Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023 hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2004 đến năm 2023 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là ngành kinh tế mũi nhọn, giữ vị trí quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển và đổi mới kinh tế của nhiều quốc gia. Vì vậy, ngành Du lịch đã và đang được các nước trên thế giới coi như “Con gà đẻ trứng vàng“, “Ngành công nghiệp không khói“… Du lịch phát triển góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho các quốc gia và giải quyết nhiều công ăn việc làm cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan như xây dựng, thương mại, sản xuất hàng tiêu dùng, bảo hiểm, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,…
Hiện nay, Du lịch đã được nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) chọn là ngành ưu tiên phát triển số một trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Điều này được thể hiện trong Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội quốc gia từ năm 2018 đến năm 2030 là “Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế. Hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế” [12, tr.9].
Vĩnh Phúc là vùng đất hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển Du lịch. Vai trò quan trọng của Du lịch đối với sự phát triển chung của nền kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc được thể hiện qua quyết định số 1335/QĐ-UBND, ngày 6 tháng 6 năm 2018 về “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Vĩnh Phúc đến năm 2030 tầm nhìn 2030”. Qua đó lãnh đạo tỉnh đã xác định vai trò quan trọng của Du lịch, tương lai sẽ là một trong những loại hình kinh tế chủ chốt, góp phần thu hút thêm nhiều du khách nội địa và quốc tế tới khám phá một nền văn hóa Vĩnh Phúc lâu đời và bền vững.
Trong những năm qua, Du lịch Vĩnh Phúc đã có những phát triển nhất định, bước đầu khẳng định được tầm quan trọng của kinh tế du lịch đối với kinh tế – xã hội của Tỉnh. Tuy nhiên, so với tiềm năng thì những thành tựu đạt được còn rất khiêm tốn. Đặc biệt trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch ở Vĩnh Phúc càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Điều đó đặt cho Du lịch Vĩnh Phúc phải đánh giá đúng thực trạng của ngành và phải có những giải pháp đúng hướng để khai thác triệt để tiềm năng sẵn có, xây dựng chiến lược phát triển phù hợp, nhằm góp phần thúc đẩy ngành Du lịch phát triển bền vững, hòa nhập với trào lưu phát triển du lịch của khu vực và trên thế giới, thực hiện đúng vai trò của ngành Du lịch trong xây dựng và phát triển của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2004 đến năm 2023” làm đề tài luận văn của mình. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, Du lịch hay kinh tế du lịch đã trở thành đề tài của rất nhiều nhà nghiên cứu. Trước hết, có thể kể đến công trình “Kinh tế du lịch” của tác giả Robert Lanquar được nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2000. Trong công trình này tác giả đã khẳng định: Kinh tế du lịch là ngành công nghiệp vì nó là toàn bộ những hoạt động nhằm khai thác các của cải của du lịch, nhằm biến các tài nguyên nhân lực, tư bản và nguyên liệu thành dịch vụ và sản phẩm. Đồng thời, tác giả cuốn sách đã giới thiệu về ảnh hưởng của du lịch đến nền kinh tế. Yêu cầu về du lịch, sự tiêu dùng của du lịch, sản xuất cho du lịch, đầu tư du lịch. Những công cụ và phương tiện phân tích kinh tế học du lịch và kinh doanh du lịch [31].
Năm 2003, trong sách “Du lịch và kinh doanh du lịch” của tác giả Trần Nhạn do nhà xuất bản Văn hoá Thông tin phát hành đã đưa ra khái niệm về Du lịch và kinh doanh du lịch, các loại hình du lịch. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu về tài nguyên du lịch cũng như những tác động của hoạt động kinh doanh du lịch đối với các ngành kinh tế khác [28].
Công trình: “Kinh tế du lịch và du lịch học” của hai tác giả Trung Quốc là Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình, Nhà xuất bản Đại học Giao thông Thượng Hải, năm 2007 được Nhà xuất bản Trẻ dịch ra Tiếng Việt vào năm 2008. Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề cơ bản về du lịch và kinh tế du lịch như: khái niệm về du lịch, khái quát về kinh tế du lịch, sản phẩm du lịch, thị trường du lịch, vai trò của kinh tế du lịch, quy hoạch xây dựng khu du lịch,… Bên cạnh đó, lịch sử phát triển Du lịch ở Trung Quốc đã được đề cập, theo đó có nhiều điểm tương đồng với lịch sử hình thành và phát triển Du lịch Việt Nam. Từ chỗ là cơ quan chuyên làm nhiệm vụ tiếp đón các đoàn khách quốc tế của Đảng và Nhà nước, do nhu cầu phát triển của xã hội mà ngành Du lịch phải phá thế bao cấp, trở thành một ngành kinh tế có nhiều điều kiện để phát triển, một ngành công nghiệp không khói mang lại nhiều lợi ích cho xã hội [20]. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Năm 2010, tác giả Vũ Đức Cường đã nghiên cứu về “Phát triển kinh tế du lịch ở Quảng Ninh: Thực trạng, phương hướng và giải pháp” trong Luận văn tốt nghiệp Lý luận Chính trị cao cấp tác giả đã trình bày được thực trạng phát triển du lịch ở Quảng Ninh, phương hướng và giải pháp để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh [7].
Đề tài cấp Bộ (năm 2013): “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu du lịch” do Ths. Lê Văn Minh làm chủ nhiệm (Viện Nghiên cứu và phát triển Du lịch) đã nghiên cứu về kinh nghiệm thực tiễn của các nước về đầu tư phát triển các khu du lịch; phân tích thực trạng về hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư du lịch nói riêng và phát triển du lịch nói chung; xác định thực trạng chính sách đầu tư phát triển khu du lịch của Việt Nam và đề xuất 10 giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đầu tư về du lịch [21].
Năm 2022, trong luận văn thạc sĩ tác giả Phạm Thị Nhung với đề tài“Phát triển kinh tế du lịch thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh từ 1986 đến 2020”, Đại học sư phạm Thái Nguyên cũng đã nghiên cứu về tiềm năng du lịch của tỉnh Quảng Ninh, chủ trương của các cấp chính quyền về phát triển kinh tế du lịch, cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ du lịch và tác động của kinh tế du lịch đến kinh tế- xã hội của tỉnh Quảng Ninh [30].
Đối với Vĩnh Phúc, về du lịch cũng có nhiều công trình nghiên cứu như: “Vĩnh Phúc đôi nét về thiên nhiên, đất nước” (2007) của tác giả Hoàng Xuân Chỉnh, cuốn sách giới thiệu một cách khá hệ thống và đầy đủ về tài nguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên và con người Vĩnh Phúc [8]. “Dư địa chí Vĩnh Phúc”(2008) do Viện dân tộc học và Sở Khoa học Công nghệ phát hành, giới
thiệu về các lĩnh vực: địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh, và các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn Vĩnh Phúc. Cuốn sách cung cấp, cập nhật cho các nhà quản lí, nghiên cứu lịch sử, văn hóa, độc giả trong và ngoài tỉnh những thông tin, hình ảnh, số liệu, tư liệu tìm hiểu về lịch sử hàng nghìn năm, những nét văn hóa cổ xưa, các di tích lịch sử, danh thắng, các món ẩm thực đặc sắc của những miền quê trên địa bàn Tỉnh [49]. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế “Phát triển kinh tế du lịch huyện Tam Đảo”( 2016) của tác giả Phạm Xuân Nguyên, Học viện Chính trị quốc gia đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hoạt động du lịch, nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch huyện Tam Đảo ( tỉnh Vĩnh Phúc) từ khi thành lập đến năm 2016, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Đề xuất phương hướng, mục tiêu và giải pháp cụ thể trong công tác quản lí và kinh doanh du lịch nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Tam Đảo trong những năm tiếp theo [25]. Khóa luận tốt nghiệp “ Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng và phát tiển khu du lịch Tam Đảo- Tây Thiên( 2004- 2017)” tác giả Nguyễn Thu Nhàn đã tập trung nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng bộ tỉnh trong việc lãnh đạo xây dựng khu du lịch trọng điểm của tỉnh, thông qua việc phân tích các kết quả, hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, bước đầu tác giả đã nêu ra một số bài học kinh nghiệm về phát triển khu du lịch Tam Đảo [23]. Năm 2022, tác giả Luyện Hồng Anh, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Vĩnh Phúc”. Tác giả đã đề cập đến hiện trạng, tình hình phát triển của du lịch văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc [1].
Bên cạnh các sách, đề tài, luận văn còn có các bài viết về du lịch đăng trên các báo, tạp chí du lịch, bản tin du lịch của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc… Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Nhìn chung, do mục đích khác nhau, nên các công trình trên nghiên cứu về du lịch và kinh tế du lịch ở các khía cạnh khác nhau chứ chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc. Do đó, tác giả chọn vấn đề này nghiên cứu với mong muốn góp một phần nhỏ bé giải quyết vấn đề khai thác tiềm năng du lịch một cách hợp lý và có hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu các điều kiện để phát triển du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc.
- Tìm hiểu các nguồn lực phục vụ cho du lịch: lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật.
- Các loại hình trong hoạt động du lịch.
- Hiệu quả, lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch đóng góp với sự phát triển kinh tế ở tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên các nhiệm vụ cụ thể được xác định là:
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, xã hội, các tiềm năng nhân văn tác động đến sự phát triển du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc.
- Tìm hiểu hoạt động kinh tế du lịch trong thời gian từ 2004- 2023. Từ đó, chỉ ra những đóng góp của hoạt động du lịch với sự phát triển kinh tế của địa phương.
- Chỉ ra những tồn tại trong hoạt động du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất một số giải pháp có khả năng thực thi nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động du lịch, nguồn lực phục vụ cho du lịch và kết quả đạt được từ những hoạt động du lịch đã đóng góp, tác động đến kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Một số địa điểm du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc như khu du lịch Tam Đảo, khu danh thắng Tây Thiên, một số làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Yên Lạc, Hương Canh…
- Về thời gian: từ tháng 6 năm 2024 đến tháng 4 năm 2025
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
5.1 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
Nguồn tài liệu thành văn gồm: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc và của Đảng Bộ tỉnh Vĩnh Phúc; các báo cáo thống kê của Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ hằng năm của Sở Văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc. Các sách, tạp chí chuyên khảo về du lịch. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động du lịch, kinh tế, xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc.
Tư liệu điền dã: được thu thập tại thực địa qua quan sát, phỏng vấn, chụp ảnh,… trong các khu du lịch của địa phương như Tam Đảo, Đại Lải, Tây Thiên…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết đã có quá trình sưu tầm, tập hợp các nguồn tài liệu và sử dụng những phương pháp sau để nghiên cứu:
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp chủ đạo được tác giả vận dụng để tái hiện kinh tế du lịch của Vĩnh Phúc trong quá khứ.
Qua đó, thấy được sự vận động, phát triển của ngành Du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc và những đóng góp của ngành Du lịch với sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc qua từng thời kỳ.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học để nghiên cứu thực tế các địa điểm du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc. Các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp để trình bày các sự kiện, vấn đề theo mối liên hệ có tính biện chứng của lịch sử xã hội, nhằm đảm bảo tính hệ thống, chính xác và khoa học. Qua đó, hiểu được một cách tương đối đầy đủ và toàn diện về kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2023.
6. Đóng góp của luận văn Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về kinh tế du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc.
Trên cơ sở nghiên cứu về hoạt động du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn đánh giá mức độ và hiệu quả khai thác tiềm năng du lịch của tỉnh, bước đầu đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững trong xu thế hội nhập hiện nay.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho khối khoa học xã hội và nhân văn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Tiềm năng du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chương 2: Hoạt động kinh tế du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2004 đến năm 2023.
- Chương 3: Tác động của kinh tế du lịch đối với kinh tế- xã hội tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2004 đến năm 2023.
Chương 1 TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA VĨNH PHÚC
1.1. Nguồn tài nguyên thiên nhiên
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bắc Bộ, phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía tây giáp Phú Thọ, phía đông và phía nam giáp thủ đô Hà Nội. Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Vĩnh Yên, thành phố Phúc Yên, các huyện Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc.
Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 1.237,52 km2, trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vĩnh Yên cách Thủ đô Hà Nội 50km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km.
Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, là cầu nối giữa vùng trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội; kề liền cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân. Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, kinh tế Vĩnh Phúc phát triển sẽ góp phần cùng Thủ đô Hà Nội thúc đẩy tiến trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm, giảm sức ép về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du lịch, dịch vụ của Thủ đô Hà Nội.
Quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong các năm qua đã tạo cho Vĩnh Phúc những lợi thế mới về vị trí địa lý kinh tế. Tỉnh đã trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc. Đồng thời, sự phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên quan đã đưa Vĩnh Phúc xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của quốc gia và quốc tế thuộc hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng, Quốc lộ 2, Việt Trì – Hà Giang – Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV Thủ đô Hà Nội..
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, gần Thủ đô Hà Nội nên Vĩnh Phúc có nhiều thuận lợi trong liên kết, giao thương hàng hoá, công nghệ, lao động kỹ thuật… nhưng cũng phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nhiều phía.
Hệ thống hạ tầng giao thông đối ngoại đã và đang được đầu tư hiện đại là những tuyến chính gắn kết quan hệ toàn diện của Vĩnh Phúc với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Địa hình Vĩnh Phúc được thành tạo do kết quả hoạt động tổng hợp từ quá trình địa chất nội sinh, ngoại sinh và dưới tác động nhân sinh. Nằm trên một bán bình nguyên bóc mòn mang tính chất miền đồi với độ cao trung bình khoảng 500 m, Vĩnh Phúc có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và được chia thành 3 vùng: núi, đồi và đồng bằng.
Dựa trên nguồn gốc, quá trình hình thành và độ cao của địa hình, miền núi Vĩnh Phúc được phân thành 3 loại:
Địa hình núi trung bình: điển hình là dãy núi Tam Đảo (thuộc địa bàn của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang) hình thành liên quan đến sự hoạt động của núi lửa trong giai đoạn Mezozoi (thời kỳ Triat – cách ngày nay khoảng 145 triệu năm). Dãy Tam Đảo có chiều dài hơn 50 km chạy theo hướng tây bắc – đông nam với hơn 10 đỉnh cao trên dưới 1.400 m, trong đó đỉnh cao nhất là Tam Đảo (1.592 m), và ba đỉnh Thạch Bàn (1.388 m), Thiên Thị (1.375 m), Phù Nghĩa (1.400 m) nối liền với nhau như ba hòn đảo. Trong địa phận tỉnh Vĩnh Phúc dãy Tam Đảo kéo dài từ xã Đạo Trù (Tam Đảo) – điểm cực bắc của tỉnh đến xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) – điểm cực đông của tỉnh với chiều dài trên 30 km.
Địa hình núi thấp: nằm ở phía tây của dãy Tam Đảo là dãy núi thấp thuộc các huyện Lập Thạch, Sông Lô với đỉnh cao nhất là núi Sáng Sơn (663 m). Loại địa hình này hình thành cách đây khoảng 300 triệu năm do các hoạt động kiến tạo địa chất. Trải qua thời gian cùng với những tác động của yếu tố ngoại lực nên những núi này bị xâm thực, bào mòn hình thành nên địa hình núi có đỉnh tròn, sườn thoải.
Địa hình núi sót: gồm núi Đinh, núi Trống, núi Thanh Tước nằm theo một trục trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, huyện Bình Xuyên và thành phố Phúc Yên. Loại địa hình núi này thường có độ cao trung bình khoảng 100 m – 300 m.
Miền núi Vĩnh Phúc với nhiều dạng địa hình đặc biệt như suối, thác nước… là những nguồn tài nguyên du lịch phong phú thu hút khách du lịch, điển hình là thác Bạc, suối Bát Nhã, suối Bạc, suối Vàng, hang Dơi…
Kế tiếp vùng núi là vùng đồi được phân bố tập trung tại các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên, Phúc Yên và Vĩnh Yên. Đồi ở Vĩnh Phúc có hình bát úp (đỉnh tròn, sườn thoải), kích thước không lớn, có dạng vòm, đường nét mềm mại. Phần lớn địa hình cao 50 m – 60 m, xen kẽ một số đồi cao 200 m – 300 m. Đây là vùng phù sa cổ được các vận động tạo sơn nâng lên.
Vùng đồng bằng gồm các huyện: Vĩnh Tường, Yên Lạc và một phần thành phố Phúc Yên, đây là đỉnh của vùng tam giác châu thổ sông Hồng. Khu vực này nhìn chung bằng phẳng, đất đai khá phì nhiêu, màu mỡ, một vài chỗ địa hình hơi võng lòng chảo, có nhiều đầm hồ và vực lớn như đầm Dưng, đầm Cả. Chính các đầm này đã tạo nên các tiểu vùng khí hậu điều hòa không khí, thích hợp cho các hoạt động du lịch, vui chơi giải trí, tham quan thắng cảnh.
Căn cứ vào độ cao tuyệt đối, hình thái, điều kiện hình thành có thể chia đồng bằng Vĩnh Phúc làm hai loại:
Đồng bằng châu thổ: phân bố trên toàn bộ hai huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc. Đồng bằng có bề mặt tương đối bằng phẳng, hơi nghiêng về phía sông Hồng và phía nam huyện Yên Lạc. Đây là loại đồng bằng tích tụ liên quan đến quá trình lắng đọng trầm tích tại các cửa sông lớn, được hình thành cùng thời kỳ hình thành châu thổ sông Hồng (Kỷ Đệ Tứ – Thống Pleistocen). Đồng bằng châu thổ Vĩnh Phúc phát triển từ sự bồi tụ của các dòng sông Lô, sông Hồng, sông Phó Đáy và của hệ thống sông suối ngắn từ dãy núi Tam Đảo chảy ra. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Đồng bằng pediment trước núi: Loại đồng bằng này thường có diện tích không lớn và có độ cao tuyệt đối tăng dần từ ngoài vào trung tâm. Đó là các đồng bằng trước núi Sáng (Lập Thạch), trước núi vùng Đạo Trù (Tam Đảo), đồng bằng khu vực Quang Hà, Minh Quang (Tam Đảo), Thanh Lanh, Thanh Lộc (Bình Xuyên). Bề mặt đồng bằng thường có dạng gợn sóng và nếu so với đồng bằng châu thổ thì loại đồng bằng này kém màu mỡ hơn.
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều có đặc điểm khí hậu của vùng trung du miền núi phía bắc. Do địa hình phía đông bắc là dãy núi Tam Đảo chạy dài xuống đông nam tạo nên một bức tường chắn gió mùa cực đới nên nhiệt độ mùa đông của Vĩnh Phúc cao hơn so với một số tỉnh cùng vĩ độ ở vùng đông bắc. Ngược lại về mùa hè lại là hướng mở đón gió nên Vĩnh Phúc có khá nhiều mưa. Khí hậu của tỉnh Vĩnh Phúc chịu sự phân hóa theo đai cao do tính đa dạng của địa hình đã tạo nên sự khác biệt về các yếu tố khí hậu giữa các vùng núi, đồi và đồng bằng.
Vùng đồi và đồng bằng mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC – 24oC, số giờ nắng trong năm khoảng 1.400 giờ – 1.800 giờ. Tháng giêng là tháng lạnh nhất, nhiệt độ thường dưới 18oC. Tháng nóng nhất là tháng 7, số tháng có nhiệt độ trên 25oC là 6 tháng. Vùng núi gồm toàn bộ vùng núi Tam Đảo mang sắc thái của khí hậu ôn đới, nhiệt độ trung bình 18oC – 19oC, độ ẩm cao, quanh năm có sương mù che phủ. Tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 11oC. Tuy nhiên ở Tam Đảo quanh năm không có tháng nào nhiệt độ trung bình vượt quá 25oC và nhiệt độ tối cao tuyệt đối không vượt quá 35oC. Do vậy, Tam Đảo là nơi có khí hậu thuận lợi nhất cho hoạt động du lịch, phù hợp với sức khỏe con người, thuận tiện cho các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh.
Nhìn chung khí hậu toàn tỉnh mang tính chất chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi thể hiện ở biên độ giao động nhiệt ngày đêm khá lớn. Hướng gió thịnh hành là hướng đông – nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió đông – bắc thổi từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình năm ở Vĩnh Phúc là khoảng 1.500 mm – 1.800 mm, thấp hơn mức bình quân ở các tỉnh phía Bắc (1.830 mm). Mưa chủ yếu vào mùa hạ, hay gặp dạng mưa rào và mưa dông. Độ ẩm trung bình hằng năm trên 80%.
Ngoài ra còn có các hiện tượng thời tiết như mưa đá, úng lụt, khô hạn, lốc xoáy, sương mù, sương muối ảnh hưởng không tốt đến đời sống và các hoạt động kinh tế, du lịch, dịch vụ trên địa bàn Tỉnh.
Do tác động của điều kiện địa hình, khí hậu nên hệ thống sông ngòi của Vĩnh Phúc có lượng dòng chảy (30l/s/km2) và mật độ lưới sông (0,5 – 1 km/km2) ở mức trung bình. Dòng chảy chia thành 2 mùa rõ rệt phù hợp với mùa khí hậu.
Mùa lũ kéo dài từ 4 – 5 tháng (thường từ tháng 6 đến hết tháng 10), cực đại vào tháng 7 và tháng 8 đạt 15% – 35% lượng nước cả năm. Chế độ thủy văn phụ thuộc vào hai hệ thống sông chính là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cà Lồ. Ngoài ra còn có hệ thống các hồ, đầm và nguồn nước ngầm. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Hệ thống sông Hồng, gồm sông Hồng và hai nhánh lớn là sông Đà ở bờ bên phải và sông Lô ở bờ bên trái, cùng với hai nhánh của sông Lô là sông Chảy ở Tuyên Quang và sông Phó Đáy ở Vĩnh Phúc. Hệ thống sông ngòi của Vĩnh Phúc ngoài tiềm năng nuôi trồng thủy sản, cải thiện môi trường, vận tải đường sông còn có giá trị trong việc tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí ngoài trời, thể thao dưới nước, xây dựng các khu du lịch, nghỉ dưỡng ven sông.
Sông Hồng hợp với sông Đà, sông Lô ở đoạn Việt Trì sau đó đi vào Vĩnh Phúc và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Sông Hồng đoạn chảy qua Vĩnh Phúc có chiều dài 50 km, lưu lượng trung bình 820 m3/s, hàm lượng phù sa khá lớn, bồi đắp cho đồng bằng Vĩnh Phúc. Song thời gian nước đầu nguồn tràn về cùng với lượng mưa tập trung dễ gây lũ lụt ở nhiều vùng như tại các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc gây nhiều thiệt hại tới đời sống, ảnh hưởng tới sản xuất cũng như các hoạt động du lịch, dịch vụ.
Sông Lô bắt nguồn từ Trung Quốc với tổng chiều dài 470 km, chảy qua các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ và Vĩnh Phúc rồi nhập vào sông Hồng. Đoạn chảy vào phận Vĩnh Phúc có chiều dài 34 km. Sông Lô có địa thế khúc khuỷu, lòng sông hẹp, nhiều thác ghềnh, có lưu lượng dòng chảy bình quân 1.213 m3/s.
Hệ thống sông Cà Lồ, bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo có chiều dài khoảng 22 km, và các chi lưu của nó như sông Phan, sông Cầu Bòn, sông Bá Hạ, suối Cheo Meo đều nhập với sông Cánh và đổ vào sông Cà Lồ trên địa phận tỉnh Vĩnh Phúc. Các con sông này có mức tác động thủy văn thấp hơn nhiều so với sông Hồng và sông Lô, nhưng lại có giá trị cao về thủy lợi. Hệ thống sông này kết hợp với các tuyến kênh mương chính như kênh Liễn Sơn, kênh Bến Tre, cung cấp nước tưới cho đồng ruộng, tạo khả năng tiêu úng về mùa.
Hệ thống hồ, đầm trong địa bàn tỉnh chứa hàng triệu m3 nước tạo nên nguồn dự trữ nước mặt phong phú đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động kinh tế và dân sinh cũng như có giá trị cao cho hoạt động du lịch. Các hồ tự nhiên có hồ Thanh Lanh (Bình Xuyên), đầm Vạc (Vĩnh Yên), hồ Đá Ngang, hồ Khuôn, hồ Suối Sải (Lập Thạch), đầm Dưng, vực Xanh, vực Quảng Cư, đầm Ngũ Kiên (Vĩnh Tường), đầm Tam Hồng, đầm Cốc Lâm (Yên Lạc); nhân tạo có hồ Đại Lải (Phúc Yên), hồ Vân Trục (Lập Thạch)…
Một số hồ, đầm đã tạo nên cảnh quan đẹp có giá trị phục vụ cho du lịch. Hồ Đại Lải (Phúc Yên) là hồ nhân tạo có diện tích mặt nước thiết kế 525 ha, chứa 26,4 triệu m3 nước, mực nước hồ có thể lên cao tới cốt 21 m. Hồ Đại Lải được xây dựng nhằm phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp của thành phố Phúc Yên (Vĩnh Phúc) và các huyện Mê Linh, Sóc Sơn (Hà Nội). Đến năm 1984, hồ Đại Lải được đưa vào khai thác cho các hoạt động du lịch. Nằm giữa một không gian xanh ngút ngàn, phía bắc hồ là dãy Tam Đảo hùng vĩ, xung quanh là gò đồi và núi Thằn Lằn nối với nhau bao quanh. Vào mùa mưa, nước từ các con sông, suối phía nam của dãy núi Tam Đảo như sông Vực Tuyền, sông Tôn, sông Bá Hạ, suối Đồng Câu, Đồng Chão dồn chảy vào lòng hồ đã tạo nên các eo, các bán đảo tự nhiên trong lòng hồ như đảo Chim, đảo Ngọc. Hiện nay hồ Đại Lải đã được quy hoạch đầu tư trở thành một tổ hợp thắng cảnh, nghỉ dưỡng, sân golf cao cấp, là một khu du lịch hấp dẫn của tỉnh Vĩnh Phúc.
Đầm Vạc (Vĩnh Yên), là một đầm thiên nhiên có từ lâu đời. Đầm là phần phình to của ngòi Vĩnh Yên (còn gọi là sông Cánh), nằm ở phía Nam thành phố Vĩnh Yên. Đầm có mặt nước lúc dâng cao nhất gần 500 ha, chu vi khoảng 14 km, đầm có đáy sâu nhất là 4,5 m, có 23 nhánh chạy lan tỏa ra nhiều phố, phường trong thành phố. Mặt đầm rộng mênh mông và nước luôn trong xanh, có rất nhiều loài chim, vạc, bồ nông, cò, vịt trời tìm về kiếm thức ăn, và trú ngụ nên người dân gọi đây là đầm Vạc. Đầm Vạc có vai trò cung cấp nước, điều hòa với khí hậu, có cảnh quan thiên nhiên đẹp và là điểm du lịch hấp dẫn. Cũng như hồ Đại Lải, đầm Vạc hiện nay được tỉnh Vĩnh Phúc đầu tư thành một khu du lịch, đô thị hiện đại, là một điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước và quốc tế. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Đầm Dưng (thuộc địa phận 4 xã: Tam Phúc, Tứ Trưng, Ngũ Kiên, Phú Đa huyện Vĩnh Tường). Là một đầm tự nhiên, do dòng sông Kỳ Giang đổi dòng tạo nên, ở giữa lòng đầm nổi lên một gò đất lớn tạo thành một “ốc đảo” nhỏ. Đầm Dưng không chỉ có phong cảnh hữu tình mà nơi đây còn gắn với di tích văn hóa lịch sử của đền Đức Ông, thờ danh tướng Nguyễn Văn Nhượng. Theo sử sách, vào năm 1176, thời Lý Cao Tông, danh tướng Nguyễn Văn Nhượng đã xuất trận đánh tan giặc Ai Lao xâm lược, gìn giữ non sông, được vua ban cho ấn tín. Lúc Ông mất được vua cho xây lăng và lập đền thờ phong Đông Kinh Thông Phán Đại Vương Thượng Đẳng. Đến thăm đền du khách còn được chiêm ngưỡng nhiều di vật quý hiếm như: đồ gỗ, di vật giấy, đồ sứ, đồ đồng, di vật đá… Hiện nay, khu vực đầm Dưng đang được huyện Vĩnh Tường quy hoạch thành khu du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh nhằm tạo động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội của huyện Vĩnh Tường nói riêng và Vĩnh Phúc nói chung.
Do có sự khác nhau về thổ nhưỡng và khí hậu giữa các vùng đã tạo nên sự đa dạng về các hệ sinh thái rừng, các quần xã sinh học và đa dạng về loài, đặc biệt tại khu vực Vườn quốc gia Tam Đảo. Tính đến năm 2020, tỉnh Vĩnh Phúc có 32.804,62 ha đất lâm nghiệp với tổng diện tích rừng hiện có là 28.040,5 ha, trong đó rừng tự nhiên có 9.355,2 ha và rừng trồng là 18.685,3 ha.
Vườn quốc gia Tam Đảo trên địa phận tỉnh Vĩnh Phúc có độ cao trung bình 900 m so với mực nước biển. Từ những năm đầu của thế kỷ XX, người Pháp đã khám phá và xây dựng Tam Đảo thành khu nghỉ trên núi với hơn 140 ngôi biệt thự nhưng đến nay đã không còn lưu giữ được. Tam Đảo là nơi có khí hậu mát mẻ quanh năm và cũng là nơi có nhiều cảnh quan đẹp như Thác Bạc, Cổng Trời, Bãi Đá, cùng với những cánh rừng bạt ngàn ẩn hiện trong mây. Đây cũng là nơi có thảm thực vật dày đặc, nhiều tầng, đa dạng về loài, về quần xã sinh học với nhiều loài thực vật đặc hữu và quý hiếm. Cảnh quan thiên nhiên và các giá trị đa dạng sinh học của vườn quốc gia Tam Đảo là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị đặc biệt, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
Rừng Ngọc Thanh nằm ở cuối dãy Tam Đảo nằm trên địa bàn thành phố Phúc Yên có núi non trùng điệp, sông suối uốn khúc quanh co, phong cảnh nên thơ, tự nhiên. Phía bắc có núi rừng Tam Đảo quanh năm mây mù bao phủ, khí hậu trong lành, cây cối xanh tốt, xen kẽ là những đầm hồ, hang động, thung lũng, khe suối. Phía nam và tây nam có sông Mạn Lan, sông Ba Hanh, đặc biệt là hồ Đại Lải – khu du lịch nghỉ dưỡng tiêu chuẩn quốc tế của Vĩnh Phúc. Cùng với đó, Ngọc Thanh có một hệ thống các địa danh lịch sử gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tất cả những yếu tố trên là những tiềm năng lớn để Ngọc Thanh phát triển thành khu du lịch sinh thái – tham quan di tích lịch sử.
Dãy Sáng Sơn thuộc hai huyện Sông Lô và Lập Thạch, cách thành phố Vĩnh Yên 30 km về phía tây bắc. Sáng Sơn nằm sát Tam Đảo, nối tiếp núi Lịch (Sơn Dương – Tuyên Quang). Đỉnh núi Sáng cao 663 m so với mặt nước biển và hợp với hàng chục ngọn núi to nhỏ khác thành một dãy dài gọi là dãy Sáng Sơn. Dưới chân núi về phía Tây là dòng sông Lô – ranh giới tự nhiên của Vĩnh Phúc với Phú Thọ. Sáng Sơn từ xa xưa đã được nhà bác học Lê Quý Đôn mô tả trong sách Vân Đài loại ngữ rằng: “Núi Lịch ở địa phận xã Yên Lịch, huyện Sơn Dương, trấn Tuyên Quang. Mạch núi từ núi Sư Khổng, huyện Đương Đạo kéo xuống, đến đây năm, sáu ngọn núi đất bày hàng đột khởi ngay ở đồng bằng, chia một chi đổ xuống huyện Lập Thạch làm núi Sáng; còn ở mặt dưới huyện Tam Dương là núi Hoàng Chỉ” (nay là núi Con Voi ở thôn Dương Chỉ, huyện Lập Thạch). Những danh thắng nổi tiếng của khu vực Núi Sáng như: thác Bay, núi Hình Nhân, bãi Bách Bung đều gắn liền với những huyền thoại lịch sử từ thuở hồng hoang dựng nước của cha ông ta.
Vườn cò Hải Lựu tại thôn Dừa Lễ, xã Hải Lựu, huyện Sông Lô. Là một phần còn sót lại của rừng Hải Lựu trước đây, địa hình vùng sân chim là đồi núi thấp dần đến vùng bán sơn địa nằm cạnh sông Lô. Vườn cò thuộc quyền sở hữu của gia đình bà Vũ Thị Khiêm có tổng diện tích là 15 ha, trong đó khu vực cò làm tổ là 7 ha. Từ năm 1958 cò bắt đầu về làm tổ và được gia đình bà Khiêm lưu giữ phát triển đến ngày nay. Các loài cò về đây làm tổ chiếm ưu thế về tính đa dạng di truyền, gồm các loài như cò lửa, cò lửa lùn, cò bợ, cò ruồi, cò xanh…
Vườn cò Hải Lựu có ý nghĩa và giá trị về khoa học trong hệ sinh thái rừng thấp được bao bọc bởi các con sông với chức năng luân chuyển năng lượng và chất dinh dưỡng của môi trường. Vườn cò là nơi thu hút khách thăm quan du lịch thập phương và là nơi hòa nhập giữa con người và thiên nhiên. Điều kiện tự nhiên nói trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch nhất là các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái.
1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
1.2.1. Thành phần các dân tộc
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có tổng số 30 dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Kinh chiếm 95,7% dân số toàn tỉnh, tiếp đó là dân tộc Sán Dìu chiếm 3,9%, Sán Chay (nhóm Cao Lan) chiếm 0,13%, các dân tộc khác như Nùng, Dao (nhóm Dao Quần Chẹt), Mường, Thái, Hmông… chiếm tỷ lệ nhỏ.
Bảng 1.1. Thành phần các dân tộc của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021
Đơn vị: người
| TT | Dân tộc | Phân theo giới tính | Tổng số | |
| Nam | Nữ | |||
| 1 | Kinh | 492.522 | 493.589 | 986.111 |
| 2 | Sán Dìu | 18.519 | 18.332 | 36.851 |
| 3 | Sán Chay | 811 | 912 | 1.723 |
| 4 | Tày | 658 | 717 | 1.375 |
| 5 | Dao | 402 | 394 | 796 |
| 6 | Nùng | 434 | 341 | 776 |
| 7 | Mường | 296 | 348 | 644 |
| 8 | Thái | 303 | 266 | 569 |
| 9 | Hmông | 168 | 136 | 304 |
| 10 | Các dân tộc khác | 110 | 154 | 264 |
| Toàn tỉnh | 514.223 | 515.189 | 1.029.412 | |
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
Trong tổng số 9 đơn vị hành chính cấp huyện hiện nay, Vĩnh Phúc có 4 huyện, thành phố có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thành cộng đồng đó là Bình Xuyên, Tam Đảo, Lập Thạch, Phúc Yên. Trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là huyện Tam Đảo (9/9 xã, thị trấn có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, chiếm 38% dân số cả huyện).
Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, phong tục tập quán mang những sắc thái riêng tạo nên sức hấp dẫn đối với khách du lịch. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học là các tập tục lạ về cư trú, tổ chức xã hội, thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc, trang phục, ca múa nhạc…
1.2.2. Các di tích lịch sử, văn hóa, khảo cổ Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện có gần 1.000 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 228 di tích được xếp hạng cấp tỉnh và 60 di tích xếp hạng cấp quốc gia (phụ lục 1). Nhiều di tích có giá trị cao đối với phục vụ phát triển du lịch như:
Tháp Bình Sơn, tên chữ là tháp chùa Vĩnh Khánh, tục gọi là chùa Then (xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch) được xây dựng vào thế kỷ XIII từ đời nhà Lý và được công nhận di tích lịch sử quốc gia năm 1962. Tương truyền tháp có 15 tầng, hiện nay chỉ còn 11 tầng tháp và 1 tầng bệ, tất cả cao 16,5 m. Tháp hình vuông, nhỏ dần về phía ngọn, cạnh cửa tầng dưới cùng là 4,45 m; cạnh cửa tầng thứ 11 là 1,55 m. Tháp được xây bằng 13.200 viên gạch nung, gồm 2 loại: một loại hình vuông có kích thước là 0,22 m x 0,22 m, một loại hình chữ nhật có kích thước 0,45 m x 0,22 m. Phần ruột tháp có một khoảng trống nhỏ chạy suốt từ chân tháp lên ngọn. Bên ngoài, xung quanh tháp được ốp một lớp gạch vuông, mỗi cạnh dài 0,46 m, phủ kín thân tháp. Mặt ngoài của gạch ốp này đều có trang trí hoa văn rất phong phú như hoa chanh, hình lá đề, sư tử vờn cầu, rồng uốn khúc. Đường nét trang trí rất tinh tế, phóng khoáng, hình dáng chắc khỏe, mang đầy sinh khí của nghệ thuật dân tộc thời kỳ phong kiến tự chủ cường thịnh thời Lý – Trần (thế kỷ XII – XIII).
Đền thờ Tả Tướng Quốc Trần Nguyên Hãn (xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch). Đền thờ Trần Nguyên Hãn có công phò Lê Lợi diệt giặc Minh giải phóng đất nước thế kỷ XV. Đền được xây dựng trên một thế đất bằng phẳng, rộng cao, tương truyền chính là nơi đặt Phủ đệ cũ của Trần Nguyên Hãn. Đền được cấu trúc theo kiểu chữ “Đinh”, xung quanh có tường bao bọc tạo thành khuôn viên chữ “Điền” vuông vắn. Các công trình xây dựng gồm 3 phần: cổng đền, nhà tiền tế, hậu cung. Đền đã được trùng tu nhiều lần chủ yếu vào đời Nguyễn nên nghệ thuật kiến trúc mang phong cách thời bấy giờ như đục trơn bào nhẵn, trang trí đơn giản. Tại đền thờ còn lưu giữ 2 vật cổ là thanh gươm và phiến đá mài gươm, theo tương truyền Trần Nguyên Hãn đã sử dụng chúng để tiêu diệt giặc Minh. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Cụm đình Hương Canh ( bao gồm đình Hương Canh, đình Ngọc Canh và đình Tiên Hường) thuộc thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, được xây dựng từ thế kỷ XVII. Đình Hương Canh được công nhận di tích quốc gia năm 1964, đình Ngọc Canh và Tiên Hường được công nhận năm 1984. Ba ngôi đình, mỗi đình thuộc một làng, cùng thờ chung 6 vị thành Hoàng (lục vị đại vương): Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập – con trai cả của Ngô Quyền, Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn – con thứ của Ngô Quyền, Linh Quang Thái Hậu Dương Thị Như Ngọc – vợ Ngô Quyền, A Lữ nương nương Dương Phương Lan – vợ thứ Ngô Quyền, Thị Tùng phu nhân Phạm Thị Uy Duyên – vợ Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, Đông Ngạc đại thần Đỗ Cảnh Thạc – tướng và là cháu ngoại Ngô Quyền. Cụm đình Hương Canh kết hợp với các điếm và miếu trong không gian của làng gốm cổ đã tạo thành cụm di tích dầy đặc về mật độ, độc đáo về mỹ thuật kiến trúc gỗ dân gian, rất quý hiếm không chỉ của riêng tỉnh Vĩnh Phúc mà còn của cả vùng đồng bằng – trung du Bắc Bộ. Đình Thổ Tang (xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường) được xếp hạng di tích quốc gia năm 1964. Đây là một trong những ngôi đình cổ nhất của Vĩnh Phúc được xây dựng từ thế kỷ XVII, là nơi thờ Lân Hổ Hầu đô thống Đại Vương, một vị tướng có công đánh giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta thế kỷ XIII. Đình Thổ Tang có kiến trúc đồ sộ, làm kiểu chữ “Đinh” gồm hai tòa Đại đình và Hậu cung. Năm 1964 hậu cung bị dỡ, mới phục hồi lại năm 2002. Đại đình gồm 5 gian, 2 dĩ với 60 chiếc cột gỗ. Cột cái có đường kính 0,80 m, cột con đường kính 0,61 m. Nền dài 25,80 m, rộng 14,20 m, bó đá xanh xung quanh. Ngoài kiến trúc cổ đồ sộ, gia cố bền chắc, đình Thổ Tang còn được trang trí bằng nghệ thuật chạm khắc tinh tế sinh động với nội dung phong phú sâu sắc. Đình hiện còn 21 bức chạm bằng gỗ và nhiều cổ vật quý khác. Nhiều bức chạm trổ điêu khắc mô tả sinh động đời sống của người dân trong xã hội phong kiến như: cảnh đi cày, chăn trâu, đánh ghen, vũ nữ cưỡi rồng, vợ chồng lười, cảnh con mọn, cảnh nghỉ ngơi sau giờ lao động, cảnh đá cầu, đấu vật, múa, bắn hổ, đánh cờ uống rượu…
Thiền viện trúc lâm Tây Thiên nằm trong quần thể danh thắng Tây Thiên, Trúc lâm Thiền viện như một đóa sen hồng giữa đại ngàn thông biếc, trúc xanh. Một công trình kiến trúc đẹp, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, tọa lạc trên nền chùa cổ Thiên Ân xưa với diện tích rộng khoảng 4,5 ha. Xung quanh là rừng ngoại vi rộng 50 ha ở độ cao 300 m so với mực nước biển. Từ chính điện, nhà tổ, nhà khách, nhà trưng bày, cổng tam quan, lầu chuông, lầu trống… đến khu nội viện gồm: tăng đường, thiền đường, trai đường và các thất chuyên tu được xây dựng rất kỳ công và độc đáo mang đậm dấu ấn của kiến trúc Á Đông. Thư viện hình bát giác nằm trên đồi và một tượng phật cao 35 m, tất cả các tranh tượng, phù điêu trên vách tháp chuông, tháp trống trong và ngoài chánh điện đều ẩn chứa những tích xưa thiền sử hấp dẫn du khách.
Các di chỉ khảo cổ: cho tới nay, ở Vĩnh Phúc đã có hơn 20 địa điểm, di chỉ được phát hiện, thám sát, khai quật và nghiên cứu, thuộc các giai đoạn văn hóa khảo cổ của hậu kỳ đá cũ, văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn và các dấu tích ở thời kỳ sau công nguyên cho đến thế kỷ X. Trong đó, phổ biến hơn cả là các di chỉ thuộc giai đoạn Kim Khí thời kỳ hình thành Nhà nước sơ khai (từ văn hóa Phùng Nguyên đến văn hóa Đông Sơn), tập trung ở các di chỉ lớn, phạm vi phân bố rộng, tầng văn hóa dày, hiện vật phong phú và có những đặc điểm khá rõ nét dễ nhận biết. Đó là di chỉ cư trú ở Gò Hội (xã Hải Lựu, huyện Sông Lô), di chỉ cư trú, mộ táng và khu lò nung gốm (xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường). Đặc biệt là di chỉ Đồng Đậu (thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc) được phát hiện lần đầu năm 1962 và đã qua nhiều lần thám sát vào các năm 1965, 1966, 1967, 1968, 1969, 1984, 1987, 2006, 2019. Với diện tích 6.5 ha, phạm vi phân bố tầng văn hóa khoảng gần 4 ha, tầng văn hóa dày 3,5 m – 4,0 m, bao gồm 4 giai đoạn văn hóa khảo cổ. Lớp sớm nhất dưới cùng là giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, tiếp theo là các lớp văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun và trên cùng thuộc văn hóa Đông Sơn. Bốn giai đoạn văn hóa khảo cổ nối tiếp nhau liên tục không có thời kỳ gián cách. Di chỉ khảo cổ Đồng Đậu được xác định là một di chỉ cư trú của người Việt cổ lớn nhất ở trung tâm vùng tam giác châu thổ Bắc Bộ và đã được Nhà nước công nhận là di tích văn hóa quốc gia năm 2007. Đến nay, di chỉ Đồng Đậu vẫn được bảo vệ nguyên vẹn, phục vụ tích cực cho các cuộc khai quật, nghiên cứu, tham quan của các nhà khoa học cũng như du khách thập phương. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Di tích lịch sử phong trào nông dân Yên Thế (núi Sáng Sơn, huyện Lập Thạch). Dấu vết lịch sử của cuộc khởi nghĩa còn lưu lại tại hang Đề Thám, cây đa Đề Thám, Gò Đôn, bếp nuôi quân, bãi Bách Bung, đèo Mai Phục. Hoàng Hoa Thám, còn gọi là Đề Thám hay Hùm thiêng Yên Thế, khi nhỏ tên là Trương Văn Nghĩa, lớn lên mang tên Trương Văn Thám (1858 – 1913). Ông là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống giặc Pháp (1885 – 1913). Trong hơn 20 năm kiên cường chống Pháp, nhiều năm Đề Thám đã đóng quân tại vùng núi Sáng Sơn. Sử sách còn lưu rằng vào năm 1909, Bách Bung là căn cứ địa của nghĩa quân Đề Thám. Ngày 5/10/1909, dựa vào địa thế hiểm trở và công sự kiên cố, Đề Thám đã cùng 40 nghĩa quân của ông làm nên trận núi Sáng lịch sử – cuộc giao chiến oanh liệt nhất trong suốt quá trình cầm quân của vị thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám.
Di tích Ngọc Thanh ( nay thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên). Chiến khu Ngọc Thanh hay chiến khu I thuộc Liên khu Việt Bắc gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Phúc Yên (cũ). Sở dĩ gọi là chiến khu Ngọc Thanh vì những căn cứ địa chính, các cơ quan đầu não của chiến khu đều được đóng địa bàn này. Ở vị trí bản lề giữa vùng đồi núi và vùng đồng bằng, án ngữ con đường giao thông huyết mạch giữa Phúc Yên, Vĩnh Yên với Thái Nguyên, Việt Bắc, nằm ở cuối dãy Tam Đảo, có núi non trùng điệp, sông suối uốn khúc quanh co, phong cảnh nên thơ, chiến khu Ngọc Thanh nằm ở với địa hình đa dạng, còn có nhiều khả năng trở thành một điểm du lịch danh thắng lớn. Các con đường giao thông chiến khu xưa như phía nam có đường thông với Phúc Yên nối liền QL 2 tới Hà Nội; phía tây thông với Tam Đảo – Vĩnh Yên; phía bắc và đông bắc có đường đèo Nhe, đèo Khế, đèo Con Voi nối với Thái Nguyên. Những con đường một thời kháng chiến oanh liệt ngày nay có thể trở thành những tuyến du lịch hấp dẫn. Tham quan chiến khu xưa, có thể kể đến một số địa điểm tiêu biểu như: Đồn Thằn Lằn – nằm trên núi Thằn Lằn – nơi xảy ra trận đánh lịch sử đêm 28/12/1950 quân ta công đồn thắng lợi, phá vỡ một mắt xích trong hệ thống phòng thủ đồi của thực dân Pháp; ngôi nhà bà Lý Thị Hai – trước đây là nơi đặt trạm quân y chiến khu và là cơ sở bào chế thuốc tân dược; Đồng Dè – Xưởng quân giới; Thung lũng Đá Bia – Kho quân lương; Rừng Móc Son – đại bản doanh của chiến khu; xa hơn nữa lên tới khe núi Đá Đen là nơi đặt kho bạc nhà nước thời kháng chiến.
Một phong cảnh đẹp, một truyền thống lịch sử hào hùng, một vốn văn hóa phong phú tất cả làm nên một Ngọc Thanh muôn màu sắc thiên nhiên – con người, quá khứ – hiện tại – tương lai hòa hợp và gắn kết. Đây là một điểm đến mới, kết hợp với thắng cảnh Đại Lải và danh thắng Tam Đảo, tạo nên một quần thể di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của Vĩnh Phúc, thu hút những người yêu thiên nhiên từ khắp các vùng miền cả nước.
1.2.3. Các lễ hội truyền thống Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Vĩnh Phúc là địa phương có nhiều lễ hội truyền thống, có thể khai thác phục vụ mục đích phát triển du lịch. Nhiều lễ hội có ý nghĩa lớn về các giá trị văn hóa, có tác dụng tích cực trong việc khôi phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ truyền. Vì vậy, lễ hội có sức thu hút rất lớn đối với người dân bản địa và du khách thập phương. Hằng năm ở Vĩnh Phúc có tới hàng trăm lễ hội được tổ chức (phụ lục 2). Các lễ hội biểu trưng cho đời sống lao động, văn hóa tinh thần của người dân Vĩnh Phúc qua suốt chiều dài lịch sử và mang nhiều ý nghĩa như:
Thể hiện sức mạnh và tính chiến đấu: hội kéo song (xã Hương Canh, huyện Bình Xuyên) tổ chức từ ngày 3 – 5 tháng 1(âm lịch) nhằm biểu dương tinh thần thượng võ của người dân vùng sông nước; Hội cướp phết Bàn Giản (xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch), tổ chức ngày 7 tháng 1 (âm lịch) nhằm ôn lại việc giữ đất, trấn ải của các tướng lĩnh thời Hùng Vương.
Mang ý nghĩa phồn thực, cầu mong sự sinh sôi nảy nở: hội đúc bụt (xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương) tổ chức ngày 8 tháng 1 (âm lịch); Hội cướp cây bông ở đền Đuông (xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường) tổ chức ngày 5 tháng 12 (âm lịch) với quan niệm nếu ai cướp được những vật thiêng là cây bông hay chiếu bụt thì sẽ sinh con được như ý muốn.
- Thể hiện sự khéo léo đảm đang của phụ nữ: trò nấu cơm thi ở hội miếu Đậu (thành phố Vĩnh Yên) tổ chức ngày 3 tháng 1 (âm lịch).
- Mang màu sắc luyến ái: hội bắt trạch trong chum( thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường) tổ chức ngày 6 tháng 1 (âm lịch); Hội múa Mo (phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên) tổ chức ngày 9 tháng 1 (âm lịch).
- Hội hát dân ca: trống quân (xã Đức Bác, huyện Lập Thạch) tổ chức ngày 8 tháng 1 (âm lịch).
- Gắn liền với đời sống nông nghiệp: hội chọi trâu (xã Hải Lựu, huyện Sông Lô) tổ chức vào ngày 7 tháng 1 (âm lịch); Hội xuống đồng của người Cao Lan (xã Quang Yên, huyện Lập Thạch) tổ chức tháng 1 (âm lịch) hằng năm.
- Gắn liền với nghề sông nước: hội bơi chải (xã Việt Xuân, huyện Vĩnh Tường) tổ chức vào tháng 6 (âm lịch) hằng năm.
1.2.4. Các làng nghề và sản phẩm thủ công truyền thống
Khai thác các sản phẩm nghề thủ công và khôi phục phát triển các làng nghề truyền thống có vai trò lớn trong việc phát triển du lịch. Hiện nay, nhiều làng nghề truyền thống ở Vĩnh Phúc đã được khôi phục có thể trở thành những điểm tham quan, du lịch hấp dẫn (phụ lục 3). Một số làng nghề tiêu biểu như:
Làng mộc Bích Chu, (xã An Tường, huyện Vĩnh Tường). Nằm ở vùng đất bãi bên bờ sông Hồng, đã tồn tại cách ngày nay khoảng 300 năm, Bích Chu như một nét nhấn trong bức tranh tổng thể của làng quê Vĩnh Phúc. Làng Bích Chu nổi tiếng về kỹ thuật làm đồ gỗ với những nét chạm trổ, đục đẽo tinh xảo, làm ra những sản phẩm đồ gỗ dân dụng như tủ, giường, bàn ghế, sập gụ tủ chè và những đồ gỗ có giá trị mỹ thuật cao gồm các tượng bày ở điện thờ, đình miếu, những bức đại tự sơn son thiếp vàng. Đây là một làng nghề truyền thống tiêu biểu mang đậm nét đặc trưng văn hóa truyền thống thu hút được sự quan tâm, mến mộ của du khách.
Làng rắn Vĩnh Sơn (Thị trấn Vĩnh Tường, huyện Vĩnh Tường). Trong các thư tịch cổ đã nhắc tới Vĩnh Sơn là một làng săn bắt rắn lớn nhất Bắc Bộ. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
Ngày xưa từ việc săn bắt rắn, người dân Vĩnh Sơn đã biết chăn nuôi thuần dưỡng các loại rắn độc và chế biến các sản phẩm từ rắn như: nuôi rắn để làm thịt, chế biến rượu rắn, cao rắn, kinh nghiệm đó được duy trì và truyền lại cho đến ngày nay. Đối với người dân Vĩnh Sơn có thể nói, con rắn ngoài giá trị làm vị thuốc chữa bệnh và bồi bổ sức khoẻ còn có giá trị về kinh tế đem lại nguồn thu cao, tạo công ăn việc làm và phát triển du lịch, dịch vụ.
Làng gốm Hương Canh (xã Hương Canh, huyện Bình Xuyên). Nghề gốm ở đây có từ lâu đời. Tương truyền, sau khi đánh bại Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương, triều đình Lê – Trịnh đã phái quan Nội Hầu Trịnh Xuân Biền về phủ dụ dân chúng. Thấy xóm làng xơ xác tiêu điều, dân chúng phiêu bạt, những người hồi cư không kế sinh nhai, ông Trịnh Xuân Biền đã giúp dân phục hồi sản xuất nông nghiệp và đem người đến dạy dân làm nghề. Khi ông qua đời, dân làng thương tiếc, lập miếu thờ, tôn ông làm sư tổ nghề gốm.
Làng gốm Hương Canh chuyên làm vại, chĩnh, chậu, lọ, tiểu sành. Gốm Hương canh xưa nay rất được ưa chuộng, chống được nước thẩm thấu, ngăn được ánh sáng, giữ được bền hương vị nguyên chất của những thứ đựng bên trong.
Làng nghề mây tre đan Triệu Xá (xã Triệu Đề, huyện Lập Thạch). Làng nghề nổi tiếng với các mặt hàng chủ yếu là những vật dụng trong gia đình như: thúng, mủng, nia, rổ, rá và các công cụ lao động nông nghiệp ở ngoài đồng ruộng trước kia như gầu dai, gầu sòng. Sản phẩm Triệu Xá có mặt ở thị trường khắp các tỉnh Bắc Bộ.
Ngoài các giá trị văn hóa nêu trên, Vĩnh Phúc còn có thể khai thác các nguồn tài nguyên nhân văn khác phục vụ du lịch như ca múa nhạc dân tộc, các món ăn từ lâm thổ sản phong phú của địa phương mình.
Vĩnh Phúc vốn là miền đất văn hiến giàu chất dân gian, là xứ sở của những làn điệu dân ca đặc sắc như hát trống quân, hát ghẹo, hát ví giao duyên, hát Soọng Cô, hát Sình Ca… Các trò chơi dân gian của Vĩnh Phúc cũng rất độc đáo như trò tung còn của dân tộc Cao Lan, chọi trâu, đu bay, leo cầu ùm, bắt chạch cầu đinh, bắt vịt trong ao, đánh đáo đá, trò tả cáy, tục đả cầu cướp phết, bơi chải…
Về ẩm thực, Vĩnh Phúc có nhiều đặc sản hiếm có như cá anh vũ, xôi trứng kiến, cùng với nhiều món ăn đặc trưng của các dân tộc Sán Dìu, Cao Lan và các món dân dã như vó cần, cá thính, nem chua, bánh hòn Hội Hợp, các đặc sản vùng miền như rau Su Su Tam Đảo, tép dầu Đầm Vạc… Đây là các thành tố văn hóa có giá trị phục vụ cho phát triển du lịch Vĩnh Phúc.
Tiểu kết chương 1
Bên cạnh những thuận lợi về vị trí địa lí, hạ tầng giao thông, Vĩnh Phúc còn là địa phương giàu tiềm năng du lịch với hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên, du lịch sinh thái (rừng, núi, hồ, đầm…) và du lịch nhân văn phong phú, hấp dẫn, có giá trị. Các giá trị văn hóa lịch sử cũng là một trong những dạng tài nguyên du lịch quan trọng. Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 967 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 228 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 60 di tích cấp quốc gia có giá trị cao đối với phát triển du lịch.
Đó là những lợi thế to lớn, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của ngành Du lịch, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu GDP và cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống người dân. Luận văn: Kinh tế du lịch tỉnh Vĩnh Phúc từ 2004 đến năm 2023.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

Pingback: Luận văn: Tác động kinh tế du lịch đối với kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc