Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp khai thác thị trường khách du lịch nhật bản là thị trường trọng điểm dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Xây dựng mô hình chiếm lĩnh thị trường khách du lịch Nhật Bản

Nhật Bản là một thị trường trọng điểm lớn đối với các công ty lữ hành Việt Nam. Trong tương lai gần, có khoảng 500.000 lượt khách Nhật tới Việt Nam và đến năm 2010 sẽ là 1 triệu lượt khách.

Về quan hệ đối ngoại: Quan hệ với Nhật Bản là một trong những ưu tiên chiến lược trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, lãnh đạo hai quốc gia đã nhất trí cùng xây dựng quan hệ “đối tác tin cậy, ổn định lâu dài trong thế kỉ 21”. Nhật Bản là một trong những nước có tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, có nhiều nhà đầu tư lớn tại Việt Nam. Việt Nam đã đơn phương miễn thị thực nhập cảnh vào Việt Nam cho Nhật Bản tạo điều kiện cho khách du lịch, thương gia Nhật Bản vào Việt Nam du lịch, tìm kiếm cơ hội đầu tư.

Về tâm lý khách: Người Nhật có nhu cầu rất cao về đi du lịch nước ngoài và từng xuất hiện phong trào đi du lịch Việt Nam. Khách du lịch Nhật Bản có mức chi tiêu cao đem lại hiệu quả kinh tế xã hội lớn nhưng cũng yêu cầu rất cao về chất lượng dịch vụ và có sở thích đặc trưng trong khi đi du lịch. Có thể nói người Nhật rất hiếu kỳ và hay đi du lịch theo đợt hoặc bị phong trào, thông tin đại chúng lôi cuốn, thường đi nhóm nhỏ theo đơn vị tổ chức từ trước, có đi lẻ (ba lô) nhưng ít. Mùa du lịch cao điểm là dịp Tết dương lịch và mùa hè. Họ thường đi ngắn ngày dưới 1 tuần, thích thăm các công trình văn hoá nghệ thuật, di tích lịch sử, những nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trong lành, tìm hiểu đặc tính dân tộc của đất nước đến du lịch. Ngoài ra, nhiều người Nhật thích tắm suối nóng, chơi golf, tham gia vào các công đoạn sản xuất như vẽ lên đồ gốm, làm nem… Người Nhật thường chuẩn bị từ sớm: đăng ký đi du lịch thường trước 6 tháng đến 1 năm. Tỷ lệ du khách nữ cao hơn nam. Đặc biệt hiện nay văn hoá Việt Nam đã thâm nhập vào cuộc sống của người dân Nhật, đã xuất hiện áo dài và các món ăn Việt Nam trong các dịp lễ trọng đại của Nhật (như trong lễ kết hôn, lễ tiếp khách trọng thể…). Từ những lý do trên, cần xây dựng một mô hình thu hút khách du lịch Nhật Bản trở thành thị trường trọng điểm. Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Việt Nam có một lợi thế là có rất nhiều làng nghề, hiện nay Việt Nam có hơn 300 làng nghề với khoảng 100 làng được xếp là làng nghề truyền thống (Làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc, làng mộc Đồng Kỵ, làng sơn mài Đình Bảng). Do đó, có thể đưa ra sáng kiến khởi động phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (được gọi tắt là OVOP). Phong trào hiện nay đã được thực hiện tại Nhật Bản, Thái Lan và Lào và thu hút được một số lượng lớn khách du lịch.

Mục tiêu của mô hình OVOP là tìm ra sản phẩm độc đáo, đặc trưng nhất của mỗi làng, sau đó liên kết, xây dựng lại để giới thiệu và bán cho khách du lịch.

Ví dụ ở Thái Lan bên cạnh mô hình OVOP, họ vẫn muốn tạo ra những sản phẩm làng nghề đặc trưng hơn nữa, chính vì vậy Thái Lan tiếp tục cho xây dựng một mô hình mang tên “Mỗi huyện một sản phẩm” (viết tắt là OTOP). Đó là tạo ra các sản phẩm văn hoá và đặc trưng của mỗi địa phương, mỗi cộng đồng trong địa phương.

“Nguyên tắc chính của OTOP là chỉ dừng lại ở cấp địa phương, sáng tạo và tự chủ, phát triển nguồn nhân lực. ở OTOP được Thái Lan chia theo lộ trình. Ví dụ như: ngay từ đầu năm 2002 khi mới thành lập đã đăng ký ngay OTOP. Hai năm 2003 và 2004 mời chuyên gia từ bên ngoài, người mua hàng từ các cửa hàng bán sản phẩm để đánh giá sản phẩm đạt chất lượng từ 1 – 5 sao. Cũng ngay trong năm 2004, Thái Lan cho tổ chức hội chợ OTOP, năm 2005 tổ chức hội chợ có sự tham gia của nhiều quốc gia. Sang năm 2006 OTOP đã đến với thế giới bằng cách nhanh nhất. Hiện nay Thái Lan có 120 làng nghề được chọn để quảng bá sản phẩm. Chính vì vậy mà hàng năm lượng khách đến Thái Lan kết hợp du lịch với thương mại ngày càng tăng cao. Điều đó cũng đồng nghĩa với doanh số sản phẩm liên tục tăng qua các năm. Theo Vụ Xúc tiến xuất khẩu, Bộ Thương mại Thái Lan: Nếu như năm 2002 doanh thu OTOP đạt 16,714 triệu bath thì đến năm 2005 con số này đã tăng lên xấp xỉ 60 triệu bath. Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định: doanh số này rất có thể sẽ tăng gấp đôi trong năm 2006 và đây là bài học tuyệt vời mà Việt Nam nên tham khảo”. [64]

Tại cuộc hội thảo: “Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa APEC phát triển nghề thủ công địa phương” được Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với diễn đàn APEC, Cục Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức vừa qua, tại Hà Nội có rất nhiều ý kiến xung quanh việc có hay không nên học từ mô hình OVOP và OTOP. Theo ông Phạm Trung Lương – Phó viện trưởng – Viện Nghiên cứu phát triển du lịch cho biết: Kim ngạch xuất khẩu của các làng nghề thủ công Việt Nam đã có sự tăng trưởng qua các năm:

Năm 1991 kim ngạch xuất khẩu của các làng nghề thủ công đạt 6,8 triệu USD, năm 2000 đạt 300 triệu USD và năm 2005 đạt 2005 đạt xấp xỉ 700 triệu USD. Tuy nhiên kết quả này chưa phản ánh hết tiềm năng của một đất nước có tới 14.900 làng nghề thủ công, trong đó có 300 làng nghề truyền thống. Việc có nên áp dụng mô hình OTOP hay OVPT vào Việt Nam để thu hút không chỉ khách du lịch Nhật Bản nói riêng mà còn khách du lịch quốc tế nói chung hay không cần phải nghiên cứu sao cho phù hợp bởi:

  • Thứ nhất, do đặc thù của các làng nghề thủ công có một thời gian dài làm việc theo kiểu bị động (theo mẫu đặt nên những người làm nghề rất muốn sáng tạo ra sản phẩm nhưng tư duy sáng tạo ở họ chưa có do không được đào tạo).
  • Thứ hai, là các làng nghề Việt Nam chưa tạo được tour khép kín các dịch vụ như: bến bãi đỗ xe, nơi dừng chân, khu bán hàng ăn uống, hướng dẫn viên du lịch làng nghề. [64] Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Nếu giải quyết được những hạn chế trên thì các làng nghề ở Việt Nam sẽ thu hút được một số lượng lớn khách du lịch Nhật Bản và khách quốc tế tới tham quan.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.2. Định hướng khai thác thị trường khách du lịch Nhật Bản là thị trường trọng điểm

Thị trường du lịch Việt Nam thu hút khách Nhật bởi nhiều lợi thế: đường bay gần, an toàn, sản phẩm du lịch (hàng hoá và dịch vụ du lịch) và môi trường du lịch hấp dẫn. Khách Nhật đến Việt Nam với mong muốn được khám phá cảnh quan thiên nhiên, truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời, thưởng thức món ăn dân tộc, mua sắm nhiều hàng hoá truyền thống với sự đón tiếp nồng hậu. Có thể nói, các tour tham quan, mua sắm tại TP.HCM, thăm phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn khách Nhật lựa chọn nhiều hơn cả. [55]

Bên cạnh đó, theo Tổng cục Du lịch, ngành du lịch của Việt Nam hiện đã thu hút được một số đầu tư Nhật Bản các dự án như khách sạn Nikko Hà Nội, Ysaka Sài Gòn – Nha Trang, Công ty liên doanh Du lịch Apex, Công ty du lịch – dịch vụ OSC – SMI… Tuy nhiên, theo các chuyên gia về hoạt động du lịch, để đạt được mục tiêu thu hút hàng triệu lượt khách du lịch Nhật, ngành du lịch cần giải quyết 3 vấn đề lớn. [53]

Thứ nhất là phải có sản phẩm du lịch đặc thù vì khách Nhật rất thích loại hình sinh thái, văn hoá và mua sắm. Đây là một thị trường khách khó tính và đòi hỏi cao về chất lượng dịch vụ.

Thứ hai là Việt Nam thiếu hướng dẫn viên du lịch biết sử dụng tiếng Nhật (chỉ chiếm 5,3% trong tổng số trên 5.000 hướng dẫn viên được cấp thẻ).

Thứ ba là công tác xúc tiến quảng bá tại thị trường Nhật Bản.

Thứ ba vấn đề cũng hết sức quan trọng là triệt để thực thi những biện pháp tạo sự an toàn, yên tâm cho khách ở khắp mọi nơi, mọi lúc (trên tàu xe, ngoài đường phố), chấm dứt tình trạng ăn xin, đeo bám, móc túi… Rút kinh nghiệm từ sự suy giảm thị trường của Singapore, Việt Nam nên giữ nguyên những nét cổ kính vốn có của các khu phố cổ, duy trì hình ảnh xích lô, người bán hàng rong với những chiếc đòn gánh nhịp nhàng trên đường.

Về phía hàng không, đại diện Việt Nam Airlines cho biết đã dành phần đầu tư lớn vào thị trường Nhật, hàng tuần khai thác 23 chuyến bay nối các trung tâm kinh tế chính trị lớn của 2 nước. Ngoài ra, hàng không Việt Nam còn duy trì đều đặn 3 – 4 chuyến/ ngày. Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Theo ông Matsuoka, Chủ tịch Công ty Apex Việt Nam – công ty lữ hành chuyên đưa khách Nhật vào Việt Nam cho rằng: “Muốn thu hút thị trường Nhật, chúng ta cần có những nhà tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ hay công nghiệp phục vụ khách. Trước mắt phải nâng cao chất lượng các tour. Hiện nay Việt Nam còn thiếu những chính sách đồng bộ giữa hãng hàng không và ngành du lịch dẫn đến giá máy bay còn đắt so với các nước trong khu vực. Việt Nam nên có sự phối hợp đồng bộ từ trung ương đến địa phương trong việc quảng bá du lịch. [53]

Theo báo cáo của Hiệp hội Các hãng lữ hành hải ngoại Nhật Bản, số lượng khách Nhật đi du lịch nước ngoài hàng năm là 16 triệu lượt. Con số này gia tăng khoảng 30%/năm. Kế hoạch của JATA, theo ông Shinmachi Koji – Chủ tịch hiệp hội, là đến năm 2007 sẽ đạt đến con số 20 triệu khách Nhật đi du lịch ra nước ngoài. Điều đáng quan tâm là hướng khách đến các sản phẩm du lịch có chất lượng cao. Thị trường khách Nhật được chú ý đầy kỳ vọng là thế hệ sinh sau thế chiến, vì đây là thế hệ đông nhất, dành toàn bộ thời gian hưu trí để đi du lịch. Thế hệ ở tuổi 30 độc thân vui tính, họ cố gắng làm việc thật nhiều và tự thưởng cho mình những chuyến du lịch ra nước ngoài với chi phí mua sắm, tiêu xài rất cao. Những phụ nữ thuộc lứa tuổi 20 – 30 là thế hệ mang tư tưởng “yên bình chậm rãi”, “tròn trịa đầy đặn” rất hiện đại nhưng pha chút hoài cổ đã tạo nên trào lưu “trở về những giá trị truyền thống”. Từ năm 2000, đã có sự bùng nổ khách Nhật đến Việt Nam và xuật hiện phong trào “du lịch đến Việt Nam là mốt”. Năm 2000 có 150.000 khách Nhật đến Việt Nam, năm 2001 con số này là 200.000 người, năm 2002 là 279.000 người, đến năm 2003 do ảnh hưởng của dịch SARS lượng khách đi du lịch Việt Nam giảm hơn 23% là 208.800 người. Tuy nhiên, nhờ những biện pháp mạnh đặc biệt là chính sách miễn thị thực đơn phương cho công dân Nhật Bản, năm 2004 dù gặp nhiều khó khăn nhưng lượng khách Nhật đến Việt Nam tăng 27,4% so với năm 2003 đạt 267.210. Năm 2005 đạt 338.509 lượt và 8 tháng đầu năm 2006 đã đạt 234.973 lượt. Ước tính đến năm 2007 Việt Nam sẽ đón khoảng 500.000 lượt khách Nhật. Cùng với việc đề nghị Nhật Bản quan tâm để du lịch Việt Nam nhận được nhiều hỗ trợ ODA, Tổng cục du lịch Việt Nam cũng đề nghị phía bạn nâng cấp trang web tiếng Nhật hiện có hoặc xây dựng trang web riêng giới thiệu về du lịch Việt Nam bằng tiếng Nhật, hỗ trợ du lịch Việt Nam đặt văn phòng xúc tiến du lịch tại Nhật Bản. Trong hợp tác hành lang Đông – Tây, Nhật Bản đã hỗ trợ cử chuyên gia sang khảo sát và xây dựng dự án khả thi phát triển du lịch làng nghề (làng mây tre đan Phú Vĩnh – tỉnh Hà Tây, làng thêu ren Ninh Hải – tỉnh Ninh Bình); tổ chức hội thảo về kinh nghiệm phát triển làng nghề cho 120 đại biểu. Nhân dịp này, Việt Nam cũng đề nghị phía Nhật Bản xem xét khả năng hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá phát triển du lịch làng nghề. Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch Việt Nam Võ Thị Thắng cũng cho biết đã đề nghị phía Nhật Bản tổ chức farmtrip cho các hãng lữ hành, các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội đầu tư vào du lịch Việt Nam, hỗ trợ đào tạo tiếng Nhật cho đội ngũ hướng dẫn viên Việt Nam và bồi dưỡng kiến thức về thị hiếu, văn hoá của người Nhật. Các đề nghị này đã được phía Nhật Bản ghi nhận và tiếp tục xem xét trong thời gian tới trên tinh thần phối hợp triển khai “Tuyên bố chung hợp tác du lịch Việt Nam – Nhật Bản” một cách có hiệu quả, hướng tới mục tiêu 500.000 lượt khách Nhật Bản đi du lịch Việt Nam vào năm 2007. Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, Nhật Bản luôn nằm trong danh sách 5 thị trường gửi khách lớn nhất, số khách du lịch Nhật Bản chiếm gần 10% tổng lượng khách vào Việt Nam. [51] Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Đến nay, Nhật Bản đã đầu tư 11 dự án du lịch – khách sạn ở Việt Nam với tổng vốn đăng ký 163 triệu USD. Năm 2001, chính phủ Nhật Bản thông qua cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã hỗ trợ du lịch Việt Nam thực hiện nghiên cứu tổng thể phát triển du lịch 11 tỉnh ven biển miền Trung. Tháng 9/2003, Nhật Bản tài trợ cho việc nghiên cứu quy hoạch du lịch các tỉnh thuộc khu vực trọng điểm kinh tế Bắc Bộ. [63]

Hai nước Việt Nam – Nhật Bản có mối quan hệ tốt đẹp. Nhật Bản là một trong những thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam, có dường bay trực tiếp, có số lượng khách đi du lịch nước ngoài lớn, chi tiêu cao. Hơn nữa, Việt Nam đã đơn phương miễn thị thực cho công dân Nhật Bản đi du lịch Việt Nam. Đồng thời Việt Nam được đưa vào danh sách ưu tiên hỗ trợ ODA của Nhật Bản. Đây là những điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực du lịch với Nhật Bản.

Những hoạt động nhằm thu hút khách du lịch Nhật Bản:

  • Nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất đón tiếp (phát triển về số lượng, chất lượng các phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế).
  • Tăng cường tần suất chuyến bay thẳng từ Hà Nội đến Nhật Bản. Hàng tuần có 3 chuyến bay thẳng Hà Nội – Tokyo (thứ 5, 7, CN); 3 chuyến Hà Nội – Osaka (thứ 2, 6, 7) và 2 chuyến Hà Nội – HCM – Fukuoka (thứ 2, 4, 7).    – Tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng tổ chức các chương trình du lịch cho hướng dẫn viên tiếng Nhật.
  • Tham gia Hội đồng xúc tiến Du lịch châu Á, tổ chức chương trình du lịch khảo sát tại Nhật Bản, chương trình khảo sát Hà Nội và vùng phụ cận cho các quan chức du lịch của Tokyo.
  • Phối hợp cùng Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, Vietnam Airlines tổ chức hoạt động xúc tiến nhằm tuyên truyền cho văn hoá Việt Nam, thu hút khách du lịch Nhật Bản.
  • In ấn các ấn phẩm: CD – ROM, tập gấp, các chương trình xúc tiến giới thiệu Việt Nam với du khách Nhật Bản.
  • Phối hợp với Văn phòng đại diện Hà Nội tại Tokyo để tăng cường các hoạt động quảng bá giới thiệu du lịch Hà Nội.
  • Mở văn phòng thông tin về hệ thống chăm sóc sức khoẻ.
  • Một trong những điểm thu hút của du lịch Việt Nam là giá cả ở Nhật Bản rất cao, sang Việt Nam thì họ tiêu tiền rất thoải mái. Vì vậy có thể xây dựng các tour du lịch shopping, dặc biệt họ cũng rất thích mua hàng lưu niệm vì những thứ đó ở Nhật rất đắt.

3.3. Giải pháp khai thác thị trường khách du lịch Nhật Bản là thị trường trọng điểm Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Nhật Bản là một thị trường khách du lịch lớn và hấp dẫn, bởi lẽ mỗi năm có tới 16 triệu lượt người Nhật Bản đi du lịch nước ngoài. Hơn thế trong khi đi du lịch nước ngoài, người dân các nước chỉ chi bình quân 750 USD/ người, thì mỗi người Nhật chi tới 2000 USD/ người/tour. Việt Nam cũng xác định Nhật Bản là một trong số các thị trường khách du lịch chính của mình. Vì sao nhiều du khách Nhật Bản còn chưa chọn Việt Nam làm điểm đến? Trên thực tế hiện nay khách du lịch Nhật chủ yếu mới vào Tp. Hồ Chí Minh (đi mua sắm), một số ít ra thăm Hội An. Lượng người đi du lịch Hà Nội và các tỉnh phía Bắc hầu như không đáng kể. Song nguyên nhân chủ yếu nhất vẫn là do công tác tuyên truyền quảng bá còn chưa tốt và chất lượng tour tuyến cũng chưa cao.

Do đó ngành du lịch Hà Nội cũng như ngành du lịch của Việt Nam cần phải xây dựng định hướng cụ thể để khai thác nguồn khách này có hiệu quả. Luận văn xin đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thu hút nguồn khách đến đông hơn, đó là:

3.3.1. Đẩy mạnh công tác xúc tiến tuyên truyền, quảng bá du lịch

Trong vài năm trở lại đây, ngành du lịch Việt Nam đón nhận một xu hướng “bùng nổ” dòng khách Nhật đi du lịch Việt Nam. Bình quân mỗi khách nước ngoài vào Việt Nam chi tiêu 400 – 450 USD, nhưng mỗi khách Nhật lại tiêu tới 1.000 – 1.200 USD. [56]

Cơ hội đã dễ nhận thấy nhưng thách thức cũng luôn là điều khiến cho nhiều nhà kinh doanh du lịch cân nhắc. Làm thế nào để khai thác cơ hội? Tiếp nhận và phục vụ du khách như thế nào để tạo ấn tượng tốt? Chính vì vậy cần nỗ lực trong công tác tiếp thị du lịch. Công tác tuyên truyền, tiếp thị và quảng bá sản phẩm du lịch là công việc quan trọng. Quảng cáo hiệu quả mà không lãng phí. Cần xác định:

  • Đối tượng quảng cáo: Khách Nhật lẻ ở trong nước, khách Nhật ở Nhật Bản, các hãng lữ hành Nhật Bản, các cơ sở cung cấp dịch vụ trong nước (chúng ta chủ yếu quảng cáo cho khách thông qua họ).
  • Mức độ, vị trí trên thị trường: khắc sâu hình ảnh trong trí nhớ của mọi đối tượng khách, không cứ gì khách Nhật.
  • Nắm bắt được các đặc tính tâm lý của các loại đối tượng khách để đưa ra các loại quảng cáo phù hợp. Đối với khách Nhật là thương nhân có thu nhập cao thì nên áp dụng các hình thức quảng cáo qua chất lượng dịch vụ và mức giá cao của các chương trình hạng đặc biệt. Còn với khách là sinh viên, học sinh có thu nhập thấp thì quảng cáo qua hình ảnh bắt mắt, chương trình độc đáo được nhấn mạnh.

Các hình thức quảng cáo có thể dùng là:

Thông tin đại chúng (qua báo chí, phương tiện nghe nhìn).

  • Tờ rơi, tập gấp và Catologue bằng tiếng Nhật Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.
  • Áp phích thể hiện những hình ảnh tiêu biểu về đất nước, công trình kiến trúc, cảnh quan hay khía cạnh văn hoá khác trong chương trình du lịch đó.
  • Xây dựng chương trình quảng bá về du lịch qua các sản phẩm nghe nhìn đặc biệt như CD – ROM, trên Internet.
  • Tiếp tục duy trì thường xuyên các hội chợ, hội thảo, hội nghị về thị trường khách Nhật.
  • Qua việc đài thọ chi phí cho các chương trình phim tư liệu về Việt Nam ở Nhật.
  • Bên cạnh việc tiến hành chính sách tuyên truyền với các hàng du lịch của Nhật Bản, cần đặt văn phòng đại diện và tập trung tiến hành chiến dịch quảng bá tại các thành phố đông dân cư như Tokyo, Osaka. Ngoài việc quảng bá cho thị trường khách quốc tế cần phải tăng cường quảng cáo cho thị trường nội địa. Đưa ra các thông tin chính xác, cụ thể về các tuyến du lịch, các địa danh du lịch, mạng lưới cơ sở lưu trú và các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, giá cả và chất lượng phục vụ. Đặc biệt cần thúc đẩy công tác tuyên truyền quảng cáo du lịch bằng nhiều hình thức khác nhau. Phát triển và thực hiện có hiệu quả hoạt động du lịch, các tổ chức du lịch để thu thập thông tin về xu hướng phát triển nguồn khách, cơ cấu mục đích đi du lịch, nhu cầu du lịch, đặc điểm tâm lý, khả năng thanh toán của khách nhằm triển khai hiệu quả các hình thức quảng cáo.

3.3.2. Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm

Du lịch muốn phát triển mạnh cần thu hút nhiều hơn số lượng khách đến tham quan du lịch, do vậy muốn thu hút nhiều du khách đến Hà Nội cần xây dựng các chương trình du lịch độc đáo, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, mang đậm bản sắc dân tộc. Các sản phẩm mới có thể là du lịch sông Hồng thăm các làng nghề, du lịch theo chủ đề về cội nguồn dân tộc Việt Nam với các điểm du lịch là những di tích của người Việt cổ, du lịch thám hiểm đại dương, du lịch tham quan các bản làng dân tộc.

Nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách, các nhà quản lý và kinh doanh du lịch không chỉ nghiên cứu để đa dạng hoá làm cho sản phẩm du lịch phong phú mà còn cần phải thực hiện đồng thời việc nâng cao chất lượng của sản phẩm đó. Có như vậy mới tạo nên chính sách sản phẩm hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ cần phải quan tâm đến mối quan hệ với các nhà hàng, khách sạn, những cơ sở cung cấp dịch vụ trong chương trình du lịch. Bên cạnh đó cần nghiên cứu thiết kế mới các chương trình du lịch để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách Nhật như tour nghiên cứu văn hoá ẩm thực, tour làm quen phong tục tập quán và cuộc sống của người dân địa phương.

Ngoài ra, đối với thị trường khách công vụ: phải chuẩn bị các chương trình trọn gói từng phần. Mặt khác, cần có những lựa chọn kịp thời, chuẩn xác các dịch vụ có tính chất quyết định đến sự thoải mái và thuận tiện của đối tượng khách này. Đó là các dịch vụ lưu trú, ăn uống và vận chuyển theo yêu cầu của khách. Còn đối với thị trường khách có tuổi đã về hưu: khách ở đoạn thị trường này có mục đích đi du lịch sang Việt Nam thông qua các tour trọn gói của các công ty lữ hành là tìm hiểu và tận hưởng thiên nhiên tươi đẹp vẫn còn mang nhiều chất nguyên sơ, mang đậm chất trữ tình dễ gây cảm xúc gần gũi thiên nhiên và cùng với mục đích khám phá truyền thống văn hoá dân tộc đầy bản sắc và một cốt cách con người Việt Nam đầy sức hấp dẫn.

Đối với các hãng lữ hành, công ty du lịch, cần cân nhắc kỹ thiết kế chương trình sao cho càng về cuối khách du lịch sẽ càng có ấn tượng sâu sắc hơn, bất ngờ hơn, thú vị hơn so với giai đoạn đầu. Đồng thời cần kết hợp với các công ty lữ hành giữ khách bên Nhật đã am hiểu đối tượng khách, có như vậy một chương trình du lịch mới đảm bảo thành công và được đánh giá cao từ phía khách.

Bên cạnh đó cần tăng cường các dịch vụ tại cơ sở lưu trú để phục vụ đầy đủ nhu cầu của khách như: dịch vụ đổi tiền, điện thoại, giặt là, đánh giầy, y tế… Phát triển và mở rộng hơn nữa các chương trình vui chơi giải trí để khách tiêu khiển trong thời gian rỗi như chơi golf, tennis, bowling. Ngoài các món ăn truyền thống Việt Nam, Hà Nội cần phát triển nhiều hơn các quán ăn Nhật Bản đặc biệt là các quán ăn nhanh nhằm phục vụ thị trưòng khách này. Chú trọng phát triển hàng thủ công mỹ nghệ. Theo đánh giá của ông Riku Emoto, chuyên gia tư vấn cao cấp của JETRO (Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản) thì mỹ nghệ Việt Nam từ đồ gia dụng, trang trí nội thất đến quà tặng đều có sự sáng tạo về màu sắc, kiểu dáng, mẫu mã, nhất là nét văn hoá dân tộc thể hiện trên sản phẩm. Chính vì vậy cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm và giá cả hợp lý.

3.3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Với khách du lịch Nhật Bản thì chất lượng phục vụ được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy các nhà kinh doanh du lịch cũng như các hướng dẫn viên phải không ngừng trau dồi thêm kiến thức, tìm hiểu về thị trường và các đặc tính tâm lý tiêu dùng của khách Nhật. Muốn vậy cần phải xây dựng đội ngũ nhân viên theo đúng các tiêu chuẩn đặt ra nhằm phát triển nguồn nhân lực. Du lịch Việt Nam cũng có đang kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, ngoại  ngữ để có đủ hướng dẫn viên thành thạo tiếng Nhật hiểu biết được tâm lý, tập quán của khách Nhật, đáp ứng được tốc độ tăng nhanh lượng khách đến từ Nhật Bản.

  • Trước mắt, cần xây dựng tiêu chuẩn cho các nhân viên trực tiếp liên quan đến công tác phục vụ khách.
  • Đối với nhân viên xây dựng chương trình
  • Phải có trình độ kinh tế du lịch và ngoại ngữ
  • Hiểu biết sâu sắc các tuyến điểm
  • Luôn phải cập nhật thông tin về các nhà cung cấp, về chất lượng, về giá cả và dịch vụ.
  • Phải có sự hiểu biết sâu rộng về văn hoá dân tộc như lễ hội, tập quán ăn uống… giúp họ xây những chương trình mang tính sáng tạo và phong phú hơn.
  • Cần có sự hăng say, nhiệt tình trong công việc.
  • Đối với nhân viên điều hành
  • Có trình độ kinh tế du lịch và ngoại ngữ
  • Có khả năng hiểu biết và hình dung được các chương trình du lịch mà sắp tiến hành
  • Khả năng điều hành  và xử lý tình huống nhanh nhạy
  • Khả năng ngoại giao
  • Đối với hướng dẫn viên
  • Đủ các tiêu chuẩn của Tổng cục Du Lịch Việt Nam đề ra trong Quy chế hướng dẫn viên và Pháp lệnh du lịch.
  • Có kinh nghiệm
  • Hiểu biết sâu về lịch sử văn hoá, tâm lý khách du lịch Nhật
  • Năng nổ, hoạt bát, xử lý các tình huống phát sinh nhanh nhạy và khéo léo.

Ngoài ra cần xây dựng một cơ chế, nội quy tuyển chọn nhân viên, đặc biệt là hướng dẫn viên tiếng Nhật, căn cứ vào những công việc đã qui định tiêu chuẩn. Có kế hoạch tuyển chọn nhân viên mới (đặc biệt là các hướng dẫn viên) qua việc tiếp xúc, trợ giúp một số sinh viên du lịch, ngoại ngữ có khả năng. Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Bố trí nhân viên hợp lý đúng người đúng việc, tạo cơ hội cho nhân viên được nói ý kiến của mình nhiều hơn thông qua các cuộc họp, thảo luận nghề nghiệp, tổ chức thi đua nghiên cứu khoa học giúp cho việc đề xuất các sản phẩm mới.

Tổ chức bồi dưỡng trình độ nhân viên thông qua các lớp học ngắn hạn. Đề xuất với Tổng cục du lịch về việc cấp thẻ hướng dẫn viên thông qua việc kiểm tra thực tế khả năng hướng dẫn.

Song song với việc đào tạo nguồn nhân lực thì việc tuyên truyền sâu rộng đến nhân dân tại địa phương là rất cần thiết bởi phát triển du lịch đã trở thành mối quan tâm chung của tất cả các tầng lớp nhân dân. Vai trò của người dân trong việc phát triển kinh doanh du lịch rất quan trọng. Ngoài các yếu tố như chất lượng dịch vụ, giá cả, nhân viên phục vụ thì ý thức, thái độ cư xử của người dân địa phương luôn để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng khách du lịch. Vì vậy cần phải có những chương trình tuyên truyền, giáo dục về du lịch cho nhân dân nhằm nâng cao dân trí, bảo vệ môi trường, giữ gìn các di tích văn hoá và dân tộc.

3.3.4. Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

  • Nâng cấp khách sạn đạt tiêu chuẩn và tổ chức xây dựng các khu vui chơi giải trí nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch. Do vậy ngành du lịch cần thu hút nhiều khả năng đầu tư, xây dựng và quản lý các công ty du lịch một cách hoàn thiện nhất và có hiệu quả nhất để đáp ứng được các nhu cầu của khách du lịch.
  • Cải thiện nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ, hàng không. Cải thiện và xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại điểm du lịch. Việc mở đường bay thẳng Nakita – Hà Nội trong tương lai cũng sẽ giúp Hà Nội và các vùng phụ cận đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá. Hy vọng khách Nhật sẽ tới du lịch phí Bắc Việt Nam đông hơn. Song song với quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần chú ý đến tính đồng bộ và hoàn chỉnh để hấp dẫn du khách.

3.3.5. Thúc đẩy hợp tác du lịch

Lãnh đạo ngành du lịch hai nước Việt – Nhật đang xúc tiến nhiều giải pháp nhằm mục tiêu thu hút nửa triệu lượt du khách Nhật vào Việt Nam năm 2007.

Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng, để thúc đẩy hợp tác du lịch tương xứng với tiềm năng hai nước, tại cuộc gặp gỡ song phương với ông Ken Haruta, Thứ trưởng Bộ Lãnh thổ, hạ tầng và vận tải Nhật Bản (cơ quan cao nhất của Nhật Bản về du lịch) trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng du lịch APEC diễn ra tại Hội An từ ngày 16 đến 18 – 10 vừa qua, lãnh đạo Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch đã đề nghị hai bên tiếp tục phối hợp triển khai nội dung tuyên bố chung hợp tác du lịch Việt Nam – Nhật Bản một cách có hiệu quả.

Đặc biệt vào ngày 5 – 4 – 2005, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng và Bộ trưởng Bộ Lãnh thổ, hạ tầng và vận tải Nhật Bản đã ký tuyên bố chung hợp tác du lịch hai nước, hướng vào một số lĩnh vực như trao đổi khách du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch, trao đổi chuyên gia, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích đầu tư. Thực hiện tuyên bố chung này, hai bên đã nhất trí thành lập Ủy ban Hợp tác du lịch Việt Nam – Nhật Bản (VJTCC). Uỷ ban này sẽ họp thường niên để thảo luận, thống nhất những phương hướng, nội dung kế hoạch hành động hợp tác du lịch hai nước, địa điểm và thời gian các phiên họp tiếp theo. Trên cơ sở đó, hai bên tiếp tục trao đổi ở cấp chuyên viên để triển khai các chương trình hợp tác cụ thể. Tại phiên họp thứ nhất tổ chức ở Đà Lạt tháng 8 – 2005, VJTCC đã thảo luận và thống nhất được một kế hoạch hành động hợp tác du lịch giữa hai nước.[51] Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

3.3.6. Giáo dục du lịch toàn dân

Cách ứng xử của du khách và thái độ của họ đối với vùng du lịch là chìa khoá dẫn đến du lịch bền vững. Vì vậy giải thích, thuyết phục, thông tin và giáo dục là việc làm mà các nhà kinh doanh du lịch thường xuyên phải thực hiện. Phát triển các chương trình đào tạo mới cho cán bộ kinh doanh du lịch để giúp họ thực hiện tốt chức năng này.

Du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang khách hàng đến sản phẩm chứ không mang sản phẩm đến khách hàng. Sản phẩm ở đây bao gồm không chỉ không gian môi trường nơi cộng đồng địa phương sử dụng hoặc sở hữu mà còn là chính cộng đồng địa phương với bản sắc văn hoá của họ. Giáo dục du lịch toàn dân bao gồm các lĩnh vực sau:

  • Tham gia quy hoạch phát triển du lịch.
  • Tham gia vào việc lập quyết định liên quan đến phát triển của điểm du lịch.
  • Tham gia hoạt động và quản lý hoạt động du lịch ở những vị trí thích hợp.
  • Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
  • Không gây rối, phiền toái cho du khách.
  • Không làm xấu cảnh quan và xâm hại đến tài nguyên du lịch

Sự không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ của cộng đồng địa phương sẽ khiến chính họ trở thành sản phẩm bị bán cho hoạt động du lịch, hoặc họ sẽ khai thác tài nguyên du lịch theo kiểu của họ, không có lợi cho du lịch.

3.3.7. Phối hợp liên ngành để phục vụ khách

Phát triển du lịch phải tăng cường đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế. Việc hợp tác du lịch quốc tế sẽ tạo nhiều cơ hội để học hỏi kinh nghiệm, trao đổi thông tin du lịch và cùng nhau phát triển. Hợp tác quốc tế là cơ hội để Hà Nội thu hút đầu tư cho ngành du lịch, tạo điều kiện và sự quan tâm của các tổ chức quốc tế đối với ngành du lịch Việt Nam cũng như du lịch Hà Nội, tăng cường khả năng đón khách du lịch  trong nước và nước ngoài. Hoà nhập vào môi trường quốc tế giúp cho du lịch Hà Nội có thể tự khẳng định mình, thúc đẩy các hoạt động du lịch phát triển.

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao. Vì vậy ngành du lịch cần có sự phối hợp của các ngành có liên quan từ Ngoại giao, Công an, Hải quan, Quốc phòng, Hàng không, Giao thông – Vận tải, Văn hoá, Bưu chính viễn thông, Tài chính, Đầu tư, Khoa học – Công nghệ – Môi trường. Cần có kế hoạch tăng cường năng lực vận chuyển hàng không đáp ứng kịp thời nhu cầu tăng khách du lịch với chất lượng phục vụ tốt hơn, giá cả phù hợp hơn. Vấn đề môi trường, văn hoá du lịch trong du lịch cũng phải được quan tâm chỉ đạo, triển khai tốt hơn. Giao thông – Vận tải, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp điện, nước… cũng cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm hơn, ưu tiên cho các vùng trọng điểm du lịch.

Tóm lại, sự phối hợp liên ngành là rất cần thiết đồng thời phải có sự giúp đỡ của chính quyền địa phương để giúp du khách giảm bớt được những lo lắng về tệ nạn ăn xin, hàng rong. Bên cạnh đó trong nội bộ ngành du lịch cũng cần phải phát triển cân đối, hỗ trợ lẫn nhau.

3.4. Các khuyến nghị Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Những giải pháp trên chỉ có thể thực hiện được và đạt kết quả tốt khi có được sự quan tâm và giúp đỡ của Nhà nước, các bộ, ngành. Do vậy, tác giả xin phép đưa ra khuyến nghị với Nhà nước, các ngành một số vấn đề như sau:

3.4.1. Đối với Chính phủ và các ngành có liên quan về du lịch

  • Mở văn phòng du lịch quốc gia, trước tiên là tại các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, Pháp… để nghiên cứu, thu thập thông tin về thị trường du lịch và quảng bá, xúc tiến các sản phẩm du lịch Việt Nam tới thị trường quốc tế.
  • Nhà nước cần đánh giá kết quả và hiệu quả của các chương trình hợp tác đã ký kết trên cơ sở hiệp định với một số nước như Thái Lan, Lào, Singapore… Từ đó rút ra kinh nghiệm và bài học nhằm tiếp tục điều chỉnh nội dung và hình thức hợp tác đối với từng nước cho phù hợp
  • Nâng cao hiểu biết nhận thức về hợp tác và hội nhập cho các doanh nghiệp.
  • Nhà nước và Uỷ Ban Nhân Dân thành phố cần đẩy mạnh việc xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng trên toàn thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển.

Kiến nghị với Cục hàng không dân dụng Việt Nam trong việc:

  • Tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty du lịch tham gia mạng lưới đại lý vé máy bay tốt hơn nữa.
  • Hiện nay việc Airport taxi một mình độc quyền hoạt động trong sân bay gây nhiều trở ngại cho các công ty du lịch vì họ không được đưa xe của công ty vào sân bay đưa đón khách, và nếu khách cần di chuyển với cự ly ngắn thì các tài xế của Airport taxi thường từ chối. Tuy nhiên tình hình đã được cải thiện với việc đưa các tuyến xe buýt vào hoạt động trong sân bay. Trong khi các công ty du lịch không thể để du khách đi xe buýt mà vẫn cần được tự do ra vào sân bay đưa đón khách.

Với Bộ Văn hóa – Thông tin

  • Phối hợp với Bộ Văn hoá – Thông tin để thống nhất quy chế khai thác, sử dụng các di tích, thắng cảnh vào việc phát triển du lịch. Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.
  • Cải tạo lại điều kiện phục vụ tại các điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở thêm nhiều sản phẩm có sức hấp dẫn.
  • Cải thiện một cách căn bản môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại các điểm du lịch có đông khách du lịch quốc tế làm cho khách có ấn tượng tốt đẹp về các điểm du lịch của Việt Nam.
  • Tích cực khai thác và tu bổ các khu du lịch đã hình thành ở các địa phương, nhanh chóng quy hoạch và đầu tư xây dựng một số khu du lịch có tầm cỡ quốc gia, tạo ra các sản phẩm du lịch đồng bộ có chất lượng cao.

Tổng cục hải quan.

  • Thủ tục hải quan tại các sân bay quốc tế Việt Nam còn chậm (sân bay Tân Sơn Nhất chỉ có 12 quầy làm thủ tục, mà lúc cao điểm có tới khoảng 2.000 khách cùng một lúc nên phải chờ đợi rất lâu. Đặc biệt có đoàn phải mất 3 giờ đồng hồ mới làm xong thủ tục, du khách rất mệt mỏi và chán nản)
  • Tổng cục hải quan nên tạo cho khách du lịch quốc tế cũng như khách du lịch nội địa thấy được văn minh lịch sự trong hoạt động kiểm tra hành lý, hướng dẫn khách làm thủ tục.
  • Bộ Văn hoá – Thông tin và Tổng cục hải quan cần có qui định cụ thể về việc buôn bán, chuyên chở xuất khẩu đồ giả cổ cho khách du lịch nói chung và khách Nhật nói riêng để khuyến khích họ mua nhiều hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam.

Với Bộ Công an, Bộ ngoại giao

  • Hai bộ này nên phối hợp, cải tiến, đơn giản hoá, thuận tiện nhanh chóng hơn trong việc xét duyệt nhân sự, cấp hộ chiếu, thị thực cho khách xuất nhập cảnh về các thủ tục giải quyết chung.
  • Các bộ này cũng phải có biện pháp hữu hiệu bảo đảm an ninh an toàn cho khách nhất là du khách Nhật, cần hạn chế tình trạng lấy cắp đồ, cướp giật, ăn xin bám theo và tâm lý ức chế vì gây phiền cho khách.

Nhà nước cần có sự tiêu chuẩn hoá về sản phẩm đối với hoạt động kinh doanh lữ hành để vấn đề quản lý chất lượng chương trình du lịch tại các doanh nghiệp du lịch trở thành một trong những hoạt động quan trọng, cơ bản của hoạt động kinh doanh lữ hành.

3.4.2. Đối với Tổng cục du lịch Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

  • Tổng cục du lịch cần tăng cường triển khai các cuộc họp hai bên giữa lữ hành Việt Nam và Hiệp hội lữ hành Nhật Bản, tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp để cùng khai thác hiệu quả thị trường. Việc các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam tiếp xúc với các hiệp hội là điều kiện để mở rộng mối quan hệ trong kinh doanh và thu hút thêm khách du lịch.
  • Tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai Luật du lịch. Tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong toàn ngành du lịch và trong nhân dân về các văn bản liên quan của Tổng cục du lịch. Thường xuyên kiểm tra việc thi hành Luật du lịch, kịp thời đánh giá rút kinh nghiệm về tổ chức thực hiện.

3.4.3. Đối với địa phương

  • Xây dựng các làng nghề, làng sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ khách tham quan, mua sắm hàng lưu niệm.
  • Nghiên cứu và tích cực tháo gỡ khó khăn để xây dựng các loại hình du lịch mới do các hãng lữ hành quốc tế đề xuất (như du lịch ô tô, mô tô, máy bay, lặn biển, lướt ván, nhảy dù). Đồng thời giúp đỡ các công ty lữ hành cùng các thành phần kinh tế xây dựng một số loại hình du lịch độc đáo như: đua chó do Vũng Tàu đề xuất, săn bắn, du lịch sinh viên, open tour cho khách du lịch ba lô…).
  • Cần tổ chức giáo dục ý thức toàn dân, quản lý di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của địa phương mình nói riêng và cho ngành du lịch của đất nước nói chung. Tăng cường phối hợp liên ngành để chấn chỉnh an ninh trật tự, vệ sinh môi trường an toàn, an ninh cho khách.

3.4.4. Đối với các doanh nghiệp

  • Tăng cường công tác tiếp thị, quảng bá du lịch Việt Nam qua Internet cả về nội dung lẫn hình thức.
  • Tiếp tục duy trì việc nâng cao chất lượng dịch vụ thể hiện trong thông tin, tiếp thị, công tác hướng dẫn, điều hành.
  • Mở rộng các loại hình kinh doanh và các dịch vụ bổ sung để tăng nguồn thu, tạo thêm sức hấp dẫn đối với du khách và giải quyết lao động.
  • Từng bước ổn định nhân sự phù hợp với yêu cầu kinh doanh, đề cao ý thức tiết kiệm và tinh thần trách nhiệm của toàn thể cán bộ.
  • Đẩy mạnh hơn nữa công tác thi đua, ban hành một số qui chế mới về tiêu chuẩn định mức và biện pháp thưởng phạt hàng tháng. Đồng thời tăng cường kiểm tra khâu quản lý, hoạt động kinh doanh, sắp xếp cán bộ, công nhân viên phù hợp với những việc được giao, đảm bảo đem lại hiệu quả cao nhất.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Tóm lại, thị trường khách du lịch Nhật Bản có thể được coi là thị trường trọng điểm đối với du lịch Việt Nam cũng như đối với du lịch Hà Nội. Đây là đối tượng có yêu cầu cao về sản phẩm du lịch nên tìm hiểu đặc điểm tâm lý là hết sức cần thiết nhằm xây dựng và tổ chức các chương trình du lịch có khả năng hấp dẫn, khai thác có hiệu quả thị trường khách này. Bởi xét về xu hướng tiêu dùng của du khách Nhật Bản khi tới Việt Nam là vô cùng phong phú. Chính vì vậy, cần có chính sách quảng cáo du lịch cũng như các sản phẩm tour du lịch chất lượng cao, giá cả phù hợp để khai thác thị trường khách du lịch Nhật Bản dựa trên những sở thích tiêu dùng. Mặt khác phải quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu thị trường du lịch và đề ra các chiến lược kinh doanh hợp lý hơn cũng như các biện pháp khả thi để khai thác khách du lịch Việt Nam nói chung cũng như khách du lịch Nhật Bản nói riêng nhằm đẩy mạnh và phát triển hơn nữa du lịch Việt Nam.

KẾT LUẬN

Nhật Bản là thị trường gửi khách hàng đầu trên thế giới. Hiện còn vấp phải một số khó khăn do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, nhưng Nhật Bản vẫn luôn là thị trường đầy hấp dẫn đối với du lịch Việt Nam. Con số 0,73% lượt khách Nhật đến Việt Nam là quá nhỏ bé so với 16 triệu khách du lịch ở nước ngoài hàng năm. Để đạt được 6 – 7 triệu lượt khách đến năm 2010. Du lịch Việt Nam cần có chiến lược đầu tư vào từng thị trường trọng điểm, đặc biệt là Nhật Bản. So với các nước Âu, Mỹ, việc thu hút khách Nhật đến Việt Nam có nhiều thuận lợi vì khoảng cách đi lại ngắn, Việt Nam và Nhật Bản đã có truyền thống quan hệ hữu nghị, gần gũi về văn hoá, nhân dân Nhật Bản vốn có cảm tình với Việt Nam. Chính vì vậy, để tăng lượng khách đến Việt Nam trong thời gian tới cần tập trung đầu tư cho thị trường Nhật Bản cả trong công tác xúc tiến và nâng cấp tiêu chuẩn dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của du khách Nhật.

Khách du lịch Nhật Bản đến Hà Nội cũng như đến Việt Nam đã có chiều hướng tăng. Đây là thị trường khách có những đặc điểm đặc trưng về tâm lý cũng như về sở thích tiêu dùng du lịch, thuận lợi cho việc khai thác bởi có những nét tương đồng về địa lý, lịch sử và văn hoá với Việt Nam. Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

Từ tốc độ tăng trưởng nhanh của lượng khách du lịch Nhật Bản tới Việt Nam thời gian qua có thể dự báo rằng: trong vòng một hoặc hai năm tới, mức tăng này sẽ lên gấp 2 – 3 lần và tới năm 2007, Việt Nam có thể đón 500.000 – 700.000 khách từ thị trường khách này. Đây cũng là con số đáng mừng song cũng là những thách thức. Tuy nhiên, triển vọng khai thác khách du lịch từ thị trường Nhật Bản đang có những tín hiệu khả quan.

Số lượng khách Nhật Bản đến Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng rõ ràng còn là rất khiêm tốn. Ở đây có nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như vấn đề quảng cáo và vấn đề chất lượng dịch vụ của ta còn hạn chế. Từ đó đặt ra, chúng ta sẽ còn phải phấn đấu rất nhiều trong tương lai mới có thể đuổi kịp và cạnh tranh được với các quốc gia khác trong cùng khu vực trong việc thu hút khách du lịch Nhật Bản, bằng cách in nhiều ấn phẩm quảng bá du lịch bằng tiếng Nhật, phát hành rộng rãi để dân chúng Nhật biết về các sản phẩm hấp dẫn của du lịch Việt Nam. Bên cạnh đó, cần chỉ đạo cho các địa phương, các công ty du lịch nâng cao chất lượng dịch vụ, kéo dài tour tuyến, chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng hướng dẫn viên và lễ tân thạo tiếng Nhật cũng như tăng cường các hãng lữ hành  của Nhật vào thăm Việt Nam để giới thiệu rõ nét hơn về Việt Nam. Trong tương lai, ngành cũng phải nghiên cứu trình Chính Phủ cho phép đặt Văn phòng đại diện của Tổng cục du lịch Việt Nam tại thị trường Nhật Bản đồng thời có chính sách khuyến khích về thủ tục visa đối với khách du lịch Nhật Bản.

Những chính sách trên được đưa ra để thu hút khách du lịch Nhật Bản đã và sẽ mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp. Để lưu giữ khách được lâu hơn cũng như khách tiếp tục quay trở lại nhiều hơn khoá luận đã đưa ra một số giải pháp như chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách tuyên truyền quảng bá sản phẩm du lịch, chính sách phân phối, đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường mối quan hệ hợp tác liên ngành. Ngoài ra vấn đề giữ gìn môi trường du lịch cần được coi là nhiệm vụ hàng đầu. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể khai thác lượng khách nhiều và ổn định từ thị trường cao cấp này.

Hà Nội là một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Với những tiềm năng về tự nhiên, văn hoá, kinh tế, xã hội, Hà Nội có đầy đủ điều kiện để phát triển tốt về du lịch. Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm tâm lý và sở thích tiêu dùng du lịch khoá luận phần nào sẽ giúp cho các nhà kinh doanh du lịch có những định hướng đúng nhằm khai thác thị trường khách Nhật đông hơn. Đồng thời qua quá trình thực hiện nghiên cứu và đánh giá các nội dung trên khoá luận cũng đưa ra một số khuyến nghị với Chính phủ và các ngành có liên quan về du lịch, với Tổng cục du lịch, địa phương và các doanh nghiệp du lịch.

Với những gợi ý khiêm tốn, tác giả hy vọng rằng bài luận văn của mình sẽ là một tài liệu tham khảo có ích đối với các doanh nghiệp du lịch và đối với những ai quan tâm nghiên cứu về thị trường khách Nhật Bản, ngoài ra tác giả cũng mong bổ sung thêm nhiều ý kiến, ý tưởng mới giúp cho luận văn được hoàn chỉnh và việc khai thác thị trường khách Nhật Bản ngày một tốt hơn, có hiệu quả hơn. Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Nghiên cứu thị trường khách du lịch nhật bản ở Việt nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *