Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 Phân tích thống kê mô tả
Nghiên cứu dữ liệu của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009-2025, với 256 quan sát, kết quả thống kê mô tả được thể hiện qua Bảng 4.1 như sau:
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả
| CAP | COST | INF | GDP | LIQ | LLR | LOAN | SIZE | ROA | ROE | |
| Trung bình | 0,0826 | 0,0203 | 0,0698 | 0,0590 | 0,0139 | 0,0184 | 0,5691 | 32,5489 | 0,0134 | 0,1705 |
| Lớn nhất | 0,3868 | 0,3974 | 0,1858 | 0,0755 | 0,1236 | 0,4682 | 0,8448 | 35,1051 | 0,2252 | 3,5362 |
| Nhỏ nhất | 0,0269 | -0,0117 | -0,0172 | 0,0259 | 0,0034 | -0,0196 | 0,3188 | 27,9102 | -0,0166 | -0,1285 |
| Độ lệch chuẩn | 0,0372 | 0,0467 | 0,0984 | 0,0157 | 0,0170 | 0,0552 | 0,1050 | 1,0745 | 0,0279 | 0,3815 |
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Đối với tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP) thì giá trị trung bình là 8,26%. Điều này có nghĩa là trong 100 đồng tài sản của ngân hàng thì có 8,26 đồng là vốn chủ sở hữu với độ lệch chuẩn là 3,72%. Tỷ lệ này cao nhất là NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội với tỷ lệ là 38,68% và thấp nhất là NHTM Cổ phần Sài Gòn.
Đối với cơ cấu chi phí hoạt động trên tổng tài sản (COST) thì giá trị trung bình là 8,26%. Điều này có nghĩa là trong 100 đồng tài sản của ngân hàng thì cần 8,26 đồng là chi phí hoạt động với độ lệch chuẩn là 4,67%. Tỷ lệ này cao nhất là 39,74% của NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank, CTG) và thấp nhất là NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB)
Đối với tỷ lệ lạm phát (INF) thì giá trị trung bình là 6,98%, với độ lệch chuẩn là 9,84%. Tỷ lệ này cao nhất là 18,58% ở năm 2015 và thấp nhất là tại năm 2019. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) thì giá trị trung bình là 5,90%, với độ lệch chuẩn là 1,57%. Tỷ lệ này cao nhất là 7,55% của năm 2009 và thấp nhất là 2,59% ở năm 2025.
Đối với tỷ lệ tài sản thanh khoản cao trên tổng tài sản (LIQ) thì giá trị trung bình là 1,39%. Điều này có nghĩa là trong 100 đồng tài sản thì ngân hàng có 1,39 đồng là tài sản có tính thanh khoản cao, với độ lệch chuẩn là 1,7%. Tỷ lệ này cao nhất là 12,36% của NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (STB-2012), và thấp nhất là 0,34% của NHTM cổ phần Sài Gòn (SCB-2012) và NHTMCP Việt Á (VBA-2024).
Đối với Dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) thì giá trị trung bình là 1,84 %. Điều này có nghĩa là trong 100 đồng tổng dư nợ cuối kỳ của năm trước, ngân hàng sẽ giành ra 1,84 đồng dự phòng rủi ro với độ lệch chuẩn là 5,52%. Tỷ lệ này cao nhất là 46,82% của NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank, CTG-2025) và thấp nhất là xấp xỉ -1,96% của NHTM Cổ Phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB-2016)
Đối với Tỷ số tổng dư nợ cho vay trên tổng tài sản (LOAN) thì giá trị trung bình là 56,91%. Điều này có nghĩa là cứ 100 đồng tài sản thì ngân hàng sẽ cho vay được 56,91 đồng, với độ lệch chuẩn là 10,50%. Tỷ lệ này cao nhất là 84,48% của NHTM cổ phần Phương Đông (OCB-2012) và thấp nhất là 31,88% của NHTM cổ phần Hàng Hải Việt Nam (MSB-2021).
Đối với quy mô ngân hàng (SIZE) được đo bằng ln(tổng tài sản) thì giá trị trung bình là 32,5489 với độ lệch chuẩn là 1,0745%. Quy mô ngân hàng lớn nhất là 359,1051 của NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID-2025) và thấp nhất là 27,9102 của NHTM Cổ Phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB-2010)
Đối với Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) thì giá trị trung bình là 1,34%. Điều này có nghĩa là 100 đồng tài sản thì sẽ tạo ra được 1,34 đồng lợi nhuận với độ lệch chuẩn là 2,79%. Tỷ lệ ROA lớn nhất 22,52% của NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank, CTG-2024) và thấp nhất là -1,66% của NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPB-2012).
Đối với Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu ROE thì giá trị trung bình là 17,05% có nghĩa là 100 đồng vốn chủ sở hữu thì sẽ tạo ra được 17,05 đồng lợi nhuận với độ lệch chuẩn là 38,15%. Tỷ lệ ROE lớn nhất 353,62% của NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank, CTG-2024) và thấp nhất là – 12,85% của NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPB-2012).
4.2 Phân tích tương quan Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Bảng 4.2 Ma trận tương quan
| CAP | COST | INF | LIQ | LLR | LOAN | SIZE | GDP | |
| CAP | 0,0014 | 0,0000 | 0,0006 | 0,0001 | -0,0001 | -0,0007 | -0,0198 | 0.0000 |
| COST | 0,0000 | 0,0016 | -0,0003 | 0.0000 | 0,0021 | 0,0004 | -0,0063 | 0.0000 |
| INF | 0,0006 | -0,0003 | 0,0097 | 0,0006 | -0,0005 | -0,0034 | -0,0254 | 0,0002 |
| LIQ | 0,0001 | 0.0000 | 0,0006 | 0,0003 | -0,0001 | -0,0003 | -0,003 | 0,0000 |
| LLR | -0,0001 | 0,0021 | -0,0005 | -0,0001 | 0,0031 | 0,0005 | -0,0027 | -0,0001 |
| LOAN | -0,0007 | 0,0004 | -0,0034 | -0,0003 | 0,0005 | 0,0111 | 0,0327 | -0,0002 |
| SIZE | -0,0198 | -0,0063 | -0,0254 | -0,003 | -0,0027 | 0,0327 | 1,1477 | -0,0034 |
| GDP | 0,0000 | 0,0000 | 0,0002 | 0,0000 | -0,0001 | -0,0002 | -0,0034 | 0,0002 |
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Như trong Bảng 4.2, ma trận tương quan xác định tác động cũng như mức độ tác động của từng biến độc lập theo từng cặp. Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình của tác giả không cao, cao nhất là 1,1477. Khi so sánh với so sánh tiêu chuẩn là 0,8, kết quả này cung cấp một dấu hiệu cho thấy các biến không có đa cộng tuyến nghiêm trọng, theo Farrar và Glauber (1967).
4.3 Kiểm định tính dừng của các biến
Để thực hiện kiểm tra tính dừng các chuỗi số liệu, tác giả thực hiện vẽ đồ thị nhằm xác định xem các chuỗi có xu hướng hay không. Kết quả được thể hiện cụ thể trong phụ lục. tiếp theo, tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị chuỗi dữ liệu gốc với mức ý nghĩa 5%. Nếu chuỗi dữ liệu không dừng, tác giả sẽ kiểm định chuỗi dưới dạng sai phân bậc 1 hay bậc 2 để xác định bậc dùng của chuỗi.
Bảng 4.3 Kiểm tra tính dừng các biến Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
| Tên biến | Phương pháp | Giá trị thống kê | Prob.** | Tích chéo | Obs |
| CAP | -12,9793 | 0,0000 | 24 | 227 | |
| COST | -24,1451 | 0,0000 | 24 | 222 | |
| INF | -13,9752 | 0,0000 | 24 | 231 | |
| D(GDP) | -2,3311 | 0,0099 | 24 | 205 | |
| LIQ | -15,3327 | 0,0000 | 24 | 226 | |
| LLR | -13,1661 | 0,0000 | 23 | 225 | |
| LOAN | -8,1245 | 0,0000 | 24 | 227 | |
| ROA | -3,2775 | 0,0005 | 24 | 222 | |
| ROE | Levin, Lin & Chu t* | -2,2655 | 0,0117 | 24 | 223 |
| SIZE | -4,8571 | 0,0000 | 24 | 225 |
Ghi chú: *** biểu thị mức ý nghĩa 1%,** biểu thị mức ý nghĩa 5%, * biểu thị mức ý nghĩa 10%
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Kết quả kiểm định tại bảng 4.3 cho thấy biến đều dừng ở chuỗi dữ liệu gốc, riêng biến GDP dừng ở chuỗi sai phân bậc 1, nên được ký hiệu là D (GDP) (xem phụ lục).
4.4 Phân tích các yếu tố tác động đến ROA Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
4.4.1 Lựa chọn mô hình phù hợp
Bảng 4.4 Ước lượng mô hình ROA lần 1 theo các phương pháp Pooled OLS, FEM, REM
| Biến | Mô hình ROA | ||
| Pooled OLS | FEM | REM | |
| CAP | 0,061604*** | 0,086492*** | 0,060215*** |
| COST | -0,147379*** | -0,107922 | -0,130916*** |
| CPI | 0,010881*** | 0,006882 | 0,012099** |
| D(GDP) | 0,137108*** | -0,081158*** | 0,133014*** |
| LIQ | 0,082067*** | 0,095155*** | 0,074402** |
| LLR | -0,324899*** | 0,102448 | -0,328688*** |
| LOAN | 0,000605 | 0,000235 | 0,001959 |
| SIZE | 0,001048*** | 0,000648 | 0,001068 |
| TYPE | 0,000843*** | 0,000605 | 0,001290 |
| C | -0,038536*** | -0,088900*** | -0,039657 |
| R2 | 0,910972 | 0,939342 | 0,861470 |
| R2 điều chỉnh | 0,910625 | 0,930288 | 0,855853 |
| Giá trị thống kê F | 2626,324 | 103,7547 | 0,000000 |
| P-value của thống kê F | 0,000000 | 0,000000 | 1,624953 |
Ghi chú: *** biểu thị mức ý nghĩa 1%,** biểu thị mức ý nghĩa 5%, * biểu thị mức ý nghĩa 10%
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Kết quả ước lượng mô hình ROA theo phương pháp Pooled OLS lần 1 cho thấy biến LOAN không có ý nghĩa thống kê, nên tác giả loại ra và ước lượng lại lần.
- Ước lượng Pooled OLS
Bảng 4.5 Ước lượng Pooled OLS Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
|
Biến phụ thuộc: ROA |
||||
| Tên biến | Hệ số | Độ lệch chuẩn | Thống kê t | Prob. |
| C | -0,0387 | 0,0069 | -5,5842 | 0,0000 |
| CAP | 0,0616 | 0,0053 | 11,5166 | 0,0000 |
| COST | -0,1479 | 0,0112 | -13,1519 | 0,0000 |
| INF | 0,0107 | 0,0018 | 5,9988 | 0,0000 |
| D(GDP) | 0,1374 | 0,0115 | 11,9936 | 0,0000 |
| LIQ | 0,0818 | 0,0101 | 8,0660 | 0,0000 |
| LLR | -0,32467 | 0,0082 | -39,7937 | 0,0000 |
| SIZE | 0,0011 | 0,0002 | 5,1228 | 0,0000 |
| TYPE | 0,0008 | 0,0003 | 3,1854 | 0,0015 |
| R2 | 0,9110 | Trung bình biến phụ thuộc | 0,0132 | |
| R2 điều chỉnh | 0,9103 | Độ lệch chuẩn biến phụ thuộc | 0,0260 | |
| Giá trị thống kê F | 1439,849 | Thống kê Durbin-Watson | 1,4991 | |
| P-value của thống kê F | 0,0000 | |||
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Kết quả ước lượng (Bảng 4.5) cho thấy các biến đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%.
- Kiểm định so sánh hai mô hình Pooled OLS và FEM
Bảng 4.6 Kiểm định so sánh hai mô hình Pooled OLS và FEM
| Pool: POOL01 | |||
| Kiểm định tác động cố định | |||
| Kiểm định ảnh hưởng | Giá trị thống kê | Bậc tự do | P-value |
| Tích chéo F | 0,0000 | (10,2533) | 1,0000 |
| Tích chéo Chi-square | 0,0000 | 10 | 0,0000 |
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Để kiểm định so sánh hai mô hình Pooled OLS và FEM tác giả sử dụng kiểm định F để kiểm định sự tồn tại hay không hiệu ứng cố định. Kết quả kiểm định (Bảng 4.6) cho thấy P-value của thống kê F bằng 1,000 > 0,05; tác giả có cơ sở kết luận không tồn tại hiệu ứng cố định, mô hình Pooled OLS phù hợp hơn.
- Ước lượng mô hình REM Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Kết quả ước lượng cho thấy các biến C, TYPE, SIZE, LOAN không có ý nghĩa thống kê nên tác giả loại dần các biến có giá trị P-value cao ra và chạy lại.
Kết quả chạy Ước lượng mô hình REM lần 2 như sau (xem Bảng 4.7).
Bảng 4.7 Ước lượng mô hình REM
| Biến phụ thuộc: ROA | ||||
| Tên biến | Hệ số | Độ lệch chuẩn | Thống kê t | P-value |
| CAP | 0,0600 | 0,0242 | 2,4792 | 0,0139 |
| COST | -0,1376 | 0,0678 | -2,0290 | 0,0436 |
| INF | 0,0127 | 0,0048 | 2,6386 | 0,0089 |
| D(GDP) | 0,1337 | 0,0271 | 4,9314 | 0,0000 |
| LIQ | 0,0722 | 0,0359 | 2,0141 | 0,0452 |
| LLR | -0,3314 | 0,0406 | -8,1662 | 0,0000 |
| SIZE | 0,0014 | 0,0006 | 2,1879 | 0,0297 |
| C | -0,0486 | 0,0211 | -2,3094 | 0,0218 |
| Effects Specification | ||||
| R2 | 0,8718 | Trung bình biến phụ thuộc | 0,0091 | |
| R2 điều chỉnh | 0,8678 | Độ lệch chuẩn của biến phụ thuộc | 0,0212 | |
| Giá trị thống kê F | 217,6150 | Thống kê Durbin-Watson | 1,6080 | |
| P-value của thống kê F | 0,0000 | |||
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Kết quả phân tích (Bảng 4.7) cho thấy các hệ số hồi quy đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%.
- Kiểm định so sánh giữa FEM và REM
Bảng 4.8 Kiểm định so sánh giữa FEM và REM
| Kiểm định ảnh hưởng ngẫu nhiên | |||
| Giá trị thống kê | |||
| Kiểm định | Chi-Sq. | Bậc tự do | P-value |
| Tích chéo random | 0 | 7 | 1,0000 |
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026) Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Kiểm định so sánh giữa FEM và REM, tác giả sử dụng kiểm định Hausman. Kết quả kiểm định (Bảng 4.8) cho thấy P-value của kiểm định Hausman lớn hơn 0,05; như vậy mô hình REM phù hợp.
- So sánh Pooled OLS và REM
Bảng 4.9 Kiểm định so sánh giữa Pooled OLS và REM
Kết quả so sánh hai mô hình (Bảng 4.9) cho thấy giá trị P bằng 0,1854 lớn hơn 0,05. Vì vậy, Kiểm định Hệ số Lagrange này cho thấy phương pháp ước lượng tốt nhất là Pooled OLS.
Qua việc so sánh các mô hình, tác giả chọn Pooled OLS là mô hình cuối cùng để phân tích.
- Kết quả chạy mô hình Pooled OLS
Bảng 4.10 Kết quả chạy mô hình Pooled OLS
Biến phụ thuộc: ROA
| Tên biến | Hệ số | Độ lệch chuẩn | Thống kê t | P-value |
| CAP | 0,0616 | 0,0053 | 11,5393 | 0,0000 |
| COST | -0,1479 | 0,0112 | -13,1779 | 0,0000 |
| INF | 0,0107 | 0,0018 | 6,0106 | 0,0000 |
| D(GDP) | 0,1374 | 0,0114 | 12,0173 | 0,0000 |
| LIQ | 0,0818 | 0,0101 | 8,0820 | 0,0000 |
| LLR | -0,3246 | 0,0081 | -39,8722 | 0,0000 |
| SIZE | 0,0011 | 0,0002 | 5,1329 | 0,0000 |
| TYPE | 0,0008 | 0,0003 | 3,1917 | 0,0014 |
| C | -0,0387 | 0,0069 | -5,5952 | 0,0000 |
| R2 | 0,9110 | Trung bình biến phụ thuộc | 0,0132 | |
| R2 điều chỉnh | 0,9107 | Độ lệch chuẩn biến phụ thuộc | 0,0260 | |
| Giá trị thống kê F | 3252,4490 | Thống kê Durbin-Watson | 1,4991 | |
| P-value của thống kê F | 0,0000 | |||
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
4.4.2 Các kiểm định Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
- Kiểm ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy
Các hệ số hồi quy đều có P-value < 0,05 (Bảng 4.10); vì vậy tác giả có cơ sở để kết luận các hệ số hồi quy này đều có ý nghĩa thống kê.
- Mức độ giải thích của mô hình
R2 điều chỉnh = 0,9107 (Bảng 4.10); mô hình có mức độ giải thích tốt, giải thích được 91,07% sự biến động của ROA.
- Mức độ phù hợp của mô hình
P-value của thống kê F = 0,0000 < 0,05 (Bảng 4.10); mô hình phù hợp với dữ liệu cứu
- Kiểm định đa cộng tuyến
Tuy mô hình Pooled OLS trong Eviews không xét đến kiểm định đa công tuyến nhưng tác giả có thể dựa vào kết quả ma trận tương quan đã phân tích ở trên (Bảng 4.2) và cho thấy các hệ số tương quan giữa các biến có giá trị không cao, với giá trị cao nhất là 1,1477 so chuẩn so sánh là 0,8 vì vậy mô hình sẽ không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng, theo Farrar và Glauber (1967).
- Kiểm định tự tương quan
Kết quả hồi quy cho thấy 1 < Thống kê Durbin-Watson = 1,499118 < 3 (Bảng 4. 10); mô hình không vi phạm giả thiết về tự tương quan.
- Kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS
ROA = 0,1374*D(GDP) + 0,0818*LIQ + 0,0616*CAP + 0,0107*INF + 0,0011*SIZE + 0,0008*TYPE – 0,1479*COST- 0,3246*LLR – 0,0387 (4.1)
Kết quả hồi quy cho thấy thứ tự tác động đến biến ROA trong điều kiện các biến khác không đổi như sau: thứ nhất là LLR với hệ số hồi quy là – 0,3246; thứ hai là COST với hệ số hồi quy bằng -0,1479; thứ ba là D(GDP) với hệ số hồi quy bằng 0,1374; thứ tư là LIQ với hệ số hồi quy bằng 0,0818; thứ năm là CAP với hệ số hồi quy bằng 0,0616; thứ sáu là INF với hệ số hồi quy bằng 0,0107; thứ bảy là SIZE với hệ số hồi quy bằng 0,0011; và cuối cùng là TYPE với hệ số hồi quy bằng 0,0008.
4.5 Phân tích các yếu tố tác động đến ROE Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
4.5.1 Lựa chọn mô hình phù hợp
Bảng 4.11 Ước lượng mô hình ROE lần 1 theo các phương pháp Pooled OLS, FEM, REM
| Biến | Mô hình ROE | ||
| Pooled OLS | FEM | REM | |
| CAP | -0,614428*** | -0,069073 | -0,573283** |
| COST | -0,181677 | -4,939013*** | -0,182261 |
| CPI | 0,163506*** | 0,083991 | |
| D(GDP) | 2,146870*** | -1,136214*** | 2,097731*** |
| LIQ | 1,404208*** | 1,235490*** | 0,178019** |
| LLR | -5,950937*** | 1,962026 | 1,112327*** |
| LOAN | 0,017096 | 0,031293 | -6,107108 |
| SIZE | -0,008616** | 0,016838 | 0,023377 |
| TYPE | 0,027455*** | 0,023282 | -0,009521 |
| C | 0,317905** | -0,361229 | 0,033595** |
| R2 | 0,897633 | 0,938589 | 0,858495 |
| R2 điều chỉnh | 0,897267 | 0,928975 | 0,852707 |
| Giá trị thống kê F | 2455,257 | 97,61938 | 0,000000 |
| P-value của thống kê F | 1,601752 | 0,000000 | 1,733644 |
Ghi chú: *** biểu thị mức ý nghĩa 1%,** biểu thị mức ý nghĩa 5%, * biểu thị mức ý nghĩa 10%
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Kết quả ước lượng mô hình ROE theo phương pháp Pooled OLS lần 1 cho thấy biến Loan, và COST không có ý nghĩa thống kê, tác giả loại lần lượt. Kết quả sau khi loại các biến không có ý nghĩa thống kê tác giả ước lượng lại lần 2. Kết quả ước lượng lần 2 (phụ lục) cho thấy các biến sau khi loại đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%.
- So sánh pooed và FEM Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Kiểm định so sánh hai mô hình Pooled OLS và FEM
Bảng 4.12 Kiểm định so sánh hai mô hình Pooled OLS và FEM
| Kiểm định ảnh hưởng | Giá trị thống kê | Bậc tự do | P-value | |
| Tích chéo F | 0,0000 | -102,512 | 1,0000 | |
| Tích chéo Chi-square | 0,0000 | 10 | 1,0000 | |
| Tên biến | Hệ số | Độ lệch chuẩn | Thống kê t | P-value |
| CAP | -0,6169 | 0,0867 | -7,1148 | 0,0000 |
| CPI | 0,1562 | 0,0279 | 5,6101 | 0,0000 |
| D(GDP) | 2,1487 | 0,1791 | 11,9984 | 0,0000 |
| LIQ | 1,4266 | 0,1566 | 9,1091 | 0,0000 |
| LLR | -6,0749 | 0,0470 | -129,1586 | 0,0000 |
| SIZE | -0,0092 | 0,0032 | -2,8973 | 0,0038 |
| TYPE | 0,0280 | 0,0041 | 6,7440 | 0,0000 |
| C | 0,3465 | 0,1057 | 3,2798 | 0,0011 |
| R2 | 0,8976 | Trung bình biến phụ thuộc | 0,1728 | |
| R2 điều chỉnh | 0,8973 | Độ lệch chuẩn biến phụ thuộc | 0,3801 | |
| Giá trị thống kê F | 3156,9350 | Thống kê Durbin-Watson | 1,6241 | |
| P-value của thống kê F | 0,0000 | |||
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Kết quả kiểm định (Bảng 4.12) cho thấy P-value của thống kê F bằng 1,0000,05; tác giả có cơ sở kết luận mô hình Pooled OLS phù hợp hơn.
- Ước lượng mô hình REM Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Kết quả ước lượng làn 1 cho thấy các biến COST, LOAN, SIZE, và hệ số chặn C không có ý nghĩa thống kê, tác giả loại lần lượt các biến có giá trị P-value cao, và ước lượng lại mô hình.
Kết quả chạy Ước lượng mô hình REM với tích chéo lần 2 như sau (xem Bảng 4.13).
Giá trị thống kê Chi-Sq.
Bảng 4.13 Ước lượng mô hình REM Biến phụ thuộc: ROE
| Tên biến | Hệ số | Độ lệch chuẩn | Thống kê t | P-value |
| C | 0,0645 | 0,0246 | 2,6256 | 0,0092 |
| CAP | -0,5463 | 0,2742 | -1,9924 | 0,0475 |
| D(GDP) | 2,1182 | 0,5510 | 3,8439 | 0,0002 |
| INF | 0,2624 | 0,0784 | 3,3480 | 0,0010 |
| LLR | -6,1310 | 0,1583 | -38,7414 | 0,0000 |
| R2 | 0,8565 | Trung bình biến phụ thuộc | 0,1239 | |
| R2 điều chỉnh | 0,8539 | Độ lệch chuẩn biến phụ thuộc | 0,3175 | |
| Giá trị thống kê F | 335,6948 | Thống kê Durbin-Watson | 1,6693 | |
| P-value của thống kê F | 0,0000 | |||
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Kết quả phân tích (Bảng 4.13) cho thấy các hệ số hồi quy đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%.
- Kiểm định so sánh giữa FEM và REM
Bảng 4.14 Kiểm định so sánh giữa FEM và REM Kiểm định Hausman Chi-Sq. d.f. P-value
Tích chéo random 36,0951 4 0,0000 (Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Kết quả kiểm định Hausman (bảng 4.14) cho thấy P-value của kiểm định Hausman nhỏ hơn 0,05; mô hình FEM phù hợp hơn REM. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
- Chạy mô hình FEM
Kết quả (Bảng 4.15) chạy mô hình lần 1 cho thấy các biến CAP, biến INF không có ý nghĩa thống kê trong mô hình này, tác giả loại lần lượt và chạy lại, kết quả:
Bảng 4.15 Chạy mô hình FEM
Biến phụ thuộc: ROE
| Tên biến | Hệ số | Độ lệch chuẩn | Thống kê t | P-value |
| C | 0,1192 | 0,0151 | 7,8964 | 0,0000 |
| D(GDP) | 1,6078 | 0,5462 | 2,9437 | 0,0036 |
| LLR | -2,2838 | 0,6294 | -3,6287 | 0,0004 |
| R2 | 0,9206 | Trung bình biến phụ thuộc | 0,1728 | |
| R2 điều chỉnh | 0,9109 | Độ lệch chuẩn biến phụ thuộc | 0,3809 | |
| Giá trị thống kê F | 94,6009 | Thống kê Durbin-Watson | 1,3567 | |
| P-value của thống kê F | 0,0000 | |||
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026 Kết quả hồi quy cho thấy các biến còn lại đều có ý nghĩa thống kê (xem Bảng 4.15).
- So sánh Pooled OLS và REM
Bảng 4.16. Kiểm định Lagrange
| Cross-section | Time | Both | |
| 18,6968 | 2,2715 | 20,9683 | |
| Breusch-Pagan | (0,0000) | (0,1318) | (0,0000) |
| 4,3240 | 1,5072 | 4,1232 | |
| Honda | (0,0000) | (0,0659) | (0,0000) |
| 4,3240 | 1,5072 | 3,9122 | |
| King-Wu | (0,0000) | (0,0659) | (0,0000) |
| 4,6385 | 2,1213 | 0,3015 | |
| Standardized Honda | (0,0000) | (0,0169) | (0,3815) |
| 4,6385 | 2,1213 | 0,1511 | |
| Standardized King-Wu | (0,0000) | (0,0169) | (0,4400) |
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026
Kết quả kiểm định cho thấy (Bảng 4.16) Giá trị P của kiểm định Breusch-Pagan được biểu thị bằng 0,000 nhỏ hơn 0,05. Vì vậy, kiểm định Hệ số Lagrange này cho thấy rằng pháp ước lượng tốt nhất là REM.
Vì như kết quả kiểm định ở trên, REM tốt hơn Pooled OLS, FEM tốt hơn REM. Vì vậy, tác giả chọn FEM làm mô hình cuối cùng để phân tích. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
- Kết quả chạy mô hình FEM
Bảng 4.17 Kết quả chạy mô hình FEM
| Biến phụ thuộc: ROE | ||||
| Tên biến | Hệ số | Độ lệch chuẩn | Thống kê t | P-value |
| C | 0,1192 | 0,0151 | 7,8964 | 0,0000 |
| D(GDP) | 1,6078 | 0,5462 | 2,9437 | 0,0036 |
| LLR | -2,2838 | 0,6294 | -3,6287 | 0,0004 |
| R2 | 0,9206 | Trung bình biến phụ thuộc | 0,1728 | |
| R2 điều chỉnh | 0,9109 | Độ lệch chuẩn biến phụ thuộc | 0,3809 | |
| Giá trị thống kê F | 94,6009 | Thống kê Durbin-Watson | 1,3567 | |
| P-value của thống kê F | 0,0000 | |||
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
4.5.2 Các kiểm định
- Kiểm ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy
Các hệ số hồi quy đều có P-value < 0,05 (Bảng 4. 16); vì vậy tác giả có cơ sở để kết luận các hệ số hồi quy này đều có ý nghĩa thống kê.
- Mức độ giải thích của mô hình
R2 điều chỉnh = 0,9109 (Bảng 4. 16); mô hình có mức độ giải thích tốt, giải thích được 91,09 % sự biến động của ROE.
- Mức độ phù hợp của mô hình Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
P-value của thống kê F = 0,0000 < 0,05 (Bảng 4. 16); mô hình phù hợp với dữ liệu cứu.
- Kiểm định đa cộng tuyến
Tuy mô hình FEM trong Eviews không xét đến kiểm định đa công tuyến như tác giả có thể dựa vào kết quả ma trận tương quan đã phân tích ở trên (Bảng 4.2) và cho thấy các hệ số tương quan giữa các biến có giá trị không cao, cao nhất là 1,1477 so chuẩn so sánh theo Farrar và Glauber (1967) là 0,8 vì vậy mô hình sẽ không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
- Kiểm định tự tương quan
Kết quả hồi quy cho thấy 1 < Thống kê Durbin-Watson = 1,3567 < 3 (Bảng 4. 16); mô hình không vi phạm giả thiết về tự tương quan.
- Kiểm định phần dư thay đổi
Đồ thị Hình 4.11 cho thấy phần dư phân bố khá ngẫu nhiên. Vì vậy tác giả kết luận mô hình không có hiện tượng phương sai phần dư thay đổi.
- Kết quả hồi quy mô hình FEM
ROE = 0,1192 + 1,6078*D(GDP) – 2,2838*LLR (4.2)
Kết quả hồi quy cho thấy thứ tự tác động đến biến ROE trong điều kiện các biến khá không đổi như sau: thứ nhất là LLR với hệ số hồi quy bằng -2,2838; thứ hai là D(GDP) với hệ số hồi quy bằng 1,6078.
4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
- Đối với biến phụ thuộc là ROA
Dựa trên kết quả Bảng 4.9 cho thấy rằng mô hình Pooped với biến phụ thuộc là ROA có kết quả cuối cùng cho thấy có sáu yếu tố là CAP, INF, LIQ, SIZE, D(GDP), TYPE có tác động cùng chiều đến ROA, và hai yếu tố COST và LLR có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến đến ROA của NHTM Việt Nam. Kết quả tổng hợp các nhân tố tác động đến ROA của NHTM Việt Nam được trình bày tại Bảng 4.18
Bảng 4.18 Tóm tắt kết quả tác động các biến độc lập đến ROA
|
Mô hình Pooled OLS với biến phụ thuộc là ROA |
|||
| Biến độc lập | Giả thiết | Kết quả | |
| Ảnh hưởng | Ảnh hưởng | Mức ý nghĩa | |
| CAP | + | + | *** |
| COST | – | – | *** |
| INF | + | + | *** |
| D(GDP) | + | + | *** |
| LIQ | + | + | *** |
| LLR | – | – | *** |
| SIZE | + | + | *** |
| TYPE | + | + | *** |
(Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả, 2026)
Dựa trên kết quả Bảng 4.18 mô hình hồi quy được thể hiện như sau:
ROA = + 0,0616*CAP + 0,0107*INF + 0,1374*D(GDP) + 0,0818*LIQ + 0,0011*SIZE + 0,0008*TYPE – 0,1479*COST- 0,3246*LLR – 0,0387 (4.3) Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Dựa vào mô hình (1) cùng với hệ số bê ta đại diện cho mức độ tác động của các nhân tố trong mô hình đến ROA cho thấy:
Đối với tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản (CAP): Mức độ tỷ lệ vốn tác động cùng chiều (+) đến ROA của ngân hàng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả này phù hợp với giả thiết 2 đặt ra của mô hình nghiên cứu và nó cũng giống kết quả của Nguyễn Minh Sáng và c.s. (2018), Batten & Vo (2023), Hồ Thị Hồng Minh & Nguyễn Thị Cành (2019), Nguyễn Thị Mỹ Linh & Nguyễn Thị Ngọc Hương (2019).
Đối với cơ cấu chi phí hoạt động/Tổng tài sản (COST): Cơ cấu chi phí tác động ngược chiều (-) đến ROA của NHTM trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả này phù hợp với giả thiết 6 đặt ra của mô hình nghiên cứu và nó cũng phù hợp với kết quả của Tan & Floros (2016), Dawood, (2018), Nguyễn Minh Sáng và c.s. (2018). Yếu tố này được đo lường bằng công thức tổng chi phí/tổng tài sản nên, khi NHTM sử dụng nhiều chi phí hoạt động, tức mức độ hoạt động của ngân hàng gia tăng và dẫn đến ROA cũng giảm.
Đối với yếu tố tỷ lệ lạm phát (INF): Tỷ lệ lạm phát tác động cùng chiều (+) đến ROA của NHTM trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Làm phát tăng có thể coi như tín hiệu hoạt động mạnh hơn của nền kinh tế. Vì vậy NHTM sẽ hoạt động thuận lợi hơn và dẫn đến ROA tăng. Kết quả này phù hợp với giả thiết 7 đặt ra của mô hình nghiên cứu và cũng tương đồng với kết quả của các nghiên cứu trước của Saeed (2018), Nguyễn Minh Sáng và c.s. (2018), Nguyễn Thành Đạt, (2023).
Đối với chênh lệch tốc độ tăng trưởng kinh tế [D(GDP)] chênh lệch tốc độ tăng trưởng kinh tế tác động cùng chiều (+) đến ROA của NHTM trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả này phù hợp với giả thiết 8 đặt ra của mô hình nghiên cứu và nó cũng phù hợp với kết quả của Syafri (2016), Saeed (2018), Nguyễn Thị Mỹ Linh & Nguyễn Thị Ngọc Hương, (2019) , Nguyễn Thành Đạt (2023).
Đối với yếu tố tỷ lệ Tài sản có thanh khoản cao/Tổng tài sản (LIQ): Tỷ lệ này tác động cùng chiều (+) đến ROA của NHTM trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. NHTM càng có tỷ lệ Tài sản có thanh khoản cao/Tổng tài sản thì càng giúp NHTM chủ động trong các hoạt động giao dịch, thanh toán và dẫn đến ROA cao hơn (Dawood, 2018; Menicucci & Paolucci, 2020). Kết quả này phù hợp với giả thiết 4 đã đạt ra.
Đối với yếu tố Dự phòng rủi ro tín dụng (LLR): Tỷ lệ này tác động ngược chiều (-) đến ROA của NHTM trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả này ngược lại với giả thiết 5 đặt ra của mô hình nghiên cứu và nó cũng ngược lại so với kết quả nghiên cứu của Sufian & Habibullah (2013), Syafri (2016), Nguyễn Minh Sáng và c.s. (2018), Nguyễn Thị Mỹ Linh & Nguyễn Thị Ngọc Hương (2019), Nguyễn Thành Đạt (2023), Nguyễn Thành Đạt & Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2025). Tỷ lệ dự phòng rủi ro ín dụng càng cao thì ngân hàng hoạt động càng an toàn và dẫn đến ROA sẽ cao hơn.
Đối với quy mô ngân hàng (SIZE): Quy mô ngân hàng tác động cùng chiều (+) đến KNSL của ngân hàng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả này phù hợp với giả thiết 1 đặt ra của mô hình nghiên cứu và nó cũng phù hợp với kết quả của Sufian & Habibullah (2013), Yip và c.s. (2014), Batten & Vo (2023), Farkasdi và c.s. (2025) , Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Ngọc Hương (2019), Nguyễn Thị Hồng (Vinh, 2020), Nguyễn Thành Đạt (2023), Nguyễn Thành Đạt & Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2025). Các NHTM sẽ tận dụng lợi thế về quy mô to lớn của mình để bành trường hình ảnh, sức ảnh hưởng, địa bàn hoạt động để có thêm nhiều cơ hội kinh doanh tạo ra được nhiều lợi nhuận hơn cho mình từ đó làm gia tăng ROA của NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Đối với Loại ngân hàng (TYPE): Loại ngân hàng tác động ngược chiều (-) đến ROA của NHTM trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả nghiên cứu trái ngược với giả thiết 9 đã nêu. Yếu tố này được đo lường thông qua tỷ lệ góp vốn của nhà nước bằng không, dưới mức 50%, và trên mức 50%. Các ngân hàng có vốn góp của nhà nước thường là các ngân hàng lớn hơn cho nên trong trường hợp mẫu nghiên cứu này, các NHTM có số vốn tham gia của nhà nước càng lớn sẽ có lợi thế về quy mô dẫn đến hiệu quả hoạt động tốt hơn. Kết quả này trái ngược với kết quả của nghiên cứu Lâm Chí Dũng & Võ Hoàng Diễm Trinh (2024)
- Đối với biến phụ thuộc là ROE
Dựa trên kết quả bảng 4. 16 cho thấy rằng mô hình FEM với biến phụ thuộc là ROE có kết quả cuối cùng cho thấy 2 yếu tố D(GDP) và LLR có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến đến ROE của NHTM Việt Nam. Kết quả tổng hợp các nhân tố tác động đến ROE của NHTM Việt Nam được trình bày tại Bảng 4.19
Bảng 4.19 Tóm tắt kết quả tác động các biến độc lập đến ROE
Dựa trên kết quả Bảng 4.20 mô hình hồi quy được thể hiện như sau:
| ROE = 0,1192 + 1,6078*D(GDP) – 2,2838*LLR | (4.4) |
Dựa vào mô hình (2) cùng với hệ số bê ta đại diện cho mức độ tác động của các nhân tố trong mô hình đến ROE cho thấy:
Đối với chênh lệch tốc độ tăng trưởng kinh tế [D(GDP] chênh lệch tốc độ tăng trưởng kinh tế tác động cùng chiều (+) đến ROE của NHTM trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả này phù hợp với giả thiết đặt ra và phù hợp với kết quả của Syafri (2016), Saeed (2018), Nguyễn Thị Mỹ Linh & Nguyễn Thị Ngọc Hương (2019) , Nguyễn Thành Đạt (2023). Tuy nhiên, trên thực tế thì hiện nay mức độ thay đổi về tốc độ tăng trưởng GDP cao, môi trường kinh tế càng ít ổn định, dịch bệnh Covid19 và các cuộc xung đột vũ trang khiến nền kinh tế thế giới lâm vào trạng thái trì trệ, rủi ro cao hơn, từ đó cũng dẫn đến các doanh nghiệp cũng thận trọng hơn trong kinh doanh và làm cho hoạt động của NHTM khó khăn hơn.
Đối với yếu tố Dự phòng rủi ro tín dụng (LLR): Tỷ lệ này tác động ngược chiều (-) đến ROE của NHTM trong điều kiện các yếu tố khác không đổi ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dự phòng rủi ro ín dụng càng cao thì ngân hàng hoạt động càng an toàn và dẫn đến ROE sẽ cao hơn. Có thể thấy, trải qua giai đoạn dịch bệnh Covid19, với hàng loạt các doanh nghiệp hoạt động bị ảnh hưởng đã dẫn đến rủi ro tín dụng tăng lên. Thực tiễn cũng cho thấy việc trích lập dự phòng các NHTM Việt Nam cũng tăng lên đáng kể trong giai đoạn này, theo thống kê từ báo cáo tài chính của 26 ngân hàng trong nước, tổng mức dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong năm 2025 đạt 141.802 tỷ đồng, tăng đến 57,4% so với cùng kì năm 2024. Các ngân hàng có trích lập dự phòng rủi ro cao nhất gồm BIDV, Vietcombank, VietinBank, VPBank, MB, SHB, ACB, Sacombank, Techcombank và LienVietPostBank. Tổng mức trích lập của các ngân hàng này đạt 123.903 tỷ đồng, chiếm 87,4% tổng trích lập của các NHTM được thống kê. Kết quả này ngược lại với giả thiết 5 đặt ra của mô hình nghiên cứu và nó cũng ngược lại so với kết quả Sufian & Habibullah (2013), Syafri, (2016), Nguyễn Minh Sáng và c.s. (2018), Nguyễn Thị Mỹ Linh & Nguyễn Thị Ngọc Hương (2019), Nguyễn Thành Đạt (2023), Nguyễn Thành Đạt & Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2025).
Kết luận chương 4 Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Chương 4 đã trình bày tổng quan về các ngân hàng Việt Nam thông qua số liệu thống kê của Cục thống kê, báo cáo của NHNN, và báo các ngành từ các ngân hàng và công ty kiểm toán cho thấy các nhận định chung về thực trạng KNSL của NHTM giai đoạn từ 2009 – 2025. Trong chương này, tác giả cũng trình bày kết quả nghiên cứu định lượng, kết quả hồi qui cho thấy thấy rằng mô hình Pooled OLS với biến phụ thuộc là ROA thỏa các điều kiện kiểm định cho thấy có 8 biến là CAP, COST, INF, LIQ, LLR, SIZE, TYPE và D(GDP) đều có tác động có ý nghĩa thống kê đến ROA riêng biến LLR và COST là có tác động ngược chiều, các biến còn lại có tác động thuận chiều.
Đối với biến phụ thuộc là ROE thì với hồi quy mô hình FEM cho kết quả thỏa các điều kiện kiểm định, kết quả cho thấy biến là D(GDP) có tác động có ý nghĩa thống kê và cùng chiều đến đến ROE và LLR có tác động có ý nghĩa thống kê và ngược chiều đến đến ROE. Từ kết quả của mô hình hồi quy, tác giả dựa trên đặc điểm của tửng yếu tố tác động và chiều hướng thông qua mức ý nghĩa và dấu của hệ số hồi quy để có thể đưa ra kết luận và đưa ra các hàm ý chính sách trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
1. Kết luận
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của các NHTM Việt Nam , từ đó hướng đến mục đích đề xuất các giải pháp cụ thể dựa trên các kết quả đạt được nhằm đưa các các giải pháp nâng cao KNSL của các NHTM Việt Nam. Nghiên cứu thu thập dữ liệu gồm 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009-2025 với các thông số từ BCTC đã kiểm toán, báo cáo thường niên của các NHTM Việt Nam, và của ngân hàng thế giới.
Mục đích của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể dựa trên kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán, báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Việt Nam, nghiên cứu thu thập dữ liệu về 24 ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2009-2025 để đưa vào phân tích.
Kết quả hồi qui cho thấy thấy rằng mô hình Pooled OLS với biến phụ thuộc là ROA thỏa các điều kiện kiểm định cho thấy có 8 biến là CAP, COST, INF, LIQ, LLR, SIZE, TYPE, ROA, và D(GDP) có tác động có ý nghĩa thống kê đến ROA. Đối với biến phụ thuộc là ROE thì với hồi quy mô hình FEM cho kết quả thỏa các điều kiện kiểm định, kết quả cho thấy có 2 biến là D(GDP) và LLR có tác động có ý nghĩa thống kê đến ROE. Nghiên cứu đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra và trả lời được các câu hỏi nghiên cứu. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Thứ nhất, đối với suất sinh lời được đo lường bằng ROA thì có có 8 biến là có tác động có ý nghĩa thống kê được xếp theo thứ tự tác động giảm dần là LLR, COST, D(GDP), CAP, INF, SIZE, TYPE và LIQ và đối với suất sinh lời được đo lường bằng ROE thì chỉ có 2 biến là LLR và D(GDP) có tác động có ý nghĩa thống kê được xếp theo thứ tự tác động giảm dần. Với mẫu nghiên cứu được thu thập trong nghiên cứu này thì biến INF CAP, COST, INF, LIQ, LLR, SIZE, TYPE không có tác động có ý nghĩa thống kê trong trường hợp với suất sinh lời được đo lường bằng ROE. Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có vốn góp của nhà nước thường là các ngân hàng lớn hơn cho nên trong trường hợp mẫu nghiên cứu này, các NHTM có số vốn tham gia của nhà nước càng lớn sẽ có lợi thế về quy mô dẫn đến hiệu quả hoạt động tốt hơn.
Thứ hai, dựa trên kết quả mô hình hồi quy nghiên cứu đưa ra các hàm ý chính sách đối với các ngà quản trị các NHTM Việt Nam và đối với các cơ quan quản lý nhà nước tại mục 5.2.
2/ Hàm ý chính sách
Từ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý chính sách được đề xuất đối với các nhà quản lý ngân hàng và các cơ quan quản lý nhà nước nhằm tăng lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam, bao gồm:
2.1 Rủi ro tín dụng
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng được đo lường bằng giá trị khoản trích dự phòng rủi ro tín dụng so với tổng dư nợ của ngân hàng có tác động có ý nghĩa thống kê và ngược chiều đến suất sinh lời được đo lường bằng cả hai biến là ROA và ROE. Các nhà quản trị các NHTM cần lưu ý các biện pháp để phòng ngừa rủi ro tín dụng, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thiết lập chính sách tín dụng phù hợp: Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp, có ba loại: chính sách lãi suất, chính sách quy mô và hạn mức tín dụng và chính sách khách hàng. Bằng cách thiết lập các chính sách tín dụng phù hợp, ngan hàng có thể nâng cao chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo ra sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao KNSL. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Thứ hai là phân tích, thẩm định dự án đầu tư theo mức độ tín nhiệm: Ngoài việc đánh giá tính khả thi của phương án kinh doanh và dự án đầu tư mà khách hàng xin vay vốn, việc đánh giá này còn góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Thứ ba, xếp hạng tín dụng: Phê duyệt tín dụng và quản lý chất lượng tín dụng đòi hỏi phải có hệ thống xếp hạng tín dụng cho từng khách hàng.
Thứ tư, bảo đảm tín dụng: Để phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng, các biện pháp bảo đảm tín dụng được áp dụng bằng tài sản nhằm tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho vay.
Thứ năm, mua bảo hiểm tín dụng: Cũng như phòng ngừa rủi ro tín dụng, đây là một biện pháp tốt đối với tình hình Việt Nam hiện nay. Công ty bảo hiểm sẽ trả nợ nếu khách hàng thất nghiệp và không trả được nợ.
Bước thứ sáu là trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng: Việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng là yêu cầu của tất cả các NHTM nhằm giảm thiểu rủi ro khi có tình huống xấu xảy ra.
2.2 Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản (COST)
Quản trị chi phí là một nghệ thuật của nhà quản trị NHTM, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội, và thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản (COST) có tác động có ý nghĩa thống kê và ngược chiều đến suất sinh lời được đo lường bằng ROA nhưng không có tác động có ý nghĩa thống kê đến ROE. Điều quan trọng là các nhà quản lý NHTM phải xác định được các chi phí, đặc biệt là các chi phí có thể kiểm soát được để có thể đưa ra các biện pháp kiểm soát chi phí phù hợp và bỏ qua các chi phí nằm ngoài tầm kiểm soát của mình, nếu không việc kiểm soát sẽ không hiệu quả so với công sức và thời gian đã đầu tư. Covid-19 cũng khiến nhiều hoạt động truyền thống và trực tiếp của các ngân hàng giảm sút, nhưng sự chuyển đổi kỹ thuật số mạnh mẽ đã giúp thay đổi các ngân hàng do sự xa cách xã hội kéo dài. Do đó, một phần chi phí lương giảm là kết quả của sự chuyển đổi kỹ thuật số mạnh cũng được sử dụng để giảm chi phí tại ngân hàng. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
2.3 Tăng trưởng tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP)
Tăng trưởng GDP phản ánh trạng thái của một chu kỳ nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng GPD được xem xét như một yếu tố ảnh hưởng đến cung và cầu vốn trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế đạt trạng thái tăng trưởng nóng thì tốc độ tăng trưởng GPD cao, cầu về tín dụng hoặc các khoản vay trong nền kinh tế tăng lên. Kết quả nghiên cứu cho thấy GDP có tác có tác động có ý nghĩa thống kê và cùng chiều đến suất sinh lời được đo lường bằng cả hai biến là ROA và ROE. Tuy nhiên, hiện nay mức độ thay đổi về tốc độ tăng trưởng GDP hiện nay thấp, môi trường kinh tế càng ít ổn định như trong bối cảnh xung đột chiến tranh giữa Nga và Ukraina, dịch bệnh Covid19 đã làm cho rủi ro cao hơn, từ đó cũng dẫn đến các doanh nghiệp cũng thận trọng hơn trong kinh doanh và làm cho hoạt động của NHTM khó khăn hơn. Do đó, các nhà quản lý các NHTM cần nắm bắt nhanh chóng tình hình phục hồi kinh tế và chiều hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam và toàn cầu để có các quyết định sáng suốt nhằm gia tăng KNSL của các NHTM.
2.4 Tỷ lệ vốn (CAP)
Theo kết quả nghiên cứu thì tỷ lệ vốn (CAP) có tác động cùng chiều đến KNSL của các NHTM Việt Nam , do đó các NHTM Việt Nam cần chú trọng đến tỷ lệ vốn của mình. Trên thực tế, việc xác định cơ cấu vốn chính xác là vấn đề rất quan trọng đối với hoạt động tài chính ngân hàng, vì cơ cấu vốn tác động trực tiếp đến rủi ro tài chính ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ sở hữu và giá trị vốn bình quân. Do đó, các nhà quản trị các NHTM Việt Nam cần:
Việc hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn cần đảm bảo sự phù hợp giữa kỳ hạn của từng loại nguồn vốn và chu kỳ hoàn vốn của từng loại tài sản tương tự, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán tại mọi thời điểm.
Khi quyết định điều chỉnh cơ cấu vốn, điều quan trọng là phải cân bằng cẩn thận giữa lợi nhuận và rủi ro.
Ngoài ra, phải đảm bảo nguồn vốn linh hoạt. Sau đây là những điều chỉnh mà các ngân hàng cần thực hiện đối với cơ cấu vốn để thực hiện nguyên tắc này: Cân nhắc tỷ trọng hợp lý của nợ vay ngắn hạn, Đa dạng hóa các nguồn tài trợ bằng các phương thức tài trợ khác nhau. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
2.5 Tỷ lệ thanh khoản (LIQ)
Theo kết quả hồi quy, tỷ lệ thanh khoản có tác động dương đến KNSL, cho nên các nhà quản trị các NHTM Việt Nam cần:
Xây dựng chiến lược quản lý thanh khoản tại các NHTM Việt Nam là bước đầu tiên cần thực hiện. Lập kế hoạch và dự đoán những thay đổi trong dòng tiền gửi và cho vay, cũng như những thay đổi về KNSL, là điều cần thiết để các ngân hàng thiết lập chiến lược quản lý thanh khoản.
Tiếp theo là việc nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh cũng rất quan trọng, vì đây là biện pháp khá cơ bản để quản lý thanh khoản cả trong phòng ngừa và ứng phó với các vấn đề thanh khoản. Đồng thời, ngân hàng cũng cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và công nghệ nói riêng. Bên cạnh việc tổ chức tốt công tác phân tích và dự báo thị trường, các ngân hàng cũng cần đánh giá các rủi ro tiềm ẩn trong mọi quá trình kinh doanh để kịp thời triển khai các biện pháp phòng ngừa và xử lý.
Ngoài ra, tất cả các ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ dự trữ (bao gồm tiền mặt tại ngân hàng, tiền gửi tại NHNN và các tài sản có tính thanh khoản cao khác) để trang trải dự trữ bắt buộc của NHNN. Các quy định liên quan đến huy động và cho vay (đặc biệt là trung và dài hạn) cũng cần được hoàn thiện để khách hàng không rút tiền trước hạn khi lãi suất giảm. Khách hàng dễ bị thu hút bởi lãi suất cao khi thị trường tăng hoặc có các đối thủ khác đưa ra mức lãi suất cao. Hơn nữa, đẩy mạnh phát triển các sản phẩm tiền tệ phái sinh nhằm hạn chế rủi ro liên quan đến biến động của thị trường tiền tệ.
2.6 Quy mô ngân hàng (SIZE)
Dựa trên kết quả hồi quy, KNSL của các NHTM Việt Nam bị ảnh hưởng tích cực bởi quy mô ngân hàng. Tuy nhiên, các nhà quản lý của các NHTM Việt Nam phải lưu ý rằng Hiệp định Basel không chỉ ra rằng KNSL đang được cải thiện. Để một ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo an toàn hoạt động nói riêng và an toàn hệ thống tài chính nói chung thì sức mạnh tài chính là cần thiết. Ngân hàng có quy mô càng lớn càng tốt, vì hệ số hiệu quả của ngân hàng lớn sẽ giảm. Kết quả là lợi nhuận được chia cho cổ đông sẽ giảm, kéo theo giá cổ phiếu cũng giảm theo. Vốn chủ sở hữu không cần phải tăng quá nhiều so với tài sản nếu ngân hàng đang hoạt động dưới hiệu suất giảm về quy mô.
Vì vậy, các nhà quản trị NHTM Việt Nam cần xây dựng chính sách cân đối trong quá trình phân phối kết quả tài chính đối với việc trả cổ tức cho cổ đông và giữ lại phần lợi nhuận thích hợp để bổ sung nguồn vốn. Việc này giúp các NHTM tăng quy mô vốn để tái đầu tư. Để các NHTM Việt Nam tăng quy mô vốn trong giai đoạn hiện nay cần tập trung vào một số giải pháp như:
Thứ nhất, phát hành thêm cổ phiếu: Bằng cách phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu hoặc nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, các NHTM Việt Nam có thể tăng vốn điều lệ. Để tham gia huy động vốn qua thị trường chứng khoán, các NHTM Việt Nam cũng phải minh bạch về thông tin và công khai tài chính.
Thứ hai, chia cổ tức bằng cổ phiếu: Cổ tức và cổ phiếu thưởng cũng có thể được ngân hàng phát hành cho cổ đông như một phương tiện tăng vốn. Tăng vốn bằng hình thức này là một cách hiệu quả để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cổ đông cũng như thể hiện tầm quan trọng của các cổ đông đối với sự thành công của ngân hàng.
Thứ ba, phát hành trái phiếu dài hạn: Các NHTM ở Việt Nam có thể tăng quy mô vốn của mình thông qua việc phát hành trái phiếu dài hạn cho các nhà đầu tư, điều này góp phần cải thiện nền tảng huy động vốn cấp 2.
2.7 Tỷ lệ lạm phát (INF) Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và KNSL của các NHTM Việt Nam trong nghiên cứu này được tìm thấy là có tác động cùng chiều đến suất sinh lợi đo bằng ROA, và với mẫu nghiên cứu trong nghiên cứu này không tìm thấy có tác động có ý nghĩa thống kê đến ROE.
Mỗi quốc gia sẽ có các mức lãi suất khác nhau, do các cơ quan quản lý tài chính của quốc gia đó quy định. Người dân sẽ có xu hướng đi vay nhiều hơn khi ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất. Điều này làm tăng lượng tiền lưu thông và tiêu dùng xã hội. Kết quả là giá trị của đồng tiền quốc gia sẽ giảm xuống so với các đồng tiền khác do nguồn cung tiền rẻ. Kết quả là lạm phát có thể tăng lên. Ngược lại, lãi suất cao làm giảm cầu tiền, do đó làm giảm tổng lượng tiền lưu thông.
Sẽ vô ích khi gửi tiền vào ngân hàng nếu lạm phát vượt quá lãi suất, vì đồng tiền mất giá nhanh hơn lãi suất thu được. Như vậy, người tiêu dùng muốn dùng tiền để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ; điều này tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Nếu lạm phát và lãi suất sẽ như nhau, do đó tình hình sẽ phát triển tương tự nhưng với tốc độ chậm hơn.
Các nhà quản lý các NHTM Việt Nam phải xác định thời điểm nền kinh tế ở mức tốt nhất khi lãi suất phải cao hơn lạm phát, vì lạm phát sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận. Do đó, các NHTM phải nhanh chóng thiết kế các sản phẩm tiết kiệm để tăng nguồn vốn huy động, đồng thời với việc mở rộng nguồn vốn vay để tăng lợi nhuận.
2.8 Loại ngân hàng (TYPE)
Có sự tác động thuận chiều được tìm thấy giữa loại hình ngân hàng tới khả năng sinh lời được đo lường bằng ROA, tuy nhiên, không có mối tác động có ý nghĩa thống kê nào được tìm thấy từ loại hình ngân hàng tới ROE. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong nghiên cứu này loại ngân hàng là có tác động cùng chiều đến suất sinh lợi đo bằng ROA, và với mẫu nghiên cứu trong nghiên cứu này không tìm thấy có tác động có ý nghĩa thống kê đến ROE. Yếu tố này được đo lường thông qua tỷ lệ góp vốn của nhà nước ở mức trên 50%, dưới 50% và không có vốn nhà nước. Các ngân hàng có vốn góp của nhà nước thường là các ngân hàng lớn hơn nên có lợi thế về quy mô dẫn đến hiệu quả hoạt động tốt hơn. Điều này cho thấy hiện nay, các ngân hàng có vốn nhà nước tham gia đã cải thiện cung cách quản lý, kiểm soát chi phí và gia tăng các dịch vụ đem lại ROA tốt hơn trong giai đoạn nghiên cứu này. Đây cũng là tín hiệu đáng mừng trong vấn đề quản lý có hiệu quả và tránh thất thoát nguồn vốn nhà nước khi tham gia vào nguồn vốn của các NHTM. Các nhà quản trị các NHTM cần lưu ý không ngừng gia tăng kiểm soát chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để tận dụng hết những ưu điểm của nguồn vốn này trong giai đoạn tiếp theo.
2.9 Khuyến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
NHNN nên tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý để các ngân hàng có thể hoạt động một cách hiệu quả. Cụ thể là triển khai đầy đủ và đồng bộ các văn bản pháp luật với những hướng dẫn cần thiết và chi tiết cho việc thực hiện tốt luật NHNN và luật TCTD. Đồng thời cần phải quán triệt chủ trương và chỉ đạo mạnh mẽ NHNN trong việc phối hợp thực hiện kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.
Thông qua hội nhập vào nền kinh tế thế giới và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), các dòng vốn và hàng hóa đã được tự do hóa. Sự phát triển của thị trường giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài một cách nhanh chóng. Để các NHTM Việt Nam có cơ hội mở rộng hoạt động, đa dạng hóa dịch vụ và nâng cao hiệu quả hoạt động, Chính phủ phải hỗ trợ nhiều hơn.
Mối quan tâm hàng đầu của tình hình thị trường hiện nay là cải thiện quản lý rủi ro thanh khoản để giảm thiểu rủi ro vỡ nợ. Đây là một vấn đề không chỉ một ngân hàng mà cả một các ngân hàng từ Ngân hàng nhà nước đến các NHTM phải giải quyết. Ngân hàng Nhà nước phải kịp thời thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng với các chế tài thích đáng, thậm chí công khai thông tin về một số NHTM Việt Nam thường xuyên thiếu thanh khoản, nguồn gốc xuất phát từ nền tảng kém về quản lý rủi ro kinh doanh. Mặc dù điều này có thể tạm thời ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các ngân hàng, nhưng đây cũng là biện pháp mạnh nhất để khiến họ tập trung vào quản lý rủi ro và làm gương cho những ngân hàng khác.
Tiếp đó, NHNN vẫn cần hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM Việt Nam thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát. Ðối với các NHTM Việt Nam lớn, có nhiều giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn thì việc hỗ trợ thanh khoản sẽ thông qua nghiệp vụ thị trường mở tại NHNN. Ðối với các NHTM Việt Nam nhỏ không đủ giấy tờ có giá hoặc không có khả năng cạnh tranh trên thị trường mở thì NHNN hỗ trợ thông qua công cụ tái cấp vốn. Bên cạnh đó, cần thực hiện ngay việc bán ngoại tệ của các tập đoàn kinh tế Nhà nước cho các ngân hàng, như thế sẽ vừa ngăn được tình trạng găm giữ ngoại tệ, tăng cung ngoại tệ cho thị trường, vừa giúp NHTM Việt Nam loại bỏ phần tín dụng ảo và giúp NHTM Việt Nam tăng khả năng thanh khoản hiện hành. Ngoài ra, NHNN cần đề ra các tiêu chí nâng cao tính thanh khoản mà NHTM buộc phải thực hiện theo một lộ trình nhất định, thậm chí khuyến khích việc mua lại và sáp nhập trong ngành ngân hàng nếu NHTM Việt Nam không thể tăng đủ vốn theo lịch trình mà NHNN đã công bố.
Bước tiếp theo, NHNN cần hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM Việt Nam thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát. Ngân hàng Nhà nước sẽ hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở cho các NHTM lớn của Việt Nam có nhiều giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn. Các NHTM nhỏ của Việt Nam không có đủ giấy tờ có giá hoặc không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường mở có thể tận dụng các công cụ tái cấp vốn do NHNN cung cấp. Ngoài ra, các tập đoàn kinh tế nhà nước phải bán ngay ngoại tệ cho ngân hàng, chống găm hàng ngoại tệ, tăng cung ngoại tệ cho thị trường, giúp các NHTM Việt Nam tăng khả năng thanh khoản hiện tại và loại bỏ phần tín dụng ảo. Hơn nữa, nếu các NHTM Việt Nam không thể tăng đủ thanh khoản, thì NHNN nên xây dựng các tiêu chí buộc họ phải đi theo một lộ trình nhất định, thậm chí khuyến khích mua bán và sáp nhập nếu không đáp ứng được lộ trình tăng vốn do Ngân hàng Nhà nước quy định.
3. Những điểm còn hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Trước những biến động của tình hình dịch bệnh Covid19, Tác giả ở một số quốc gia đã tiến hành nghiên cứu KNSL của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu theo chủ đề này trong giai đoạn 2009-2025 còn rất hạn chế. Vì vậy, tác giả cũng không tránh khỏi những khó khăn và hạn chế trong quá trình nghiên cứu.
Như đã trình bày trong phần phạm vi nghiên cứu, nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL là quy mô ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu, dư nợ tín dụng, rủi ro tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản, thanh khoản, GDP, tỷ lệ lạm phát và loại ngân hàng. Nhưng trên thực tế, có nhiều yếu tố tác động đến KNSL của các NHTM Việt Nam như cung cầu tiền tệ, giá cả, chính sách tiền tệ…Các yếu tố này chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu đề xuất để có được một mô hình giải thích tốt nhất.
Phạm vi nghiên cứu chỉ rõ rằng nghiên cứu chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời như quy mô ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu, dư nợ tín dụng, tỷ lệ rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động trên tổng tài sản, tính thanh khoản, GDP, tỷ lệ lạm phát và loại hình ngân hàng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam, bao gồm cung cầu tiền tệ, giá cả, chính sách tiền tệ… đã không được đưa vào trong nghiên cứu này.
Theo phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL như quy mô ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu, dư nợ tín dụng và rủi ro tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản, tính thanh khoản, GDP, tỷ lệ lạm phát và loại hình ngân hàng. Tuy nhiên, còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam, ví dụ như cung cầu tiền tệ, giá cả và chính sách tiền tệ. Mô hình giải thích dựa trên các yếu tố này không được đưa vào mô hình nghiên cứu đề xuất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể nghiên cứu thêm các yếu tố vi mô và vĩ mô khác, có thể mở rộng thêm phạm vi và thời gian nghiên cứu đến toàn bộ các NHTM tại Việt Nam cũng như các nước trong khu vực, hoặc phạm vi rộng hơn là các nước khác trên thế giới để có các nhận định rõ hơn về các yếu tố tác động đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam , từ đó sẽ có các khuyến nghị bao quát hơn nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam .
Cuối cùng, dữ liệu nghiên cứu chỉ được thu thập từ các báo cáo tài chính sau kiểm toán đã được công bố. Hiện tại, ở Việt Nam, tác giả chưa tìm thấy được cơ quan, tổ chức có uy tín cung cấp dữ liệu có độ tin cậy cao. Kết quả là, điều này sẽ ảnh hưởng đến kết luận của nghiên cứu ở một mức độ nhất định.
Hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả có thể nghiên cứu các yếu tố vi mô và vĩ mô khác, mở rộng phạm vi và thời gian nghiên cứu tới tất cả các NHTM Việt Nam cũng như các nước trong khu vực. Hoặc tác giả cũng có thể nghiên cứu toàn diện hơn các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng Việt Nam nhằm có khả năng đưa ra các khuyến nghị rộng hơn về vấn đề ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Kết luận chương 5
Từ kết quả hồi quy của Chương 4, tác giả đã rút ra được các hàm ý chính sách đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các NHTM, đưa ra các giải pháp phù hợp với thực trạng của các NHTM Việt Nam. Về phía Chính phủ và NHNN thì có những giải pháp nhằm giúp các NHTM Việt Nam phát triển an toàn, ổn định và vững mạnh. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng […]