tiến hành cho vay theo các phương thức sau:
Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Phương thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, sản xuất không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thương vụ.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thức cho vay mà ngân hàng sẽ cấp một hạn mức vay nhất định, doanh nghiệp duy trì mức dư nợ không vượt quá mức đã cấp. Hình thức cho vay này yêu cầu tài sản đảm bảo, thông thường là bất động sản, giấy tờ có giá hay những tài sản khác tùy theo mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng.
Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
Cho vay hợp vốn: Là loại hình cho vay, trong đó một nhóm ngân hàng thương mại cùng tham gia tài trợ chung một dự án, một khách hàng vay. Trong đó một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp các ngân hàng còn lại để cùng cho vay.
Loại hình này áp dụng trong trường hợp dự án có quy mô vốn lớn, vượt quá khả năng tài trợ của một ngân hàng hoặc vượt quá qui định giới hạn của luật pháp. Nó cũng được sử dụng với mục tiêu phân tán rủi ro của ngân hàng
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chứ tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải tuân thủ theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng chữ ký được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên thụ hưởng bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh (tùy theo từng loại bảo lãnh) thay cho khách hàng của mình, khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên thụ hưởng bảo lãnh.
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại Quy chế cho vay và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay.
- Cho vay theo quy mô khách hàng Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Cho vay nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV). Các DNNVV có nhu cầu vốn lớn trong nền kinh tế, tuy nhiên nếu xét về quy mô từng doanh nghiệp thì khoản vay đó thực sự không lớn so với tổng dư nợ cho vay tại các ngân hàng. Về khả năng, các ngân hàng luôn đáp ứng được các nhu cầu này tại bất kỳ thời điểm nào mà không gặp bất kỳ vấn đề gì về thanh khoản. Tuy nhiên, việc cho vay các DNNVV luôn gặp những khó khăn mang tính quy luật, đó là rủi ro mất vốn cao, các DNNVV không đủ khả năng chứng minh kế hoạch kinh doanh, đôi khi pháp lý còn chưa chặt chẽ để đáp ứng các yêu cầu mang tính tối thiểu của ngân hàng. Cho vay DNNVV thường xuyên bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan như bản thân chủ doanh nghiệp, các mối quan hệ của chủ doanh nghiệp (cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè,…), do đó việc thẩm định và thu hút cho vay đôi khi phải cần mở rộng thêm các yếu tố gia đình.
Với vai trò ngày càng quan trọng của mình, các DNNVV đã tạo ra được sự chú ý và chính bản thân ngân hàng cũng nhận thấy rằng cần phải xem xét lại tính hiệu quả đối với việc cho vay các đối tượng này nhằm có chiến lược phát triển ổn định và bền vững:
Về quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ: dư nợ của từng khách hàng có thể nhỏ so với số vốn của ngân hàng nhưng số lượng các DNNVV đông đảo, xét trong toàn bộ nhóm thì dư nợ của chúng cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ của một ngân hàng.
Cho vay nhóm khách hàng doanh nghiệp (FDI). Theo báo cáo của Ban Kinh tế Trung ương (TBTCO), hiện nay, trong cơ cấu kinh tế của nước ta, khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp 20,13% GDP, chiếm 72% tổng giá trị xuất khẩu, khoảng 50% sản lượng công nghiệp, nhưng hiệu ứng lan tỏa ra nền kinh tế còn thấp.
Thông qua các doanh nghiệp FDI, nền kinh tế Việt Nam được công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đầu tư đa dạng: Ngày càng nhiều nhà đầu tư lớn đầu tư vào các ngành lĩnh vực của việt nam, trong đó dẫn đầu vẫn là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; thứ hai là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện và thứ ba là lĩnh vực kinh doanh bất động sản khu công nghiệp được chú trọng đặc biệt trong những năm gần đây.
Chiếm tỷ trọng cao trong xuất nhập khẩu và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động: Các DN FDI đóng góp khoảng 10% GDP trong việc sản xuất hàng hoá tiêu dùng trong nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đóng gói, vận chuyển hàng hoá, sử dụng đất đai, tài nguyên, văn phòng, nhà xưởng, điện nước, sinh hoạt …. Đáng chú ý, qua việc triển khai các dự án FDI, sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ các ngành thâm dụng lao động tay nghề thấp sang các ngành sử dụng nhiều lao động chất lượng cao hơn được đẩy mạnh. Trong thời kỳ đầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài, lao động thường tập trung vào một số ngành sản xuất thâm dụng lao động như dệt may, da giày. Đến nay, tỷ trọng lao động trong một số ngành sản xuất áp dụng công nghệ cao đang gia tăng nhanh chóng, tỷ trọng lao động trong ngành điện tử và sản phẩm điện tử đã tăng liên tục trong những năm gần đây. Năng suất lao động cũng có sự chuyển biến tích cực nhờ nguồn vốn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Năng suất lao động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao gấp 3-5 lần năng suất lao động chung của cả nước, cao hơn của toàn bộ khu vực doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp ngoài Nhà nước nói riêng.
Những đóng góp của các doanh nghiệp FDI thực sự đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên cả góc độ đóng góp cho tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, góp phần gia tăng đầu tư xã hội, tăng trưởng GDP, tạo hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, nâng cao trình độ, năng lực sản xuất – kinh doanh và quản lý đối với các doanh nghiệp trong nước.
Cho vay nhóm khách hàng doanh nghiệp lớn. Với tiềm lực về vốn cũng như tài sản đảm bảo, những doanh nghiệp quy mô lớn thường dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn vay cũng như lựa chọn những đối tác ngân hàng để sử dụng dịch vụ. Đối với các ngân hàng thương mại, việc liên kết được với một doanh nghiệp lớn sẽ đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng, nâng cao giá trị thương hiệu, mở rộng được hệ sinh thái khách hàng liên quan, do đó nhiều ngân hàng hiện nay có những chính sách ưu đãi riêng cho doanh nghiệp lớn, điều mà các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa không được hoặc hạn chế hơn.
Cho vay doanh nghiệp lớn cũng rủi ro không kém doanh nghiệp FDI vì quy mô nợ của một khách hàng đã chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của một ngân hàng, cho vay có tài sản bảo đảm chiếm tỷ trọng thấp. Vấn đề thẩm định khách hàng gặp nhiều hạn chế, các thông tin chi tiết khó có thể khai thác trực tiếp từ khách hàng, nhóm khách hàng liên quan tương đối nhiều gây khó khăn trong việc xác định nhu cầu vốn của khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan để hạn chế việc chiếm dụng vốn vay, sử dụng vốn sai mục đích.
Các khách hàng doanh nghiệp lớn thường có yêu cầu rất cao đối với các ngân hàng, đa số họ làm việc trực tiếp với hội sở, ban điều hành của ngân hàng, do đó việc các chi nhánh bị thu động về thẩm định thông tin của pháp nhân/cá nhân sở hữu vốn góp của công ty.
2.2. Các lý thuyết liên quan đến quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
2.2.1. Lý thuyết về phương thức lựa chọn và quyết định
Có nhiều lý thuyết khác nhau giải thích và mô hình hoá sự lựa chọn cùng quá trình ra quyết định của cá nhân/ tổ chức. Các lý thuyết giải thích sự lựa chọn nhìn từ hai quan điểm, gồm những gì ảnh hưởng đến sự lựa chọn và quá trình lựa chọn. Các lý thuyết giả định rằng sự lựa chọn không xảy ra ngẫu nhiên và tính logic nhất định của nhân tố quyết định kết quả. Một số lý thuyết nổi bật thảo luận về những gì ảnh hưởng đến sự lựa chọn và quá trình lựa chọn được trình bày như sau:
2.2.1.1. Quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp
Theo Philip Kotler (2001) hành vi mua của tổ chức là quá trình quyết định theo đó các tổ chức hình thành nhu cầu đối với những sản phẩm dịch vụ, nhận biết, đánh giá và lựa chọn mua trong số những nhãn hiệu và nhà cung cấp đang được chào hàng trên thị trường nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của mình.
Khi đề cập đến thuật ngữ lựa chọn, chúng ta luôn nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thực hiện có thể đạt được mục tiêu trong các điều kiện khan hiếm nguồn lực. Quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp cũng mang tính chất tương tự như trên. Đặc biệt, ý định lựa chọn dịch vụ vay vốn của ngân hàng sẽ có những điểm khác biệt so với các ngành khác do liên quan mật thiết đến dòng tiền và luôn đòi hỏi một sự uy tín trong tiến trình giao dịch. Do đó, các doanh nghiệp với vị thế là khách hàng khi quyết định lựa chọn vay vốn của ngân hàng sẽ có những yêu cầu khắt khe với trình độ cao hơn.
Nghiên cứu hành vi khách hàng là nhằm giải thích quá trình mua hay không mua một loại hàng hoá nào đó thông qua xu hướng tiêu dùng của khách hàng. Theo Leon và cộng sự (1997), “hành vi khách hàng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ”. Theo Peter (1988), “hành vi của khách hàng là những hành vi mà khách hàng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ”. Theo Philip Kotler (2001), “người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi khách hàng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là xem khách hàng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy khách hàng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình”.
2.2.1.2. Quyết định tiêu dùng Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Tiến trình quyết định mua của KH đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua. Trong đó “Quyết định chọn mua sản phẩm là một quá trình đánh giá hành vi mua dựa trên nhu cầu và thông tin, đánh giá của bản thân người mua về nhóm sản phẩm đó. Trong giai đoạn này, người mua sắp xếp các nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và từ đó bắt đầu hình thành ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất. Bình thường, khách hàng sẽ mua nhãn hiệu được ưu tiên nhất” (Solomon Micheal- Consumer Behavior, 1992).
2.2.2. Mô hình lý thuyết hành vi khách hàng
2.2.2.1. Thuyết hành vi dự định
Thuyết hành vi dự định được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA, Ajzen và Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991).
- Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố.
Thứ nhất, các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Nhân tố cuối cùng, thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour) được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA. Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi.
2.2.2.2. Thuyết lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn duy lý hay còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rational choice Theory), thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiên đề cơ bản:
Thứ nhất: Khách hàng phải đối mặt với một tập hợp được biết đến của sự lựa chọn thay thế.
Thứ hai: Đối với bất kỳ cặp lựa chọn thay thế (A và B), khách hàng hoặc thích A đến B, thích B đến A, hay không có sự khác biệt giữa A và B. Đây là tiền đề của sự hoàn chỉnh.
Thứ ba: Những ưu tiên tương ứng. Có nghĩa là, nếu một khách hàng thích A đến B và B đến C, sau đó họ tất yếu phải thích A đến C. Nếu họ thấy không khác biệt giữa A và B, không khác biệt giữa B và C, khi đó tất yếu không có sự khác biệt giữa A và C.
Thứ tư: Khách hàng sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất. Nếu khách hàng không quan tâm giữa hai hay nhiều lựa chọn thay thế được ưa thích cho tất cả cái khác,
người đó sẽ chọn một trong những lựa chọn thay thế – với sự lựa chọn cụ thể trong số những lựa chọn còn lại không xác định.
2.2.2.3. Mô hình xu hướng tiêu dùng
Nghiên cứu của Dodds và cộng sự (1991) đã xây dựng mô hình kiểm định các yếu tố về quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các tín hiệu ngoại sinh (giá, thương hiệu, tên cửa hiệu) lên việc đánh giá các sản phẩm của người mua về các nhân tố liên quan đến nhận thức và có tác động đến xu hướng tiêu dùng.Tóm lại, có nhiều thuyết về xu hướng tiêu dùng nhưng tác giả chỉ lựa chọn một số lý thuyết phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài. Xu hướng tiêu dùng được đề cập đến dựa theo các nghiên cứu của Engle và cộng sự (1995), Fishbein và Ajzen (1975), Ajzen (1991).
Hình 2.2: Mô hình xu hướng tiêu dùng
Theo Engle và cộng sự (1995), hành vi mua của khách hàng liên quan đến suy nghĩ, cảm nhận và thái độ đối với sản phẩm dưới tác động của các tác nhân marketing và yếu tố môi trường. Theo thuyết TRA do Fishbein và Ajzen (1975) xây dựng, sau này được Ajzen (1991) phát triển thành thuyết hành vi dự định thì cho rằng xu hướng hành vi khách hàng chịu tác động bởi thái độ của khách hàng đối với sản phẩm và sức ép xã hội được cảm nhận. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Dodds và cộng sự (1991) thì xu hướng tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi cảm nhận về chất lượng và giá cả sản phẩm.
2.3. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
2.3.1. Các công trình nước ngoài
Prince and Schultz (1990) tại Mỹ đã nghiên cứu cỡ mẫu 508 doanh nghiệp cho kết quả: tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng của các khách hàng doanh nghiệp nhỏ bảo gồm 5 thành phần: tính bảo mật, nguồn nhân lực chuyên nghiệp, tư vấn cho doanh nghiệp, sự thuận tiện và chất lượng sản phẩm dịch vụ.
File and Prince (1991) khảo sát tại Thuỵ Điển với mẫu 582 doanh nghiệp nhỏ đã chỉ ra rằng: uy tín, lãi suất cạnh tranh, quan hệ tốt với giám đốc ngân hàng, tốc độ giao dịch nhanh, tư vấn và dịch vụ giá trị gia tăng, quan hệ tốt với đội ngũ nhân viên… là những yếu tố quan trọng đến quyết định vay vốn của doanh nghiệp.
Nielsen et al (1998) nghiên cứu được thực hiện tại Úc với 384 doanh nghiệp, trong đó 115 doanh nghiệp nhỏ đã đưa đến kết luận rằng các tiêu chuẩn quan trọng trong quyết định vay vốn là: nhu cầu tín dụng được thoả mãn, sự thuận tiện, quan hệ cá nhân, tình trạng tài chính tốt, giá cạnh tranh, quan hệ dài hạn, quyết định nhanh, giao dịch hiệu quả, hiểu biết doanh nghiệp, danh tiếng, giới thiệu nhu cầu tín dụng…
Edris và Almahmeed (1997) thực hiện nghiên cứu tại Kuwait về phân khúc thị trường cho các ngân hàng tại đây, các nhà nghiên cứu thực hiện khảo sát 2 nhóm khách hàng doanh nghiệp có quốc tịch tại Kuwait và không tại Kuwait với 60 doanh nghiệp lớn. 180 doanh nghiệp vừa và 260 doanh nghiệp nhỏ, thu về kết quả 304 doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy các tiêu chuẩn quan trọng trong việc lựa chọn ngân hàng đó là: quy mô ngân hàng, nhân sự hiệu quả, sự thuận tiện, danh tiếng, hiểu biết doanh nghiệp, mạng lưới, lãi suất cạnh tranh,…
2.3.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Lê Hoàng Trường Hải và Trịnh Xuân Hoàng (2022) nghiên cứu về Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Sài Gòn. Bài viết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Tây Sài Gòn. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố độc lập, như: Thương hiệu, Chính sách giá cả, Phương tiện hữu hình, Hệ thống Internet Banking và Ý định vay vốn ảnh hưởng trực tiếp và thuận chiều đến biến phụ thuộc là xác suất khách hàng vay vốn.
Bùi Văn Thuỵ và cộng sự (2021) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương – Chi nhánh Đồng Nai. Nghiên cứu được thực hiện với phương pháp nghiên cứu hỗn hợp nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân (KHCN) tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Đồng Nai (Vietcombank Đông Đồng Nai). Dựa trên các lý thuyết nền tảng và kế thừa kết quả các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu thiết lập mô hình nghiên cứu và thang đo các yếu tố. Kết quả xử lý dữ liệu thu thập từ 341 KHCN tại Vietcombank Đông Đồng Nai cho thấy, có 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn, gồm: Chất lượng dịch vụ, Hình ảnh danh tiếng ngân hàng, Chi phí lãi suất, Sự thuận tiện, Ảnh hưởng xã hội, Nhân viên ngân hàng, Thủ tục vay vốn.
Phan Quan Việt và cộng sự (2020) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Thuận (BIDV Bình Thuận). Nghiên cứu chính thức được thực hiện theo phương pháp định lượng, sử dụng bảng câu hỏi và được khảo sát theo phương pháp thuận tiện. Kết quả thu được 200 bảng khảo sát phù hợp, các bảng khảo sát này được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0. Kết quả chạy hồi quy cho thấy có 07 nhân tố: (1) Yếu tố lợi ích tài chính, (2) Yếu tố sự thuận tiện, (3) Yếu tố nhân viên, (4) Yếu tố được giới thiệu, (5) Yếu tố Thương hiệu ngân hàng, (6) Yếu tố cơ sở vật chất, (7) Yếu tố chăm sóc khách hàng đều có ảnh hưởng tích cực đối với quyết định vay vốn của khách hàng tại BIDV chi nhánh Bình Thuận. Trong đó, nhân tố Cơ sở vật chất ảnh hưởng đến quyết định vay vốn mạnh mẽ nhất, kế đến là Sự thuận tiện, Chất lượng nhân viên, Lợi ích tài chính, Thương hiệu ngân hàng, Được giới thiệu và cuối cùng là Chăm sóc khách hàng.
Đỗ Văn Lộc, Lê Vũ Hà, Huỳnh Mẫn Kỳ (2022): Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Các tác giả đã khảo sát 279 phiếu khảo sát là các DN vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Sử dụng phần mềm AMOS, nghiên cứu đã chỉ ra rằng có 5 yếu tố có tác động đến quyết định vay vốn của Doanh nghiệp vừa và nhỏ là: Chính sách cho vay phù hợp; Tốc độ xử lý hồ sơ vay; Lãi suất và phí cạnh tranh; Sự giới thiệu của bên thứ ba; Thái độ nhân viên tín dụng. Trong đó, yếu tố chính sách cho vay có mức độ tác động lớn nhất và cả 5 yếu tố đều ảnh hưởng cùng chiều với biến phụ thuộc là Quyết định vay vốn.
2.3.3 Tổng kết các nghiên cứu trước đây Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Dựa trên lược khảo của các nghiên cứu trong và ngoài nước ở mục 2.3.1 và 2.3.2, tác giả nhận thấy đề tài quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp là một đề tài được quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa nhiều nghiên cứu về đề tài này, trong phạm vi lược khảo của luận văn, bên cạnh những nghiên cứu về quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp, tác giả bổ sung một số đề tài khách hàng cá nhân vì khách hàng cá nhân cá nhân cũng có một số nét tương đồng với các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ trong mẫu nghiên cứu của luận văn. Nhìn chung, các nghiên cứu này đều đề cập đến một số nhân tố có tác động đến quyết định vay vốn của khách hàng như: Lãi suất, phí cho vay; Chính sách cho vay; thái độ phục vụ của nhân viên; sự thuận tiện trong giao dịch; danh tiếng của ngân hàng và sự giới thiệu. Các nhân tố trên đều có tác động tích cực đến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu.
Từ các nghiên cứu trên, tác giả tổng kết quả nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước theo bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1: Lược khảo các nghiên cứu liên quan
| Nghiên cứu | Vấn đề nghiên cứu | Kết quả nghiên cứu | Biến nghiên cứu và mô hình nghiên cứu |
| I. Lược khảo các nghiên cứu nước ngoài | |||
| Prince and Schultz (1990) | Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhỏ. | Nghiên cứu cho thấy tiêu chuẩn lựa chọn ngân hàng của các khách hàng doanh nghiệp nhỏ bảo gồm 5 thành phần: tính bảo mật, nguồn nhân lực chuyên nghiệp, tư vấn cho doanh nghiệp, sự thuận tiện và chất lượng sản phẩm dịch vụ. | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp nhỏ
Biến độc lập: Tính bảo mật, nguồn nhân lực chuyên nghiệp, tư vấn cho doanh nghiệp, sự thuận tiện và chất lượng sản phẩm dịch vụ. |
| File and Prince (1991)
|
Phân khúc xã hội học: Thị trường doanh nghiệp Vừa và nhỏ (SME) và các dịch vụ tài chính. | Kết quả chỉ ra rằng: uy tín, lãi suất cạnh tranh, quan hệ tốt với giám đốc ngân hàng, tốc độ giao dịch nhanh, tư vấn và dịch vụ giá trị gia tăng, quan hệ tốt với đội ngũ nhân viên… là những yếu tố quan trọng đến quyết định lựa chọn ngân hàng của doanh nghiệp. | – Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp nhỏ – Biến độc lập: Lãi suất cạnh tranh, uy tín, mối quan hệ với giám đốc, tốc độ giao dịch, thái độ của nhân viên. |
| Nielsen et al (1998) | Thực hiện tại Úc với 384 doanh nghiệp, trong đó 115 doanh nghiệp nhỏ | Các tiêu chuẩn quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân hàng là: nhu cầu tín dụng được thoả mãn, sự thuận tiện, quan hệ cá nhân, tình trạng tài chính tốt, giá cạnh tranh, quan hệ dài hạn, quyết định nhanh, giao dịch hiệu quả, hiểu biết doanh nghiệp, danh tiếng, giới thiệu nhu cầu tín dụng… | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp
Biến độc lập: Nhu cầu tín dụng được thoả mãn, sự thuận tiện, quan hệ cá nhân, tình trạng tài chính tốt, giá cạnh tranh, quan hệ dài hạn, quyết định nhanh, giao dịch hiệu quả, hiểu biết doanh nghiệp, danh tiếng, giới thiệu nhu cầu tín dụng… |
| Nielsen et al
(1995)
|
Những kỳ vọng của ngân hàng: Các ngân hàng có thực sự hiểu nhu cầu của các doanh nghiệp nhỏ? Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH. | Các yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn ngân hàng từ quan điểm của khách hàng doanh nghiệp nhỏ là đáp ứng nhu cầu tín dụng, vị trí thuận tiện, cung cấp dịch vụ, mối quan hệ cá nhân, lành mạnh về tài chính, cạnh tranh, giá cả, mối quan hệ lâu dài, đưa ra quyết định nhanh chóng, hoạt động hiệu quả, kiến thức về kinh doanh, đổi mới danh tiếng cộng đồng, giá thấp hơn thị trường. | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp nhỏ – Biến độc lập: Sự thuận tiện,chất lượng dịch vụ, tài chính lành mạnh, giá cả cạnh tranh, hoạt động hiệu quả |
| Schlesinger và cộng sự (1987) | Khảo sát 174 doanh nghiệp nhỏ ở Newyork | Các yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn một ngân hàng cho doanh nghiệp nhỏ công ty là lãi suất cho vay, dễ vay, dịch vụ đầy đủ sẵn có, lãi suất tiền gửi, quan hệ cá nhân, tốc độ, địa điểm, nhân viên ngân hàng. | – Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp nhỏ
– Biến độc lập: Lãi suất cho vay, chất lượng dịch vụ, thái độ của nhân viên, |
| Edris and Almahmeed (1997)
|
Những dịch vụ được xem là quan trọng đối với KHDN và các yếu tố quyết định việc lựa chọn NH tại Kuwait | Kết quả nghiên cứu cho thấy các tiêu chuẩn quan trọng trong việc lựa chọn ngân hàng đó là: quy mô ngân hàng, nhân sự hiệu quả, sự thuận tiện, danh tiếng, hiểu biết doanh nghiệp, mạng lưới, lãi suất cạnh tranh,… | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp. Biến độc lập: Lãi suất, phí cho vay cạnh tranh; thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng; thuận tiện trong giao dịch; danh tiếng của ngân hàng |
| Kennington et al (1996) | Tìm hiểu các yếu tố có thể giúp cuốn hút khách hàng | Lãi suất là yếu tố quan trọng thứ hai sau danh tiếng ngân hàng | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn
Biến độc lập: Danh tiếng lãi suất, sự thuận tiện, dịch vụ, ảnh hưởng của gia đình, bạn bè |
| Ernst&Young (2013) | Nghiên cứu các yếu tố mà ngân hàng phải xem xét để giữ mối quan hệ với khách hàng | Giá cả cạnh tranh, giá cả linh động và phù hợp là một trong những nhân tố tác động quan trọng nhất.
|
Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp nhỏ Biến độc lập: Lãi suất cho vay, chất lượng dịch vụ, thái độ của nhân viên. |
| Mylonakis et al (1998); Hinson et al (2013) | Các yếu tố quyết định vay vốn | vị trí địa lý thuận lợi và thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp nhỏ
Biến độc lập: Lãi suất cho vay, chất lượng dịch vụ, thái độ của nhân viên, Sự thuận tiện của ngân hàng; kiến thức chuyên môn của nhân viên |
| Apena Hedaynatina (2011) | Các yếu tố quyết định vay vốn | Đội ngũ nhân viên tín dụng với yếu tố đánh giá là vẻ bề ngoài và kiến thức chuyên môn
|
Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp.
Biến độc lập: Đội ngũ nhân viên Lãi suất, phí cho vay cạnh tranh; thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng; thuận tiện trong giao dịch; danh tiếng của ngân hàng |
| Md Saleh (2013) | Các yếu tố quyết định vay vốn Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH. | Các dẫn chứng về yếu tố nhân viên tín dụng: sự thân thiện, kỹ năng chuyên môn, trang phục có tác động đến quyết định vay vốn của các doanh nghiệp. | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn
Biến độc lập: Danh tiếng lãi suất, sự thuận tiện, dịch vụ, ảnh hưởng của gia đình, bạn bè; đội ngũ nhân viên. |
| Chanon (1986), Turnbull Gibbs(1989), Mat và Salleh (1998) | Các yếu tố quyết định vay vốn | Vị trí thuận tiện và hệ thống chi nhánh rộng khắp là một tiêu chuẩn quan trọng khi lựa chọn ngân hàng giao dịch | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp – Biến độc lập: Lãi suất cho vay, chất lượng dịch vụ, thái độ của nhân viên,; danh tiếng ngân hàng; lãi suất của ngân hàng; Sự giới thiệu của bên thứ ba |
| Rehman và Ahmed (2008) và Rao (2010) | Các yếu tố quyết định vay vốn | Sự thuận tiện trong giao dịch ngân hàng luôn nằm trong 5 yếu tố đầu tiên quyết định sự lựa chọn ngân hàng giao dịch của khách hàng.
|
Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn
Biến độc lập: Danh tiếng lãi suất, sự thuận tiện, dịch vụ, ảnh hưởng của gia đình, bạn bè; giá cả, lãi suất |
| Anderson và cộng sự (1976) và và Kengnington et al (1996) | Nghiên cứu lựa chọn ngân hàng của khách hàng Mỹ | Danh tiếng là một trong những tiêu chuẩn quan trọng trong lựa chọn ngân hàng | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp – Biến độc lập: Lãi suất cho vay, chất lượng dịch vụ, thái độ của nhân viên,; danh tiếng ngân hàng; lãi suất của ngân hàng. |
| File và Prince (1991); Nielsen và cộng sự (1995) | Các yếu tố quyết định vay vốn | ảnh hưởng của bên thứ ba như bạn bè, đối tác kinh doanh của tác dụng tham khảo quan trọng | – Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp nhỏ – Biến độc lập: Lãi suất cạnh tranh, uy tín, mối quan hệ với ngân hàng, tốc độ giao dịch, thái độ của nhân viên. |
| II. Lược khảo các nghiên cứu trong nước | |||
| Lê Hoàng Trường Hải và Trịnh Xuân Hoàng (2022) | Nghiên cứu về Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Sài Gòn | Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố độc lập, như: Thương hiệu, Chính sách giá cả, Phương tiện hữu hình, Hệ thống Internet Banking và Ý định vay vốn ảnh hưởng trực tiếp và thuận chiều đến biến phụ thuộc là xác suất khách hàng vay vốn. | Biến độc lập: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp bán lẻ
Biến phụ thuộc: 1) quy trình, chính sách tín dụng; 2) lãi suất vay vốn, 3) truyền thông; 4) hình ảnh, danh tiếng của ngân hàng và cuối cùng 5) chất lượng dịch vụ |
| Bùi Văn Thuỵ và cộng sự (2021) | các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương – Chi nhánh Đồng Nai | nghiên cứu thiết lập mô hình nghiên cứu và thang đo các yếu tố. Kết quả xử lý dữ liệu thu thập từ 341 KHCN tại Vietcombank Đông Đồng Nai cho thấy, có 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn, gồm: Chất lượng dịch vụ, Hình ảnh danh tiếng ngân hàng, Chi phí lãi suất, Sự thuận tiện, Ảnh hưởng xã hội, Nhân viên ngân hàng, Thủ tục vay vốn. | Biến độc lập: Quyết định vay vốn của KHCN
Biến phụ thuộc: Chất lượng dịch vụ, Hình ảnh danh tiếng ngân hàng, Chi phí lãi suất, Sự thuận tiện, Ảnh hưởng xã hội, Nhân viên ngân hàng, Thủ tục vay vốn. |
| Phan Quan Việt và cộng sự (2020) | các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân | tố Cơ sở vật chất ảnh hưởng đến quyết định vay vốn mạnh mẽ nhất, kế đến là Sự thuận tiện, Chất lượng nhân viên, Lợi | Biến độc lập: Quyết định vay vốn của KHCN |
| tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Thuận (BIDV
Bình Thuận) |
ích tài chính, Thương hiệu ngân hàng, Được giới thiệu và cuối cùng là Chăm sóc khách hàng. | – Biến phụ thuộc: (1) Yếu tố lợi ích tài chính, (2) Yếu tố sự thuận tiện, (3) Yếu tố nhân viên, (4) Yếu tố được giới thiệu, (5) Yếu tố Thương hiệu ngân hàng, (6) Yếu tố cơ sở vật chất,
(7) Yếu tố chăm sóc khách hàng |
|
| Đỗ Văn Lộc, Lê Vũ Hà, Huỳnh Mẫn Kỳ (2022): | Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thương mại vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai | Nghiên cứu cho thấy ở thời điểm hiện tại 5 yếu tố có ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngân hàng vay vốn của DNNVV trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là yếu tố Lãi suất và phí cho vay, Tốc độ xử lý hồ sơ vay, Chính sách cho vay phù hợp và Sự giới thiệu của bên thứ ba, Thái độ của nhân viên tín dụng, trong đó yếu tố Chính sách cho vay phù hợp có mức tác động lớn nhất và cả 5 yếu tố trên đều ảnh hưởng cùng chiều với biến phụ thuộc Quyết định lựa chọn ngân hàng | Biến phụ thuộc: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Biến độc lập: Chính sách cho vay phù hợp; Tốc độ xử lý hồ sơ vay; Lãi suất và phí cạnh tranh; Sự giới thiệu của bên thứ ba; Thái độ nhân viên tín dụng |
( Nguồn: Tổng hợp của tác giả )
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngân hàng vay vốn của khách hàng doanh nghiệp Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Dựa trên các nghiên cứu có liên quan tại Việt Nam và trên thế giới, có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngân hàng vay vốn. Tuỳ theo mỗi nghiên cứu mà mức độ quan trọng của từng yếu tố lại có thể khác nhau. Một số tiêu chí có thể đóng vai trò quan trọng quyết định trong việc lựa chọn ngân hàng vay vốn ở nước này nhưng lại không đóng vai trò quan trọng ở nước khác do những khác biệt về kinh tế, văn hoá, xã hội, pháp luật, chính trị giữa các nước.
Do đó, dựa trên các lý thuyết về hành vi tiêu dùng, các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình ra quyết định tiêu dùng của Philip Kotler, kết hợp với mô hình nghiên cứu của các tác giả đi trước về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngân hàng vay vốn cho khác hàng, tác giả sẽ phân tích các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngân hàng vay vốn của khác hàng doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố như sau: (1) Lãi suất, phí cho vay cạnh tranh; (2) Chính sách cho vay phù hợp; (3) Thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng; (4)Thuận tiện trong giao dịch (5) Danh tiếng của ngân hàng; (6) Sự giới thiệu của bên thứ ba.
Các yếu tố này sẽ tác động đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp, sự thay đổi của các yếu tố này theo chiều hướng tốt hay xấu sẽ làm tăng hoặc giảm mức độ lựa chọn ngân hàng vay vốn của doanh nghiệp.
2.4.1. Lãi suất, phí cho vay cạnh tranh
Theo Philip Kotler (1988), giá cả là tổng chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ. Doanh nghiệp sẽ phải cân nhặc giữa chi phí bỏ ra và lợi ích nhận được khi sử dụng dịch vụ. Nếu doanh nghiệp nhận thức được rằng chi phí bỏ ra không đáng kể hoặc xứng đáng với lợi ích nhận được thì họ sẽ sử dụng dịch vụ và ngược lại.
Giá cả trong ngân hàng được hiểu đó là lãi suất vay vốn và phí các loại dịch vụ. Lãi suất vay vốn được hiểu là giá cả của tín dụng, nó là giả của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người cho vay, tỷ lệ là % phản ánh tiền lãi phải trả tính trên tổng số tiền vay vốn trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ. Hiện nay, các ngân hàng có sự phân biệt lãi suất tiền vay giữa các khoản vay có thời hạn khác nhau (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) và theo đơn vị tiền tệ (VND, USD), tương ứng mức rủi ro khác nhau giữa các mục đích sử dụng vốn, loại tài sản đảm bảo, khác nhau giữa một khoản vay được cấp tín dụng có tài sản đảm bảo đầy đủ hay cấp tín dụng không có bảo đảm. Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Phí là một khoản chi phí ngoài lãi suất mà người vay phải chi trả chi việc sử dụng vốn của mình, các khoản phí liên quan đến khoản vay có thể phát sinh trước khi khách hàng nhận được vốn vay (như phí thẩm định tài sản), phí phát sinh trong thời gian vay vốn (như phí in sao kê, phí cấp bản sao tài sản đảm bảo, phí phạt chậm trả…) phí tất toán trước hạn khi khách hàng muốn trả một khoản vốn vay chưa đến kỳ thanh toán theo thoả thuận trước đó giữa khách hàng và ngân hàng. Tuỳ theo mỗi ngân hàng sẽ có những mức phí, cách tính và các loại chi phí khác nhau.
Lãi suất và phí thấp sẽ làm giảm chi phí vay, nâng cao lợi ích mà khách hàng cảm nhận được do đó làm tăng nhu cầu vay vốn. Ngược lại, khi lãi suất vay vốn hoặc các loại phí phát sinh tăng, chi phí cho một khoản vay lớn thì khách hàng sẽ sử dụng vốn một cách thận trọng hơn. Việc sử dụng vốn vay không hiệu quả thì khoản vay sẽ là một gánh nặng cho doanh nghiệp, các khoản lãi quá hạn nếu không được thanh lý kịp thời sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản doanh nghiệp. Do vậy, nếu như một ngân hàng có mức lãi suất, phí cho vay cạnh tranh và hợp lý thì sẽ thu hút nhiều khách hàng vay vốn do đây là đều là những chi phí rất quan trọng mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi quyết định vay vốn với ngân hàng.
Yếu tố lãi suất, phí cho vay là yếu tố đầu tiên và phổ biến trong hầu hết các kết quả nghiên cứu về quyết định lựa chọn ngân hàng giao dịch của khách hàng doanh nghiệp. Như nghiên cứu của Schlesinger và cộng sự (1987) khảo sát 174 doanh nghiệp nhỏ ở Newyork thì lãi suất cho vay là một yếu tố quan trọng bên cạnh các yếu tố có khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng, sản phẩm dịch vụ đa dạng. Theo Kennington et al (1996) đã tiến hành một cuộc khảo sát tại Ba Lan để tìm ra các yếu tố giúp các ngân hàng có thể thu hút được khách hàng, kết quả đã cho thấy lãi suất là yếu tố quan trọng thứ hai chỉ sau danh tiếng ngân hàng. Nghiên cứu của Ernst & Young (2013) về ngành ngân hàng cho kết quả các yếu tố mà ngân hàng phải xem xét để giữ quan hệ tốt với khách hàng có bao gồm cả yếu tố giá cả cạnh tranh, giá cả linh động và phù hợp. Lãi suất cũng là yếu tố rất được các doanh nghiệp quan tâm vì giá trị khoản vay lớn và thường xuyên nên bất cứ sự chênh lệch nào về lãi suất đều có thể ảnh hưởng đến dòng tiền của khách hàng.
Từ những cơ sở này, tác giả kế thừa nghiên cứu của các tác giả Philip Kotler (1988), Schlesinger và cộng sự (1987), Kennington et al (1996), Ernst & Young (2013) đề đề xuất nhân tố “Lãi suất, phí cho vay cạnh tranh” vào mô hình nghiên cứu của luận văn.
2.4.2. Chính sách cho vay phù hợp
Chính sách cho vay của mỗi ngân hàng đối với từng lĩnh vực kinh doanh và từng doanh nghiệp là khác nhau. Tuỳ theo khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng mà mỗi ngân hàng sẽ ban hành các chính sách cho vay theo từng phân khúc khách hàng. Sự khác nhau thể hiện ở chính sách tài trợ cho từng loại ngành nghề kinh doanh, mục đích vay vốn, quy định danh mục hồ sơ cần cung cấp khi vay vốn, tỷ lệ tài trợ vay vốn trên giá trị tài sản đảm bảo, mức độ tín chấp, phương thức kiểm soát mục đích vốn vay, kiểm soát sau tài trợ. Đó chính là những ràng buộc và quy định mà chỉ những khách hàng nào có khả năng đáp ứng thì mới có khả năng tiếp cận vốn vay từ phía ngân hàng. Do đó, những khách hàng doanh nghiệp trên cương vị là những người đi vay vốn phải tìm hiểu và lựa chọn thật kỹ những ngân hàng có thể đáp ứng tài trợ và tài trợ vốn cho nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp.
Để có thể thu hút nhiều khách hàng, mỗi ngân hàng cần phải có chính sách cho vay hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế của thị trường. Đặc biệt, có những khách hàng hoạt động trong lĩnh vực đặc thù thì ngân hàng phải thiết kế ra các sản phẩm cho vay riêng phù hợp với từng khách hàng. Do đó, để nâng cao khả năng được khách hàng lựa chọn vay vốn, các ngân hàng phải nỗ lực trong việc nghiên cứu sản phẩm thật phong phú và cải tiến liên tục, phù hợp với thực tế của khách hàng. Khi khách hàng có nhiều sự lựa chọn về sản phẩm, cảm nhận được sự phong phú, đa dạng về dịch vụ thì sẽ tăng thêm khả năng lựa chọn ngân hàng.
Ngoài trọng tâm là các chính sách cho vay, nếu như ngân hàng có các sản phẩm cho vay bổ trợ, kèm theo sẽ tăng thêm giá trị gia tăng cho khách hàng khi lựa chọn vốn vay. Một ví dụ chẳng hạn như tại ngân hàng nơi tác giả đang làm việc, nếu khách hàng được cấp hạn mức tín dụng tối thiểu 50 tỷ đồng sẽ được cấp thêm một hạn mức vay tín chấp thấu chi dòng tiền 2 tỷ đồng và vay tín chấp 1 tỷ đồng trả lương cho nhân viên. Những sản phẩm kèm theo sẽ khuyến khích và tăng thêm sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của các khách hàng doanh nghiệp.
Theo Schlesinger và cộng sự (1987) đã khảo sát 174 doanh nghiệp tại New York và kết luận rằng việc được cấp tín dụng với chính sách cho vay phù hợp là một trong 3 yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn ngân hàng.
Từ các phân tích về đặc điểm của yếu tố chính sách cho vay và nghiên cứu của Schlesinger và cộng sự (1987) tác giả đề xuất đưa nhân tố “Chính sách cho vay vào mô hình nghiên cứu” vào mô hình nghiên cứu của luận văn.
2.4.3 Thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Đối với từng khách hàng, ngân hàng sẽ phân công cụ thể nhân viên tín dụng phụ trách chăm sóc và quản lý khách hàng. Nhân viên tín dụng là người đại diện cho chính ngân hàng, quan hệ trực tiếp với khách hàng và là hình ảnh, sự uy tín của ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp. Do đó, thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng trước, trong và sau khi giao dịch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định lựa chọn vay vốn của khách hàng. Một nhân viên có thái độ tôn trọng khách hàng, thân thiện, lịch sự, có trình độ chuyên môn, kỹ năng vững chắc có thể đáp ứng các nhu cầu và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình giao dịch sẽ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngân hàng giao dịch của khách hàng.
Những thông tin về quy định, chính sách, lãi suất khi vay vốn đều sẽ do nhân viên tín dụng truyền tải trực tiếp đến khách hàng. Và ngược lại, mọi vướng mắc, phản hồi, đề xuất của khách hàng đến ngân hàng đều sẽ được thực hiện thông qua nhân viên tín dụng. Do vậy, một nhân viên tín dụng cần phải có thái độ đúng mực, lắng nghe và thông cảm với khách hàng sẽ luôn tạo cho khách hàng một sự thoải mái, tin tưởng trong quá trình tác nghiệp với ngân hàng.
Chính vì tầm quan trọng của thái độ phục vụ của ngân viên tín dụng nên ngân hàng cần đào tạo, quản lý chặt chẽ các nhân viên tín dụng. Tránh sự tha hoá, đòi hỏi từ phía khách hàng quyền lợi về vật chất hay thái độ hách dịch sẽ ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh của ngân hàng.
Theo kết quả nghiên cứu của Mylonakis et al. (1998), trong số 811 khách hàng ở Hy lạp thì yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn là vị trí địa lý thuận lợi và thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng. Theo Hinson et al (2013) đã chứng minh rằng chất lượng dịch vụ bao gồm: cơ sở vật chất và thái độ phục vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn ngân hàng của khách hàng. Chi tiết hơn về thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng theo Apena Hedaynatina (2011), thực hiện các nghiên cứu khách hàng tại Iran, kết quả cho thấy rằng 1 trong 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn là đội ngũ nhân viên tín dụng với yếu tố đánh giá là vẻ bề ngoài và kiến thức chuyên môn. Còn Md.Saleh (2013) tại Malaysia đã đưa ra các dẫn chứng về nhân viên tín dụng như sự thân thiện, kỹ năng chuyên môn, trang phục là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn.
Qua những phân tích cho thấy tầm quan trọng của nhân viên tín dụng trong việc quyết định vay vốn của khách hàng, từ cơ sở này tác giả lựa chọn nhân tố “Thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng” vào mô hình nghiên cứu của luận văn.
2.4.4. Thuận tiện trong giao dịch
Thuận tiện trong giao dịch vay vốn ngân hàng của khách hàng doanh nghiệp bao gồm nhiều yếu tố: Khoảng cách, vị trí địa lý, mạng lưới giao dịch, khung giờ hoạt động, khả năng luân chuyển dòng tiền, dịch vụ hỗ trợ tại chỗ,..
Khách hàng doanh nghiệp luôn có nhiều mối quan tâm như khoảng cách tối thiểu từ trụ sở công ty đến các điểm giao dịch của ngân hàng để bàn giao trực tiếp hồ sơ vay vốn, giao dịch rút tiền giải ngân. Cùng với đó là vị trí địa lý của ngân hàng phải đặt tại vị trí thuận tiện, khu vực trung tâm giúp khách hàng di chuyển dễ dàng, dễ tìm kiếm trong trường hợp cần thiết. Ngân hàng có mạng lưới giao dịch rộng khắp, địa điểm đặt các máy ATM phù hợp sẽ giúp cho khách hàng doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí, an toàn trong trường hợp vận chuyển tiền mặt với giá trị lớn. Khung giờ hoạt động của ngân hàng với thời gian giao dịch linh hoạt như có thể giao dịch ngoài giờ hoặc giao dịch vào các ngày cuối tuần sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều phương án giải quyết các công việc phát sinh đột xuất.
Và một yếu tố khác thể hiện sự thuận tiện của khách hàng chính là khả năng luân chuyển dòng tiền. Nếu một ngân hàng có quy mô lớn, phổ biến và có các đối tác đầu vào, đầu ra của khách hàng đều thực hiện chấp nhận thanh toán qua cùng một ngân hàng thì gần như chắc chắn khách hàng sẽ sử dụng tài khoản ngân hàng ấy dùng dể cho thanh toán và nhận thanh toán. Việc sử dụng thanh toán cùng một ngân hàng sẽ giúp cho khách hàng luân chuyển dòng tiền nhanh nhất và độ an toàn cao, tạo sự thuận tiện cho khách hàng trong việc vay vốn để thanh toán. Bên cạnh đó, các dịch vụ hỗ trợ như lấy sao kê sổ phụ, giao dịch rút tiền mặt, đi uỷ nhiệm chi thanh toán cũng luôn cần phải đáp ứng cho khách hàng một cách nhanh chóng, đơn giản nhất.
Các nghiên cứu của Channon (1986), Turnbull và Gibbs (1989), Mat và Salleh (1998) đã chỉ ra rằng, vị trí thuận tiện và hệ thống chi nhánh rộng khắp là một tiêu chuẩn quan trọng khi lựa chọn ngân hàng giao dịch. Các nghiên cứu khác như của Rehman và Ahmed (2008) tại Pakistan và Rao (2010) tại Ấn Độ đều chứng minh rằng yếu tố sự thuận tiện trong giao dịch ngân hàng luôn nằm trong 5 yếu tố đầu tiên quyết định sự lựa chọn ngân hàng giao dịch của khách hàng.
Yếu tố thuận tiện cũng là một yếu tố đặc thù mà KHDN quan tâm, với lượng giao dịch thường xuyên với nhiều phát sinh nên KHDN mong muốn lựa chọn những địa điểm phù hợp để có thể tiết kiệm được thời gian và chi phí để tối ưu hoá lợi nhuận của công ty.
Từ các nghiên cứu này, tác giả quyết định lựa chọn nhân tố “Thuận tiện trong giao dịch” làm biến độc lập trong mô hình nghiên cứu của luận văn.
2.4.5. Danh tiếng của ngân hàng Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Danh tiếng của ngân hàng là yếu tố được xây dựng theo thời gian và được sự đánh giá của từ thị trường, khách hàng đối tác. Danh tiếng là kết quả của sự tin cậy, được khách hàng tín nhiệm, luôn coi trọng quyền lợi khách hàng, có uy tín với khách hàng và đóng góp cho xã hội. Các ngân hàng có thương hiệu, danh tiếng trên thị trường sẽ có lợi thế nhất định trong việc thu hút sự lựa chọn của khách hàng do đã đạt được sự tin cậy, tín nhiệm.
Trong tình hình kinh tế thị trường hiện nay, liên tục xuẩt hiện những sự lừa đảo, chiếm đoạt tiền của khách hàng cho các nhân viên ngân hàng thực hiện đã thực sự đánh mất lòng tin từ phía khách hàng. Do đó, khách hàng sẽ phải cân nhắc, chọn lựa các ngân hàng có sự uy tín, tin tưởng nhất định và đây cũng có thể xem là một lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng trên thị trường. Khách hàng sẽ luôn hạn chế lựa chọn một ngân hàng mới xuất hiện trên thị trường, chưa có nhiều thông tin để đánh giá hoặc có nhiều thông tin xấu liên quan đến lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của khách hàng, ngược lại các ngân hàng đã hoạt động lâu năm trên thị trường, có những thành tích hoặc xếp hạng tín nhiệm cao sẽ là sự lựa chọn hàng đầu của khách hàng.
Một số nghiên cứu chứng minh điều tương tự. Theo Anderson và cộng sự (1976) đã nghiên cứu quyết định vay vốn của khách hàng tại Mỹ và kết luận rằng danh tiếng của ngân hàng là một trong những tiêu chuẩn quan trọng của việc lựa chọn ngân hàng. Tiếp đến Kennington et al (1996) đã tiến hành khảo sát tại nhiều quốc gia để tìm ra các yếu tố giúp ngân hàng có thể thu hút được khách hàng, kết quả cho thấy yếu tố quan trọng nhất chính là danh tiếng ngân hàng. Các nghiên cứu khác như của Nielsen và cộng sự (1998) cũng cho kết quả danh tiếng ngân hàng là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định lựa chọn ngân hàng giao dịch của doanh nghiệp.
Từ các nghiên cứu này, tác giả quyết định lựa chọn nhân tố “Danh tiếng của ngân hàng” làm biến độc lập trong mô hình nghiên cứu của luận văn. Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
2.4.6. Sự giới thiệu của bên thứ ba
Philip Kotler đã chỉ ra rằng hành vi người tiêu dùng chịu tác động to lớn của các yếu tố gia đình như gia đình, các nhóm tham khảo, bạn bè. Sự tác động của bên thứ ba biết đến hoặc đã từng sử dụng dịch vụ của ngân hàng nào đó sẽ tác động và làm ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi lựa chọn ngân hàng.
Theo kinh nghiệm có thể cho thấy rằng, một khách hàng có thể sẽ dễ dàng chấp nhận lựa chọn vay vốn ở một ngân hàng nếu như đã có cha, mẹ, anh chị em, bạn bè, đối tác, đối tác kinh doanh thuộc nhóm khách hàng có liên quan hoặc đã vay vốn tại đó để tăng sự thuận tiện, được truyền tải kinh nghiệm, cảm nhận sự thân thuộc, dễ được sự thấu hiểu và an tâm khi cung cấp các thông tin và đáp ứng được nhu cầu từ phía ngân hàng.
Xét từ phía khách hàng doanh nghiệp, trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay thì các doanh nghiệp thông thường đều hoạt động trong một hiệp hội theo địa bàn hoặc lĩnh vực ngành nghề nào đó. Mục đích chính của gia nhập và hiệp hội để các thành viên có thể chia sẻ các thông tin hữu ích như thị trường, đối tác cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào chất lượng, đối tác mua bán đầu ra uy tín và một nội dung không thể thiếu là chia sẻ thông tin ngân hàng nào uy tín chất lượng và đáp ứng được các nhu cầu về vốn. Xét từ phía ngân hàng, kênh bán hàng thông qua hiệp hội doanh nghiệp hoặc thông qua hình thức khách hàng giới thiệu khách hàng là một kênh bán hàng rất quan trọng và đạt hiệu quả cao. Chính sự tin tưởng và chia sẻ thông tin từ phía bên thứ ba là các đối tác kinh doanh, bạn hàng sẽ giúp ngân hàng dễ dàng có thêm nhiều khách hàng mới. Theo nghiên cứu của File và Prince (1991) thì yếu tố giới thiệu của người khác cũng là một trong những tiêu chí tham khảo để lựa chọn ngân hàng giao dịch của 582 công ty tại Mỹ. Nielsen và cộng sự (1995) thì yếu tố ảnh hưởng của bên thứ ba như bạn bè, đối tác kinh doanh cũng là yếu tố tham khảo quan trọng đối với các doanh nghiệp tại Úc.
Từ các nghiên cứu này, tác giả quyết định lựa chọn nhân tố “Sự giới thiệu của bên thứ ba” làm biến độc lập trong mô hình nghiên cứu của luận văn.
2.5. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Theo tìm hiểu của tác giả, hiện nay chưa có nghiên cứu nào về đề tài quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp được thực hiện tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương. Do vậy, không gian nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của luận văn chưa bị trùng lắp với các nghiên cứu khác.
Bên cạnh đó, luận văn khảo sát khách hàng hiện hữu của chi nhánh tại thời điểm 31/12/2022. Ở thời điểm này, chưa có đề tài nào nghiên cứu về chi nhánh nên số liệu khảo sát thu thập được của khách hàng là số liệu mới nhất hiện có.
Vì vậy, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương” là một nghiên cứu chính thức và toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vay vốn của khách hàng một cách chi tiết và thực tiễn tại VietinBank Chi nhánh Bình Dương, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nâng cao chất lượng cho vay khách hàng doanh nghiệp tại VietinBank Chi nhánh Bình Dương hiện nay.
Tóm tắt chương 2 Luận văn: Nhân tố quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH.
Nội dung chương 2 đã trình bày nền tảng lý thuyết cho đề tài, bao gồm tổng quan về tín dụng và tín dụng doanh nghiệp, các lý thuyết liên quan đến quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng doanh nghiệp, tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước hiện nay. Ngoài ra, luận văn còn trình bày khoảng nghiên cứu của đề tài, đây là cơ sở để tác giả có thể lựa chọn thực hiện đề tài.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC đến quyết định vay vốn của doanh nghiệp tại NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

