Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả

Dựa trên dữ liệu thu thập được trong giai đoạn 2010 – 2021 của 551 doanh nghiệp với tổng 6.612 quan sát, kết quả thống kê mô tả của các biến trong mô hình được thể hiện tại bảng 4.1, trong đó gồm có PV, INF, INT, RGDP, DJIA, GOLD, EPS, DPS, P/E, SIZE lần lượt đại diện cho các biến số biến động giá cổ phiếu, lạm phát, biến động lãi suất tiết kiệm, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, biến động giá vàng, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ chi trả cổ tức, hệ số giá trên thu nhập của mỗi cổ phiếu và quy mô của doanh nghiệp. Các dữ liệu đã được xử lý Outliers trước khi thực hiện phân tích để giảm thiểu tác động của các nhóm dữ liệu này đến độ chính xác của các mô hình hồi quy.

Bảng 4.1: Thống kê mô tả tất cả các biến được sử dụng trong mô hình

Biến số Số quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
PV 6.612 0,625 0,297 0,180 1,256
INF 6.612 -0,003 0,038 -0,079 0,086
INT 6.612 -0,048 0,206 -0,320 0,415
RGDP 6.612 0,059 0,015 0,026 0,072
DJIA 6.612 19.777 6.803 10.595 33.965
GOLD 6.612 0,0004 0,124 -0,224 0,191
EPS 6.612 2.128 2.038 -150 7,216
DPS 6.612 0,055 0,062 0 0,215
P/E 6.612 18,754 26,134 -1,314 108,038
SIZE 6.612 5,227 1,687 2,457 8,651

(Nguồn: Kết quả thống kê từ phần mềm Stata) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

  • Biến động giá cổ phiếu (PV):

Biểu đồ 4.1. Biến động trung bình của giá cổ phiếu (PV)

PV trong giai đoạn nghiên cứu có giá trị trung bình là 0,625, nghĩa là trong giai đoạn 2010 – 2021, NĐT có thể đạt được lợi nhuận từ chênh lệch giá cổ phiếu ở mức 62,5%/12 năm. PV cũng ghi nhận giá trị độ lệch chuẩn là 0,297. Trong số các doanh nghiệp lựa chọn làm mẫu nghiên cứu, doanh nghiệp có biến động giá cổ phiếu cao nhất là Công ty Cổ phần Sara Việt Nam (SRA) với biến động giá cổ phiếu ở thời điểm năm 2018 ghi nhận mức 125,6%. Xem xét biểu đồ 4.1, có thể thấy giá cổ phiếu có sự biến động mạnh trong giai đoạn nghiên cứu. Trong đó, mức biến động giá cổ phiếu liên tục giảm dần từ năm 2010 đến 2014, điều này đã chứng minh phần nào ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, mà cụ thể là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đối với kinh tế thế giới và TTCK Việt Nam cũng nằm trong vòng tác động này. Sau đó, biến động giá cổ phiếu gia tăng trong thời gian ngắn rồi tiếp tục giảm mạnh trong giai đoạn 2016 – 2020. Sự căng thẳng gay gắt và chia rẽ thương mại giữa các nước lớn (Hoa Kỳ – Trung Quốc, Hoa Kỳ – EU), tác động tiêu cực đến niềm tin, thương mại, đầu tư hay hệ lụy trầm trọng khi đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng toàn thế giới từ năm 2019 cũng là những lý do khiến cho thị trường thế giới nói chung cũng như TTCK nói riêng biến động mạnh.

Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:

Biểu đồ 4.2. Biến động trung bình của lạm phát (INF) và lãi suất (INT)

Qua biểu đồ 4.2 có thể thấy lạm phát và biến động lãi suất đều có mức độ biến động nhất định trong giai đoạn được lựa chọn nghiên cứu. Tuy nhiên, so với biến động lãi suất INT thay đổi liên tục và không có một xu hướng biến động cụ thể thì mức độ biến động của lạm phát khá ổn định. Lạm phát INF có giá trị trung bình là âm 0,3% dao động trong khoảng từ âm 7,9% đến 8,6%. Trong khi đó, biến động lãi suất INT có giá trị trung bình là âm 4,8% và thay đổi trong khoảng lớn từ mức âm 32% cho tới 41,5%.

Tương tự như sự khác biệt về sự biến động của lạm phát INF và biến động lãi suất INT, RGDP và biến động giá vàng GOLD cũng có xu hướng biến động không giống nhau trong giai đoạn 2010 – 2021 như được thể hiện tại biểu đồ 4.3. Trong khi RGDP biến động khá ổn định thì biến động giá vàng GOLD lại thay đổi theo xu hướng không xác định xuyên suốt thời gian nghiên cứu.

Biểu đồ 4.3. Biến động trung bình của tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (RGDP) và biến động giá vàng (GOLD)

Khác với các yếu tố đại diện cho thị trường Việt Nam như lạm phát INF, biến động lãi suất INT, RGDP và biến động giá vàng GOLD, thị trường chứng khoán Hòa Kỳ được đại diện trong bài nghiên cứu này là chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones DJIA lại cho thấy một xu hướng biến động rõ ràng. Cụ thể trong suốt giai đoạn xem xét, chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones DJIA thay đổi theo chiều hướng gia tăng liên tục từ mức 10.595 trong năm 2010 lên mức 33.965 vào năm 2021. Điều này đã phần nào cho thấy những tác động theo thời gian từ các yếu tố bên ngoài, cách thức quản lý cũng như mức độ phát triển và nhiều yếu tố khác có thể dẫn đến chính sách điều hành của quốc gia tại mỗi thời điểm là không giống nhau, kéo theo đó là sự khác biệt trong xu hướng vận hành tại các thị trường khác nhau.

Biểu đồ 4.4. Biến động trung bình của chỉ số công nghiệp Dow Jones (DJIA)

Nhóm các nhân tố nội tại của doanh nghiệp:

Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) và tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS):

Biểu đồ 4.5. Biến động trung bình của thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS)

Xét riêng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu EPS, EPS trung bình đạt 2.128 đồng, công ty ghi nhận EPS cao nhất là Công ty Cổ phần Tập đoàn Nam Mê Kông (VC3) năm 2010 và ngược lại Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BLF) có EPS thấp nhất là âm 150 đồng vào năm 2021. Trong khi đó, tỷ lệ chi trả cổ tức DPS ghi nhận mức trung bình 5,5%/12 năm. Tỷ lệ chi trả cổ tức cao nhất thuộc về Công ty Cổ phần Đường Kon Tum (KTS) với mức chi trả đạt 21,5% và nhiều công ty trong mẫu nghiên cứu cũng đồng thời ghi nhận mức chi trả cổ tức thấp nhất là 0% do những công ty này không thực hiện chi cổ tức tại các năm trong giai đoạn xem xét. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Biểu đồ 4.6. Biến động trung bình của tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS)

Đối với nhóm các nhân tố nội tại của doanh nghiệp cơ bản đều cho thấy sự thay đổi lớn trong mẫu các doanh nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu. Quan sát biểu đồ 4.5 và 4.6 có thể thấy xu hướng biến động của thu nhập trên mỗi cổ phiếu EPS và tỷ lệ chi trả cổ tức DPS gần như tương đồng trong quãng thời gian thực hiện nghiên cứu, trong đó, EPS và DPS cơ bản đều duy trì khá ổn định trong hai giai đoạn 2011 – 2014 và 2017 – 2020 và biến động mạnh ở các năm còn lại. Điều này cho thấy việc đầu tư vào cổ phiếu của các công ty tại một số thời điểm có thể đem lại tổn thất lớn cho các nhà đầu tư khi không được chia cổ tức cũng như phải gánh chịu khoản lỗ đầu tư.

– Hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (P/E): theo biểu đồ 4.7, P/E biến động không theo chiều hướng cụ thể với dao động khá lớn và chỉ được duy trì khá ổn định trong các năm 2013 – 2014 và 2019 – 2020. Bình quân hệ số giá trên thu nhập đạt 18,754. Giá trị P/E cao nhất là 108,038 thuộc về Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hải Vân (HVX) năm 2017 và thấp nhất là Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu (BLF) năm 2021.

Biểu đồ 4.7. Biến động trung bình của hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (P/E)

Quy mô doanh nghiệp (SIZE): nhìn vào biểu đồ 4.8, quy mô doanh nghiệp trong thời gian nghiên cứu (2010 – 2021) về cơ bản có 3 giai đoạn biến động, tăng mạnh từ năm 2011 đến 2015 sau đó giảm mạnh đến năm 2017 và từ năm 2017 thì quay lại với đà tăng trưởng như trước đó. Quy mô doanh nghiệp trung bình giai đoạn 2010 – 2021 của mẫu nghiên cứu đạt 5,227. Các doanh nghiệp thuộc các phân khúc khác nhau (lớn, vừa và nhỏ) đều được bao hàm trong mẫu nghiên cứu khi quy mô doanh nghiệp khác biệt từ giá trị nhỏ nhất là 2,457 (tương đương quy mô là 11,7 tỷ đồng của Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển – Xây dựng số 2 – DC2 năm 2013) cho đến giá trị lớn nhất là 8,651 (tương đương quy mô là 5.710,7 tỷ đồng của Công ty Cổ phần Tập đoàn Kido – KDC vào năm 2018).

Biểu đồ 4.8. Biến động trung bình của quy mô doanh nghiệp (SIZE)

4.2 Kiểm tra đa cộng tuyến Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Như đã được trình bày ở chương 3 của bài nghiên cứu, khi hiện tượng đa cộng tuyến của các biến độc lập trong mô hình xảy ra sẽ dẫn đến hậu quả mô hình trở nên khó khăn trong việc ước tính mối quan hệ giữa từng biến độc lập và biến phụ thuộc một cách độc lập, các ước lượng trong phân tích hồi quy không thật chính xác, có khả năng mô hình hồi quy không thể hiện đúng bản chất của các mối quan hệ. Do đó, để cải thiện tính chính xác của mô hình, hai phương pháp phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến: ma trận hệ số tương quan và hệ số phóng đại phương sai (VIF) đã được sử dụng.

4.2.1 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình hồi quy 

Dựa trên kết quả thống kê từ Stata tại bảng 4.2 cho thấy biến động giá cổ phiếu PV có tương quan cùng chiều với lạm phát INF, biến động lãi suất INT, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội RGDP, hệ số giá trên thu nhập của mỗi cổ phiếu P/E và tương quan nghịch chiều với chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones DJIA, biến động giá vàng GOLD, thu nhập trên mỗi cổ phiếu EPS, tỷ lệ chi trả cổ tức DPS và quy mô doanh nghiệp SIZE. Tuy vậy để thu được kết quả đáng tin cậy về mối tương quan của các biến số này với biến động giá cần phải thực hiện hồi quy và kiểm định kỹ hơn các mô hình đó.

Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình hồi quy

PV INF INT RGDP DJIA GOLD EPS DPS P/E SIZE
PV 1,000
INF 0,093 1,000
INT 0,106 0,736 1,000
RGDP 0,037 0,140 0,381 1,000
DJIA -0,229 -0,096 -0,313 -0,488 1,000
GOLD -0,005 0,513 0,555 0,165 -0,009 1,000
EPS -0,084 0,057 0,109 0,057 -0,112 0,032 1,000
DPS -0,052 0,048 0,092 0,111 -0,132 0,036 0,371 1,000
P/E 0,012 -0,021 -0,068 -0,055 0,056 -0,019 -0,379 -0,352 1,000
SIZE -0,081 0,003 -0,046 -0,106 0,296 0,069 0,127 -0,128 0,019 1,000

(Nguồn: Kết quả thống kê từ phần mềm Stata)

Từ bảng 4.2 cũng có thể thấy các biến độc lập trong mô hình hồi quy về cơ bản có mối tương quan tương đối nhỏ (< 0,5). Riêng với trường hợp biến INT và GOLD (xem xét trong mối tương quan với biến INF) có hệ số tương quan lần lượt là 0,7364 và 0,5130, biến GOLD có hệ số tương quan là 0,5549 (xem xét trong mối tương quan với biến INT) đều có giá trị lớn hơn 0,5 nên nghi ngờ có sự tương quan, do đó sẽ tiếp tục thực hiện kiểm tra thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF).

4.2.2 Hệ số phóng đại phương sai (VIF)

Bảng 4.3: Hệ số phóng đại phương sai VIF

Biến số VIF 1/VIF
INT 3,08 0,325
INF 2,40 0,416
GOLD 1,56 0,643
DJIA 1,55 0,644
RGDP 1,47 0,681
EPS 1,34 0,746
DPS 1,28 0,779
P/E 1,25 0,802
SIZE 1,17 0,853
Trung bình VIF 1,68

(Nguồn: Kết quả thống kê từ phần mềm Stata) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Giá trị VIF bắt đầu từ 1 và không có giới hạn trên. Giá trị VIF đạt từ 1 đến 2 chỉ ra rằng giữa biến độc lập bất kỳ và các biến khác không có sự tương quan. Nếu VIF nằm trong đoạn giữa 2 và 5 cho thấy có mối tương quan vừa phải nhưng không quá nghiêm trọng để phải tìm biện pháp khắc phục. VIF lớn hơn 5 đại diện cho mối tương quan cao, hệ số được ước tính kém và các giá trị p-value là đáng nghi ngờ.

  • Nếu VIF > 10 thì chắc chắn có đa cộng tuyến.

Kết quả kiểm định hệ số phóng đại phương sai VIF ở bảng 4.3 cho thấy các hệ số VIF tương ứng của các biến trong mô hình đều nhỏ hơn 5, giá trị trung bình VIF là 1.68 <5, do đó, có thể kết luận giữa các biến có tương quan nhưng không mạnh và hiện tượng đa cộng tuyến không ảnh hưởng đáng kể đến mô hình nghiên cứu.

4.3 Lựa chọn mô hình ước lượng Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

4.3.1. Mô hình hồi quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS)

Bảng 4.4: Tổng hợp kết quả hồi quy theo mô hình OLS

Biến số Mô hình OLS
Biến phụ thuộc PV
Hệ số P-value
INF 0,695111*** 0,000
INT 0,0530156* 0,075
RGDP -2,117914*** 0,000
DJIA -0,0000122***    0 ,000
GOLD -0,1215309*** 0 ,001
EPS -0,0000161*** 0,000
DPS -0,2576559***    0 ,000
P/E -0,000402***    0,007
SIZE 0,0005299    0,814
Hằng số 1,049791***    0 ,000
P-value 0,000

(Trong đó: Các ký hiệu * và *** lần lượt đại diện cho các mức ý nghĩa 10% và 1%).

Kết quả hồi quy có được từ phần mềm Stata theo bảng 4.4 thì mô hình OLS có giá trị P-value = 0,000 < 0,05, nghĩa là đối với trường hợp này, kết quả ước lượng của OLS được chấp nhận.

Trong phụ lục 05: kết quả hồi quy theo mô hình OLS có kết quả 𝑅2 = 0,0840 cho thấy rằng, mô hình hồi quy OLS chỉ giả thích được 8,4% sự biến động của các biến phụ thuộc bằng các biến độc lập trong mô hình. Tức là phần lớn sự biến động của các biến phụ thuộc không được giải thích trong mô hình này. Điều này có thể có nhiều nguyên nhân, ví dụ như mô hình chưa đủ phức tạp để giải thích sự tương quan giữa các biến hoặc các biến không có tương quan với biến phụ thuộc. Tuy nhiên, giá trị 𝑅2 chỉ là một phần trong quá trình đánh giá mô hình hồi quy và nên được kết hợp với các chỉ số đánh giá khác để đưa ra những nhận định hợp lý về mô hình. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

4.3.2 Mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM

Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả hồi quy theo mô hình FEM và REM

Biến số Mô hình FEM Mô hình REM
Biến phụ thuộc PV Biến phụ thuộc PV
Hệ số P-value Hệ số P-value
INF 0,7632254*** 0,000 0,7117045*** 0,000
INT 0,016983 0,532 0,0405834 0,143
RGDP -2,306389*** 0,000 -2,175745*** 0,000
DJIA -0,0000161*** 0,000 -0,0000127*** 0,000
GOLD -0,17029*** 0,000 -0,1305907*** 0,000
EPS 9,15e-06*** 0,002 -7,94e-06*** 0,001
DPS 0,0486866 0,526 -0,0193311 0,778
P/E 0,0000813 0,611 -0,0002421 0,111
SIZE 0,0609602*** 0,000 0,0122085*** 0,000
Hằng số 0,7399553*** 0,000 0,9681199*** 0,000
P-value          0,000 0,000

(Trong đó: Ký hiệu *** đại diện cho các mức ý nghĩa 1%).

(Nguồn: Kết quả thống kê từ phần mềm Stata)

Kết quả hồi quy có được từ phần mềm Stata theo bảng 4.5 cũng cho thấy mô hình FEM và REM đều có giá trị P-value = 0.000 < 0,05, điều này cũng đồng nghĩa với việc kết quả ước lượng của FEM và REM đều được chấp nhận.

Trong phụ lục 06: Kết quả hồi quy theo mô hình REM, R-sp được sử dụng để đánh giá mức độ giả thích của mô hình.

  • R-sp within được tính bằng tỷ lệ giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình cho sự biến động của biến phụ thuộc trong từng nhóm riêng lẻ. Kết quả R-sp within = 0,09 cho thấy mô hình REM giải thích được 9% sự biến động của biến phụ thuộc trong từng nhóm riêng lẻ.
  • R-sp between được tính bằng tỷ lệ giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình cho sự biến động của biến phụ thuộc giữa các nhóm. Kết quả R-sp between = 0,0124 cho thấy mô hình REM giải thích được 1,24% sự biến động của biến phụ thuộc giữa các nhóm.
  • R-sp overall được tính bằng tỷ lệ giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình cho sự biến động của biến phụ thuộc toàn bộ dữ liệu. Kết quả R-sp overall = 0,0728 cho thấy mô hình REM giải thích được 7.28% sự biến động của biến phụ thuộc toàn bộ dữ liệu.

Trong phụ lục 07: Kết quả hồi quy theo mô hình FEM, R-sp được sử dụng để đánh giá mức độ giả thích của mô hình

  • R-sp within = 0,1108 cho thấy mô hình FEM giải thích được 11,08% sự biến động của biến phụ thuộc trong từng nhóm riêng lẻ.
  • R-sp between = 0,0399 cho thấy mô hình FEM giải thích được 3,99% sự biến động của biến phụ thuộc giữa các nhóm.
  • R-sp overall = 0,0172 cho thấy mô hình FEM giải thích được 1,72% sự biến động của biến phụ thuộc toàn bộ dữ liệu.

Gía trị R-sp thấp không nhất thiết là một dấu hiệu cho thấy mô hình không tốt, nó chỉ cho thấy mức độ mà các biến độc lập trong mô hình giải thích được sự biến động của các biến phụ thuộc. Việc đánh giá mô hình cần kết hợp với những kiểm định được nghiên cứu dưới đây để lựa chọn ra mô hình phù hợp nhất.

4.3.3 Kiểm định lựa chọn mô hình Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Để biết được đối với dữ liệu nghiên cứu, mô hình nào là phù hợp nhất, cần tiến hành kiểm định lựa chọn mô hình. Trình tự tiến hành kiểm định sẽ được thực hiện như sau: sử dụng kiểm định F để quyết định chọn OLS hay FEM, để chọn giữa OLS và REM thì sẽ dùng kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian và để lựa chọn giữa FEM hay REM sẽ tiến hành kiểm định Hausman. Chi tiết kết quả như sau:

  • Kiểm định F:

Kiểm định F được xem xét dựa trên hai giả định gồm H0: mô hình không có hệ số tác động cố định và H1: mô hình có hệ số tác động cố định. Kết quả hồi quy tại bảng 4.4 và 4.5, ta thấy mô hình hồi quy FEM có giá trị P-value = 0,000. Với P-value < 0,05, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận H1 tức là mô hình hồi quy có hệ số tác động cố định. Điều này cũng cho thấy, thông qua kiểm định F, mô hình hồi quy FEM là thích hợp hơn hồi quy OLS.

  • Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian:

Nghiên cứu sử dụng kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian để lựa chọn giữa OLS và REM, từ kết quả kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian ở bảng 4.6 cho thấy giá trị P-value = 0.000 < 0,05, nghĩa là loại bỏ giả thuyết H0 (H0: Mô hình không có hiệu ứng ngẫu nhiên), chấp nhận giả thuyết H1 (H1: Mô hình có hiệu ứng ngẫu nhiên). Như vậy, trong trường hợp này, việc sử dụng mô hình REM sẽ phù hợp hơn so với mô hình OLS.

Bảng 4.6. Kết quả kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian

Test: Var(u) = 0 chibar2(01) = 652,28 Prob > chibar2 = 0,000

  • Kiểm định Hausman

Nghiên cứu dùng kiểm định Hausman để đánh giá mô hình REM hay FEM.

Kiểm định Hausman có giả thiết H0 là giữa εi và các biến độc lập không có tương quan; 0 Như vậy, nếu chấp nhận giả thuyết H0, REM sẽ là mô hình phù hợp so với FEM và ngược lại, nếu giả thiết H0 bị bác bỏ, FEM sẽ được sử dụng.

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Hausman

H0:  difference in coefficients not systematic chi2(7) = (b-B)'[(V_b-V_B) ^(-1) ](b-B) = 188,77 Prob>chi2 = 0,0000

Kiểm định Hausman từ bảng 4.7 thu được giá trị P-value = 0,000 < 0,05 nên bác bỏ giả thiết H0, mô hình FEM là mô hình phù hợp để tiến hành nghiên cứu.

Thông qua 3 kiểm định được trình bày ở trên đều đề xuất việc lựa chọn mô hình hồi quy có hệ số tác động cố định, do vậy, việc sử dụng mô hình tác động cố định (FEM) là mô hình hồi quy thích hợp nhất đối với nghiên cứu này.

4.4 Kiểm tra các khuyết tật mô hình Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Mỗi mô hình đều có thể tồn tại những khuyết tật và điều này sẽ khiến cho độ tin cậy của mô hình giảm đi. Do vậy, sau khi lựa chọn mô hình và cụ thể là mô hình FEM sẽ được sử dụng theo kết luận ở mục 4.3.3, nghiên cứu sẽ tiếp tục kiểm tra các khuyết tật của mô hình (nếu có) bao gồm hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi.

4.4.1 Kiểm định tự tương quan

Để kiểm tra xem liệu hiện tượng tự tương quan có xảy ra trong mô hình hồi quy FEM hay không, nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định được đề xuất bởi Wooldridge (2002) với giả thiết H0: mô hình hồi quy không có hiện tượng tự tương quan.

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định tự tương quan của mô hình FEM

  • H0: no first-order autocorrelation
  • F(1, 550)  = 155,357
  • Prob > F = 0,0000

Theo kết quả từ bảng 4.8, giá trị P-value = 0,000 < 0,05 nên bác bỏ giả thiết H0, nghĩa là có hiện tượng tự tương quan trong mô hình hồi quy.

4.4.2 Kiểm định phương sai thay đổi

Đối với mô hình FEM, nghiên cứu sử dụng kiểm định Wald để kiểm tra xem giả thiết hồi quy về phương sai không đổi có vi phạm hay không trong mô hình FEM với giả thiết H0: phương sai của mô hình không đổi.

Bảng 4.9: Kiểm định phương sai thay đổi của mô hình FEM

H0: sigma(i)^2 = sigma^2 for all i chi2 (551) = 8.394,19 Prob>chi2 = 0,0000

Với mức nghĩa 5%, giá trị P-value = 0,000 < 0,05, bác bỏ giả thiết H0, phương sai của mô hình bị thay đổi.

4.5 Phân tích kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

4.5.1 Mô hình hồi quy bằng ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS)

Mặc dù mô hình FEM được xem là phù hợp, tuy nhiên, do trong mô hình FEM tồn tại hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi nên việc dùng mô hình FEM sẽ cho các ước lượng tuy phù hợp nhưng không còn hiệu quả và vẫn bị chệch. Do vậy, để khắc phục vấn đề này, nghiên cứu sẽ sử dụng ước lượng GLS.

Bảng 4.10: Kết quả hồi quy theo ước lượng GLS

Hệ số P-value Mức ý nghĩa
INF 0,672 0,000 1%
INT 0,067 0,006 1%
RGDP -2,835 0,000 1%
DJIA -0,000 0,000 1%
GOLD -0,146 0,000 1%
EPS -0,000 0,000 1%
DPS -0,132 0,034 5%
P/E -0,000 0,081 10%
SIZE 0,007 0,010 1%
Hằng số 1,055 0,000
P-value 0,000

(Nguồn: Kết quả thống kê từ phần mềm Stata)

Trước hết, mô hình có được từ ước lượng GLS tại bảng 4.10 có giá trị P-value = 0,000 < 0,05 nên mô hình này được chấp nhận.

Thông qua Bảng 4.10 cho thấy, trong 9 biến được lựa chọn nghiên cứu thì tất cả các biến đều có ý nghĩa thống kê, trong đó các biến có ý nghĩa thống kê ở mức 1% là INF, INT, RGDP, DJIA, GOLD và EPS; 2 biến còn lại lần lượt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và 10% là DPS và P/E. Và tiếp theo đây, nghiên cứu sẽ tiến hành thảo luận kết quả thu được bằng cách kiểm định 9 giả thuyết đã được trình bày tại mục 3.2 và phân tích kết quả nghiên cứu thông qua việc đánh giá mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố đến biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp.

4.5.2 Kiểm định giả thuyết và phân tích kết quả nghiên cứu

Bảng 4.11: Tóm tắt kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Biến số Dấu kỳ vọng Kết quả nghiên cứu Mức ý nghĩa
INF (-) (+) 1%
INT (-) (+) 1%
RGDP (+) (-) 1%
DJIA (+) (-) 1%
GOLD (-) (-) 1%
EPS (+) (-) 1%
DPS (-) (-) 5%
P/E (-) (-) 10%
SIZE (-) (+) 1%

(Nguồn: Kết quả thống kê từ phần mềm Stata)

Giả thuyết 1: lạm phát (INF) có tương quan nghịch chiều (-) với biến động giá cổ phiếu (PV)

Biểu đồ 4.9 cho thấy tuy có sự tăng giảm khác nhau ở một số năm xem xét nhưng phần lớn các năm trong giai đoạn 2010 – 2021, biến động giá cổ phiếu PV có tương quan cùng chiều khá rõ với lạm phát INF. Hệ số hồi quy thu được từ mô hình có giá trị dương (0,672) và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, dẫn đến bác bỏ giả thuyết 1.

Điều này cũng cung cấp sự hỗ trợ cho quan điểm lạm phát có ảnh hưởng đối với biến động giá cổ phiếu và tác động thu được ở đây là tác động cùng chiều trong mẫu doanh nghiệp được lựa chọn nghiên cứu, tức là khi lạm phát ngày càng tăng cũng có thể khiến biến động giá cổ phiếu biến động theo xu hướng tăng lên.

Biểu đồ 4.9. Tương quan giữa PV và INF

Mối quan hệ tác động này hoàn toàn hợp lý bởi trên thực tế hiện nay, nhiều NĐT cũng khá chú trọng trong việc theo dõi sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, trong đó việc kiểm soát lạm phát được thực hiện như thế nào cũng có thể tác động đến xu hướng đầu tư vào tài sản rủi ro như cổ phiếu, từ đó gây ảnh hưởng lên sự biến động giá trên TTCK. Theo đó, trong điều kiện các yếu tố vĩ mô khác được duy trì ổn định, khi lạm phát tăng, điều này đồng nghĩa với việc sức mua của nền kinh tế cũng ngày càng có xu hướng gia tăng, giới hạn cấp tín dụng của nhiều ngân hàng được mở rộng hơn, nhu cầu vốn của doanh nghiệp được đáp ứng và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt dưới những ảnh hưởng tích cực của nền kinh tế chung cũng theo đó phát triển tốt hơn, tạo điều kiện cho biến động giá cổ phiếu cũng cùng tăng trưởng hơn. Khi đó, rõ ràng việc đầu tư vào cổ phiếu sẽ trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư. Kết quả này phần nào phù hợp với kết luận trong nghiên cứu của Waweru (2013) hay Shi, Ahmed và Paramati (2019) nhưng lại khác với Nisa và Nishat (2012) hay Al-Tamimi và cộng sự (2011) khi các nhà nghiên cứu này lại tìm thấy bằng chứng cho thấy tồn tại mối quan hệ tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê của lạm phát đối với biến động giá cổ phiếu.

Giả thuyết 2: biến động lãi suất tiết kiệm (INT) có tương quan nghịch chiều (-) với biến động giá cổ phiếu (PV).

Biểu đồ 4.10. Tương quan giữa PV và INT

Giống với INF, đối với các doanh nghiệp được lựa chọn nghiên cứu, kết quả có được từ mô hình lại trình bày một xu hướng tương tự giữa biến động lãi suất INT và biến động giá cổ phiếu PV. Biểu đồ 4.10 thể hiện mối quan hệ thuận chiều khá rõ của INT và PV, ngoại trừ năm 2014 và 2019. Bảng hồi quy 4.11 cho thấy hệ số của lãi suất INT dương (0,067) và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, nghĩa là khi lãi suất càng tăng thì biến động giá cổ phiếu lại có xu hướng gia tăng, bác bỏ giả thuyết 2. Kết quả này hoàn toàn khác so với kết luận của các nghiên cứu trước đây như Waweru (2013) và Samontaray và Alanuzi (2014) đưa ra quan điểm rằng tồn tại mối quan hệ tác động ngược chiều giữa lãi suất với biến động giá cổ phiếu. Điều này giải thích, khi lãi suất tiết kiệm ngày càng tăng sẽ làm cho lãi suất vay cũng có xu hướng tăng theo, điều đó làm cho lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm. Khi đó các NĐT sẽ dự đoán được tình hình của doanh nghiệp, làm cho giả cổ phiếu sẽ gia tăng sự biến động.

Giả thuyết 3: tốc độ tăng trưởng kinh tế (RGDP) có mối tương quan thuận chiều (+) với biến động giá cổ phiếu (PV).

Biểu đồ 4.11. Tương quan giữa PV và RGDP

Xem xét mối quan hệ giữa biến động giá cổ phiếu PV và tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội RGDP, biểu đồ 4.11 thể hiện sự thay đổi cùng chiều của PV và RGDP trong giai đoạn 2010 – 2012, nhưng từ sau năm 2012 thì mối tương quan nghịch chiều của hai biến số này được thể hiện khá rõ. Kết quả thu được từ mô hình hồi quy ở bảng 4.11 cũng tiếp tục cho thấy sự khác biệt giữa kỳ vọng lý thuyết và kết quả thực nghiệm khi hệ số của biến số RGDP mang giá trị âm (-2,835) và có tác động ngược chiều với biến động giá cổ phiếu tại mức ý nghĩa 1%, nghĩa là không chấp nhận giả thuyết 3 được đưa ra trước đó. Điều này có nghĩa khi tốc độ tăng trưởng GDP càng tăng thì sự biến động trong giá cổ phiếu sẽ càng thấp. Rõ ràng, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt hơn, nhu cầu chi tiêu tiêu dùng trong nền kinh tế sẽ càng cao hơn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ và nhờ đó, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp cũng sẽ gia tăng. Dưới góc độ của Chính phủ, ngân sách nhà nước với sự đóng góp lớn từ tăng trưởng từ nguồn thuế thu được của doanh nghiệp sẽ giúp cho Chính phủ có đầy đủ nguồn lực để đầu tư và mở rộng chi tiêu công. Khi sản lượng tiêu thụ tiếp tục gia tăng theo nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp sẽ có xu hướng mở rộng đầu tư nhằm khai thác tối đa lợi thế thị trường. Mối quan hệ này rõ ràng là sự thúc đẩy qua lại khi việc này lại quay ngược lại hỗ trợ cho nền kinh tế duy trì mức độ phát triển bền vững hơn nữa và kéo theo đó là sự phát triển của TTCK. TTCK duy trì ổn định, niềm tin của các NĐT về lợi nhuận thu được từ các cổ phiếu đang nắm giữ sẽ càng vững chắc, việc bán ra các cổ phiếu sẵn có để thu hồi vốn hoặc tìm kiếm các cơ hội đầu tư từ các cổ phiếu khác dường như ít xảy ra hơn và mức độ biến động trong giá cổ phiếu cũng kéo theo đó sẽ ít có thay đổi hơn.

Giả thuyết 4: có mối tương quan thuận chiều (+) giữa chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA) và biến động giá cổ phiếu (PV). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Biểu đồ 4.12 thể hiện sự thay đổi nghịch chiều giữa biến động giá cổ phiếu PV và chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones DJIA. Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones DJIA cũng cho thấy sự ảnh hưởng của nó đối với giá cổ phiếu trong mô hình hồi quy với hướng tác động âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, bác bỏ giả thuyết 4.

Biểu đồ 4.12. Tương quan giữa PV và DJIA

Nhiều nghiên cứu trước đó đã xem xét về sự ảnh hưởng mang tính quốc tế của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc đến các thị trường nhỏ hơn như các nghiên cứu của Liu và Pan (1997), Hamao và cộng sự (1990), Le và Kakinaka (2010), Đoan và Hiền (2011). Các nghiên cứu này hầu hết đều khẳng định tìm thấy mối quan hệ cùng chiều từ TTCK lớn đến TTCK nhỏ. Trái với kỳ vọng và các nghiên cứu trước đây, kết quả được trình bày tại bảng 4.11 lại ghi nhận chiều hướng ảnh hưởng ngược chiều nhưng mức độ tác động của DJIA đến biến động giá cổ phiếu PV là rất nhỏ do hệ số tác động chỉ đạt mức -0,0000143.

Giả thuyết 5: giữa biến động giá vàng (GOLD) và biến động giá cổ phiếu (PV) tồn tại mối tương quan nghịch chiều (-).

Biểu đồ 4.13 trình bày mối tương quan nghịch chiều giữa biến động giá cổ phiếu và biến động giá vàng GOLD. Kết quả hồi quy cho hệ số hồi quy âm (-0,146) và có ý nghĩa ở mức 1%, do vậy, chấp nhận giả thuyết 5.

Biểu đồ 4.13. Tương quan giữa PV và GOLD

Trên thực tế, thị trường vàng đóng một vai trò quan trọng đối với các NĐT, đặc biệt là trong những thời điểm nền kinh tế khó khăn, vàng luôn được lựa chọn và là nơi trú ẩn an toàn. Theo đó, khi tâm lý nhà đầu tư lo sợ về sự thiếu ổn định nền kinh tế, tình trạng thất nghiệp và lạm phát gia tăng quá, sự không chắc chắn về mức lợi nhuận kỳ vọng có thể khiến các nhà đầu tư thay vì bị hấp dẫn bởi các tài sản rủi ro như cổ phiếu thì sẽ có xu hướng tập trung vào các tài sản có tính ổn định hơn, kéo theo đó là những tác động tiêu cực lên thị trường chứng khoán nói chung và giá cổ phiếu nói riêng. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây như Samontaray và Alanuzi (2015) hay Trương Đông Lộc (2014) và cùng kỳ vòng vớ nghiên cứu.

Giả thuyết 6: có mối quan hệ tương quan thuận chiều (+) giữa lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) và biến động giá cổ phiếu (PV).

Biểu đồ 4.14. Tương quan giữa PV và EPS

Bảng 4.11 cho thấy lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu EPS có ý nghĩa tác động đến biến động giá cổ phiếu đối với các doanh nghiệp được lựa chọn xem xét. Hệ số của lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu EPS ghi nhận giá trị âm và có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 1%, hay cũng có thể nói lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu có mối tương quan ngược chiều với biến động giá cổ phiếu, kết quả này cũng được thể hiện rõ thông qua biểu đồ 4.14, do vậy, bác bỏ giả thuyết 6. Lý giải cho vấn đề này, chỉ số EPS đại diện cho mức thu nhập của mỗi cổ đông đối với từng cổ phiếu riêng lẻ, khi EPS tăng đồng nghĩa với việc vốn của nhà đầu tư đang được sử dụng một cách có hiệu quả, rủi ro của các nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu có EPS cao sẽ thấp hơn so với các cổ phiếu có EPS thấp, từ đó kéo theo khoảng chênh lệch trong giá trị thị trường của các cổ phiếu này cũng sẽ ít đi và ngược lại Kết quả này giống với quan điểm mà Somoye và cộng sự (2009) hay Rahgozar (2011) đã đưa ra khi đánh giá mối quan hệ tác động giữa EPS và biến động giá cổ phiếu.

Giả thuyết 7: tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS) có mối tương quan nghịch chiều (-) với biến động giá cổ phiếu (PV).

Biểu đồ 4.15. Tương quan giữa PV và DPS

Ngoại trừ giai đoạn 2013 – 2015, tỷ lệ chi trả cổ tức DPS thể hiện mối quan hệ ngược chiều với biến động giá cổ phiếu PV trong những năm nghiên cứu còn lại thông qua biểu đồ 4.15. Thêm vào đó, theo kết quả hồi tại bảng 4.11, hệ số hồi quy của DPS cũng có giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, nghĩa là, DPS sẽ tác động nghịch chiều đối với biến động giá cổ phiếu, do đó, chấp nhận giả thuyết 7. Tỷ lệ chi trả cổ tức thể hiện mức phân phối lợi nhuận cho cổ đông từ mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được. Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, với cùng tỷ lệ chi trả cổ tức thì mức thu nhập của các cổ đông sẽ gia tăng, do đó, nếu tỷ lệ chi trả cổ tức càng gia tăng thì cổ đông sẽ càng được hưởng lợi và ngược lại, khi doanh nghiệp gặp bất lợi, hiệu quả kinh doanh thấp, mức thu nhập của cổ đông cũng sẽ bị suy giảm. Do vậy, tỷ lệ chi cổ tức gia tăng sẽ cho thấy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao, hoạt động của doanh nghiệp đang tiến triển thuận lợi và theo đó, rủi ro nắm giữ cổ phiếu của các cổ đông cũng giảm đi, giá cổ phiếu cũng sẽ ít biến động hơn. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với kết luận được đưa ra trong các nghiên cứu của Ardekari và Younasi (2012) hay Hashemijoo và cộng sự (2012) và cùng kỳ vọng vớ bài nghiên cứu.

Giả thuyết 8: hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (P/E) có mối tương quan nghịch chiều (-) với biến động giá cổ phiếu (PV).

Biểu đồ 4.16. Tương quan giữa PV và P/E Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Biểu đồ 4.16 thể hiện mối tương quan ngược chiều giữa biến động giá cổ phiếu PV và hệ số giá trên thu nhập P/E. Hệ số hồi quy thu được tại bảng 4.11 mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, giả thuyết 8 được chấp nhận. P/E được tính toán bằng giá trị thị trường chia cho EPS của cổ phiếu. Chỉ số P/E ở mức cao, chứng tỏ thị trường đang định giá giá trị của cổ phiếu cao hơn so với mức lợi nhuận mà cổ phiếu đó có thể mang lại ở hiện tại, niềm tin của cổ đông đối với các cổ phiếu có P/E cao sẽ càng ổn định, kỳ vọng về tăng trưởng thu nhập của cổ phiếu trong tương lai sẽ cao hơn. Do đó, rủi ro của các nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu có P/E cao sẽ thấp hơn so với các cổ phiếu có P/E thấp, biến động giá cổ phiếu có P/E cao cũng sẽ ít hơn.

Giả thuyết 9: có mối quan hệ tương quan nghịch chiều (-) giữa quy mô doanh nghiệp (SIZE) và biến động giá cổ phiếu (PV).

Đối với quy mô doanh nghiệp SIZE, hệ số của biến SIZE có giá trị dương tại mức ý nghĩa 1%, quy mô doanh nghiệp càng lớn thì giá cổ phiếu sẽ càng tăng trưởng theo xu hướng tốt hơn, biến động giá cổ phiếu cũng vì vậy sẽ càng lớn. Nhiều quan điểm cho rằng, đầu tư vào cổ phiếu của các công ty lớn sẽ có độ rủi ro thấp hơn bởi kết quả kinh doanh của những doanh nghiệp có quy mô lớn thường ổn định hơn do họ có nhiều khả năng hơn trong việc đa dạng hóa danh mục đầu tư nên sẽ hạn chế được các rủi ro phi hệ thống. Hơn nữa, khả năng cạnh tranh cũng như tính minh bạch của thông tin cung cấp từ các doanh nghiệp này khiến cho cổ phiếu của họ thường sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn, cũng chính vì vậy mà giá cổ phiếu của họ thường sẽ tăng trưởng tốt hơn so với những doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Biểu đồ 4.17. Tương quan giữa PV và SIZE

Nhìn một cách tổng quan, khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, NĐT yên tâm đầu tư vào cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết không chỉ để kiếm lời ngắn hạn mà còn được xem là nơi lưu giữ tài sản trong trung và dài hạn. Kết quả thu được từ bài nghiên cứu đã chứng minh TTCK cũng là một mẫu đại diện cho tổng thể nền kinh tế. Tuy nhiên, khả năng đại diện của thị trường chứng khoán sẽ phụ thuộc vào sự phát triển cũng như cơ cấu của các nhà đầu tư tham gia vào thị trường tại mỗ quốc gia cụ thể.

Trong nghiên cứu của tác giả, đã tồn tại 6 biến: INF, INT, RGPD, DJIA, EPS, SIZE có kết quả nghiên cứu khác với dấu kỳ vọng, điều đó có thể do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan như sau:

Các nghiên cứu được xây dựng bằng những phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu cũng như phạm vi nghiên cứu khác nhau nên dẫn đến những kết quả có thể khác nhau.

Một số biến trong những nghiên cứu trước đây có những kết quả đối lập ví dụ như EPS. Các nghiên cứu được khảo lược như Al-Tamimi và cộng sự (2011); Manoppo (2016) Pudji ( 2017)… chỉ ra mối quan hệ tác động tích cực và đáng kể giữa EPS và cổ phiếu. Tuy nhiên, nghiên cứu của Islam và cộng sự (2014), Gursida (2017) chỉ ra rằng giá cổ phiếu không tăng mặc dù EPS đang tăng hoặc EPS không có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Tác giả đã lựa chọn và xây dựng giả thuyết cần kiểm định cho biến cần nghiên cứu. – Tác giả còn có nhiều hạn chế trong việc thu thập kiến thức trong quá trình xây dựng giả thuyết dẫn đến việc các giả thuyết xây dựng chưa tốt, tuy nhiên trong quá trình kiểm định với thực tế thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả đã đưa ra được những kết quả nghiên cứu phù hợp đồng thời rút được kinh nghiệm cho bản thân.

Tóm tắt cương 4 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Trong chương 4, từ những dữ liệu thu thập của 551 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2010- 2021 với tổng số 6,612 quan sát tác giả đã tiến hành xử lý Outliers dữ liệu trước khi thực hiện phân tích để giảm thiểu tác động của các nhóm dữ liệu này đến độ chính xác của các mô hình hồi quy. Thông qua việc kiểm định các mô hình hồi quy, tác giả đã lựa chọn mô hình phân tích phù hợp nhất là mô hình hồi quy bằng ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS). Từ kết quả của mô hình hồi quy, tác giả đã tiến hành phân tích kết quả từng biến nghiên cứu tác động nên biến động giả cổ phiếu (PV).

CHƯƠNG 5 : GỢI Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

5.1. Kết Luận

Dựa trên cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố tác động nên biến động giá cổ phiếu cũng như các thực nghiệm trong và ngoài nước, đặt vào điều kiện số liệu và bối cảnh TTCK Việt Nam, bài nghiên cứu đã lựa chọn ra các nhân tố bao gồm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp như: lạm phát, lãi suất tiết kiệm, tổng sản phẩm quốc nội, TTCK Mỹ, giá vàng và các nhân tố bên trong doanh nghiệp: lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ chi trả cổ tức, hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu, quy mô doanh nghiệp. Trong bối cảnh TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2021 của 551 doanh nghiệp với tổng 6,612 quan sát bằng phương pháp định lượng, áp dụng các kiểm định mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và sử dụng ước lượng GLS để khắc phục hiện tượng sai số nhiễu tự tương quan và phương sai thay đổi trong mô hình.

Kết quả cho thấy :

  • Lạm phát có mối tương quan cùng chiều với biến động giá cổ phiếu. – Lãi suất tiết kiệm có mối tương quan cùng chiều với biến động giá cổ phiếu.
  • Chỉ số tổng sản phẩm quốc nội có mối tương quan ngược chiều so với biến động giá cổ phiếu.
  • TTCK Mĩ, với đại diện là chỉ số công nghiệp DJIA có mối tương quan ngược chiều với biến động giá cổ phiếu.
  • Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu có mối tương quan ngược chiều với biến động giá cổ phiếu.
  • Tỷ lệ chi trả cổ tức có mối tương quan ngược chiều với biến động giá cổ phiếu.
  • Hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu có mối tương quan ngược chiều với biến động giá cổ phiếu.
  • Quy mô của doanh nghiệp có mối tương quan cùng chiều với biến động giá cổ phiếu.

Các kết quả tìm thấy trong đề tài này cũng đã được ủng hộ bởi nhiều nghiên cứu trước đó.

5.2. Gợi ý chính sách Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Từ những nội dung được trình bày trình bày thảo luận nghiên cứu, tác giả muốn đưa ra một số những gợi ý về chính sách như sau:

  • Về chính sách vĩ mô và thị trường

Ổn định hơn nền kinh tế vĩ mô: xét trong nghiên cứu cho thấy, hầu hết các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, GDP hay yếu tố TTCK nước ngoài đều có tác động đến biến động giá cổ phiếu. Tính ổn định của thị trường chưa cao thể hiện qua việc vẫn còn bị tác động mạnh bởi những diễn biến tiêu cực cả trong và ngoài nước. Hiện nay, TTCK Việt Nam chỉ mới được tổ chức tính toán chỉ số chứng khoán toàn cầu (FTSE) xem xét từ TTCK cận biên lên TTCK mới nổi. Do đó, hành động của cơ quan chức năng là cần phải điều tiết thị trường, đưa ra những chính sách, hoạch định nhằm đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế.

Mở rộng quy mô thị trường: quy mô TTCK Việt Nam ngày càng được mở rộng qua các năm tuy nhiên so với các nước trong khu vực còn khá nhỏ và tính ổn định chưa cao. Mở rộng quy mô thị trường giúp thị trường có sức hấp dẫn hơn đối với nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

  • Đối với doanh nghiệp niêm yết

Giá cổ phiếu của doanh nghiệp vừa là công cụ phản ánh vị thế của doanh nghiệp trên thị trường tài chính, vừa có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn của doanh nghiệp. Để đạt được sự ổn định và tăng lên của biến động giá cổ phiếu trong trung và dài hạn đòi hỏi doanh nghiệp cần có những hoạch định chính sách phát triển dài hơi và ổn định. Dựa trên sự tác động của các biến nội tại của doanh nghiệp tác động đến biến động giá cổ phiếu ở mô hình hồi quy, tác giả kiến nghị trong dài hạn cần đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu và quy mô của doanh nghiệp.

Sự tăng trưởng EPS cần tài trợ dựa trên sự tăng trưởng của lợi nhuận, sự tăng trưởng của quy mô cần duy trì một cơ cấu nợ và vốn chủ sở hữu hợp lý nhằm hạn chế nhất sự pha loãng của vốn chủ sở hữu cổ đông, song song với việc đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Từ những chính sách đó, tạo đà tâm lý cho NĐT gắn bó lâu dài với cổ phiếu, mang lại sự tăng trưởng ổn định của cổ phiếu trên thị trường.

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu cho các nghiên cứu sau Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

Vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, đề tài nghiên cứu này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như:

  • Đánh giá biến động của nghiên cứu còn nhiều nhân tố cũ cần xây dựng thêm nhiều nhân tố mới, đề tài chỉ xây dựng dựa trên những nhân tố có những số liệu đo lường được bằng yếu tố định lượng, hạn chế những yếu tố định tính ví dụ như tâm lý NĐT cũng sẽ tác động đến biến động giá cổ phiếu.
  • Do hạn chế về mặt ngoại ngữ, kiến thức nên tác giả chưa có thể lựa chọn được nhiều hơn những nghiên cứu nước ngoài đưa vào phần khảo lược các nghiên cứu trước đây của đề tài.
  • Dữ liệu khó có thể thu thập được toàn bộ của toàn thị trường do việc gián đoạn dữ liệu của các doanh nghiệp chuyển đổi sàn HOSE sang HNX và ngược lại hay các doanh nghiệp bị tạm ngưng niêm yết.

Từ những hạn chế và tồn đọng trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất hướng nghiên cứu sau này như sau:

  • Nâng cao kiến thức bản thân, xây dựng một cơ sở dữ liệu lớn và cân bằng lựa chọn thêm những biến mới cả định tính lẫn định lượng nhằm xây dựng mô hình chắc chắn cũng như tìm kiếm nhiều bằng chứng khoa học phù hợp với TTCK Việt Nam.

Sử dụng thêm các phương pháp hồi quy khác để có thể đánh giá được toàn bộ những cổ phiếu đã- đang niêm yết trên TTCK Việt Nam để đưa ra những đánh giá chắc chắn hơn. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến biến động giá cổ phiếu […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537