Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo luật TTHS Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản để Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm có quyền đưa ra phán quyết dựa trên cơ sở quy định của pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan mà không phải phụ thuộc vào bất cứ một tác động nào khác. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên tắc hiến định, có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu. Mặc dầu đã được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác nhưng trên thực tế việc áp dụng nguyên tắc này vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự đem lại hiệu quả thiết thực trong quá trình Tòa án xét xử các vụ án hình sự. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong hoạt động xét xử, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật, đề ra phương hướng, mục tiêu và quy định cụ thể về hoạt động xét xử của Tòa án.
Trước yêu cầu của Đảng, Nhà nước và thực tiễn trong việc xét xử của Tòa án đảm bảo tính khách quan, độc lập, đúng pháp luật, việc cần phải nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là cần thiết. Vì vậy, tác giả luận văn chọn đề tài: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo luật TTHS Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk) làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Đề tài luận văn có mục đích phân tích làm sáng tỏ về mặt lý luận đối với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo luật TTHS Việt Nam và việc áp dụng nguyên tắc này vào thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, từ đó đưa ra những yêu cầu, giải pháp nhằm hoàn thiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong hoạt động xét xử của Tòa án. Từ đó đưa ra một số yêu cầu, giải pháp nhằm hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng đối với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác – Lênin mà cụ thể là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phân tích, tổng hợp, logic biện chứng và hệ thống.
4. Những điểm mới về khoa học của luận văn Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
- Về mặt lý luận:
Luận văn làm rõ được khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Về mặt thực tiễn:
Luận văn đi sâu phân tích một cách toàn diện, có hệ thống về các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Trên cơ sở đó đề ra một số yêu cầu, giải pháp nhằm hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng đối với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, góp phần vào quá trình cải cách tư pháp trong thời gian tới mà Đảng và Nhà nước ta đang đặt ra.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 Chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Chương 2: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
1.1 Khái niệm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Nguyên tắc “khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được quy định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp năm 1946. Lịch sử phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với 5 bản Hiến pháp được ban hành tại những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng đều ghi nhận và khẳng định đây là một nguyên tắc xuyên suốt trong ngành tư pháp của nước ta. Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, Thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đưa ra các nhận định đánh giá và phán quyết của mình về vụ án. Mọi cá nhân, tổ chức không được can thiệp vào các hoạt động xét xử của Tòa án.
Hiện nay đang có những quan niệm khác nhau về nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, như định nghĩa, tiêu chí, cách phân loại cũng như xác định giá trị các nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên quan niệm chung nguyên tắc của TTHS là “những tư tưởng chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động TTHS hoặc đối với một loại hoạt động nhất định; là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về TTHS; hoặc đó là “những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hoạt động TTHS và được các văn bản pháp luật TTHS ghi nhận”.
Tuy nhiên, những quan niệm trên đây đều nhấn mạnh tính chỉ đạo của các nguyên tắc mà chưa nhấn mạnh một tính chất khác của nguyên tắc – đó là tính đòi hỏi khách quan là yêu cầu khách quan đảm bảo cho hoạt động TTHS đạt được mục đích, được phản ánh trong pháp luật, trở thành những bảo đảm pháp lý. Nếu không nhấn mạnh tính đòi hỏi khách quan này của nguyên tắc thì việc xây dựng pháp luật TTHS không thể đảm bảo tính khoa học và những đổi mới sẽ ít nhiều dễ bị tùy tiện, chủ quan, duy ý chí. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam; là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ hoạt động xây dựng, thực thi, kiểm soát pháp luật tố tụng hình sự; trở thành xử sự bắt buộc chung đối với Thẩm phán và Hội thẩm khi được phân công xét xử vụ án; là hướng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, công bằng, dân chủ đảm bảo công bằng, công lý trong giải quyết vụ án hình sự. Từ sự phân tích và thừa nhận những quan điểm của những người nghiên cứu trước đó về khái niệm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tác giả luận văn đưa ra khái niệm về nguyên tắc này như sau: Với vị trí là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đòi hỏi trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải tự mình đưa ra quyết định để giải quyết vụ án, không lệ thuộc vào bất cứ yếu tố nào khác. Hoạt động xét xử phải đảm bảo đúng pháp luật về trình tự thủ tục cũng như các quyết định đưa ra phải chính xác, có căn cứ pháp lý. Không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp vào hoạt động xét xử.
1.2 Nội dung nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1.2.1 Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
Xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà Tòa án là trung tâm của việc thực hiện và xét xử là hoạt động trọng tâm, đòi hỏi việc xét xử phải bảo đảm tính độc lập. Chính vì vậy, nguyên tắc độc lập xét xử được coi là tiền đề nền tảng của hoạt động tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, bảo đảm quan trọng cho việc xét xử được bình đẳng, dân chủ, khách quan. Theo tác giả luận văn, nếu lấy chủ thể của hoạt động xét xử để nghiên cứu thì sự độc lập được biểu hiện trên hai khía cạnh, đó là: Độc lập với các yếu tố khách quan và độc lập với các yếu tố chủ quan.
Thứ nhất: Độc lập với các yếu tố khách quan.
- Độc lập với sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Đối với các cơ quan Đảng thì mặc dù, về nguyên tắc, trong hoạt động của mình Tòa án phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, nhưng Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền hoạt động theo nguyên tắc pháp chế và mọi hoạt động của Đảng, kể cả hoạt động lãnh đạo, cũng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Vì lẽ đó, trong hoạt động xét xử, Tòa án chỉ căn cứ vào pháp luật và làm đúng theo các quy định của pháp luật; nghĩa là: khi xét xử Tòa án chỉ thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không bị bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào chỉ đạo.
- Độc lập với các cơ quan Nhà nước khác.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đều là công cụ của Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Tuy nhiên mỗi cơ quan đều có chức năng, nhiệm vụ riêng khi tham gia vào quá trình tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đưa ra chính kiến của mình nhưng không buộc HĐXX phải thực hiện theo.
- Sự độc lập của Tòa án với yêu cầu của bị can, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
Thứ hai: Độc lập với các yếu tố chủ quan
- Sự độc lập giữa các cấp xét xử trong hệ thống Tòa án, độc lập trong một Tòa án.
- Thẩm phán, Hội thẩm độc lập với nhau trong HĐXX.
- Độc lập trong việc đưa ra quyết định dựa trên những chứng cứ và quy định của pháp luật để kết luận về vụ án.
1.2.2 Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật, nhằm hạn chế tối đa oan sai, tiêu cực, tránh bỏ lọt tội phạm. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm cần phải nắm vững các quy định của pháp luật TTHS và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Các giai đoạn TTHS phải có nội dung là thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trên cơ sở các quy định của pháp luật TTHS nhằm giải quyết vụ án hình sự một cách công minh và khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền hợp pháp của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền quyết định bị cáo có tội hay không có tội. Vì thế, quyết định của Tòa án phải là quyết định khách quan, chính xác và độc lập xét xử phải là một nguyên tắc hoạt động của Tòa án. Khi xét xử vụ án hình sự, Thẩm phán và Hội thẩm căn cứ vào các tình tiết của vụ án, các chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào quy định của pháp luật để xác định tội phạm cũng như hình phạt đối với người phạm tội.
1.2.3 Mối quan hệ giữa độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm
Độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật luôn có mối quan hệ gắn bó, bổ sung cho nhau. Trong đó “độc lập” là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật và chỉ “tuân theo pháp luật” là cơ sở cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử. Yếu tố độc lập và tuân theo pháp luật không thể tách rời nhau. Độc lập nhưng phải tuân theo pháp luật và tuân theo pháp luật nhưng phải đảm bảo sự độc lập, tránh tình trạng áp đặt. Chính vì mối quan hệ này mà Thẩm phán và Hội thẩm phải tuân thủ cả hai nội dung “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” như đã nêu. Như vậy, có thể nhận thấy “Độc lập và tuân theo pháp luật” là hai nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chỉ khi nào đảm bảo Thẩm phán và Hội thẩm độc lập thì họ mới tuân theo pháp luật được và ngược lại.
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật xác định vai trò, vị trí của cơ quan Tòa án trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Nguyên tắc này còn có ý nghĩa trong việc đảm bảo công bằng xã hội. Mọi cá nhân dù ở địa vị xã hội nào, nếu vi phạm pháp luật đều bị xét xử như nhau. Thẩm phán độc lập là một trong các yếu tố để thực hiện công bằng xã hội, xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nguyên tắc này có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với lý luận cũng như thực tiễn áp dụng.
1.4 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong mối liên hệ với các nguyên tắc khác trong luật tố tụng hình sự
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ mật thiết với một số nguyên tắc trong luật tố tụng hình sự như: nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án.
Việc nghiên cứu và tìm hiểu nội dung của nguyên tắc này không chỉ có ý nghĩa với các cơ quan và cán bộ làm công tác pháp luật mà còn cần thiết đối với các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và mọi công dân vì nó đảm bảo cho Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xét xử không bị ràng buộc bởi bất cứ yếu tố nào khác ngoài pháp luật đồng thời loại trừ mọi sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động xét xử của Tòa án. Mặt khác việc tìm hiểu và nắm vững nguyên tắc này tạo điều kiện cho việc xét xử được khách quan, trung thực, bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và là một cơ sở quan trọng cho việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; đảm bảo cho Tòa án giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, chống được các biểu hiện tiêu cực nhằm từng bước thực hiện công bằng xã hội trong TTHS.
Chương 2 NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
2.1 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo quy định pháp luật Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Qua các thời kỳ phát triển lịch sử của đất nước, tuy có sự thay đổi rất nhiều thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy song nguyên tắc “khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo quy định của pháp luật” đều được quy định trong các bản Hiến pháp và các đạo luật khác được ban hành như BLTTHS, Bộ luật Tố tụng dân sự.
Kế thừa những quy định của pháp luật TTHS trước đó và tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở nước ta, nguyên tắc này được quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn được quy định cụ thể hơn tại khoản 1, Điều 9 Luật Tổ chức TAND năm 2014 “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào”.
Trong BLTTHS có những quy định liên quan đến độc lập xét xử của Tòa án. Cụ thể:
Thứ nhất: Các quy định mang tính nền tảng, định hướng cho việc đảm bảo Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật như: Điều 1, Điều 3, Điều 14 BLTTHS. Nội dung những quy định này mang tính định hướng đóng vai trò quan trọng, làm nền tảng cho quá trình xây dựng và thực thi pháp luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Thứ hai: Các quy định cụ thể đảm bảo Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật như: Quy định Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi (Điều 46 BLTTHS), quy định về trình tự tố tụng (Điều 207, Điều 222 BLTTHS), quy định về giới hạn thẩm quyền (Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Điều 196 BLTTHS).
Ngoài những quy định nêu trên trong BLTTHS còn có những quy định khác nhằm góp phần thực hiện hiệu quả nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Cụ thể: quy định về chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, thuyên chuyển, kỷ luật, cách chức, khen thưởng… đối với Thẩm phán, Hội thẩm; quy định về kinh phí hoạt động của Tòa án nhân dân.
Trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã và đang từng bước được bảo đảm bằng những chủ trương về đổi mới tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; về quy chế Thẩm phán và các quy định của Hiến pháp và pháp luật tố tụng.
2.2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
2.2.1 Tình hình xét xử trong những năm gần đây (2009 – 2014)
Trình bày bảng số liệu thống kê về số vụ án hình sự được thụ lý, số bị cáo và số lượng vụ án hình sự được giải quyết, kết quả xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tỉ lệ bản án, quyết định bị hủy. Qua đó đưa ra kết luận về số lượng vụ án hình sự, số lượng bị cáo, số lượng án phúc thẩm, án bị hủy đã tăng theo thời gian.
2.2.2 Những hạn chế trong việc tuân thủ nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật tại Đắk Lắk Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
2.2.2.1 Những hạn chế của Thẩm phán và Hội thẩm trong độc lập xét xử.
- Hạn chế về năng lực của Thẩm phán và Hội thẩm.
Đối với một tỉnh miền núi như Đắk Lắk vấn đề bổ sung nguồn nhân lực chất lượng, đào tạo bồi dưỡng cho Thẩm phán và Hội thẩm luôn gặp nhiều khó khăn bởi điều kiện kinh tế, xã hội còn hạn chế. Ngoài những nguyên nhân tác động như hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập chưa phù hợp, cơ sở vật chất và điều kiện làm việc vẫn còn nhiều khó khăn, chế độ lương và chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm vẫn chưa thực sự tương xứng và phù hợp thì nguyên nhân chủ yếu vẫn là do trình độ chuyên môn đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk vẫn còn chưa cao so với nhiều tỉnh khác.
- Thẩm phán và Hội thẩm còn phụ thuộc nhiều vào bản kết luận điều tra và bản cáo trạng của VKS trong hồ sơ vụ án.
Trong nhiều vụ án tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk, HĐXX tin vào kết quả điều tra có trong hồ sơ vụ án nên có thành kiến với bị cáo có tội, từ đó đặt những câu hỏi mang tính áp đặt buộc bị cáo khai đúng với những lời khai trước đó. Đây cũng chính là nguyên nhân để việc xét hỏi của Thẩm phán và Hội thẩm tại phiên tòa diễn ra nhiều lúc còn nặng nề và mang tính áp đặt giữa Thẩm phán và Hội thẩm đối với bị cáo.
- Còn tồn tại “định hướng xét xử” thông qua các cơ chế về việc họp án ba ngành, họp báo cáo án trong nội bộ cơ quan, thỉnh thị án cấp trên trước việc xét xử.
Những tác động xấu là có thể xảy ra tình trạng “án bỏ túi” khi những cuộc họp liên ngành có khi lại khiến cho các bên xác định luôn đường lối xử lý như mức hình phạt cụ thể, biện pháp chấp hành hình phạt mà không cần xem xét tới kết quả tại phiên tòa sau đó, nó khiến cho các Thẩm phán
Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung hầu như không quan tâm đến các tình tiết của vụ án, không nắm rõ nội dung vụ án nên dễ thống nhất với quan điểm đề xuất của Thẩm phán giải quyết vụ án. Ngoài ra, hoạt động thỉnh thị án cấp trên và họp bàn nhằm mục đích áp dụng thống nhất pháp luật. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
- Hội thẩm nhân dân chưa phát huy được hết vị trí của một người làm công tác xét xử trên thực tế.
Trên thực tế, Hội thẩm nhân dân tại tỉnh Đắk Lắk chưa phát huy được hết quyền năng của mình như pháp luật đã quy định. Nhiều trường hợp tại Đắk Lắk đối với các vụ án không có nhiều tình tiết phức tạp, Hội thẩm nhân dân không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án mà họ chỉ đọc trước phiên xét xử từ 1 đến 2 buổi, hoặc thậm chí có nhiều trường hợp Hội thẩm chỉ đọc ngay trước phiên xét xử. Như vậy tính độc lập xét xử không được đảm bảo. Trong báo cáo tổng kết công tác năm 2012 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2013 của ngành Tòa án tỉnh Đắk Lắk đã thừa nhận thực tế này, báo cáo chỉ rõ rằng “Các Hội thẩm ít chủ động trong việc thẩm vấn mà chủ yếu do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chủ động và trực tiếp thẩm vấn”.
2.2.2.2 Những hạn chế của Thẩm phán và Hội thẩm trong việc tuân theo các quy định của pháp luật khi xét xử.
- Số lượng án hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán vẫn còn tồn tại nhiều.
Tại báo cáo tổng kết công tác năm 2013, triển khai nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2014 của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk đã nêu lại vấn đề này, theo đó mặc dù đã có nhiều cố gắng, tỷ lệ án hủy, sửa do lỗi chủ quan đã giảm nhưng vẫn còn. Trong nhiều vụ án mà Thẩm phán, Hội thẩm đã thấy rõ ràng, có thể quyết định tội danh, quyết định hình phạt nhưng lại vướng vào giới hạn xét xử và nhiều trường hợp buộc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, vi phạm giới hạn khi tuyên án, phải điều tra, xét xử lại lại gây mất nhiều thời gian trong giải quyết vụ án hình sự mà thực tiễn tại Đắk Lắk đã cho thấy rõ điều đó.
- Việc áp dụng quy định của BLHS trong xét xử còn nhiều hạn chế.
Không tuân thủ đúng quy định của pháp luật trong xét xử khiến việc nhận định không chính xác, đánh giá không đúng tính chất hành vi phạm tội dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, xét xử không đúng tội phạm.
Nhận định không đúng về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội dẫn đến áp dụng sai các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử.
Vi phạm quy định về phạm vi xét xử theo quy định tại điều 196 BLTTHS. Điều này đã cho thấy nhiều Tòa án trên địa bàn tỉnh Đắk Lắc, do Thẩm phán và Hội thẩm không tuân thủ chặt chẽ quy định của Bộ luật TTHS về giới hạn xét xử nên đã để xảy ra nhiều trường hợp vi phạm về vấn đề này. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc tuân thủ nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật ở Đắk Lắk
2.2.3.1 Nguyên nhân đến từ những bất cập trong quy định của pháp luật.
Hệ thống pháp luật còn quá chồng chéo và chưa thực sự rõ ràng trong nhiều quy định gây khó khăn cho Thẩm phán, Hội thẩm khi xét xử. Sở dĩ còn việc Thẩm phán, Hội thẩm tại Đắk Lắk áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, có sự không độc lập, có sự thống nhất chứng cứ bằng cuộc họp liên ngành, thỉnh thị án, có sự tác động của các cá nhân khác đến hoạt động xét xử, trước hết một phần là do hệ thống pháp luật chưa rõ ràng, cụ thể, chưa có những chế tài cần thiết đủ mạnh để răn đe trước những hành vi phạm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật.
BLHS chưa thực sự rõ ràng trong nhiều quy định, gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vào hoạt động xét xử. Đặc biệt nhất chính là quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho phép HĐXX, tùy nghi lựa chọn những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ngoài những tình tiết đã được pháp luật quy định.
Trong một số quy định của BLTTHS cũng tồn tại nhiều bất cập làm ảnh hưởng đến nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Có thể kể đến quy định về giới hạn xét xử của Tòa án tại điều 196 BLTTHS bởi nó đã tạo cho giới hạn xét xử của Thẩm phán bị lệ thuộc nhiều vào Viện kiểm sát, nó có thể khiến cho Thẩm phán và Hội thẩm không thực sự độc lập trong xét xử, khó đưa ra quan điểm đánh giá riêng trong nhiều vụ án mà Thẩm phán, Hội thẩm đã thấy rõ ràng, có thể quyết định tội danh, quyết định hình phạt nhưng lại vướng vào giới hạn xét xử và nhiều trường hợp buộc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, điều tra lại gây mất nhiều thời gian trong giải quyết vụ án hình sự.
2.2.3.2 Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự ở Đắk Lắk cho thấy nguyên nhân nằm ở sự tác động từ nhiều phía tới Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử.
Tác động của tổ chức Đảng tới Thẩm phán và Hội thẩm: Đối với tỉnh Đắk Lắk, 100% số Thẩm phán đều là đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trên thực tế xảy ra ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung đã có không ít cấp ủy Đảng cố tình tác động tới Thẩm phán, Hội thẩm vào mặt chuyên môn, thực tế cũng đã cho thấy có nhiều vụ án mà sự tác động của các cấp ủy Đảng đã dẫn đến việc xét xử không chính xác nếu không muốn nói là sai pháp luật. Cần phải xem xét sự tác động như thế nào là đúng. Sai người Thẩm phán, Hội thẩm do không vững vàng về niềm tin và không xác định rõ giới hạn của ba từ “Đảng lãnh đạo” nên đã để tình trạng tác động của một số lãnh đạo cấp ủy Đảng vào công tác xét xử của Tòa án.
- Tác động từ lãnh đạo Tòa án ở một số địa phương trên địa bàn Tỉnh Đắk Lắk còn xảy ra
Trước hết hệ thống Tòa án Việt Nam được tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Đứng đầu mỗi Tòa án là Chánh án, đây chính là thủ trưởng của đơn vị. Các Thẩm phán chịu sự điều chỉnh, sắp xếp công việc của Chánh án. Có sự tác động của lãnh đạo Tòa án mà đặc biệt là của Chánh án đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu lực của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập, chỉ tuân theo pháp luật trên thực tế. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
- Tác động từ dư luận trước và trong mỗi phiên tòa.
Xét cho cùng, báo chí cũng chỉ là quan điểm của cá nhân, thậm chí đó là quan điểm tập thể, quan điểm đó có thể đúng và cũng có thể chưa chính xác. Trên thực tế hiện nay có nhiều vụ án xét xử theo hướng “làm dịu” sự phản ứng của dư luận xã hội. Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử không dựa trên pháp luật và bị tác động bởi dư luận, báo chí thì rõ ràng vi phạm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Có nhiều vụ án gây bức xúc trong quần chúng nhân dân khiến cho người dân phản ứng mạnh tại phiên tòa và một số Thẩm phán đã thừa nhận, nếu vụ án được xét xử tại trụ sở bị cáo chỉ có thể bị xử tù từ vài năm nhưng do xét xử lưu động, sự việc gây bức xúc trong quần chúng nhân dân nên phải xử nặng hơn để có tác dụng giáo dục chung.
2.2.3.3 Nguyên nhân từ yếu tố chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của một số Thẩm phán, Hội thẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Là một tỉnh khó khăn và thuộc vùng cao nguyên phía Tây của cả nước, Đắk Lắk gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho tỉnh, trong đó có việc thu hút những cử nhân luật. Việc đảm bảo cho đội ngũ Thẩm phán hiện tại trên địa bàn tỉnh đáp ứng được những điều kiện về trình độ chuyên môn một cách vững vàng đã là điều không dễ dàng, nên việc giúp cho họ nâng cao hơn nữa trình độ lại càng là một khó khăn bởi tình hình kinh tế, xã hội nhiều khi không cho phép. Hiện nay, ngành Tòa án nói chung cũng như ngành Tòa án Đắk Lắk nói riêng vẫn chưa có một quy chế riêng về đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán và Hội thẩm, chỉ có “Quy tắc ứng xử của cán bộ công chức ngành TAND”.
2.2.3.4. Nguyên nhân từ cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán chưa thật sự khiến cho nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được vận hành trôi chảy. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Thủ tục bổ nhiệm Thẩm phán hiện nay cũng là vấn đề ảnh hưởng đến độc lập xét xử của Thẩm phán. Việc bổ nhiệm một Thẩm phán qua nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều thủ tục, nhiều “cửa” sẽ đảm bảo hơn về chất lượng Thẩm phán. Tuy nhiên, chính nhiều “cửa” đó cũng sẽ sinh ra nhiều yếu tố tác động đến Thẩm phán hơn. Công tác tổ chức tập huấn Hội thẩm cũng chưa được quan tâm đúng mực, tổ chức không thường xuyên, nội dung tập huấn mới chỉ chú trọng vào nội dung của BLTTHS, Bộ luật Tố tụng dân sự, thời gian tập huấn còn quá ngắn. Nội dung kỹ năng xét xử và các văn bản pháp luật khác hầu như không được đề cập đến gây ảnh hưởng đến chất lượng xét xử.
Chế độ ưu đãi đối với Thẩm phán và Hội thẩm. Thẩm phán hiện nay hưởng lương theo ngạch hành chính của các cán bộ, công chức bình thường. Nhất là đối với một tỉnh cao nguyên khó khăn như Đắk Lắk, việc thiếu thốn nhiều điều kiện cơ sở vật chất đã khó khăn, cán bộ ngành Tòa án lại càng vất vả hơn trong cuộc sống hằng ngày bởi điều kiện kinh tế và khả năng trang trải cuộc sống.
2.2.3.5. Một số nguyên nhân khác.
Giữa Tòa án và cơ quan Đảng có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các cơ quan trong bộ máy Nhà nước trong đó có Tòa án. Sự chi phối là điều không thể tránh khỏi nếu bản thân lãnh đạo của những người Thẩm phán, Hội thẩm này không thật sự nghiêm túc và coi thường nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường cũng là một trong những tác nhân. Bởi Đắk Lắk là một tỉnh nghèo, khó khăn với các điều kiện kinh tế, xã hội hạn chế. Điều cần lưu ý, ở Đắk Lắk chủ yếu là đồng bào dân tộc Tây Nguyên sinh sống, chính trình độ dân trí không cao so với mặt bằng chung của nhiều tỉnh đồng bằng khiến cho nhận thức và khả năng tiếp nhận thông tin từ dư luận của đồng bào sẽ bị hạn chế hơn rất nhiều, nên việc đề cao cảnh giác trước mọi luồng thông tin xấu của các phần tử chống phá Nhà nước, có thể gây kích động cho bà con là điều luôn được đề cao.
Chương 3 NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
3.1 Những yêu cầu cải cách tư pháp về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Các quan điểm chỉ đạo cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay là: Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng gọn nhẹ, tinh giản, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, dân chủ, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội.
- Đổi mới mô hình TTHS theo hướng mở rộng tranh tụng, bảo đảm dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch trong hoạt động TTHS, hạn chế đến mức thấp nhất và khắc phục kịp thời oan sai trong TTHS.
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong TTHS góp phần đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm xuyên quốc gia.
Trên cơ sở thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS ở Việt Nam hiện nay, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp khi tiến hành nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nói riêng cần phải thực hiện theo những định hướng sau:
Thứ nhất, cải cách tư pháp phải dựa trên quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Thứ hai, bảo đảm địa vị cao nhất của pháp luật trong thực tiễn đời sống xã hội, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước và thực trạng đấu tranh, xử lý tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, đối với Toà án, Nghị quyết số 49-NQ/TW đề ra nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án theo hướng tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật phải đặt trong bối cảnh đổi mới thể chế, cải cách hành chính, cải cách lập pháp và đặc biệt là nâng cao vai trò, vị trí của người Thẩm phán.
Thứ năm, cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật phải đảm bảo sự kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc song hành cùng hội nhập quốc tế.
3.2 Những giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
3.2.1 Triển khai thực hiện Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014
Ngày 24 tháng 11 năm 2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) và Nghị quyết thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), đây là một căn cứ pháp lý quan trọng trong việc khẳng định vị trí, chức năng, nhiệm vụ cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành Tòa án nói chung và của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử nói riêng. Tại Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 tiếp tục thừa nhận nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Có thể chú ý một số điểm nổi bật cần triển khai sau: Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Triển khai có hiệu quả những quy định mới về việc Tòa án có thể tự kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ tại Điều 2 của Luật Tổ chức TAND năm 2014.
Triển khai thực hiện tổ chức Tòa án nhân dân theo mô hình gồm 4 cấp theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Việc sắp xếp lại hệ thống TAND theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014 cần được tiến hành theo lộ trình, tránh triển khai thực hiện một cách chung chung theo kiểu “bình mới rượu cũ”. Bởi đây là một quy định quan trọng cụ thể hóa đường lối lãnh đạo của Đảng trong các Nghị quyết của Bộ Chính Trị đã đề ra về chiến lược cải cách tư pháp.
- Quy định về nhiệm kỳ Thẩm phán.
Tuy luật 2014 đã có quy định về kéo dài nhiệm kỳ nếu được tái bổ nhiệm nhưng cũng cần có ràng buộc quy định những đợt đánh giá dựa trên số vụ án bị kháng cáo, kháng nghị và những căn cứ khác cho thấy Thẩm phán có hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức hoặc Thẩm phán không đủ năng lực để miễn nhiệm Thẩm phán. Thêm sự ràng buộc này sẽ giúp các Thẩm phán vừa an tâm công tác, vừa tăng cường trau dồi phẩm chất và trình độ và cũng là một yếu tố góp phần tăng cường hiệu quả của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Về việc thực hiện chế độ, chính sách đối với Thẩm phán.
Điều 75 của Luật tổ chức TAND 2014 đã đổi mới quy định về chế độ, chính sách đối với Thẩm phán, theo đó Nhà nước có chính sách ưu tiên về tiền lương, phụ cấp đối với Thẩm phán Đảm bảo thực hiện có hiệu quả chính sách này đã được quy định trong Luật Tổ chức TAND 2014 là biện pháp quan trọng nâng cao hiệu quả của nguyên tắc : “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
3.2.2 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về đảm bảo hiệu quả áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
- Sửa đổi Điều 16 Bộ luật TTHS năm 2003 để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và khoản 1 Điều 9 Luật Tổ chức TAND năm 2014.
- Cần xem xét về những quy định trong việc nghị án của HĐXX. Cần xem xét cụ thể để quy định một cách rõ ràng, những vấn đề cần nghị án là những vấn đề nào. Không được quy định chung chung khiến các Thẩm phán, Hội thẩm trong phòng nghị án gặp khó khăn, ảnh hưởng đến việc tuân theo pháp luật trong xét xử.
- Xem xét quy định về giới hạn xét xử theo hướng trong một số trường hợp nhất định, Tòa án có thể xét xử bị cáo với khoản khác nặng hơn khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, nhưng không được làm ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo.
- Cần xem xét và vạch ra kế hoạch cụ thể nhằm từng bước thực hiện việc công khai hóa các bản án hình sự đến đông đảo nhân dân, trừ những bản án hình sự về tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc liên quan đến thuần phong mỹ tục.
- Bổ sung thêm quy định về mối quan hệ thân thích giữa những người tiến hành tố tụng với nhau là căn cứ để thay đổi hoặc từ chối người tiến hành tố tụng, đặc biệt tại một phiên tòa xét xử.
- Phải đổi mới tranh tụng, điều tiết cho phù hợp sự tham gia của Thẩm phán và Hội thẩm vào việc xét hỏi theo quy định tại chương XX trong BLTTHS 2003.
3.2.3 Nâng cao trình độ chuyên môn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân để đảm bảo hiệu quả nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
- Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán.
Tác giả luận văn đồng tình với quan điểm bên cạnh giữ bộ khung của quy chế bổ nhiệm Thẩm phán hiện hành thì phải thêm các quy định mới về điều kiện để thắt chặt hơn về cơ chế bổ nhiệm. Như việc những Thẩm phán đương nhiệm có trình độ Cao đẳng trở xuống phải được chuẩn hóa trình độ để đảm bảo số lượng Thẩm phán có trình độ cử nhân luật đạt 100%. Ngoài ra, cũng cần làm tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên cho Thẩm phán để họ nâng cao về kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và cập nhật kiến thức mới ở trong và ngoài nước.
- Về trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Để Hội thẩm nhân dân thật sự phát huy được vai trò của mình, cần phải cung cấp kịp thời những thông tin về hoạt động xét xử cũng như các kiến thức pháp luật cho Hội thẩm. Tổ chức các đợt tập huấn dài hạn hoặc ngắn hạn kết hợp với kỹ năng xét xử. Nên quy định Hội thẩm phải do chính nhân dân bầu chọn một cách công khai, dân chủ trên cơ sở sự tín nhiệm của đông đảo quần chúng nhân dân. Mặt khác, ngành Tòa án cũng cần quản lý một cách chặt chẽ hơn đối với đội ngũ Hội thẩm nhân dân.
3.2.4 Giải pháp trau dồi đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán và Hội thẩm
Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, phẩm chất của người Thẩm phán là điểm đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thực tiễn của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Ngành Tòa án cũng cần xem xét về các tiêu chí để xây dựng nên một quy chế về đạo đức cho người Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, trong đó quy định về những ứng xử mà Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải làm.
3.2.5 Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
Tổ chức bộ máy của các Toà án được quy định theo hướng chuyên môn hoá nhưng linh hoạt, tránh cồng kềnh, gây tốn kém, lãng phí.
Cần quy định chặt chẽ hơn đối với mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới trong Tòa án và cần phân biệt rõ mối quan hệ giữa Chánh án và Thẩm phán trong cùng một Toà án, để tránh sự tác động trực tiếp, gây ảnh hưởng đến sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử vụ án hình sự nói riêng và các vụ án khác nói chung.
3.2.6 Các giải pháp khác
- Cần phải xác định phạm vi lãnh đạo của Đảng và hiến định các quy định về tổ chức và hoạt động của Đảng để bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Nâng cao nhận thức của các cá nhân khác về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Cần tăng cường sự giám sát của các đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu HĐND, Thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam…và đặc biệt là sự giám sát của nhân dân đối với việc xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
3.2.7 Một số giải pháp riêng để nâng cao hiệu quả nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Muốn thực hiện tốt hiệu quả nguyên tắc này, ngoài việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp chung đã được nêu ra, tỉnh Đắk Lắk cần hết sức quan tâm vào những giải pháp trọng tâm sau đây:
Phải xác định công tác tổ chức cán bộ là then chốt nên cần thường xuyên rà soát, kịp thời báo cáo và đề nghị với TANDTC và cấp ủy bố trí, tăng cường để đảm bảo về số lượng và chất lượng cán bộ. Chủ động bố trí, phân bổ đội ngũ Thẩm phán hợp lý cho từng đơn vị Tòa án, điều động đội ngũ cán bộ xét xử, sẵn sàng điều động cán bộ biệt phái theo yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài đảm bảo công tác xét xử không bị tồn đọng án. Đặc biệt Ngành Tòa án và chính quyền, đảng bộ tỉnh Đắk Lắk cần có thêm nhiều chính sách thu hút nhân lực có chất lượng cho Ngành Toà án, đối tượng có thể là cử nhân luật, những người có kinh nghiệm và trình độ về pháp lý để bổ sung cho sự thiếu hụt nhân sự ở một số Tòa án địa phương. Làm tốt công tác con người và có đội ngũ nhân lực chất lượng, đầy đủ thì mới có điều kiện để phát huy hiệu quả của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Chăm lo củng cố hoàn thiện đội ngũ cán bộ ngành Tòa án tỉnh Đắk Lắk, với những chính sách, chế độ cho đội ngũ cán bộ trong ngành phù hợp để họ yên tâm với công tác mang tính đặc thù này. Đặc biệt ở một số huyện khó khăn như Huyện Lắk, Huyện Ea Súp, Huyện Krông Bông …điều kiện làm việc và sinh hoạt của các Thẩm phán, Hội thẩm rất khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ tới thái độ chuyên tâm và trách nhiệm với nghề nghiệp của họ. Nếu như trong các giải pháp chung đã nêu, việc tăng cường các chính sách về lương bổng và các khoản phụ trợ cho Thẩm phán, Hội thẩm cần được quan tâm hơn thì đối với Đắk Lắk đây phải là nhiệm vụ trọng tâm.
Việc xây dựng Tòa án sơ thẩm và tổ chức lại hệ thống Tòa án cần phải đánh giá thực tiễn một cách cụ thể trên cơ sở có sự góp ý từ nhân dân, tăng cường việc tuyên truyền chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhất là tuyên truyền phổ biến về Luật tổ chức TAND năm 2014 để đồng bào được biết và hiểu. Làm tốt công tác tuyên truyền là cơ sở để việc thực thi có hiệu quả các chính sách được thực hiện trôi chảy và có hiệu quả trên thực tế.
KẾT LUẬN Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật với tư cách là một nguyên tắc Hiến định, có thời gian tồn tại lâu dài trong suốt thời gian 69 năm (từ Hiến pháp năm 1946). Với sự tồn tại bền vững như vậy, cũng đã chứng minh được tầm quan trọng của nguyên tắc này trong hoạt động Tố tụng nói chung và hoạt động TTHS nói riêng. Chính từ vị trí quan trọng của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu và rút ra những kết luận sau:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với lý luận cũng như thực tiễn áp dụng. Nguyên tắc này xác định vai trò, vị trí của cơ quan Tòa án trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Nguyên tắc này còn có ý nghĩa trong việc đảm bảo công bằng xã hội, góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, một Nhà nước của dân do dân và vì dân.
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện hành chưa đảm bảo nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được thực thi triệt để. Thực tiễn xét xử trong nhiều năm qua cho thấy, Tòa án nhân dân về cơ bản đã hoàn thành tốt chức năng của mình, tuy nhiên vẫn còn tình trạng oan sai trong xét xử. Thẩm phán và Hội thẩm chịu sự hệ thuộc bởi cơ chế bổ nhiệm ngắn và không vững chắc, bởi các mối quan hệ hành chính nội bộ trong Tòa án nơi mình làm việc và cấp trên, bởi quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, xem xét kỷ luật, cách chức chức danh Thẩm phán, bởi sự tác động và áp lực mức lương và thu nhập còn khiêm tốn. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật chưa đủ mạnh để đảm bảo tính chịu trách nhiệm của Tòa án, của Thẩm phán và trách nhiệm giải trình trong hoạt động xét xử; vẫn tồn tại hiện tượng can thiệp của các tổ chức, cá nhân vào quá trình xét xử. Điều đó làm cho hoạt động xét xử thiếu vắng sự giám sát hữu hiệu của công chúng và dẫn đến sự thiếu minh bạch, tùy tiện và cơ hội tham nhũng trong Ngành Tư pháp. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
Trên nền tảng những vấn đề pháp lý cơ bản của độc lập xét xử và phân tích thực trạng của các cơ sở hiến định và pháp luật liên quan về độc lập xét xử cũng như việc thực hiện các quy định đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật để nguyên tắc này thật sự đạt hiệu quả cao nhất, góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công những yêu cầu của cải cách tư pháp mà Đảng đã đề ra.
Là một bộ phận trong hệ thống TAND Việt Nam, trong hoạt động xét xử của Tòa án tỉnh Đắk Lắk, nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Luật TTHS Việt nam cũng được tuân thủ chặt chẽ. Ngoài những thành tựu đã đạt được thì hoạt động TTHS của tỉnh Đắk Lắk cũng bộc lộ một số khuyết điểm. Thẩm phán, Hội thẩm ở nhiều Tòa án còn có tư duy quá phụ thuộc vào hồ sơ vụ án dẫn đến phân tích không kỹ càng các tình tiết, các vấn đề của vụ án mà họ xét xử. Một số khác thì quá tin tưởng vào tư duy cá nhân dẫn đến việc xét xử theo ý chỉ chủ quan, không tuân theo pháp luật, nhiều vụ án Thẩm phán độc lập hoàn toàn so với Hội thẩm, đây là tình trạng độc lập quá đà dẫn đến không khách quan khi lượng hình và định tội. Những thực trạng này đã cho thấy nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật vẫn còn nhiều bất cập khi thực hiện trên thực tế tại Đắk Lắk.
Kết quả xét xử thể hiện nền công lý, sự đối xử bình đẳng, công bằng trong tất cả các mối quan hệ và cũng là thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp. Xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà Tòa án là trung tâm của việc thực hiện và xét xử là hoạt động trọng tâm, đòi hỏi việc xét xử phải bảo đảm tính độc lập. Chính vì vậy, nguyên tắc độc lập xét xử được coi là tiền đề nền tảng của hoạt động tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, bảo đảm quan trọng cho việc xét xử được bình đẳng, dân chủ, khách quan. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Bởi vậy cần có một hành lang pháp lý chuẩn mực, đồng thời tăng cường sự giám sát mạnh mẽ hơn nữa nhằm nâng cao ý thức và thái độ nghiêm túc của những người làm công tác xét xử, tránh hoàn toàn những tác động không nên xảy ra, để cho mỗi phán quyết, mỗi quyết định của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân luôn là một quyết định độc lập và đúng pháp luật. Luận văn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Đánh giá chứng cứ trong luật tố tụng hình sự

Pingback: Luận văn: Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam