Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nghiên cứu thị trường khách du lịch Nhật Bản đối với du lịch Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá – xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới.

Du lịch là sứ giả của hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, các dân tộc. Trên thế giới, du lịch hiện được xem là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to lớn về kinh tế – xã hội mà nó đem lại. Điều này càng thể hiện rõ hơn trước xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá.

Ở Việt Nam, Đại hội Đảng IX đã xác định “…Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực…”, việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch Việt Nam là rất cần thiết, làm cơ sở để thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch và giải pháp phát triển du lịch đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Du lịch Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế của đất nước. Du lịch là một trong những thế mạnh của Việt Nam. Vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên tự nhiên và nhân văn đa dạng, phong phú có một ý nghĩa đặc biệt trong việc thu hút khách du lịch quốc tế tại Việt Nam.

Việt Nam là một quốc gia mới phát triển du lịch nên việc tìm kiếm thị trường khách là rất cần thiết. Từ trước đến nay, có thể nói việc nghiên cứu đặc tính và xu hướng tiêu dùng của khách Nhật Bản còn là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Thị trường khách du lịch Nhật Bản được xác định là thị trường đầy tiềm năng và nay là thị trường trọng điểm đối với du lịch Việt Nam. Để thị trường khách du lịch Nhật Bản thực sự là thị trường khách du lịch trọng điểm đối với du lịch Việt Nam cần có giải pháp cụ thể, thiết thực, ổn định và khả thi. Hiện nay vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu về trị trường trọng điểm này. Từ yêu cầu bức xúc của việc phát triển thị trường du lịch Nhật Bản, tác giả mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thị trường khách du lịch Nhật Bản đối với du lịch Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm các giải pháp để thu hút khách du lịch Nhật Bản trở thành thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam.

Luận văn tiếp cận và nghiên cứu thị trường khách du lịch Nhật Bản với mục đích góp phần phát triển thị trường khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam, làm cho thị trường khách Nhật thực sự là một thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam trong những năm tới.

Luận văn này chỉ là nghiên cứu thực trạng và khả năng khai thác thị trường khách du lịch Nhật Bản đối với Việt Nam cũng như đưa ra những giải pháp nhằm thu hút khách ngày càng đông hơn. Hiện nay Nhật Bản là thị trường du lịch giàu tiềm năng và sẽ phát triển rất mạnh trong những thập niên tới nhất là thị trường du lịch nước ngoài (outbound). Nhật là một quốc gia có số người đi du lịch hàng năm rất lớn (trên 17 triệu), chi phí của khách du lịch Nhật Bản rất cao. Nghiên cứu về thị trường khách Nhật Bản, luận văn đề cập những vấn đề về đất nước, con người và văn hoá Nhật Bản, đưa ra những nhận định đánh giá về thị trường khách du lịch Nhật Bản, về tâm lý, đặc tính và xu hướng thị trường khách Nhật Bản. Đồng thời luận văn cũng đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm thu hút khách đến du lịch Việt Nam đông hơn. Ngoài ra đề tài cũng phân tích các nguyên nhân cơ bản nhằm giúp hoàn thiện các giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả kinh doanh, góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu nhập cho ngành.

3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

  • Đối tượng nghiên cứu:
  • Nghiên cứu khách du lịch Nhật Bản
  • Các giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Nhật Bản trở thành thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.
  • Về không gian: Nghiên cứu khách du lịch Nhật Bản trên địa bàn Hà Nội
  • Về thời gian: Tập trung phân tích đánh giá thực trạng khách du lịch Nhật Bản giai đoạn từ 2001 – 2005.

Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích và tìm hiểu đặc điểm tâm lý, đặc điểm tiêu dùng của thị trường khách du lịch Nhật Bản cũng như các đặc trưng cuả thị trường khách du lịch Nhật Bản dưới góc độ thoả mãn các nhu cầu có khả năng thanh toán đối với du lịch Việt Nam. Đặc biệt là khảo sát thị trường khách du lịch Nhật Bản ở Hà Nội, trong khoảng thời gian từ 5/2005 – 5/2006.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin (sách, báo, tài liệu thu thập từ các doanh nghiệp lữ hành, mạng Internet) – Phương pháp phân tích tổng hợp.
  • Phương pháp thống kê
  • Phương pháp điều tra xã hội (điều tra bảng hỏi về nhu cầu và sở thích của khách du lịch Nhật Bản)
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu.

5. Đóng góp của luận văn

Luận văn muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng và phát triển ngành du lịch nước nhà, từng bước hội nhập vào du lịch khu vực và quốc tế. Mặt khác, những kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tư liệu tham khảo cho người nghiên cứu thị trường và giúp cho các doanh nghiệp du lịch Việt Nam có thêm những thông tin về thị trường khách Nhật trong việc kinh doanh du lịch nhằm đem lại kết quả tốt đẹp.

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, tiểu kết, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục (bảng biểu, tranh ảnh minh hoạ), luận văn gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Nghiên cứu về cầu du lịch nhật bản
  • Chương 2: Thực trạng về thị trường khách du lịch nhật bản
  • Chương 3: Giải pháp khai thác thị trường khách du lịch nhật bản là thị trường trọng điểm

CHƯƠNG 1 CẦU DU LỊCH NHẬT BẢN

1.1. Nhật Bản dưới góc nhìn du lịch

1.1.1. Giới thiệu về đất nước và con người Nhật Bản

1.1.1.1. Đất nước

Người dân Nhật Bản gọi đất nước mình là Nihon hay Nippon đều có ý muốn cả thế giới hãy biết đến Nhật Bản như là “Đất nước mặt trời mọc” (Nhật = mặt trời, Bản = gốc). Trên nền trắng của quốc kỳ Nhật Bản nổi lên hình mặt trời đỏ, quốc kỳ còn được gọi là Hinomaru có nghĩa là “vầng mặt trời”. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Nhật Bản là một nước quân chủ lập hiến ở phía đông lục địa châu Á.

Quần đảo Nhật Bản chạy dài theo một hình trăng lưỡi liềm từ đảo Sakhalin (CHLB Nga) tới Đài Loan (Trung Quốc), dài chừng 3800 km từ 45033 xuống 20025 vĩ Bắc, bao gồm bốn hòn đảo lớn là Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu và khoảng 6850 đảo nhỏ khác. Honshu là đảo lớn nhất chiếm 61,1% tổng diện tích nước Nhật.

Nhật Bản được chia thành 8 vùng với 47 tỉnh, dưới đó là các quận, khu, xã, thôn. Đảo Honshu, Shikoku và Kyushu là ba vùng. Riêng trên đảo Honshu- hòn đảo lớn nhất, là năm vùng: Tohoku, Kanto, Chubu, Kansai và Chugoku. Diện tích đất liền của toàn bộ đất nước Nhật Bản vào khoảng 378.000 km2 gần tương đương với diện tích Phần Lan (338.000 km2 ), gấp 1/5 lần diện tích nước Anh, bằng 1/9 lần diện tích Ấn Độ, 1/25 diện tích nước Mỹ, chiếm chưa đầy 0,3% diện tích toàn thế giới và lớn hơn diện tích Việt Nam (329.465 km2 ) chừng 15%. Thủ đô là Tokyo, là một trong những thành phố đông dân nhất trên thế giới và cũng là một trong những thành phố sạch sẽ và an toàn nhất.

Dân số Nhật Bản tính đến ngày 12/10/1999 vào khoảng 126.500.000 người, đứng hàng thứ 9 trên thế giới. Trong đó 49% dân số sống tập trung ở ba thành phố Tokyo, Osaka, Nagoya và các thành phố xung quanh đó.

Phần lớn nước Nhật là những ngọn núi cao với thung lũng hẹp ở giữa. Núi là một trong những cảnh thiên nhiên đẹp nhất Nhật Bản. Dãy Alps Nhật Bản trên đảo Honshu rất nổi tiếng nhưng nổi tiếng là Fuji san – có nghĩa là “Núi rượu trường sinh”, ngọn núi cao nhất Nhật Bản (3776 m). 1/10 tổng số núi lửa trên thế giới nằm ở Nhật Bản. Rừng núi chiếm đến 2/3 diện tích nước Nhật, các triền núi thường núi thường có độ dốc cao và được bao bọc bởi cây cối um tùm. Toàn bộ đường bờ biển và đại dương khiến cho cá trở nên quan trọng trong bữa ăn cũng như trong nền kinh tế Nhật Bản. Nhật Bản còn có những nguồn suối nóng tự nhiên được sử dụng để tắm dưỡng sinh và nhiều sông, hồ đẹp tuyệt vời.

Vì các hòn đảo trải dài như vậy nên thời tiết biến đổi rất nhiều. Ở miền Bắc, mùa đông giá lạnh và có tuyết, mùa hè ôn hoà. Còn những đảo ở phía Nam như Kyushu, Okinawa ấm áp hơn nhiều. Mùa xuân (haru) bắt đầu vào tháng 3 khi cây cối ra hoa và ngày thì ấm dần lên. Sau mùa xuân là đến mùa hè (natsu), kéo dài từ khoảng tháng 5 cho tới đầu tháng 9. Từ tháng 9 đến hết tháng 11 là mùa thu (aki), trời trở nên khô và mát dịu hơn mặc dù đôi khi vẫn có mưa thậm chí còn có cả những trận cuồng phong hoặc những cơn bão lớn. Vào mùa đông (fuyu), từ cuối tháng 11 đến tháng 2, những trận gió lạnh từ vùng Xibiri và Mông Cổ thổi tạt ngang qua nước Nhật.

Sự đa dạng về đất đai và khí hậu tạo nên sự phong phú tuyệt vời về thực vật. Một số loài hoa và cây cối có ý nghĩa quan trọng trong đời sống Nhật Bản. Hoa anh đào biểu trưng cho vẻ đẹp chóng lụi tàn, cây thông là biểu trưng sự trường thọ còn cây tre tượng trưng cho khả năng vượt qua khó khăn và phát triển mạnh mẽ.

Địa hình phức tạp của Nhật Bản đã tạo nên những cảnh đẹp dễ gây xúc động- những hồ tuyết trên núi, những hẻm đá và những con sông chảy xiết, những đỉnh núi gồ ghề và những thác nước thơ mộng. Chúng luôn là nguồn cảm hứng và thú vị cho cả người Nhật lẫn các du khách nước ngoài. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Nhật Bản đạt được bước nhảy vọt về kinh tế thông qua sự phát triển thần kỳ của ngành công nghiệp kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Nhật Bản ngày nay là một trong những quốc gia phát triển và thịnh vượng nhất thế giới. Phong cảnh và truyền thống của Nhật Bản ở từng vùng cũng có sự khác nhau. Về thắng cảnh lịch sử, phải kể đến các ngôi đền thờ và lâu đài cổ kính ở Honshu, đặc biệt là khu vực quanh Kyoto và Nara. Cũng có những thắng cảnh hiện đại như khu mua bán và giải trí ở Tokyo và Osaka. Những lễ hội đặc biệt như ở vùng Sapporo, Yokote và Fukuoka là một phần quan trọng của nền văn hoá Nhật Bản. Đây là đất nước của cảnh đẹp thiên nhiên và có nền văn hoá đa dạng.

1.1.1.2. Con người

Nhật Bản là quốc gia thuần nhất cao độ về phương diện sắc tộc. Người Nhật chiếm tới 99% dân cư. Tiếng Nhật là quốc ngữ, Phật giáo và Khổng giáo từ lâu đã giữ một vai trò to lớn trong việc hình thành hệ tư tưởng kiến trúc thượng tầng xã hội Nhật Bản. Bản sắc dân tộc cao hơn bản sắc cá nhân, yêu thiên nhiên, tính kỷ luật cao, ôn hoà, tiết kiệm và năng động trong việc tiếp thu cái mới. Một điều thật ấn tượng là người Nhật rất sạch sẽ. Bất cứ khi nào bạn bước vào nhà hàng, nhà tắm hơi hay phòng vệ sinh công cộng bạn đều được phục vụ một chiếc khăn ẩm để lau tay.

Người Nhật có tính độ lượng và tôn trọng người nói chuyện với mình. Trong khi nói chuyện, họ thường nhìn vào mắt nhau và không ngừng nói “Hai” có nghĩa là “tôi đang chăm chú lắng nghe bạn nói đây, bạn thân mến ạ” [46,11].

Người Nhật rất tôn trọng truyền thống và được giáo dục rất cẩn thận. Họ mong muốn giữ gìn nguyên vẹn phép xử thế và các hình thức văn hoá đã được thừa hưởng từ những thế hệ trước. Người Nhật có thái độ đặc biệt trân trọng đối với nếp sống đã hình thành cũng như đối với di sản văn hoá. Tính truyền thống của người Nhật có ảnh hưởng trên nhiều phương diện đối với sinh hoạt – xã hội – chính trị của nước Nhật.

Người Nhật thích tất cả những gì cụ thể, có hình ảnh. Ở người Nhật, tính cụ thể của tư duy gắn liền ở mức độ lớn với những đặc điểm của ngôn ngữ và văn tự. Người Nhật có truyền thống sống cùng một gia đình lớn có cả ông bà, cha mẹ và con cái. Bên cạnh đó, việc tiếp xúc thường xuyên với thiên nhiên phong phú và đa dạng đã làm cho người Nhật có thói quen “cảm nhận cái đẹp, thích thưởng thức cái đẹp”. Người Nhật coi giống liễu rủ (Yanaki) là linh mộc vì nó là giống cây đem lại may mắn và thành đạt gợi được trong lòng người Nhật khoái cảm thẩm mỹ. Người Nhật cũng quan tâm đến năm sinh, tháng đẻ, tướng số, mặt, chỉ tay để đoán biết tính cách hậu vận và tương lai. Nếu người Nhật ở phía Nam (Osaka) thích vui vẻ xã giao rộng, thích thương mại thì người phía Bắc lại kín đáo, không thích hỏi về tuổi tác và đời tư của người khác.

Có thể nói thiên nhiên Nhật Bản đẹp nhưng thật khắc nghiệt đối với con người. Những hòn đảo nghèo nàn này không được hưởng thiên thời và địa lợi. Vậy mà những con người Nhật Bản như càng được tôi luyện thêm trong thiên nhiên nghiệt ngã, họ đã vươn lên một cách quả cảm, trở thành một trong những dân tộc đứng đầu thế giới về sự phát triển kinh tế, kỹ thuật.

1.1.1.3. Kinh tế – xã hội Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945 – 1954), phát triển cao độ (1955 – 1973). Từ 1974 đến nay, tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế – công nghiệp – thương mại – tài chính – dịch vụ – khoa học kỹ thuật đứng thứ hai trên thế giới (sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu người là 36.217 USD (1999) [13, 27]. Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là đồng yên Nhật.

Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ. Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt trên 3%, quý 1/2004 đạt 4%. [32, 31]

1.1.1.4. Du lịch Nhật Bản

Phong cảnh và truyền thống của Nhật Bản ở từng vùng có sự khác nhau. Về thắng cảnh lịch sử, phải kể đến các ngôi đền thờ và lâu đài cổ kính ở Honshu, đặc biệt là khu vực quanh Kyoto và Nara. Cũng có những thắng cảnh hiện đại như khu mua bán và giải trí ở Tokyo và Osaka. Những lễ hội đặc biệt như ở vùng Sapporo, Yokote và Fukuoka là một phần quan trọng của nền văn hoá Nhật Bản. Đây là đất nước của cảnh đẹp thiên nhiên và có nền văn hoá đa dạng.

Một số địa điểm du lịch nổi tiếng ở Nhật Bản như :

  • Lễ hội Tuyết ở Sapporo, Hokkaido.
  • Ở Yokote, Akita thuộc miền bắc Nhật Bản, trẻ em đắp những ngôi nhà bằng tuyết (kamakura) nơi chúng vui chơi với bạn bè trong suốt lễ hội Kamakura.
  • Đền Toshogu ở Nikko, Tochigi, rất nổi tiếng với những bức chạm gỗ tinh xảo.
  • Khu Ginza ở Tokyo – không cho xe cộ qua lại vào ngày Chủ nhật và các ngày lễ – là một địa điểm được người ta rất thích đến để mua sắm cũng như dạo chơi.
  • Mọi trẻ em Nhật đều mơ ước được đến thăm khu Disneyland ở Chiba, Tokyo.
  • Tượng Đại Phật (Daibutsu) cao 13,35 mét ở Kamakura,Kanagawa, được dựng năm 1252.
  • Đền Kinkakuji phủ vàng ở Kyoto được xây dựng lần đầu vào thế kỷ 14.
  • Toà thượng điện và chùa ở đền Horyuji tại Nara được xây dựng từ thế kỷ thứ 7.
  • Đảo Nakanoshima là trung tâm hoạt động kinh doanh ở Osaka.
  • Một phần lâu đài Himeji được xây dựng lần đầu vào thế kỷ 14, gợi nhớ đến hình ảnh một con diệc trắng như tuyết.
  • Các đụn cát Tottori chỉ là một trong nhiều phong cảnh khác nhau ở Nhật Bản.
  • Công viên tưởng niệm hoà bình ở Hiroshima là nơi tưởng niệm những nạn nhân khi thành phố bị bom nguyên tử phá huỷ năm 1945.
  • Lễ hội Hakata Dontaku được tổ chức từ ngày mùng 3 đến mùng 4 tháng 5 ở Fukuoka trên đảo Kyushu.
  • Những vỉa san hô và vùng biển trong xanh quanh các hòn đảo cận nhiệt đới ở Okinawa.

1.1.2. Vài nét về văn hoá Nhật Bản Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Nền văn hoá và các đặc điểm tính cách của mỗi dân tộc đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện lịch sử, địa lý và khí hậu.

Vị trí địa lý của Nhật Bản có ba đặc điểm lớn là: một quốc đảo có địa hình nhiều núi non ở Đông Bắc Á (75% là rừng và núi), nằm tương đối tách biệt với lục địa châu Á và ở ngoại vi của các trung tâm văn minh của thế giới. Nằm ở vùng khí hậu ôn hoà, Nhật Bản có nhiệt độ tương đối ấm. Lượng mưa hàng năm từ 1600mm – 1700mm, đặc biệt có mưa lớn khoảng đầu mùa xuân và giữa mùa hè. Phía tây nam Nhật Bản là vùng có độ ẩm nhiệt đới, nền nông nghiệp và cuộc sống có nhiều điểm giống như phía nam Thái Bình Dương trong 3 – 4 tháng mùa hè.

Những điều kiện đó dẫn đến một đặc điểm khái quát là Nhật Bản đủ để xa châu Á để thoát khỏi những ảnh hưởng của biến đổi của lục địa, nhưng lại đủ gần để có thể hưởng những thành quả của nền văn minh đó. Hơn nữa, với một cộng đồng dân tộc tương đối thuần nhất, Nhật Bản có khả năng tiếp nhận ảnh hưởng văn hoá của nước ngoài để phát triển cho mình nền văn hoá riêng.

Đó là một nền văn hoá mang đậm nét dân tộc với những đặc điểm sau:

Nhật Bản – một nước có nền văn hoá với tính thuần nhất cao.

Từ hàng ngàn năm trước, các hòn đảo Nhật Bản đã là ngôi nhà chung của nhiều người nhập cư đến đấy, trải qua nhiều thời đại và từ nhiều nước khác nhau trên lục địa, và có thể từ những hòn đảo ở phía Nam. Trải qua nhiều thời đại lịch sử, sự pha trộn đó đã sản sinh ra một dân tộc tương đối thuần nhất, phân biệt với cả các nước láng giềng như Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, cả trong ngôn ngữ, sinh hoạt, tôn giáo, cơ cấu chính trị và xã hội. Những nét riêng đó đã sớm trở thành bản chất của người Nhật Bản. Ở Nhật Bản, điều quan trọng hàng đầu là truyền thống của một cộng đồng hơn là truyền thống của một cá nhân, và đặc trưng này đã đóng góp nhiều vào tính chất đồng nhất của xã hội Nhật Bản.

Dễ dàng tiếp thu văn hoá nước ngoài

Trong lịch sử đã luôn luôn có những sự gặp gỡ giữa văn hoá Nhật Bản với các quốc gia văn minh khác như Trung Quốc và châu Âu. Từ xa xưa, người Nhật đã có sự khát khao đối với các nền văn minh khác và trong lịch sử tiến hoá của mình, người Nhật hoan nghênh các yếu tố văn hoá nước ngoài mà không gạt bỏ các tập tục và truyền thống đã có. Có thể nói, nhân dân Nhật Bản đã hấp thụ có chọn lọc nhiều phát kiến văn hoá của các nền văn minh lớn trên thế giới. Sự dễ dàng tiếp thu văn hoá nước ngoài là một truyền thống của Nhật Bản đã có từ lâu đời. Đó là truyền thống không đóng cửa, không bảo thủ, không cực đoan nhưng cũng không đánh mất cốt cách của dân tộc mình. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Tình yêu thiên nhiên

Thiên nhiên luôn luôn là người bạn gần gũi và quen thuộc đối với người Nhật. Mặc dù họ từng dạy học sinh từ cấp tiểu học rằng: “Thiên nhiên không dành cho nước ta những ưu đãi. Tất cả tương lai là ở trong tay các bạn” [7, 40] nhưng họ không coi thiên nhiên là một lực lượng đối lập tàn khốc. Quan niệm hoà vào thiên nhiên này là phù hợp với cách nhìn của những người dân sống trên một quốc đảo có khí hậu ôn hoà và đầy mưa. Tinh thần hoà hợp với thiên nhiên nằm trong bản chất của người Nhật, đi vào triết học và tôn giáo của họ, trong cảm xúc và sự thưởng thức thiên nhiên của họ. Thiên nhiên cũng chiếm một vị trí lớn trong văn học và hội hoạ Nhật Bản.

Thích những cái gì đơn giản, nhỏ nhắn, tinh tế và khéo léo hơn là những thứ to lớn, lộng lẫy và hiển nhiên.

Một trong những phong cách thẩm mỹ của nghệ thuật Nhật Bản là sự tế nhị, đơn giản và gián tiếp. Sự tế nhị hàm ý không thật hiển nhiên và đòi hỏi nghiên cứu kỹ những gì đáng trân trọng.

Công viên của Nhật được thiết kế sao cho giống tự nhiên và không đưa vào đó những dáng vẻ nhân tạo. Đó là một điều khác với phương Tây. Ở Nhật Bản, không chỉ trong cảnh quan kiến trúc mà trong các hình thức nghệ thuật khác, tính tự nhiên hết sức được coi trọng và đánh giá cao.

Trà đạo Nhật Bản có truyền thống hàng thế kỷ là một thứ nghệ thuật, đồng thời là một trò tiêu khiển có tính thẩm mỹ. Tinh thần cơ bản của việc thưởng thức trà là hài hoà, tôn kính, tinh khiết và trong trẻo.

Bonsai là nghệ thuật trồng cây trong chậu nhỏ. Nó tạo ra những cây cảnh đẹp tự nhiên và cho ta sự thưởng thức thiên nhiên trong hình ảnh thu nhỏ lại.

Sự thờ cúng tổ tiên Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Đạo Phật, đạo Shinto (thờ cúng tổ tiên và thánh thần), đạo Khổng, đạo Thiên Chúa là những tôn giáo lớn ở Nhật. Có một sự trộn lẫn của cả bốn thứ tôn giáo đó trong đời sống tinh thần của mỗi cá nhân, nhưng sự thờ cúng tổ tiên có ảnh hưởng to lớn nhất. Xã hội Nhật Bản tạo đủ điều kiện chấp nhận đa tôn giáo, dù có nguồn gốc trong nước hay ngoài nước, trong khi truyền thống lâu đời của họ là một đất nước của những gia đình và những cộng đồng.

Bên cạnh đó, sự bền bỉ, kiên trì cũng là một tính cách của người Nhật.

Đó cũng là một dạng khác của sự tinh tế, khéo léo, ưa nhỏ nhắn và cụ thể của họ. Trước bất kỳ sự kiện nào, dù trong lĩnh vực nào, họ không vội vã, không nhiều lời, không bàn đến những cái quá xa và viển vông. Họ bình tĩnh, xem xét từng điều kiện cụ thể, chia việc lớn ra thành nhiều việc nhỏ, giải quyết xong cái trước sẽ đến cái sau, cứ thế mà đi đến đích.

“Nếu phải thử định rõ tính cách văn hoá Nhật Bản chỉ bằng vài từ thôi, ta có thể nói là nó bộc lộ sự ưa thích cái duyên dáng tế nhị bên trong được hiểu như là sự đối lập với cái tráng lệ  bên ngoài”. [24, 17]

Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia đều nằm ở châu Á – Thái Bình Dương. Hai nước không chỉ gần nhau về mặt địa lý mà còn có nhiều điểm tương đồng và có quan hệ lâu đời về kinh tế, văn hoá.

Có thể nói Việt Nam và Nhật Bản còn có nhiều tiềm năng để có thể mở rộng hơn nữa hợp tác văn hoá và cả hai bên đều tỏ rõ sự quan tâm thúc đẩy. Mọi sự hợp tác đều phải dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau. Hiện nay ở Nhật Bản đã có một Hội nghiên cứu Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Còn ở Việt Nam, cũng đã hình thành Hội đồng phối hợp nghiên cứu Nhật Bản. Đây là một trong những tác nhân quan trọng thúc đẩy quá trình hợp tác nói chung, quá trình giao lưu văn hoá nói riêng. Hơn nữa, trong bối cảnh quan hệ kinh tế Nhật – Việt đã đạt được những thành công nhất định, đây chính là thời điểm chúng ta phải nâng cao hiểu biết về Nhật Bản, phải có kế hoạch đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực này. Hy vọng đến một thời điểm nào đó người Việt Nam sẽ quen với âm nhạc Gagaku (âm nhạc cung đình xa xưa), biết thế nào là Bunraku, là Kabuki, Buto… đồng thời người Nhật Bản cũng có thể phân biệt đâu là chèo, tuồng, ca trù và đặc biệt là nhã nhạc cung đình Huế… của Việt Nam.

1.2. Người Nhật Bản trong cộng đồng Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

1.2.1. Đặc điểm tâm lý xã hội của người Nhật

1.2.1.1. Tính cách

  • Đặc điểm chung:

Người Nhật rất yêu lao động và nhiệt tình trong mọi lĩnh vực hoạt động, lao động là đặc điểm quan trọng nhất trong tính cách dân tộc Nhật.

Yêu thiên nhiên: tình gắn bó với thiên nhiên của người Nhật Bản có sắc thái tín ngưỡng và tôn giáo trong tiềm thức dân gian. Đối với người Nhật, mỗi loại cây và hoa đều có ý nghĩa tượng trưng. Thông, tre và mận biểu tượng tuổi thọ, sự lâu bền. Hoa cúc nở muộn và lâu tàn thường dùng để mừng thọ và cũng là hoa biểu tượng của hoàng gia. Tre từ xưa vốn được nhân dân tôn kính, được coi là nơi có thần ở. Tre và măng được thờ ở các đền Thần đạo. Đi ngắm hoa, ngắm cảnh thiên nhiên là một phong tục đẹp của người dân Nhật Bản.

Tính cách dân tộc Nhật còn được thể hiện ở sự thông minh, cần cù, khôn ngoan. Bản sắc cộng đồng cao hơn bản sắc cá nhân. Trong tính cách của người Nhật, những yếu tố tương phản, đối lập hiện lên một cách rõ rệt, sắc nét, quyết liệt: “Người Nhật có thể thưởng thức cái đẹp mong manh của hoa anh đào và cái ánh thép lạnh người của một thanh bảo kiếm” [24, 116].

Tâm tính của người Nhật còn được thể hiện qua lối sống truyền thống của cư dân. Uống trà là cả một nghệ thuật, một nghi lễ, được gọi là “trà đạo”. Cùng với trà đạo, uống rượu sakê cũng là một phong tục truyền thống của người Nhật, đòi hỏi những nghi lễ riêng. Bên cạnh đó người Nhật còn có óc thẩm mỹ rất phát triển điều này được thể hiện rõ qua kiến trúc nhà và vườn.

  • Đặc điểm hành vi của nhóm người Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Người Nhật có tính kỷ luật cao. Trong quan hệ giữa các cá nhân của người Nhật, tính kỷ luật biểu hiện như là sự mong muốn đạt tới tính điều chỉnh. Đặc điểm này của họ đòi hỏi phải nghiêm chỉnh tuân theo một trật tự đã được qui định. Bên cạnh tính kỷ luật, người Nhật còn trung thành với nhân vật có uy quyền, chu toàn bổn phận với nhóm. Ngay từ nhỏ, người Nhật đã có thói quen đặt “cái tôi” của mình dưới lợi ích của nhóm. Người Nhật được giáo dục ý thức phụ thuộc vào gia đình. Những cái cúi chào đầu tiên mà người trên dạy cho đứa bé Nhật giúp cho nó có khái niệm sự phụ thuộc về vị trí của nó trong nhóm. Ý nghĩa đạo đức Khổng giáo mà người Nhật lĩnh hội được thể hiện qua câu châm ngôn: “Quan hệ giữa người trên và người dưới cũng như quan hệ giữa gió và ngọn cỏ: cỏ phải rạp xuống khi gió thổi” [46, 58 -59].

  • Đặc điểm trong cuộc sống thường ngày

Lịch sự, chu đáo, nhẫn nại, tằn tiện, ham học hỏi đó là tính cách trong cuộc sống thường ngày của người Nhật.

Có thể nói, lịch sự là một trong những chuẩn tắc quan trọng nhất của cuộc sống thường ngày trong tính cách dân tộc của người Nhật. Bất kỳ lời nói, cử chỉ, hành vi nào của người Nhật, kể cả sự thúc giục, cũng đều mang dấu ấn lịch sự. Trước khi cầm một vật gì đó lên tay, người Nhật xin lỗi và xin phép chủ nhân. Ăn nói lịch sự là thuộc tính bất di bất dịch của sự giao tiếp ở Nhật Bản. Trên đường phố, trong công viên và ở các nơi công cộng có thể bắt gặp những tấm bảng nhỏ kêu gọi mọi người giữ phép lịch sự: “Con người chẳng phải lệ thuộc một cái gì khác, ngoài điều tốt và phép lịch sự” [46, 63].

Nhiều người lần đầu tiên đến thăm Nhật Bản đều ngạc nhiên trước sự sắp xếp nhà cửa, cách ăn mặc và sự bài trí trong phòng. Tất cả đều mang dấu ấn nghiêm túc và trật tự. Khắp nơi đều sạch sẽ lạ thường. Tính cẩn thận và tính ưa sach sẽ kết hợp với tính tằn tiện là cơ sở để có được những kỹ xảo nổi tiếng trong thực tiễn sản xuất của người Nhật – những kỹ xảo cho phép họ tạo ra các sản phẩm với độ chính xác và hoàn hảo đáng kinh ngạc, khiến nhiều hãng nước ngoài phải ghen tị. Ở đây còn phải kể đến tính ham học hỏi của người Nhật. Người Nhật được dạy cách nhận thức bản chất của sự việc mà không cần đến trừu tượng hoá, vì thế nên sự ham học hỏi của người Nhật cũng mang tính cụ thể. Có thể điều này có liên quan trực tiếp đến những đặc điểm trong ý nguyện sáng tạo của họ.

1.2.1.2. Phong tục tập quán  

Do điều kiện tự nhiên và xã hội, những phong tục tập quán đã định hình trong các cộng đồng. Phong tục tập quán là những qui ước sinh hoạt phần lớn không thành văn được cả cộng đồng tuân thủ. Nó khá bền vững trước thời gian và làm nên dấu hiệu sinh hoạt có tính đặc thù của từng dân tộc. Phong tục tập quán của địa phương, của sắc tộc cũng là một nhu cầu tâm lý, một nét tâm lý. Nắm được phong tục tập quán của một địa phương thì sẽ dễ nhập cuộc, dễ hoà đồng, tránh được những phản ứng tiêu cực trong tâm lý người bản địa. Ví dụ: đến nhà người Nhật tuyệt nhiên không được đi thẳng vào phòng khi chưa để giày dép và áo khoác ở ngoài, đến phòng người châu Âu muốn vào nhất thiết phải gõ cửa xin phép, sang đất Campuchia phải chắp tay trước ngực chào chứ không chìa tay ra bắt. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Nước Nhật là một tấm gương phản ánh sự thần kỳ về một tinh thần nỗ lực vô bờ bến hướng về tương lai của một đất nước đang trong cảnh lạc hậu, nghèo nàn.

Trong cuộc sống thường nhật người Nhật lịch lãm, gia giáo, chu tất, kiên trì, căn cơ, ham học hỏi. Nguyên tắc sống của họ là “Biết được chỗ cần dừng tất sẽ tránh khỏi hiểm nguy, thấu hiểu được thân phận mình tất khỏi bị sỉ nhục” [9,156]. Và vì thế người Nhật có tính tự chủ rất cao, điềm tĩnh và ôn hoà.

Chúng ta đã quen cho rằng nụ cười xuất hiện trên gương mặt khi người ta đang có điều gì đó dễ chịu và tiếng cười rộn rã vang lên khi người ta bắt gặp một niềm vui bất ngờ, hoặc tâm trạng đầy phấn khích. Đối với người Nhật thì lại không phải thế. Nụ cười hay tiếng cười người Nhật có nhiều ý nghĩa khác nhau – đó có thể là dấu ấn thân thiện, lại cũng có thể là biểu hiện lạnh lùng, kín đáo, là sự bộc lộ cảm xúc một cách cởi mở và đồng thời cũng là dấu hiệu lúng túng trong một tình huống khó xử. Nụ cười của người Nhật có thể có ý nghĩa “tôi hiểu” hoặc “tôi không hiểu”. Không có gì đáng ngạc nhiên, một trong những nụ cười phổ biến nhất là nụ cười “bí ẩn”. Và người Nhật sợ nhất khi bị mất mặt, mất thể diện, tai tiếng.

Trong giao tiếp với người Nhật họ tìm cách lẩn tránh các từ “không”, “tôi không biết”, “tôi không thể”. Người Nhật thường diễn đạt vòng vèo, bóng gió, trở thành tập quán nói vòng vèo được rèn luyện từ đời này sang đời khác. Để tránh tự ái và mất thể diện cho đối tượng giao tiếp, trong kinh doanh tập quán này cũng được áp dụng.

Người Nhật rất mực lễ phép và tôn trọng nghi thức. Khi mới gặp khách, việc trao đổi danh thiếp và đọc một cách tỉ mỉ là điều không thể xem thường. Không nên nhìn lướt qua rồi cất ngay vào túi.

Với người Nhật cách chào hỏi truyền thống là cúi đầu càng thấp thì thể hiện tình cảm càng nhiều, sự lễ phép và tôn kính càng cao. Cách cúi chào thể hiện sự giao tiếp có văn hoá của người Nhật Bản. Đa số người Nhật chấp nhận việc cúi chào, nhìn xuống hoặc nhìn sang bên, còn không chấp nhận cái nhìn trực diện, chăm chú. Người Nhật rất đỗi ngạc nhiên nếu một người nước ngoài mà hỷ mũi vào khăn vừa “nhìn chòng chọc” vào họ. Người nào, trong lúc trò chuyện cứ tò mò nhìn thẳng vào người khác bị người Nhật xem là bất lịch sự.

Khi người Nhật trò chuyện với nhau, họ thường tìm một vật trung gian nào đó để nhìn. Đó có thể là một cuốn sách, một đồ trang sức, một lọ hoa.

Người Nhật tiếp thu phong tục quốc gia khác rất nhanh. Họ thích học tiếng nước họ tới du lịch. Họ hài lòng khi chủ nhà thể hiện sự giao tiếp bằng tiếng Nhật. Khi trở lại, họ sẽ chọn nơi họ đã ở lần trước nếu như họ đã được vui lòng.

Phụ nữ Nhật rất sung sướng khi bạn tặng họ lời khen là “Mỹ nhân tuổi tỵ”.

Người Nhật rất tin vào tướng số, người dân rất kiêng kị con số 4. Trong các khách sạn, cầu thang máy, bệnh viện, trường học… số phòng đều có sự nhảy cóc bỏ qua con số 4. Lý do thật đơn giản, trong tiếng Nhật “shi” có nghĩa là số 4 và cũng có nghĩa là chết. Ngược lại, người Nhật rất thích những số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9. Đi du lịch người ta thích chọn toa lẻ của tàu, số ghế lẻ và buồng khách sạn lẻ. Đặc biệt tặng hoa, hoặc quà cho người thân, người ta cũng thích tặng theo số lẻ.

Nghệ thuật cắm hoa (Ikebana) thường kết hợp cái đẹp với cái khắc khổ, gợi ra cảnh sông núi bao la với một ít nước và một cành hoa. Dân tộc nào cũng có tục cắm hoa nhưng ở Nhật hoa cắm trong bình phải có một phong cách, một cách sắp xếp được qui định. Cắm hoa cũng là một nghệ thuật phải dày công học tập. Ngày nay, ở Nhật Bản có từ 300 đến 400 trường phái cắm hoa khác nhau. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Người Nhật rất thích hoa anh đào “Sakura”. Đây là nét thẩm mỹ rất tự hào của người Nhật: “những gì đẹp trong thiên nhiên cũng như trong cuộc đời thường hiếm khi tồn tại lâu. Chính sự tàn phai sớm cũng là nét đẹp vì nỗi luyến tiếc về những cuộc đời đã tắt lụi đúng ở đỉnh cao rực rỡ của nó chính là cái cao đẹp nhất” [20, 56]. Hoa anh đào còn là biểu tượng của tinh thần tập thể, với sức sống tràn đầy. Mỗi năm một lần, người Nhật có thú vui cùng nhau đi ngắm hoa (Hanami). Họ dành trọn vẹn cuộc đời mình cho cuộc vui chơi ngắm hoa thoải mái. Ngắm hoa có thể mang lại sự sảng khoái về tinh thần và tâm lý. Vào dịp hoa nở, nếu một người nào đó đang gặp chuyện buồn, gia đình và bạn bè sẽ rủ họ đi chơi ngắm hoa, coi đó là phương cách làm dịu nỗi đau tinh thần của họ. Dưới gốc hoa anh đào, họ uống rượu, hát hò, nhảy múa và quên đi những gì buồn đau của riêng mình. Hoa cúc cũng được người Nhật ưa thích và họ quan niệm rằng nó là biểu tượng cho tình cảm thắm thiết, tri kỷ và tôn trọng.

Trang trí của người Nhật chủ yếu là hai màu tương phản đỏ và đen, biểu hiện tính cách mạnh mẽ của người Nhật. Khi tặng quà cho người Nhật cần chú ý: giấy gói có màu trắng, đỏ thắm cho gặp mặt thông thường, màu vàng bạc cho đám cưới, màu đen và xám cho tang lễ. Màu dây buộc, nút dây buộc cũng phải biết cách: màu dây buộc có thể 3, 5, 7, 9 không chẵn; nút dây buộc cuối cùng phải giống như con ngài tằm. Tặng quà được coi là nét văn hoá lâu đời của người Nhật. Không bóc quà tặng trước mặt người tặng quà với người Nhật đã trở thành một nguyên tắc.

  • Khi giao tiếp với người Nhật cần chú ý:

Người Nhật không thích thổ lộ tâm tình với người mới gặp, mặc dù con người trong khi giao tiếp đều tự bộc lộ mình trước người đối thoại dưới hình thức này hay hình thức khác. Đối với người Nhật, thứ bậc của hệ thống đề tài trong giao tiếp như sau: các vấn đề sinh hoạt công tác, thời cuộc, gia đình, sức khoẻ. Có thể nói, trong giao tiếp người Nhật thích trao đổi hơn cả là những chuyện thị hiếu, truyền hình, công việc và thời cuộc.

Trong phần lớn các tình huống, người Nhật không mở đầu câu chuyện và không cố gắng duy trì nó. Trong tranh luận, họ không mong muốn giành ưu thế hay thuyết phục người khác. Họ thường đưa ra những nhận xét ngắn gọn. Người Nhật có ý thức trách nhiệm cao về lời nói của mình và tiết kiệm thời gian.

Nói nhanh không phải là đặc điểm tiêu biểu của người Nhật. Trong đàm luận, họ có những lúc dừng lại. Người Nhật ý thức điều đó như là nhược điểm của mình.

Người Nhật có thái độ chọn lọc rất cao trong quan hệ với người đối thoại. Người Nhật thường từ chối giao tiếp với những người ít quen biết.

Người Nhật trọng thái độ thiện chí trong giao tiếp. Họ ít khi phản đối người nói chuyện với mình ngay cả khi có quan điểm đối lập. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Người Nhật nhiều khi không muốn thảo luận trực tiếp vào vấn đề đặt ra mà thích dẫn cuộc thảo luận đi vòng vo xung quanh bản chất vấn đề.

Cách diễn đạt của người Nhật nhiều khi không cụ thể mà người nước ngoài cho là mập mờ, ẩn ý trong lời nói.

Trong giao tiếp, người Nhật im lặng thì phải hiểu đó là một dấu hiệu từ chối lời yêu cầu của đối phương, chứ không phải là đồng ý. Người Nhật thường giải thích im lặng không phải là sự trống rỗng trong giao tiếp mà là tình huống đối thoại cần kiềm chế để không biểu hiện ra bề ngoài những ý nghĩ và cảm xúc của mình.

Những quy tắc giao tiếp của người Nhật Bản đã được hình thành từ lâu đời và được mọi người Nhật Bản tôn trọng, dù hiện nay họ cảm thấy rườm rà. Bên cạnh đó, người Nhật Bản rất hiếu khách. Đó là một đất nước rất lịch sự trong giao tiếp. Chẳng có nước nào như Nhật Bản lại có đến 50 kiểu chào khi gặp mặt, 40 kiểu chào khi từ biệt, hàng chục lối nói cảm ơn và hơn hai chục kiểu nói xin lỗi.

1.2.1.3. Tín ngưỡng và tôn giáo

Ở Nhật Bản tự do tôn giáo được bảo đảm trong Hiến pháp, điều 20 của Hiến pháp khẳng định rằng: “… không một tổ chức tôn giáo nào lại có thể có những đặc quyền trong nước hoặc thực hiện một quyền lực chính trị nào. Không ai có thể bị bắt buộc phải tham gia bất cứ một hoạt động tôn giáo nào, nghi lễ, nghi thức hoặc tập tục nào. Nhà nước và các tổ chức của mình cũng không được tuyên truyền hoặc tham gia hoạt động tôn giáo. ” [14,192]

Nhật Bản có hai tôn giáo chính là Thần đạo (Shinto) và Phật giáo. Mặc dù hiện nay nhiều người nói rằng họ không có tín ngưỡng đặc biệt nào nhưng hầu hết đều theo những tập quán và nghi lễ của cả Thần đạo và Phật giáo. Đa số các lễ cưới đều được tiến hành theo nghi thức Thần đạo còn các đám tang thì lại theo phong tục Phật giáo. Thần đạo là tôn giáo bản địa của Nhật Bản, có nguồn gốc từ linh vật của người Nhật Bản cổ. Thần đạo phát triển thành tôn giáo của cộng đồng với những miếu thờ gia thần và các thần hộ mệnh của địa phương. Người ta cũng thờ các anh hùng và các vị thủ lĩnh xuất chúng của cộng đồng qua nhiều thế hệ và thờ cúng hương hồn tổ tiên.

Ở Nhật Bản ngày nay đạo Phật chiếm ưu thế với khoảng 92 triệu tín đồ. Đạo Cơ đốc cũng khá thịnh hành với khoảng 1,7 triệu giáo dân. Trong số các tôn giáo khác có đạo Hồi khoảng 155.000 tín đồ.

Ngoài những chùa của Phật giáo và đền của của Thần đạo, ở Nhật Bản còn có những nơi thờ cúng những cộng đồng người theo đạo Tin lành, Thiên chúa giáo, Chính thống giáo phương Đông, đạo Mormon, đạo Do Thái, đạo Hindu, đạo Hồi và các tôn giáo khác.

1.2.2. Khẩu vị ăn uống Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Trong cách nấu nướng truyền thống của Nhật Bản, thức ăn tươi có vai trò rất quan trọng. Nếu bạn được mời tới nhà ăn một bữa tối điển hình của Nhật Bản thì bạn sẽ được mời ăn cơm và có thể thêm món súp nấu bằng bột đậu tương (miso), món dưa góp, cùng với cá hoặc thịt. Các loại gia vị thường dùng gồm tương (shoyu), củ cải ngựa xanh (wasabi) và rong biển sấy khô (nori). Ngoài gạo là lương thực chính, cá cũng là một nguồn thực phẩm quan trọng trong bữa ăn của người Nhật. Vào thế kỷ 16, các thương gia Bồ Đào Nha mang đến Nhật một món mà ngày nay rất được ưa chuộng là hải sản rán kỹ với rau (Tempura). Shasimi – món cá tươi cắt lát, sushi – cơm trộn dấm với những khoanh cá tươi đều là những món ăn Nhật Bản nổi tiếng khắp thế giới. Thịt vốn không phải là một thực phẩm truyền thống đối với người Nhật nhưng trong thế kỷ vừa qua, người ta đã phát triển những món ăn mới và ngon lành có dùng thịt gà, thịt lợn và thịt bò. Thịt gà nướng xiên (yakitori) là một món ăn được ưa chuộng cùng với món sukiyaki gồm thịt bò nấu với rau và đậu phụ (tofu) trong một cái xoong. Người Nhật hầu như không có tập quán kiêng cữ thịt các do quy luật của tôn giáo vì thế người Nhật không biết nhiều về những quy luật của các tôn giáo khác. Món ăn Nhật Bản không những khoái cho mắt mà hơn thế nữa, cho cả tâm linh”. [23, 75].

Người Nhật cũng thích ăn mì, món Oden, bánh Okonomiyaki (gần giống bánh xèo), món Takoyaki (bánh viên bột và mực ma). Tuy nhiên, Nhật Bản không phải chỉ có những món ăn truyền thống này. Bạn có thể tìm thấy các món ăn ở khắp nơi trên thế giới trong các nhà hàng hay gia đình người Nhật. Các món ăn quốc tế được ưa chuộng ở Nhật là các món ăn của Trung Quốc, thịt nướng Triều Tiên, ca-ri, mỳ ống, bít-tết, bánh mỳ kẹp thịt băm viên và pizza. Thanh niên Nhật ngày nay đặc biệt thích đồ ăn nhanh. Còn bữa ăn gia đình hay bữa ăn nhẹ đã có thêm các món hàng ngày như trứng ốp-lết, mì sợi, xúc xích nóng, khoai tây rán, sữa chua, sôcôla, kem, bánh ngọt và hàng loạt đồ ăn có nguồn gốc nước ngoài khác.

Ngoài các món ăn, người Nhật rất thích uống trà. Trà là thức uống phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là châu Á. Việc pha trà, thưởng thức trà đã được người Nhật xây dựng và phát triển thành nghệ thuật đặc sắc.

Trà đạo được coi là nét đẹp trong truyền thống văn hoá Nhật Bản.

Người Nhật có hai hình thức uống trà, đó là: uống trà thông thường (ocha) và uống trà nghệ thuật “Cha-lo”. Trà xanh (ocha) là đồ uống được ưa chuộng nhất ở Nhật Bản bởi người Nhật quan niệm trà vừa là giải trí vừa là chữa bệnh và thắt chặt tình đoàn kết. Người ta uống trà sau bữa ăn hoặc bất cứ khi nào gặp nhau. Trà khi uống phải nóng bỏng và thường uống vào lúc 10 giờ và 15 giờ trong ngày. Còn nghi lễ “Chado” – nghi lễ uống trà thì người tham gia phải có vốn tri thức thơ ca, hội hoạ, văn học, kiến thức rộng, nhã nhặn. (Người tham gia uống trà phải có những nét tương đồng là đối tác của nhau). [29,12]

Nhật Bản hiện có khoảng mười phái trà đạo khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất là ba phái Urasenke, Musanokoehi và Omotesanke. Ngày nay, trà đạo trở thành tài sản quốc gia quan trọng của nước Nhật.

Những đồ uống thông thường khác là trà đen (kocha), rượu gạo (sake), rượu nấu bằng mạch nha với các loại hạt khác (shochu) hoặc từ các loại quả như mận cũng được người Nhật ưa thích. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

1.2.3. Hấp dẫn của du lịch đối với người Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia số một châu Á về thị trường du lịch ra nước ngoài. Trong những năm gần đây khách du lịch Nhật được coi là một trong những thị trường khách quốc tế quan trọng của du lịch Việt Nam. “Vì giá đi du lịch trong nước trở nên quá đắt, chúng tôi không thể viếng thăm bất cứ nơi nào ở đất nước chúng tôi. Thật là kỳ lạ là giá du lịch đi Okinawa (hòn đảo phía nam Nhật Bản) thì đắt hơn giá của chuyến du lịch đảo Guam. Chỉ những người giàu mới có thể thưởng thức tour du lịch trong nước, những công nhân nghèo chúng tôi không thể trả mấy trăm đô la một đêm. Với số tiền như vậy, đi du lịch nước ngoài thì tốt hơn”. [23, 106]

Yêu cầu về các dịch vụ khi đi du lịch của người Nhật như sau:

  • Vận chuyển

Người Nhật chủ yếu sử dụng máy bay của các hãng Hàng không Nhật Bản (JAL), Hãng Hàng không toàn Nhật Bản (ANA), hoặc Hệ thống Hàng không toàn Nhật Bản (JAS) vì yêu cầu đầu tiên của người Nhật khi đi du lịch là độ an toàn cao. Yêu cầu máy bay phải hạng sang, dịch vụ hoàn hảo, chiêu đãi viên hàng không phải nhiệt tình, chu đáo.

Người Nhật thích đi tàu hoả nhưng họ chê tàu hoả Việt Nam ồn, mất vệ sinh và nhốn nháo nên rất ít đi. Yêu cầu về tàu hoả là phải sạch sẽ, chạy êm và mất ít thời gian.

Về xe ô tô, cũng phải đảm bảo các tiêu chuẩn tiện nghi, an toàn, vệ sinh. Người Nhật thường chọn các loại xe có điều hoà, có micro và nếu có karaoke thì càng tốt (đây là xu hướng mới của người Nhật giúp họ thoát khỏi vỏ bọc “ít nói” của mình để cùng vui với những thứ khác).

  • Lưu trú

Khách du lịch Nhật Bản thích ở loại khách sạn có thứ hạng từ 3 sao trở lên, nằm ở vị trí trung tâm có tiếng tăm. Phòng ở không ở tầng cao quá hoặc thấp quá, quay mặt ra phố hoặc nơi có cảnh sắc thiên nhiên. Tầng một và hai tầng ở trên cùng của một loại khách sạn cao tầng không thích hợp với người Nhật vì lý do an toàn. Trước khi ra nước ngoài du lịch người Nhật được đến các phòng tư vấn về vấn đề an ninh đảm bảo sự an toàn tính mạng và tài sản của họ. Người Nhật quen dùng các tiện nghi hiện đại, vệ sinh sạch sẽ. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

  • Phòng phải có bồn tắm nước nóng.
  • Phải có cây xanh, hoa tươi.
  • Có dép đi trong phòng (geta hoặc sandal).
  • Có bộ kimônô để khách sử dụng.
  • Phòng tắm phải có: máy sấy tóc, dao cạo râu, dầu gội, xà phòng, mỹ phẩm cùng với khăn tắm các cỡ.
  • Mini – bar luôn chứa đầy thức ăn, đồ uống.

Các dịch vụ như giặt ủi, đánh xi giầy dép cũng được cung cấp chu tất ngay trong khách sạn. Màu sắc trong phòng hợp với người Nhật là đỏ và đen. Yêu cầu đối với nhân viên là tận tình, mến khách, chu đáo nhưng không được xen vào chuyện riêng của khách.

Các khách sạn mà khách Nhật đánh giá cao ở Hà Nội là: Sofitel Metropole Hanoi, Hanoi Deawoo, Nikko, Guoman, Sofitel Plaza .

  • Ăn uống

Người Nhật thích các món ăn chế biến từ gạo (khẩu phần chính) và từ hải sản, món ăn cũng phải phù hợp với thực phẩm của từng mùa. Món ăn đặc sản của Nhật là cá sống. Chẳng hạn như gỏi cá, gỏi tôm uống với rượu sakê được hâm nóng 150C, khi ăn có bát nước chè thả thêm một bông cúc để rửa tay. Trước khi ăn người Nhật thường dùng khăn mặt bông cuốn chặt cứng dài khoảng 15 – 20cm hấp nóng để lau mặt.

Khách Nhật thích thưởng thức các món ăn dân tộc như: các món ăn Việt Nam, Trung Quốc, sẽ rất thú vị nếu được dùng món ăn Nhật cổ truyền ở các nhà hàng nước ngoài. Khi đi du lịch, người Nhật thích ăn đồ chay, đặc sản, hải sản. Trong bữa ăn, người Nhật yêu cầu cao cả về thẩm mỹ và chất lượng bữa ăn. Người Nhật đặc biệt coi trọng cách trang trí một bữa ăn. Thức ăn phải được đặt hết sức cẩn thận và rất cần sự hài hoà giữa hình thức và màu sắc, có thể có ca múa nhạc dân tộc phụ hoạ. Người Nhật cũng thích các món ăn nhanh kiểu Mỹ (fastfood), các loại bánh kẹo Mỹ của các hãng Hragen, Das, Famous Amos. Họ thích loại rượu vang vùng California và nước giải khát Coca – Cola. Ngoài ra các loại rượu như Scotch, Whisky, rượu Pháp cũng được khách Nhật ưa chuộng. Họ không thích lắm loại rượu Gin, Votlka hay Rum và họ không thích uống nước có đá.

  • Các yêu cầu về phục vụ:

Khi phục vụ các đoàn khách Nhật, sự phục vụ nhanh là yêu cầu cơ bản. Người Nhật không thích mất cả giờ đồng hồ vào việc đặt ăn và thời gian ăn. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Thưởng tiền không phải là thói quen của khách Nhật, làm như vậy người Nhật cho là cá nhân bị xúc phạm. Ở các quán cà phê, nhà hàng không nên trong chờ vào việc khách để lại tiền thưởng. Chỉ ở những khách sạn hay nhà hàng cực kỳ sang trọng họ mới làm việc này, thường là họ trả luôn vào hoá đơn và không bao giờ quá 10% chi phí.

Chú ý sắp xếp chỗ ngồi theo đúng vị trí xã hội của họ. Người Nhật có thói quen từ chối vài lần rồi mới ngồi vào ghế dự tiệc khi được mời.

Sự giao tiếp giữa người phục vụ và khách Nhật là rất quan trọng, một nụ cười thân mật, sự chu đáo tế nhị có thể được khắc phục được rất nhiều về bất đồng ngôn ngữ.

Đồ ăn phải được đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh.

Người Nhật có thói quen ngồi ăn cùng bàn với người lạ (thói quen chia sẻ bàn ăn). Trong nhà hàng người Nhật thích chia ra các khoang nhỏ tạo sự ấm áp, gần gũi và giữ được khoảng cách cần thiết.

Để phục vụ khách Nhật được chu đáo và để làm hài lòng, nhà hàng nên tìm hiểu sở thích của khách đối với các món ăn, thói quen ăn uống và phong tục tập quán trong ăn uống.

  • Một số nhà hàng khách Nhật thường ăn là:

Sea food (22A Hai Bà Trưng), Sakura (15 Tràng Thi), Indochina (16 Nam Ngư), Vạn Xuân (15 Hàng Cót), Anh Khoa (322 Bà Triệu), Thiên Huệ (73 Triệu Việt Vương), Show – nhà hàng Nhật Bản bên chùa (244 Bà Triệu).

Và các nhà hàng có món ăn Nhật Bản, Việt Nam, châu Âu, Trung Quốc v…v.

  • Tham quan du lịch

Người Nhật thường chọn du lịch có nắng, cảnh sắc hấp dẫn, nước biển trong xanh, cát trắng có thể tắm được quanh năm, quen với phương tiện sinh hoạt thuận lợi và hiện đại.

Khách du lịch ở độ tuổi thanh niên thích phiêu lưu, dân dã, thích các trang phục cũ của quân đội Mỹ. Khách Nhật Bản ngoài chương trình du lịch Việt Nam đã có, họ thích mua chương trình câu cá, chương trình săn bắn, chương trình đi tàu hoả ngắm cảnh Việt Nam theo chiều dài đất nước và các chuyến du lịch bằng đường biển cũng gây hứng thú cho khách du lịch Nhật Bản.

  • Vui chơi giải trí Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Khách Nhật thích đi nhiều, tham quan, chụp ảnh, câu cá và chơi các trò chơi quý tộc như golf, tennis. Người Nhật thích dạo phố bằng xích lô hoặc đi bộ ngắm phố vào buổi tối, thích xem ca múa nhạc dân tộc, xem múa rối nước. Khách Nhật cũng chi khá nhiều tiền cho việc mua sắm hàng lưu niệm vì đây là phong tục tập quán của họ. Đặc biệt phụ nữ Nhật rất mê mua sắm quần áo, trang sức khi đi dạo phố. Họ thường để tiền trong người nên họ thích mua nơi nào gần toilet để dễ lấy tiền cho kín đáo.

Một số nghiên cứu của Mỹ chỉ ra rằng, những hoạt động được du khách Nhật Bản thích tham gia nhất khi đi du lịch nước ngoài (xếp theo thứ tự) là:

  1. Ngắm cảnh thành phố
  2. Mua sắm
  3. Ăn tiệm
  4. Tham quan có hướng dẫn
  5. Thăm các địa danh đẹp
  6. Quay phim chụp ảnh
  7. Tắm biển
  8. Thăm các công viên chủ đề
  9. Bội lội
  10. Thăm các gallery

Nghiên cứu này cũng cho thấy, khi đi du lịch nước ngoài, du khách Nhật thường không có lựa chọn trước về đích tới mà thường cân nhắc và quyết định tới thành phố nào đáp ứng được tốt nhất những sở thích trên của họ. [6, 88]

  • Hướng dẫn viên

Nhất thiết phải là hướng dẫn viên nói thông thạo tiếng Nhật vì bản thân người Nhật ít biết nói tiếng Anh và họ thích được nghe ngôn ngữ quốc gia mình hơn. Hướng dẫn viên phải được bố trí đúng theo yêu cầu trong hợp đồng như giới tính, độ tuổi, kể cả sự vui tính… ngoài trình độ hiểu biết và truyền đạt thông tin.

Những yêu cầu khác:

  • Luôn luôn đúng giờ.
  • Luôn làm việc với trưởng đoàn, phải tuân thủ ý kiến chung của mọi khách.
  • Khi giao tiếp cần chú ý đến cử chỉ, lời nói.
  • Phải giới thiệu đầy đủ khi đi tham quan, không được bỏ sót điểm tham quan nào.
  • Cố gắng nhớ tên khách khi ở điểm tham quan, nhà hàng, khách sạn, trên phương tiện vận chuyển vì khách Nhật nếu có phàn nàn thì cũng ít khi biểu lộ. Họ chỉ phàn nàn khi kết thúc chương trình du lịch ở các hãng lữ hành gửi khách mà thôi.

1.3. Điều kiện làm nảy sinh nhu cầu du lịch của người Nhật Bản

1.3.1. Thời gian rỗi Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

Đây là yếu tố cơ bản quyết định đến việc đi du lịch của du khách. Ngày nay, kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của con người dần dần được cải thiện. Xu hướng chung trong giai đoạn phát triển hiện đại là giảm bớt thời gian làm việc và tăng thời gian nhàn rỗi. Để tìm cách gia tăng thời gian rỗi của du khách tiềm năng, nhiều chuyên gia kinh tế du lịch đã chia thời gian ngoài giờ làm việc thành các khoảng thời gian có mục đích khác nhau. [40, 100]

Trước tiên đề cập tới thời gian rỗi của khách Nhật Bản tập trung nhiều nhất vào các kỳ năm mới và tuần lễ vàng thì cho đến những năm gần đây số lượng khách Nhật Bản đã giảm xuống và dần dần hình thành một xu hướng đi du lịch nước ngoài lan ra trong 12 tháng. Do tác động của vé máy bay và giá tour đã tăng lên trong khi đó người Nhật lại không thích ồn ào và đông đúc. Đặc biệt Chính phủ khuyến khích rút ngắn thời gian làm việc trong tuần và sử dụng hết toàn bộ kỳ nghỉ mà vẫn được trả lương theo quy định, nên ảnh hưởng lớn tới mùa du lịch của khách Nhật Bản khiến cho sự chênh lệch giữa các thời kỳ chính vụ và ngoài vụ về số lượng khách ngày càng giảm đi. Xét về mùa đi du lịch nước ngoài của người Nhật Bản thì không cụ thể phân biệt được mùa cao điểm nhưng nói chung, hai giai đoạn được xem là quan trọng đối với thị trường du lịch nước ngoài của Nhật Bản là dịp Giáng sinh và năm mới và dịp tuần lễ vàng. Dịp tuần lễ vàng bắt đầu vào tuần cuối cùng của tháng 4 đến tuần đầu tiên của tháng 5. Tuy nhiên, những tháng như tháng 12, tháng 4 và tháng 5 không phải là tháng bận rộn  nhất của du lịch ra nước ngoài. Mùa du lịch thì luôn luôn vào mùa hè, đặc biệt vào tháng 8, tháng 9 đang trở nên bận rộn hơn so với tháng 7. Những năm đầu thế kỷ có ba tháng bận rộn nhất theo thứ tự giảm dần là tháng 8, tháng 7 và tháng 9. Khi các ngày quốc lễ rơi vào thứ hai và thứ sáu, nhiều người đi nghỉ xa ba ngày hoặc họ nghỉ thêm vài ngày. Trong năm 2005 có nhiều ngày lễ trùng vào ngày nghỉ cuối tuần – khoảng 15 dịp trong cả năm và các nhà điều hành tour đang hy vọng rằng điều này sẽ tạo thêm nhiều ngày nghỉ cuối tuần du lịch quốc tế.

Số những người nghỉ mùa tăng lên mạnh vào đầu tháng 3 vì đó là một trong những tháng bận rộn nhất – chủ yếu vì nhiều người đi nghỉ ngày lễ Phục sinh hơn.

1.3.2. Khả năng tài chính của du khách Nhật Bản

Nền kinh tế của Nhật Bản phát triển sẽ làm cho người dân có mức sống cao, do đó họ có khả năng thanh toán cho các nhu cầu về du lịch trong nước và nước ngoài. Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình, khách du lịch là người chi tiêu các loại dịch vụ, hàng hoá. Để có thể đi du lịch và tiêu dùng du lịch, họ phải có tiền – đó là một trong những điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán, vì khi đi du lịch khách du lịch Nhật Bản phải chi trả rất nhiều loại dịch vụ và xu hướng của họ khi đi du lịch là tiêu nhiều tiền và du khách Nhật Bản được coi là một trong những du khách có khả năng chi tiêu cao tại các điểm du lịch. Chính vì vậy, thu nhập của người dân là yếu tố quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia du lịch. Thực tế, con người khi muốn đi du lịch họ không chỉ cần thời gian mà còn phải có đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó. [40, 101] Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

1.3.3. Trình độ dân trí

 Sự phát triển của du lịch còn phụ thuộc vào trình độ văn hoá chung của dân cư ở một đất nước. Nếu trình độ văn hoá của cộng đồng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch của con người ở đó cũng tăng lên. Mặt khác, nếu trình độ văn hoá của cư dân ở một đất nước cao thì khi phát triển du lịch đất nước đó sẽ phục vụ du khách một cách chu đáo và làm hài lòng họ hơn. Trình độ dân trí còn được thể hiện qua cách ứng xử với môi trường xung quanh, bằng thái độ của du khách với cư dân địa phương, của cư dân đối với du khách. Nếu du khách hoặc cư dân địa phương có trình độ hiểu biết làm cho giá trị của các chuyến du lịch được tăng lên. Ngược lại, chính các hành vi thiếu văn hoá của họ sẽ là nhân tố có thể làm cản trở sự phát triển du lịch. [40, 102]

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

 Nhật Bản hiện là một trong những thị trường trọng điểm đối với tất cả các nước muốn thu hút khách đến du lịch do dân số đông, số lượng khách du lịch lớn, mức chi tiêu trên đầu khách cao. Hàng năm, Nhật Bản có khoảng 16 triệu khách đi du lịch nước ngoài, trong số đó đến khu vực ASEAN chiếm gần 13%. Tất cả các nước, dù ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ hay châu Phi đều tổ chức các chương trình xúc tiến du lịch có quy mô lớn tại thị trường Nhật Bản nhằm thu hút khách đến nước mình.

Việt Nam và Nhật Bản có sự gần gũi về văn hoá, lịch sử và địa lý với mối quan hệ hợp tác lâu đời. Đó là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch từ Nhật Bản vào Việt Nam. Tuy nhiên, lượng khách du lịch từ thị trường  Nhật Bản vào Việt Nam còn hạn chế. Đây không chỉ do tác động của những nhân tố khách quan mà còn cả về phía các công ty lữ hành. Chính vì vậy cần phải nghiên cứu về đặc điểm tâm lý cũng như nhu cầu của thị trường khách du lịch Nhật Bản, các cơ sở tiền đề tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam. Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản 

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537