Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Sài Gòn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Đề tài: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Sài Gòn
Tóm tắt: dựa trên tính cấp thiết về việc nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị trong khu vực TP Hồ Chí Minh, nghiên cứu đã tìm ra các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam Chi Nhánh Đông Sài Gòn, từ đó đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của đơn vị. Nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha, sau đó thực hiện phân tích nhân tố EFA và kiểm định giá trị trung bình mẫu của các nhân tố cấu thành năng lực cạnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy 7 nhân tố: Khả năng quản trị, Khả năng marketing, Khả năng tài chính, Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ, Khả năng quản trị rủi ro, Khả năng tổ chức phục vụ và Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh là các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của BIDV Đông Sài Gòn. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước mà tác giả đã tham khảo. Khả năng tổ chức phục vụ được đánh giá là khả năng tốt nhất trong năng lực cạnh tranh của Chi Nhánh Đông Sài Gòn. Từ kết quả của nghiên cứu, tác giả đưa ra các hàm ý quản trị giúp nâng cao năng lực cạnh tranh tại đơn vị đồng thời cải thiện các hạn chế hiện hữu.
Từ khóa: năng lực cạnh tranh, ngân hàng thương mại, nâng cao, khả năng tổ chức phục vụ
ABSTRACT
Subject: Improving competitiveness of Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam – Dong Sai Gon Branch
Abstract: Based on the importance of improving the competitiveness in Ho Chi Minh City, the study analyzed the factors constituting the competitiveness of the Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam – Dong Sai Gon Branch, then assess the current competitive situation of the Branch. The study applied the method of assessing the reliability of the scale through Cronbach’s Alpha coefficient, then performed EFA factor analysis and mean test. Research results show all 7 factors: Management capacity, Marketing capacity, Financial capacity, Capacity to innovate products – services, Risk management capacity, Capacity to serve and Capacity to adapt to the business environment affects the competitiveness of BIDV Dong Sai Gon. This is consistent with previous research. Capacity to serve is assessed as the best ability among the capabilities of the Bank’s competitiveness. Base on the results of the research, the author proposes a number of recommendations to help improve the competitiveness of the Branch and improve the existing limitations.
Keywords: competitiveness, commercial banks, improving, capacity to serve
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng gay gắt hơn, việc các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực về vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý và kinh nghiệm hoạt động tham gia thị trường là thách thức rất to lớn đối với các ngân hàng nội địa, đồng thời khoa học công nghệ ngày càng phát triển sẽ thay đổi toàn diện phương thức sử dụng dịch vụ tài chính của khách hàng, yêu cầu các ngân hàng phải điều chỉnh để có thể tồn tại và phát triển.
Hiện nay việc cạnh tranh giữa các ngân hàng không chỉ là vấn đề mang tính riêng của ngành, mà còn ảnh hưởng đến nhiều thành phần khác trong nền kinh tế Việt Nam, vì vậy được Chính phủ, Nhà nước chỉ đạo rất sát sao. Với vai trò là một trong những NHTM đứng đầu trên thị trường tài chính Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) không thể nằm ngoài xu thế đó, vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời đại mới là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu, được triển khai đồng bộ, thống nhất, toàn diện từ Hội sở đến các đơn vị trực thuộc.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam Chi Nhánh Đông Sài Gòn (BIDV Đông Sài Gòn) đã trải qua hơn 18 năm hình thành và phát triển trên địa bàn phía Đông TP. Hồ Chí Minh.
Năm 2021, BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn đạt lợi nhuận trước thuế là 219,3 tỷ đồng, xếp thứ 10 trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh, tiếp tục được xếp hạng Đặc Biệt. Tuy vậy, con số lợi nhuận này còn thấp hơn mức lợi nhuận trung bình tính trên một chi nhánh Vietcombank.
Địa điểm kinh doanh của BIDV Chi Nhánh Đông Sài Gòn nằm ở vị trí thuận lợi để tiếp cận các Khu chế xuất và Khu công nghệ cao TP.HCM. Tuy nhiên Chi Nhánh chưa khai thác hiệu quả các khách hàng doanh nghiệp cũng như các khách hàng cá nhân là cán bộ công nhân viên tại khu vực này. Theo báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2021 của chi nhánh, dư nợ cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn là 925 tỷ đồng chiếm 26% tổng dư nợ khách hàng tổ chức, dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ là 2.577 tỷ đồng chiếm 74%. Các khách hàng doanh nghiệp đang có mối quan hệ với BIDV CN Đông Sài Gòn chỉ khoảng 30% trên tổng số doanh nghiệp tại các Khu chế xuất trong khu vực.
Dư nợ cho vay bán lẻ năm 2021 của BIDV Đông Sài Gòn chỉ tăng trưởng 4% so với năm 2020 – khá khiêm tốn so với tốc độ tăng trưởng bình quân của các chi nhánh trên địa bàn Tp HCM là 19%. Do đó xếp hạng của Chi Nhánh Đông Sài Gòn trên hệ thống tiếp tục bị suy giảm chỉ đạt hạng 16/36 khu vực TP. HCM.
Với hoàn cảnh cạnh tranh gay gắt cũng như vị thế của cả hệ thống bị suy giảm, BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn phải tiếp tục nỗ lực khẳng định vị thế trong hệ thống. Hoạt động tại địa bàn không thuận lợi do cạnh tranh trực tiếp từ nhiều ngân hàng khác nhau nên quy mô Chi nhánh còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm lực của hệ thống. Trước tình hình cạnh tranh gay gắt hiện nay, trong ngành ngân hàng nói chung và trên địa bàn nói riêng, đang đặt ra cho BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn nhiều thách thức.
Với những yêu cầu cấp thiết nêu trên, việc nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Đông Sài Gòn và giúp cải thiện năng lực này là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên cho đến tháng 6 năm 2022, đa số các nghiên cứu về BIDV CN Đông Sài Gòn mới chỉ tập trung phát triển cho mảng tín dụng như: Trương Thùy Duyên với nghiên cứu “Phát triển hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Sài Gòn” năm 2021; Nguyễn Hữu Nam với nghiên cứu “Nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Đông Sài Gòn” năm 2020; Nguyễn Lâm Duy với nghiên cứu “Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn” năm 2018; một số nghiên cứu khác lại về phát triển ngân hàng điện tử hoặc nâng cao chất lượng dịch vụ. Mảng nghiên cứu về năng lực cạnh tranh Chi Nhánh chưa được quan tâm đúng mức và đang bị lãng quên trong những năm qua.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh trên địa bàn là điều kiện tối cần thiết nhằm phát triển hoạt động, xây dựng vị thế, hình ảnh thương hiệu vững chắc và lâu dài. Để thực hiện thành công điều này, cần có những nghiên cứu có cơ sở khoa học, cho dù tính cấp thiết của vấn đề đã được đặt ra nhưng cho đến nay vẫn đang có một khoảng trống lớn và chưa có nghiên cứu cụ thể nào để khỏa lấp vấn đề này. Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên, là người đang công tác tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn, tác giả quyết định chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Sài Gòn” để làm luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh tại Đại học Ngân Hàng TP Hồ Chí Minh.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước đã tham khảo, tác giả hướng tới áp dụng nghiên cứu mô hình thực tế tại BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn để tìm ra các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của đơn vị. Nghiên cứu đo lường và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn, từ đó đưa ra các hàm ý quản trị nhằm cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu cần trả lời được các câu hỏi sau:
- Các nhân tố nào cấu thành năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Sài Gòn?
- Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Sài Gòn như thế nào?
- Có những hàm ý quản trị nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh tại BIDV CN Đông Sài Gòn. Đối tượng sẽ tham gia khảo sát là người am hiểu lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hiểu biết về vấn đề cạnh tranh bao gồm cán bộ quản lý tại các Chi nhánh BIDV trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ công tác tại BIDV Đông Sài Gòn.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
1.4.2.1 Phạm vi về không gian
- Đề tài được nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam Chi Nhánh Đông Sài Gòn.
- Địa chỉ trụ sở: 23A – 25 Đặng Văn Bi, Trường Thọ, Thủ Đức, Hồ Chí Minh
1.4.2.2 Phạm vi về thời gian
- Nghiên cứu tiến hành khảo sát 300 cán bộ nhân viên, lãnh đạo, chuyên gia. Thực hiện thu thập dữ liệu từ ngày 01/08/2022 đến ngày 31/12/2022.
- Sử dụng số liệu hoạt động ngân hàng trong 3 năm: 2020, 2021, 2022.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính và nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn các đối tượng chuyên gia nhằm mục đích khám phá, hiệu chỉnh và phát triển thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và thẩm định lại các câu hỏi phỏng vấn thông qua quá trình phỏng vấn thử.
Tiếp theo việc thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu định lượng được tiến hành thông qua phương pháp điều tra bằng bảng khảo sát gửi đến các chuyên gia, cán bộ nhân viên, lãnh đạo. Từ kết quả trả lời bảng khảo sát, tác giả thu thập được dữ liệu sơ cấp. Sau đó tác giả phân tích dữ liệu, kiểm định thang đo, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
Nhằm bảo đảm các vấn đề nghiên cứu được bao quát và độ tin cậy trong quá trình xây dựng các biến trong nghiên cứu được chính xác, tác giả tiến hành vận dụng các khái niệm đã được công nhận, làm rõ trong các nghiên cứu trước đây. Tác giả cũng sử dụng thang đo Likert năm mức độ trong bảng nghiên cứu này là cho tất các các biến quan sát, biến độc lập và biến phụ thuộc.
Toàn bộ dữ liệu sơ cấp được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 25. Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên các thang đo sau khi điều chỉnh, bổ sung sẽ được kiểm định bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, kiểm định giá trị trung bình để đánh giá thực trạng. Hai công cụ là hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA sử dụng để kiểm định độ tin cậy những thang đo của từng nhân tố. Sau khi đã kiểm định thành công thanh đo của từng nhân tố thì tác giả thực hiện phân tích tương quan Pearson và kiểm định giá trị trung bình. Từ đó, đánh giá được thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Chi Nhánh Đông Sài Gòn.
1.6 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Đề tài đã tập trung làm rõ các vấn đề mang tính lý luận lẫn thực tiễn có liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh đặt trong lĩnh vực hoạt động cụ thể là kinh doanh ngân hàng. Trên cơ sở vận dụng các lý luận đúc kết được vào thực tiễn ngân hàng nhằm phân tích các nhân tố hình thành năng lực cạnh tranh của BIDV Đông Sài Gòn trong quá trình hoạt động, từ đó đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Chi nhánh trên địa bàn phía đông TP Hồ Chí Minh nói riêng và địa bàn Thành phố nói chung. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc bổ sung và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là tại BIDV Chi nhánh Đông Sài Gòn nói riêng và tại BIDV nói chung, trước yêu cầu cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, ảnh hưởng toàn diện các mặt của nền kinh tế và đời sống xã hội. Luận văn còn ứng dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, học tập về chuyên ngành.
1.7 Cấu trúc của luận văn
Nội dung nghiên cứu gồm 5 chương:
- Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh
- Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu
- Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng gay gắt, việc nâng cao năng lực cạnh tranh là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu của BIDV nói chung và BIDV Đông Sài Gòn nói riêng. Trong Chương 1 của luận văn tác giả đã đưa ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, từ đó nêu lên ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn của đề tài và cấu trúc của luận văn để làm cơ sở trình bày luận văn trong các phần tiếp theo.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về cạnh tranh Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Ngày nay, thuật ngữ cạnh tranh đã được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Có nhiều cách hiểu khác nhau và ở mỗi lĩnh vực nhất định thuật ngữ này được định nghĩa với những biểu hiện riêng của lĩnh vực đó. Theo định nghĩa thông thường cạnh tranh là “đua tranh để giành ưu thế về mình” hay là sự “đua tranh với nhau giữa những người theo đuổi cũng một mục đích nhằm đánh bại đối thủ và giành cho mình thế có lợi nhất”.
Các nhà kinh tế trên thế giới đã nghiên cứu về “cạnh tranh” từ rất sớm với các trường phái khác nhau như: Lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Các tác giả khác nhau với các góc nhìn khác nhau, cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra các khái niệm về cạnh tranh như sau:
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus (1989) cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường.
Theo Michael Porter (1985, 1998) thì cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Ngoài ra, Nelson (1992) và Waheeduzzaman & Ryans (1996) cho rằng, cạnh tranh là một khái niệm phổ biến liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như lợi thế so sánh hay quan điểm cạnh tranh về giá, chiến lược và quan điểm quản lý, cũng như quan điểm về lịch sử và văn hóa – xã hội.
Cạnh tranh là một thực tế của hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp nhận thấy sự cạnh tranh dưới các hình thức giá cả, chất lượng, thiết kế, bán hàng, địa điểm và hầu hết mọi quy trình kinh doanh. Nhiều người phàn nàn về nó, nhiều người học hỏi từ nó, và nhiều người chạy trốn khỏi nó. Nhiều nhà quản lý tìm cách giảm hoặc loại bỏ tác động của cạnh tranh đối với hoạt động kinh doanh của họ bằng cách sử dụng nhiều kỹ thuật quản lý khác nhau, bằng cách vận động chính phủ hoặc thậm chí bằng cách thông đồng với những người mà họ coi là đối thủ cạnh tranh. Từ điển kinh doanh của Anh (1992) nêu rằng cạnh tranh được xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình. Trong kinh doanh cạnh tranh còn được định nghĩa là các hành động thể hiện nỗ lực của các chủ thể kinh doanh cùng một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể nhằm lôi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm hàng hóa dịch vụ do mình cung cấp với mục đích chiếm thị phần lớn hơn trên thị trường.
2.1.2 Khái niệm lợi thế cạnh tranh
Cho đến thế kỷ XIX, những tư duy về lợi thế cạnh tranh còn hạn chế dù sự cạnh tranh gay gắt đã xuất hiện ở nhiều ngành kinh doanh. Các doanh nghiệp dường như còn thiếu nhiều năng lực để chủ động nâng cao lợi thế cạnh tranh. Các công ty còn duy trì quy mô nhỏ và cố gắng sử dụng càng ít vốn càng tốt. Những năm cuối thế kỉ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển của ngành điện, vận tải, hóa học, sản xuất thép, và đặc biệt là sản xuất và tiêu dùng hàng loạt. Các tập đoàn lớn với hàng trăm hoặc hàng nghìn nhân viên đã mọc lên từ thời đại này. Tốc độ toàn cầu hóa diễn ra với mức độ ngày càng cao, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt và gay gắt. Đó là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử quản trị dẫn đến nhiều lý thuyết mà chúng ta sử dụng ngày nay. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Vào đầu những năm 1950, hai giáo sư về chính sách kinh doanh tại Harvard, George Albert Smith Jr. và C. Roland Christensen, đã dạy học sinh đặt câu hỏi liệu chiến lược của một công ty có phù hợp với môi trường cạnh tranh của nó hay không. Sinh viên đặt ngược lại câu hỏi rằng một công ty phải cạnh tranh với những công ty khác trong ngành cụ thể trên cơ sở nào? Nó phải có năng lực đặc biệt để cạnh tranh ở những khía cạnh nào? Đến những năm 1960, các cuộc thảo luận tập trung vào điểm mạnh và điểm yếu, năng lực đặc biệt với cơ hội và thách thức hoặc rủi ro mà một công ty phải đối mặt trên thị trường. Mô hình này được gọi bằng từ viết tắt SWOT, là một bước tiến quan trọng trong việc mang lại tư duy cạnh tranh rõ ràng để giải quyết các câu hỏi về chiến lược.
Những năm 1950 còn xuất hiện các nghiên cứu của Joe Bain. Ông xác định ba nguồn rào cản nhập cuộc – các nhân tố sẽ gây khó khăn tốn kém cho các đối thủ muốn thâm nhập ngành – là: Sự trung thành nhãn hiệu; Lợi thế chi phí tuyệt đối; và tính kinh tế của qui mô. Những nghiên cứu sâu sắc của Bain đã dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của trường phái quan điểm Tổ chức Công nghiệp/ Lý thuyết tổ chức ngành gọi tắt là IO (Industrial Organization). IO nghiên cứu hành vi chiến lược của các công ty, chính sách điều tiết, chính sách chống độc quyền và cạnh tranh thị trường, áp dụng lí thuyết kinh tế về giá cả cho các ngành công nghiệp. IO được phát triển và xây dựng dựa trên cơ sở lý luận nền tảng là mô hình SCP (cấu trúc – structure, hành vi – conduct, và kết quả – performance). Mô hình SCP giả định rằng cấu trúc thị trường quyết định hành vi của các doanh nghiệp cần thực hiện; từ đó quyết định hiệu quả của doanh nghiệp; nói cách khác doanh nghiệp phải thích nghi với môi trường để tồn tại, cơ cấu ngành là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh.
Michael Porter (1980) đã phát triển và xử lý các vấn đề tồn đọng trước đó của IO. Ông đưa ra quan điểm cạnh tranh là chiếm lĩnh thị phần, gặt hái lợi nhuận và lợi nhuận thu được phải cao hơn mức trung bình của doanh nghiệp. Kết quả của quá trình cạnh tranh là giữ được mức lợi nhuận bình quân ngành theo chiều hướng tốt dần, đồng thời giá cả của sản phẩm là thấp nhất. Ông còn cho rằng năng lực cạnh tranh đến từ khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có chi phí thấp, năng suất cao, có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, nhằm tăng lợi nhuận. Porter tạo nên mô hình năm lực lượng cạnh tranh để phân tích tính hấp dẫn ngành. Mô hình kim cương Porter là mô hình phân tích các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh đồng thời đánh giá một quốc gia hay vùng lãnh thổ có môi trường kinh doanh vi mô lành mạnh hay không.
Năm 1985, Porter lần đầu chính thức trình bày thuật ngữ “Lợi thế cạnh tranh”, ông mô tả trung tâm hiệu quả trên thị trường cạnh tranh chính là Lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp đã đánh mất tầm nhìn về lợi thế cạnh tranh và theo đuổi sự đa dạng hóa. Tầm quan trọng của lợi thế cạnh tranh là rất lớn. Doanh nghiệp trên toàn thế giới đang phải đối mặt với mức tăng trưởng chậm hơn cũng như sự cạnh tranh quyết liệt từ các đối thủ trong nước và toàn cầu trong khi chiếc bánh thị phần không còn đủ lớn cho tất cả. Những nghiên cứu này đã giúp nhiều doanh nghiệp nhìn nhận và quan tâm hơn về lợi thế cạnh tranh. Lúc này câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp dành được lợi thế cạnh tranh bền vững không bị sao chép trong môi trường ngày càng biến động? Chính vì tính thiết thực của câu hỏi này những nghiên cứu về nguồn lực và lợi thế cạnh tranh bền vững đã liên tục được thực hiện, tạo nên một hệ thống tri thức về Học thuyết nguồn lực (Resource-based theory).
2.1.3 Lý thuyết nguồn lực Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
2.1.3.1 Khái niệm nguồn lực doanh nghiệp
Nguồn lực doanh nghiệp được hiểu là những tài sản mà một doanh nghiệp sở hữu và có thể khai thác vì mục đích kinh tế (F. David, 1998).
Amit và Schoemaker (1993) định nghĩa nguồn lực doanh nghiệp bao gồm cổ phiếu sở hữu, bằng phát minh, sáng chế, tài sản tài chính hoặc tài sản vật chất (tài sản, máy móc thiết bị), và vốn con người. Nguồn lực doanh nghiệp có thể ở dạng hữu hình (máy móc thiết bị, kĩ thuật) hoặc vô hình (công nghệ, danh tiếng, nguồn nhân lực). Nguồn lực vô hình thường khó phát hiện và đánh giá nhưng chúng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009).
Dựa vào tiền đề là chiến lược kinh doanh phụ thuộc vào phần lớn vào nguồn lực của doanh nghiệp do đó các doanh nghiệp trong một ngành khó có thể sao chép chiến lược của nhau, lý thuyết về nguồn lực cho rằng nguồn lực của doanh nghiệp chính là yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khác với mô hình năm tác lực cạnh tranh của Porter, lý thuyết nguồn lực về cạnh tranh tập trung vào các yếu tố bên trong của doanh nghiệp.
Lý thuyết nguồn lực tập trung vào nội lực của doanh nghiệp, bổ sung cho lý thuyết về cạnh tranh dựa trên kinh tế học IO. Sự khác biệt của doanh nghiệp trong mô hình Chamberlin, IO và Schumpeter là cơ sở cho lý thuyết nguồn lực của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giống mô hình Chamberlin và IO, lý thuyết nguồn lực dựa trên sự cân bằng, không tập trung và quá trình động của thị trường. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
2.1.3.2 Đặc điểm của nguồn lực tạo lợi thế cho Doanh nghiệp
Theo Barney, J.B (1991) nguồn lực tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong cạnh tranh phải thỏa mãn 4 điều kiện sau: (1) giá trị, (2) hiếm, (3) khó bắt chước, (4) không thể thay thế, được gọi tắt là VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Nonsubstitutable).
Hình 2-1 Nguồn lực đạt VRIN & lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.4 Năng lực cạnh tranh
Năng lực là đủ khả năng để làm một điều nào đó, hay năng lực là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Theo Michael Porter thì năng lực được hiểu là khả năng làm tốt nhất một việc nào đó, khả năng kinh doanh có hiệu quả nhất trong một lĩnh vực hoặc theo một phương thức nào đó. Nói cách khác, có thể diễn đạt năng lực là sở trường, là thế mạnh của công ty. Nó bao gồm cả phần “mềm” lẫn phần “cứng”, nghĩa là cả những nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực vô hình.
Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”.
Theo Stéphane Garelli, năng lực cạnh tranh là một khái niệm có nhiều khía cạnh để xem xét, tuy nhiên có thể đánh giá năng lực cạnh tranh trên 4 khía cạnh sau:
- Hiệu quả (Effectiveness): Năng lực cạnh tranh tốt có nghĩa hoạt động tốt hơn người khác. Năng suất là nhân tố nền tảng của hiệu quả.
- Sự lựa chọn (Choice): Năng lực cạnh tranh tốt thể hiện ở chiến lược lựa chọn những lĩnh vực sẽ mang lại giá trị gia tăng tiềm năng lớn hơn đối thủ.
- Nguồn lực (Resources): Năng lực cạnh tranh bao gồm khả năng huy động được nhiều nguồn lực để thực hiện lựa chọn.
- Mục tiêu (Objectives): Năng lực cạnh tranh không phải là mục tiêu mà là công cụ để cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được định nghĩa như là khả năng của doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất và marketing các sản phẩm vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh, xét cả về khía cạnh giá cả lẫn các khía cạnh phi giá.
Năng lực tạo nên lợi thế cạnh tranh cho công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt là doanh nghiệp có thị phần, doanh số, khả năng sinh lợi cao hơn đối thủ và điều này đạt được nhờ vào các chiến lược kinh doanh, là một loạt những hành động được tiến hành để tác động tới thị trường nhờ đó gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, cũng như được thực hiện thông qua các công cụ marketing khác nhau. Doanh nghiệp cũng có thể có được năng lực cạnh tranh thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm và sự sáng tạo sản phẩm, là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh tranh. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Theo Freiling, Gersch, Goeke, & Sanchez (2008) Các khả năng điều hành của công ty hoạt động dựa trên các nguồn lực của công ty, bao gồm tất cả các tài sản hữu hình và vô hình, dựa vào con người hoặc dựa trên tri thức. Các khả năng điều hành của một công ty cũng có thể được đổi mới và kết hợp lại bằng cách sử dụng các khả năng năng động của công ty. Khi các các khả năng điều hành mới và hiện có có mối quan hệ tốt với nhau và được điều phối bởi các khả năng tích hợp của một công ty, thì chúng có thể phát triển thành năng lực tổ chức cho phép một công ty cạnh tranh trên thị trường.
Theo Nguyễn Văn Thụy (2015): “Khả năng cạnh tranh của một NHTM là khả năng (năng lực) mà ngân hàng có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh thông qua việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà ngân hàng đề ra”.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực của doanh nghiệp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác, duy trì và nâng cao lợi thế đó trong việc cung ứng sản phẩm dịch vụ, mở rộng thị trường, sử dụng hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế và đạt được những mục tiêu doanh nghiệp đề ra.
Hình 2-2 Mối quan hệ giữa nguồn lực, khả năng và năng lực
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tổng quan các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trên thế giới
Grant (1991) đã đưa ra mô hình gồm 6 nhân tố: công nghệ xử lý; quy mô nhà máy; khả năng tiếp cận chi phí rẻ; danh tiếng của doanh nghiệp; công nghệ của doanh nghiệp; Khả năng tiếp thị, phân phối và dịch vụ ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hình 2-3 Mô hình nghiên cứu của Grant R.M (1991)
Nguồn: Grant R.M 1991 Catherine G.Gitonga (2012) với nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của ngân hàng thương mại tại Kenya đã thực hiện nghiên cứu với mẫu bao gồm 6 ngân hàng thương mại lớn, 8 ngân hàng quy mô vừa và 9 ngân hàng nhỏ bằng phương pháp định tính. Từ đó kết luận được rằng các Ngân hàng thương mại ở Kenya đang trong tình trạng cạnh tranh rất gay gắt và hầu như đã áp dụng thống nhất các chiến lược cạnh tranh từ sản phẩm và dịch vụ ưu việt, tài sản công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực lãnh đạo.
Nguồn: Catherine G.Gitonga 2012 Breznik và Lahovnik (2016) với nghiên cứu về năng lực động và lợi thế cạnh tranh: kết quả từ nghiên cứu các tình huống đã chọn sáu doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động chính trong ngành CNTT của Slovenia. Sau đó họ thực hiện tổng cộng 13 cuộc phỏng vấn với những người trả lời chủ yếu là giám đốc các công ty. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và chọn cách tiếp cận nghiên cứu nhiều trường hợp để thiết kế nghiên cứu. Kết quả cho thấy rằng các công ty triển khai các năng lực động có tiềm năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, đặc biệt là trong một môi trường đầy biến động như ngành CNTT. Việc bỏ qua việc triển khai một năng lực động có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc triển khai các năng lực động khác. Những năng lực động có liên quan chặt chẽ hơn với lợi thế cạnh tranh trong môi trường năng động vừa phải hơn là trong môi Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Hình 2-5 Mô hình nghiên cứu của Breznik và Lahovnik (2016)
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong nước
Bài viết “Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam” của Nguyễn Văn Hà đăng trên tạp chí Ngân hàng số 20 tháng 10/2013: Bài viết phân tích và đánh giá tổng quan thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam thông qua các chỉ tiêu như năng lực tài chính, thị phần, nguồn nhân lực, trình độ CNTT, hệ thống kênh phân phối, phát triển dịch vụ, uy tín thương hiệu. Thông qua thực trạng đó cho thấy việc tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng là tất yếu, cần triển khai đồng bộ và quyết liệt.
Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ” của Nguyễn Trung Chính năm 2013: Tác giả đưa ra khung lý thuyết sử dụng mô hình SWOT để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM, sử dụng một số chỉ tiêu để đo lường năng lực cạnh tranh như nhóm chỉ tiêu khả năng tài chính (mức sinh lời, chỉ tiêu phản ánh rủi ro, chi phí giá cả lãi suất), nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm dịch vụ, nhóm chỉ tiêu phản ánh áp dụng công nghệ thông tin, nhóm chỉ tiêu phản ánh cung ứng dịch vụ mới, nhóm chỉ tiêu phản ánh thị phần. Tuy nhiên cơ sở lý thuyết chưa rõ ràng, còn nhiều yếu tố chưa đánh giá như thương hiệu, khách hàng…
Nguyễn Văn Thụy (2015) với nghiên cứu Ảnh hưởng của nhân tố năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.HCM đã thông qua các khái niệm nghiên cứu về khả năng quản trị, khả năng marketing, khả năng tài chính, khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ, khả năng quản trị rủi ro từ đó đặt ra các giả thuyết về mối quan hệ giữa các khả năng này và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Bạch Ngọc Hoàng Ánh (2018) với nghiên cứu Ảnh hưởng của nhân tố năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã đưa ra kết quả rằng quản lý chất lượng toàn diện (tập trung vào khách hàng, hợp tác bên trong, hợp tác bên ngoài, Cải tiến liên tục, lãnh đạo, đáp ứng nhân viên, học hỏi, quản lý quá trình), định hướng thị trường (cập nhật thông tin, phổ biến thông tin, chia sẻ quan điểm, phản ứng của tổ chức) và môi trường dịch vụ là năng lực cạnh tranh quan trọng của tổ chức và có xu hướng tăng cường cho kết quả hoạt động của tổ chức.
Trần Thị Hằng Ni (2019) với nghiên cứu Tác động của các thành phần năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại đã nghiên cứu các nền nghiên cứu từ trước đến nay. Từ đó đưa ra kết luận rằng có 7 yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh bao gồm: (1) Khả năng quản trị; (2) Khả năng marketing; (3) Khả năng tài chính; (4) Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ; (5) Khả năng tổ chức phục vụ; (6) Khả năng quản trị rủi ro và (7) Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh có tác động Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Hình 2-6 Mô hình nghiên cứu của Trần Thị Hằng Ni (2019)
Các nghiên cứu trong nước trên đây đều tập trung vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách chung nhất về những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam. Đa số các nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, đánh giá chủ quan chưa xây dựng thang đo và lượng hóa sự ảnh hưởng của từng nhân tố.
Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đông Sài Gòn” là một nghiên cứu tập trung đề xuất cho một Chi nhánh ngân hàng cụ thể là BIDV Đông Sài Gòn. Luận văn đã thể hiện được các điểm mới đó là:
Thứ nhất: Tập trung nghiên cứu về các nhân tố hình thành năng lực cạnh tranh thông qua khảo sát dữ liệu thực tế của BIDV Đông Sài Gòn trên cơ sở hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh.
Thứ hai: Đề xuất các hàm ý quản trị góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Đông Sài Gòn trong điều kiện nền kinh tế biến đổi khôn lường hiện nay.
Bảng 2-1 Tóm tắt các nghiên cứu tham khảo
| Tác giả (năm) | Nội dung nghiên cứu | Kết quả nghiên cứu |
| Catherine G.Gitonga (2012) | Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của ngân hàng thương mại tại Kenya | Các nhân tố bao gồm: chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực, năng lực công nghệ, năng lực lãnh đạo có ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của ngân hàng thương mại |
| Breznik và Lahovnik (2016) | Nghiên cứu về năng lực động và lợi thế cạnh tranh | Các nhân tố bao gồm: năng lực quản lý, năng lực Marketing, năng lực công nghệ, năng lực R&D, năng lực sáng tạo, nguồn nhân lực có liên quan chặt chẽ hơn với lợi thế cạnh tranh trong môi trường năng động vừa phải hơn là trong môi trường ổn định hoặc năng động cao |
| Nguyễn Văn Hà (2013) | Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam | Bài viết phân tích và đánh giá tổng quan thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam thông qua các chỉ tiêu như năng lực tài chính, thị phần, nguồn nhân lực, trình độ CNTT, hệ thống kênh phân phối, phát triển dịch vụ, uy tín th ương hiệu. |
| Nguyễn Trung Chính (2013) | Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ | Nghiên cứu sử dụng một số chỉ tiêu để đo lường năng lực cạnh tranh như nhóm chỉ tiêu khả năng tài chính (mức sinh lời, chỉ tiêu phản ánh rủi ro, chi phí giá cả lãi suất), nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm dịch vụ, nhóm chỉ tiêu phản ánh áp dụng công nghệ thông tin, nhóm chỉ tiêu phản ánh cung ứng dịch vụ mới, nhóm chỉ tiêu phản ánh thị phần. |
| Nguyễn Văn Thụy (2015) | Ảnh hưởng của nhân tố năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.HCM | Các nhân tố của năng lực canh tranh bao gồm khả năng quản trị, khả năng marketing, khả năng tài chính, khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ, khả năng quản trị rủi ro có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV. |
| Bạch Ngọc Hoàng Ánh (2018) | Ảnh hưởng của nhân tố năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp | Quản lý chất lượng toàn diện, định hướng thị trường và môi trường dịch vụ là năng lực cạnh tranh quan trọng của tổ chức và có xu hướng tăng cường cho kết quả hoạt động của tổ chức |
| Trần Thị Hằng Ni (2019) | Tác động của các thành phần năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại | Nghiên cứu chỉ ra có 7 yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh bao gồm: (1) Khả năng quản trị; (2) Khả năng marketing; (3) Khả năng tài chính; (4) Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ; (5) Khả năng tổ chức phục vụ; (6) Khả năng quản trị rủi ro và (7) Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh có tác động dương tới kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM ở Việt Nam. |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.3.1 Khả năng quản trị
Khả năng quản trị là khả năng cấu trúc, kết hợp và tận dụng các nguồn lực bên trong và bên ngoài nhằm mục đích tạo ra giá trị mới cho các bên liên quan và tối đa hóa lợi thế cạnh tranh. Khả năng quản trị phân biệt giữa (1) khả năng hoạt động: các quy trình và kỹ thuật chung có thể học được và bắt chước, ví dụ: hệ thống sản xuất Toyota, và (2) khả năng năng động: “quy trình đặc trưng” khó bắt chước, thói quen và hành vi riêng của từng công ty (Stead & Stead, 2015; Teece, 2014).
Năng lực tổ chức và điều hành của đội ngũ quản trị là một trong những yếu tố thể hiện khả năng quản trị của doanh nghiệp. 4 yếu tố cần có của một nhà quản trị theo khái niệm của AIM (2012, 2013), đó là: tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo hiệu quả trong tổ chức, quản trị con người và năng lực tổ chức. Khả năng quản trị được hiểu là năng lực của nhà quản trị thông qua các hoạt động tổ chức và điều hành để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Do vậy, 4 yếu tố trên là cần có cho việc xây dựng khả năng quản trị.
Theo nghiên cứu của Cameli & Tishler (2004) tại các tổ chức ở Israel đã đưa ra kết luận khả năng quản trị và nguồn nhân lực có tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh của tổ chức. Nghiên cứu về năng lực lãnh đạo của các tổ chức dịch vụ tài chính tại Estonia của Kivipold & Vadi (2010) đã khẳng định năng lực lãnh đạo có tác động tích cực đến năng lực cạnh của doanh nghiệp. Như vậy, khả năng quản trị có tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Giả thuyết H1: Khả năng quản trị có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
2.3.2 Khả năng marketing Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Marketing là thỏa mãn khách hàng thông qua việc tạo ra giá trị, truyền thông và đưa giá trị đó tiếp cận đến khách hàng nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có khả năng marketing tốt là khi liên tục theo dõi và có thể đáp ứng và phản ứng nhanh nhạy với những biến động của thị trường.
“Doanh nghiệp phải luôn nổ lực tạo dựng mối quan hệ tốt với các đối tác kinh doanh như nhà cung cấp, khách hàng, nhà phân phối và chính quyền. Chất lượng mối quan hệ giữa các thành viên trong quá trình kinh doanh như doanh nghiệp và nhà cung cấp, doanh nghiệp và kênh phân phối, doanh nghiệp và khách hàng, doanh nghiệp và chính quyền có liên quan… đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng marketing của doanh nghiệp” (Huỳnh Thị Thúy Hoa, 2009).
Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009) chỉ ra rằng khả năng marketing của doanh nghiệp được thể hiện qua bốn điểm sau:
- Đáp ứng khách hàng (customer responsiveness
- Phản ứng với đối thủ cạnh tranh (competitor responsiveness)
- Thích ứng với môi trường vĩ mô (responsiveness to the change of the macroenvironment)
- Chất lượng mối quan hệ với đối tác (relationship quality)
Đa phần doanh thu của doanh nghiệp đến từ các khách hàng hiện hữu, thông qua việc doanh nghiệp có thể cung cấp sản phẩm dịch vụ phù hợp với những thay đổi ước muốn và nhu cầu của khách hàng. Do vậy, chất lượng mối quan hệ với khách hàng tỷ lệ thuận với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Giả thuyết H2: Khả năng marketing có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
2.3.3 Khả năng tài chính
Năng lực tài chính là thước đo sức mạnh về tài chính của một ngân hàng tại một thời điểm nhất định, được thể hiện ở các chỉ tiêu sau: Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
- Quy mô vốn tự có và vốn điều lệ, tổng tài sản, hệ số an toàn vốn CAR, quy mô và khả năng huy động vốn, mức độ tiếp cận của các nguồn vốn qua các kênh của ngân hàng, khả năng phòng ngừa và chống rủi ro.
- Chất lượng tài sản có phản ánh sức khỏe của Ngân hàng, thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ; mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, rủi ro tín dụng tiềm ẩn.
- Mức sinh lời: Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng. Mức sinh lời thể hiện qua các chỉ tiêu như: Lợi nhuận trước thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).
- Khả năng thanh khoản: Là khả năng của Ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền của khách hàng, thể hiện qua các chỉ tiêu như: Tỷ lệ khả năng chi trả (Tài sản có thể thanh toán ngay trên tài sản nợ phải thanh toán ngay), khả năng thanh toán tức thì, khả năng thanh toán nhanh, đánh giá định tính về năng lực quản lý thanh khoản, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản.
- Thị phần: Là chỉ tiêu đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của Ngân hàng so với các đối thủ cạnh tranh, thị phần thường phản ánh qua số lượng khách hàng, dư nợ tín dụng, số dư huy động vốn.
Giả thuyết H3: Khả năng tài chính có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
2.3.4 Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ
Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ được thể hiện qua năng lực sáng tạo và định hướng kinh doanh.
Năng lực sáng tạo là khả năng phát triển xây dựng quy trình sản xuất mới, sản xuất sản phẩm mới hay là phát minh ý tưởng mới.
Thông qua việc sáng tạo và cải tiến, doanh nghiệp muốn khắc phục những cách thức cũ đã thành thói quen, những ý tưởng không còn phù hợp với nhu cầu thị trường hiện nay, đồng thời theo đuổi những ý tưởng sáng tạo đáp ứng được yêu cầu của thị trường, từ đó giúp tăng năng lực cạnh tranh.
Thị trường luôn không ngừng thay đổi vì vậy doanh nghiệp cần có định hướng kinh doanh rõ ràng, luôn theo dõi cập nhật thông tin liên tục để nắm bắt cơ hội mới cũng như đối phó với rủi ro tiềm ẩn. Với định hướng kinh doanh rõ rang, doanh nghiệp có thể chủ động sẵn sàng và dẫn dắt tiên phong trong việc phát triển các ý tưởng mới, sản phẩm – dịch vụ mới, quy trình mới. Có thể nói, định hướng kinh doanh tốt giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực sáng tạo và nâng cao NLCT.
Giả thuyết H4: Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
2.3.5 Khả năng quản trị rủi ro Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Có nhiều loại rủi ro như: rủi ro tác nghiệp, rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất. Các loại rủi ro này có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Khi xuất hiện một loại rủi ro sẽ kéo theo các loại rủi ro khác gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng thương mại. Vì vậy, việc xây dựng và củng cố khả năng quản trị rủi ro cho ngân hàng là vô cùng quan trọng.
Một ngân hàng có khả năng quản trị rủi ro cao sẽ giúp kiểm soát và xử lý kịp thời những tác động của thị trường đến hoạt động của ngân hàng.
Theo Trần Huy Hoàng (2008), các NHTM cần quan tâm đến việc xây dựng và phát triển khả năng quản trị rủi ro nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong môi trường luôn tiềm ẩn rủi ro cao này.
Giả thuyết H5: Khả năng quản trị rủi ro có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
2.3.6 Khả năng tổ chức phục vụ
Sản phẩm dịch vụ ngành ngân hàng có đặc tính riêng biệt – không có quá nhiều khác biệt giữa các ngân hàng trong ngành, nguyên nhân do giới hạn về kiến thức, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, công nghệ ngân hàng …vì vậy việc tạo ra sản phẩm đột phá rất khó khăn.
Theo Huỳnh Thị Thúy Hoa (2009) ngoài việc đánh giá chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp thì chất lượng tổ chức phục vụ đóng một vai trò vô cùng quan trọng nhất là trong các ngành dịch vụ, với các sản phẩm vô hình. Có ba yếu tố quan trọng giúp tạo nên một doanh nghiệp có khả năng tổ chức phục vụ tuyệt vời, đó là:
- Thái độ phục vụ của nhân viên: thể hiện nhu cầu và mong muốn sẵn sàng cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.
- Năng lực phục vụ của nhân viên: thể hiện qua trình độ, kỹ năng, chuyên môn của nhân viên để đáp ứng những yêu cầu của khách hàng.
- Tín nhiệm: tạo dựng sự tin tưởng, gắn bó của khách hàng dành cho doanh nghiệp.
Giả thuyết H6: Khả năng tổ chức phục vụ có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
2.3.7 Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh là khả năng doanh nghiệp có tính độc lập, tính chủ động trong kinh doanh và khả năng chấp nhận mạo hiểm với thị trường. Dựa vào lý thuyết về quy trình quyết định chiến lược, khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh được thể hiện qua:
Năng lực chấp nhận mạo hiểm (risk taking): rủi ro là điều tất yếu khách quan, nó luôn hiện hữu và tồn tại trong cuộc sống. Do đó nếu doanh nghiệp có năng lực chấp nhận được rủi ro để không bỏ lỡ những cơ hội thành công thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế hơn trong cuộc đua cạnh tranh với các đối thủ khác.
Năng lực chủ động (proactiveness): là quá trình doanh nghiệp dự báo yêu cầu của thị trường trong tương lai và khả năng chủ động đáp ứng với yêu cầu này. Các doanh nghiệp phải chủ động và tiên phong trong đề xuất và thực hiện các ý tưởng mới, sản phẩm – dịch vụ mới và quy trình mới. Năng lực chủ động biểu hiện qua việc doanh nghiệp duy trì và thâm nhập vào một phân khúc thị trường mới nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh, hay hành động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các phát minh của doanh nghiệp.
Khả năng đáp ứng những thay đổi của thị trường: thông qua việc luôn theo dõi thị trường, doanh nghiệp phát hiện những cơ hội và rào cản kinh doanh, từ đó kịp thời nắm bắt và đưa ra những chính sách, chiến lược kinh doanh phù hợp với yêu cầu của thị trường. Mỗi doanh nghiệp có những cách đáp ứng thị trường khác nhau dựa vào nguồn lực của mình.
Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh càng cao thì khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường càng tốt. Một doanh nghiệp có khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh sẽ chủ động nắm bắt những thay đổi của thị trường, mạo hiểm tìm kiếm những cơ hội kinh doanh và tìm cách đáp ứng những yêu cầu trong sự thay đổi đó. Từ đó góp phần tạo lợi thế cạnh tranh so với đối thủ.
Giả thuyết H7: Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
Trên cơ sở các lý thuyết và nghiên cứu liên quan, tác giả tiến hành xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính ban đầu với biến phụ thuộc là năng lực cạnh tranh của ngân hàng, và 7 biến độc lập gồm: (1) Khả năng quản trị; (2) Khả năng marketing; (3) Khả năng tài chính; (4) Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ; (5) Khả năng quản trị rủi ro; (6) Khả năng tổ chức phục vụ; (7) Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh;
Bảng 2-2 Các biến nghiên cứu và nguồn gốc thang đo
| Nhân tố | Nguồn |
| Khả năng quản trị | Catherine G.Gitonga (2012)
Nguyễn Văn Thụy (2015) Breznik và Lahovnik (2016) Trần Thị Hằng Ni (2019) |
| Khả năng marketing | Breznik và Lahovnik (2016)
Nguyễn Văn Thụy (2015) Trần Thị Hằng Ni (2019) |
| Khả năng tài chính | Nguyễn Văn Hà (2013)
Nguyễn Trung Chính (2013) Nguyễn Văn Thụy (2015) Trần Thị Hằng Ni (2019) |
| Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ | Nguyễn Trung Chính (2013)
Breznik và Lahovnik (2016) Nguyễn Văn Thụy (2015) Trần Thị Hằng Ni (2019) |
| Khả năng quản trị rủi ro | Nguyễn Văn Thụy (2015)
Trần Thị Hằng Ni (2019) |
| Khả năng tổ chức phục vụ | Catherine G.Gitonga (2012)
Nguyễn Văn Hà (2013) Nguyễn Trung Chính (2013) Trần Thị Hằng Ni (2019) |
| Khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh | Bạch Ngọc Hoàng Ánh (2018)
Trần Thị Hằng Ni (2019) |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong chương 2 của luận văn, tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của NHTM: Các định nghĩa, khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh; các lý thuyết liên quan đến năng lực cạnh tranh của NHTM. Ngoài ra, trong chương này tác giả cũng trình bày các nghiên cứu liên quan đến đề tài từ đó đánh giá các khoảng trống nghiên cứu cần bổ sung và xác định các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của NHTM. Những lý luận cơ bản này sẽ là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Đông Sài Gòn tại chương 4. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng BIDV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Nâng cao năng lực cạnh tranh Ngân hàng BIDV

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

