Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tiêu đề: Giải pháp xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).
Nội dung: Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) ra đời trong bối cảnh nợ xấu cao và rủi ro trong hoạt động của các TCTD. Vì vậy, bên cạnh những kết quả tích cực mà VAMC đạt được qua việc giảm tổn thất tín dụng của toàn ngành ngân hàng xuống dưới 3%, cần có những giải pháp tháo gỡ những tồn tại, khó khăn để hoạt động hiệu quả hơn. giải pháp Qua đó có cái nhìn tổng thể về nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam và phân tích, đánh giá những kết quả tích cực mà VAMC đã đạt được, nghiên cứu các văn bản pháp luật liên quan đến cơ cấu lại nợ, thực trạng nợ xấu và việc thực hiện xử lý nợ xấu, giải pháp trả nợ cho Tham khảo các mô hình xử lý tổn thất tín dụng của một số nước trên thế giới để tìm ra những ý kiến phù hợp áp dụng vào tình hình thực tế của Việt Nam. Luận văn được tác giả hệ thống khái niệm về tổn thất tín dụng, nguyên nhân gây ra tổn thất tín dụng trong hệ thống các tổ chức tín dụng, phân tích, đánh giá phương thức xử lý tổn thất tín dụng của VAMC thông qua hoạt động mua, bán nợ, quản lý và xử lý nợ thông qua đấu giá hoặc cơ cấu lại nợ. Từ đó cho thấy những khó khăn, thách thức của quá trình áp dụng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra vị trí hoạt động và hiệu quả của VAMC trong việc xử lý nợ xấu nhằm đưa tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng xuống mức thấp nhất trong năm 2021. Như vậy, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã từng bước thay đổi, nhìn nhận thành tựu. VAMC đã giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, cải thiện nền kinh tế và khuyến khích tăng trưởng cho vay. Luận án bao gồm một số đóng góp nhằm tháo gỡ những khó khăn, thách thức còn tồn tại, đề xuất các sáng kiến nhằm nâng cao hiệu quả xử lý rủi ro tín dụng, đồng thời tiếp tục thu thập ý kiến đóng góp của các bên liên quan để đưa ra các khuyến nghị với các cơ quan chức năng nhằm nâng cao hiệu quả xử lý rủi ro tín dụng tại VAMC.
Từ khóa: nợ xấu, xử lý nợ xấu, giải pháp, công ty quản lý tài sản, VAMC
2. Phần Tiếng Anh Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Title: Solution to deal with bad debt at Asset Management Company of Vietnam Credit Institutions (VAMC).
Abstract: Vietnam Asset Management Company of Credit Institutions (VAMC) was born in the context of high bad debt, and there is a risk of threatening the operation of credit Therefore, in addition to the positive results VAMC has achieved to bring the bad debt of the entire banking industry to less than 3%, it is necessary to have solutions to overcome shortcomings and difficulties to improve operational efficiency. Bad debt settlement. Thereby, there is a general overview of the bad debt of the banking system in Vietnam and analysis and evaluation of the positive results achieved by VAMC, study of legal documents on debt settlement. bad debt and the actual situation of applying VAMC’s bad debt settlement solutions. Refer to the bad debt settlement model of some countries in the world to find out suitable ideas that can be applied to the actual situation in Vietnam. The thesis is the author’s conceptual system of bad debt, the cause of bad debt of the system of credit institutions, analysis and evaluation of VAMC’s bad debt handling method through activities. debt purchase, debt management and settlement by auction or debt restructuring. From there, points out the difficulties and challenges in the implementation process. The research results have shown the operational status and effectiveness of VAMC in dealing with bad debts in bringing the bad debt ratio of the whole banking industry to the lowest level in 2021. Thereby, the Asset Management Company of Vietnam Vietnam’s credit institutions have gradually transformed, recognizing the achievements that have been and are being achieved. The thesis makes a number of contributions to remove existing difficulties and challenges, proposes measures to improve the efficiency of bad debt handling, and continues to collect recommendations from stakeholders to make recommendations to the authorities to improve the efficiency of bad debt handling at VAMC.
Keywords: bad debt, bad debt settlement, solution, asset management company,
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện nay là xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, bởi nó làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Do vậy, xử lý nợ xấu là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Nhiều hội thảo đã tập trung bàn luận những vấn đề như: thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam; nguyên nhân gây ra nợ xấu; những biện pháp tháo gỡ, cơ chế xử lý nợ và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, những vấn đề như nguồn tài chính xử lý nợ, cách thức giải cứu của Chính phủ, có nên tìm một định chế mới để tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu cũng được đề cập tới. Thực tế, những bất cập trong phân loại nợ, vấn đề chuyển nợ, vấn đề đạo đức nghề nghiệp làm nảy sinh nợ xấu tại các ngân hàng khiến nợ xấu có mức cao như hiện nay. Dù nợ xấu ở mức nào thì hiện tại, đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, đến lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Vì vậy, để giải quyết các vấn đề về nợ xấu thì chỉ bản thân các ngân hàng thương mại cổ phần thôi là chưa đủ, Chúng ta đều biết, các ngân hàng đã có thời kỳ bùng nổ cho vay với điều kiện vay tương đối dễ dàng. Thậm chí để giúp khách hàng vay được nhiều hơn, nhiều nhân viên tín dụng sẵn sàng “hỗ trợ” nâng giá trị tài sản đảm bảo. Những khoản vay đó nay được xếp vào nợ xấu cùng với đó yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro kéo tụt lợi nhuận của các ngân hàng. Theo cơ chế thị trường, ai gây ra nợ xấu thì người đó phải chịu trách nhiệm. Do đó, trước hết, phải lấy tài sản của ngân hàng ra để xử lý nợ xấu. Ðây là điều khó khăn nhất với các ông chủ ngân hàng khi phải tự xử lý nợ xấu. Lãnh đạo các ngân hàng chịu sức ép lớn từ các cổ đông trong việc đảm bảo hiệu quả kinh doanh nên không có động lực xử lý nợ xấu. Nếu các ngân hàng phân loại, trích lập đầy đủ với nợ xấu, chấp nhận mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn bị ảnh hưởng thì dù tỷ lệ nợ xấu 8,82% tổng dư nợ thì hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều.
Trong bối cảnh cụ thể như suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009 hay đại dịch Covid-19 (năm 2022 tới nay) đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, khiến tổn thất tín dụng tăng mạnh mà bản thân các tổ chức tín dụng cũng không thể xử lý được, để thực hiện theo quy định hiện hành, họ phải có chính sách và cơ chế cụ thể của chính phủ để giải quyết. Sự thành lập của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam với sứ mệnh của công ty Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam là thúc đẩy xử lý nhanh các khoản lỗ tín dụng, hệ thống tài chính ổn định và bền vững, giảm thiểu rủi ro của các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong nền kinh tế, quản lý tài chính của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã ra đời. Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam là công ty chuyên trách về xử lý tổn thất tín dụng và giúp các tổ chức tín dụng quản lý tổn thất tín dụng thông qua cơ chế phân bổ chi phí quản lý. Các tổ chức tín dụng, đảm bảo nguyên tắc không sử dụng ngân sách nhà nước trực tiếp để trả nợ xấu, thất thoát tín dụng trong hệ thống các tổ chức tín dụng. Kể từ khi thành lập đến nay, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam đã triển khai tích cực, đồng bộ nhiều giải pháp xử lý thất thoát tín dụng nhanh chóng, dứt điểm, hiệu quả, từng bước củng cố vai trò quan trọng của mình. Rõ ràng là để giải quyết được các vấn đề nợ xấu thì phải xác định được các phương thức và biện pháp giải quyết các tổn thất tín dụng, tác động tích cực đến toàn bộ nền kinh tế nên việc đưa ra giải pháp để giải quyết vấn đề nợ xấu là rất cần thiết hiện nay.
Do đó, để kịp thời và nhanh chóng triển khai trong việc xử lý nợ xấu, đồng thời tìm ra giải pháp để xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và có những kiến nghị đối với Chính phủ trong giai đoạn có nhiều biến động trong nền kinh tế tác giả quyết định thực hiện đề tài: “Giải pháp xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)”
2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), từ đó đưa ra các kiến nghị đối với các tổ chức tín dụng và Ngân hàng nhà nước.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, phân tích, đánh giá và nghiên cứu những vấn đề cơ bản về xử lý nợ tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Thứ hai, phân tích tình hình nợ xấu và thực trạng công tác xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, xác định những mặt đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong công tác xử lý nợ xấu, từ đó tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam.
Thứ ba, phân tích hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Thứ tư, tìm hiểu định hướng trong công tác quản lý rủi ro và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị để cải thiện và nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, Những vấn đề cơ bản về xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam là gì?
Thứ hai, thực trạng nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam như thế nào? Những biện pháp xử lý nợ xấu nào đang được áp dụng? Và những hạn chế nào trong công tác xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay? Thực trạng việc xử lý nợ xấu đang diễn ra như thế nào?
Thứ ba, Làm rõ các hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế ảnh hưởng đến xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam là gì? Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Thứ tư, Đưa ra các giải pháp nào để xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam là gì?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, đối tượng nghiên cứu: Với mục đích nghiên cứu là đề xuất các giải pháp xử lý nợ xấu tại VAMC. Đối tượng nghiên cứu chính là xử lý nợ xấu tại VAMC.
Thứ hai, phạm vi nghiên cứu, bao gồm:
Một là, về nội dung: Nợ xấu, xử lý nợ xấu tại VAMC
Hai là, về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về xử lý nợ xấu tại VAMC
Ba là, về thời gian: Thu thập, phân tích thực trạng xử lý nợ xấu tại VAMC giai đoạn 2015 – 2023 và đề xuất các giải pháp xử lý nợ xấu phù hợp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính: phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, mô tả và phương pháp so sánh số liệu, cụ thể từng phương pháp được sử dụng như sau:
Phương pháp tổng hợp: Tìm hiểu, phân tích và tổng hợp các lý thuyết về nợ xấu, các tác động của nợ xấu, các biện pháp xử lý nợ xấu của VAMC và kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các nước trên thế giới để hình thành cơ sở lý thuyết cho đề tài. Những lý thuyết được tổng hợp trên cơ sở kế thừa lý luận từ các nghiên cứu khoa học đã thực hiện, trả lời các câu hỏi: “Nợ xấu tác động như thế nào? Các biện pháp xử lý nợ xấu của VAMC là gì? Từ kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới và VAMC rút ra được những bài học nào?”.
Phương pháp thống kê, mô tả: Thu thập các số liệu phù hợp cho việc phân tích xử lý nợ xấu của VAMC. Các số liệu được thống kê theo phương pháp thống kê toán học. Số liệu được thu thập từ báo cáo hàng năm của VAMC, sau đó được phân loại và thống kê thành các bảng số liệu, biểu đồ để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Các số liệu thống kê giúp tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về quy mô, cơ cấu và thực trạng xử lý nợ xấu tại VAMC giai đoạn từ năm 2015 – 2023.
Phương pháp so sánh số liệu: dựa trên các số liệu dư nợ xấu đã được thống kê từ báo hàng năm, tác giả có thể so sánh hoạt động xử lý nợ xấu qua các năm như thế nào, để từ đó đánh giá những mặt đạt được, những tồn tại trong công tác xử lý nợ xấu và tìm kiếm nguyên nhân của những hạn chế này để đề xuất giải pháp khắc phục hiệu quả, khả thi tại VAMC hiện nay.
6. Nội dung nghiên cứu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
- Thứ nhất, phân tích đánh giá và có cái nhìn tổng quan về tình hình nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam.
- Thứ hai, làm rõ thực trạng công tác xử lý nợ xấu tại VAMC và kinh nghiệm xử lý nợ của các nước.
- Thứ ba, đề ra các giải pháp thiết thực, phù hợp xử lý nợ xấu tại VAMC.
7. Đóng góp của đề tài
Thứ nhất, hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết và thực tiễn về nợ xấu, xử lý nợ xấu và hiệu quả xử lý nợ xấu. Làm rõ nội hàm về việc xử lý nợ xấu ở cấp độ vi mô và vĩ mô, cách đánh giá hiệu quả xử lý nợ xấu.
Thứ hai, hệ thống hóa cá vấn đề lý thuyết về mô hình cấu trúc hoạt động của công ty quản lý tài sản, cấu trúc quản trị; Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển. Tìm ra các ưu và nhược điểm của từng mô hình để rút ra bài học cho Việt Nam;
Thứ ba, đánh giá thực trạng xử lý nợ xấu của VAMC giai đoạn 2015-2023, những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả xử lý nợ xấu của VAMC
Thứ tư, đề xuất giải pháp xử lý nợ xấu phù hợp cho VAMC.
Thứ năm, nghiên cứu còn là bước đệm khuyến khích các nhà nghiên cứu khác quan tâm và từ đó có những giải pháp xử lý nợ xấu cho VAMC kịp thời và phù hợp cho từng thời điểm. Đây là vấn đề rất mang tính thời sự và cần được đào sâu nghiên cứu trên nhiều góc độ hiện nay.
8. Bố cục của luận văn
- Chương 1: Những vấn đề chung về xử lý nợ xấu và xử lý nợ tại các Công ty xử lý nợ xấu
- Chương 2: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp xử lý nợ xấu tại công ty Quản ly tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC CÔNG TY XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM
1.1. Tổng quan về nợ xấu
1.1.1. Khái niệm về nợ xấu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Nợ xấu là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới với các từ như “nợ xấu” (NPL), “nợ khó đòi” ám chỉ các khoản nợ xấu (Fofack, 2005) hoặc các khoản cho vay hoặc các khoản nợ xấu mà ngân hàng không thu được lợi nhuận (Ernst và Young, 2004), hoặc các khoản vay bắt đầu trở thành nợ xấu khi các khoản thanh toán gốc và lãi đã quá 90 ngày hoặc trễ hơn (Rose, 2004). Hiện tại, không có quy tắc hoặc tiêu chuẩn duy nhất khi nói về nợ xấu. Hiện chưa có sự thống nhất về khái niệm và tiêu chí đo lường nợ xấu. Sự khác biệt giữa các quốc gia và các tổ chức tài chính quốc tế chủ yếu liên quan đến việc phân loại nợ xấu.
Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) định nghĩa nợ xấu khi không đưa ra thời gian quá hạn chi trả khi một khoản nợ bị coi là xấu, mà coi đó là “một khoản nợ chậm trả và người cho vay nhận thấy rằng người vay không có khả năng hoàn trả đầy đủ khoản vay, mặc dù ngân hàng đã không thực hiện các bước để thu nợ”.
Theo định nghĩa của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) nợ xấu được căn cứ trên tiêu chí chủ yếu của BCBS, khẳng định “khoản nợ được coi là xấu nếu thời hạn thanh toán lãi và gốc chậm hơn 90 ngày” theo định nghĩa về nợ xấu của Basel II, hoặc nếu có cơ sở hợp lý để nghi ngờ về mức độ tin cậy của khoản vay thì được thanh toán đầy đủ. Theo định nghĩa về nợ xấu do Quỹ Tiền tệ Quốc tế đưa ra: “Một khoản vay được coi là nợ xấu nếu khoản vay đó không được trả gốc hoặc lãi từ 90 ngày trở lên; nếu tiền lãi chưa thanh toán trong 90 ngày trở lên được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trả chậm theo hợp đồng; nếu thời hạn trả nợ dưới 90 ngày nhưng có dấu hiệu rõ ràng cho thấy bên vay sẽ không trả được hết nợ (bên đi vay)”. Với quan điểm này, tổn thất tín dụng được tiếp cận dựa trên thời hạn trả nợ của khách hàng và khả năng trả nợ. Ở đây, khả năng trả nợ của khách hàng có thể là toàn bộ vốn và lãi hoặc một phần cả vốn và lãi.
Tại Việt Nam, khái niệm theo Khoản 8,Điều 3 của Thông tư 02 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu là: “Nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”.
Như vậy có thể hiểu rằng, nợ xấu là khoản vay mà khoản thanh toán và/hoặc tiền gốc đã quá hạn hơn 90 ngày và người trả nợ có khả năng không trả được nợ cho người cho vay. Nợ xấu là nợ phải trả, bao gồm nợ khó đòi, nợ và vốn có khả năng mất vốn.
1.1.2. Phân loại nợ xấu
Các nhóm nợ được phân loại theo Điều 10 và Điều 11 trong Thông tư 02 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài, theo đó:
(1) Phân loại nợ theo phương pháp định lượng
(i) Nợ nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;
+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;
+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra.
(ii) Nợ nhóm 4 – Nợ nghi ngờ, bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Khoản nợ quy định tại điểm (iv) theo quy định nợ nhóm 3 quá hạn từ 30 – 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được.
(iii)Nợ nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Khoản nợ quy định tại điểm (iv) theo quy định nợ nhóm 3 quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (vi) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vii) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản.
- Phân loại nợ theo phương pháp định tính
Theo đó, nợ cũng được phân thành 5 nhóm tương ứng như 5 nhóm nợ theo cách phân loại nợ theo phương pháp định lượng nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ, mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Các nhóm nợ bao gồm:
Nhóm 1 – Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.
Nhóm 2 – Nợ cần chú ý, bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.
Nhóm 4 – Nợ nghi ngờ, bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao.
Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết.
1.1.3. Hậu quả của nợ xấu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Nợ xấu là hậu quả của việc mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, bởi nợ xấu vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, dẫn đến việc trả nợ không đúng hạn và đầy đủ, gây sự đổ vỡ lòng tin. Khi tỷ lệ nợ xấu cao thì nó sẽ gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với nền kinh tế và chính bản thân của các tổ chức tín dụng.
Nợ xấu của các NHTM sẽ gây nên những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế, đến hệ thống tài chính ngân hàng và đến chính bản thân từng NHTM. Mặt khác, nợ xấu tạo ra gánh nặng về chi phí cho ngân hàng, làm suy giảm khả năng huy động vốn và cho vay đối với nền kinh tế, làm giảm lòng tin của dân chúng và uy tín quốc tế đối với ngân hàng và hệ thống ngân hàng.
- Thứ nhất, ảnh hưởng đối với các ngân hàng thương mại
Nợ xấu dẫn đến đóng băng vốn và có thể dẫn đến lỗ vốn hoặc chậm chí là mất vốn. Ngân hàng luôn quy định thời hạn của khoản nợ trong hợp đồng tín dụng, đây là thời gian chu kỳ tín dụng của NHTM. Do thất thoát tín dụng nên ngân hàng không thu được lãi đúng hạn, làm chậm quá trình luân chuyển tín dụng, làm chậm tốc độ luân chuyển vốn, giảm hiệu quả sử dụng vốn, thậm chí mất vốn. Nếu nợ xấu vượt quá khả năng bù đắp của ngân hàng dễ dẫn đến phá sản, khả năng thanh toán cũng suy yếu do nợ xấu, khi các ngân hàng không thu đủ và đúng hạn thì khó có đủ nguồn để chi trả cho người gửi tiền. Điều này khiến hoạt động ngân hàng không được đảm bảo khi người gửi tiền rút tiền. Các chi phí phát sinh từ nợ xấu rất cao: trả lãi tiền gửi (do không thu hồi được nợ), chi phí quản lý nợ xấu và các chi phí liên quan khác. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng, làm giảm uy tín của ngân hàng và ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh doanh khác.
- Thứ hai, ảnh hưởng đối với nền kinh tế
Nợ xấu tác động đến nền kinh tế chủ yếu thông qua mối quan hệ gián tiếp: Ngân hàng – Khách hàng – Tài chính kinh tế. Khi đó nền kinh tế bị tồn đọng một lượng tài sản lớn đóng băng không được khai thác. Việc các công ty không có khả năng trả nợ cho các ngân hàng làm suy yếu năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng và làm chậm tăng trưởng kinh tế, vì hầu hết nhu cầu kinh tế phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Nếu tỷ lệ tổn thất cho vay cao, các tổ chức tín dụng không thể công khai tình trạng tài chính của họ. Từ đó làm mất niềm tin của khách hàng, đối tác trong nước và quốc tế, khả năng quản lý thị trường tài chính tiền tệ yếu đi. Và chỉ khi các nợ xấu được giải quyết triệt để thì các tổ chức tín dụng của Việt Nam mới có thể hội nhập và hoạt động theo các tiêu chuẩn an ninh, kế toán, phát triển và cạnh tranh. Nợ xấu không phải ngân hàng nào cũng có, nó luôn tồn tại ở một mức độ nào đó. Nợ xấu ngân hàng ảnh hưởng đến chính bản thân của ngân hàng và nền kinh tế nói chung (như phá giá tiền tệ, mất ổn định kinh tế vĩ mô), do đó gây ra nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm cho hoạt động kinh doanh yếu kém; Ngân hàng trung ương tái cấp vốn gây thâm hụt ngân sách nhà nước. Điều này làm cho lạm phát cao và trên mức trung bình của thế giới; lạm phát gia tăng dẫn đến đồng nội tệ mất giá, ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế.
- Thứ ba, ảnh hưởng đối với khách hàng
Tình trạng nợ xấu của khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng, điều này ít nhiều làm giảm khả năng luân chuyển vốn của khách hàng. Khách hàng cần thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với ngân hàng trong hoạt động kinh doanh của mình, tuy nhiên việc nợ xấu xuất hiện làm mất uy tín của khách hàng là một trở ngại lớn khiến họ gặp nhiều khó khăn mà không phải ngân hàng nào cũng muốn duy trì lâu dài với mối quan hệ với một công ty có tỷ lệ nợ xấu cao. Khi xử lý các khoản nợ được cho phép, các NHTM sử dụng nhiều biện pháp để thu hồi nợ, có thể thực hiện các biện pháp như gia hạn nợ, cấp thêm tín dụng, giảm lãi suất… Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc sắp xếp lại bộ máy quản lý, đổi mới phương thức, cách thức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm… ngân hàng sự hồi phục và các điều khoản trả nợ.
1.2. Tổng quan về xử lý nợ xấu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
1.2.1. Khái niệm về xử lý nợ xấu
Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, biểu hiện rõ nhất của rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra nợ xấu. Hậu quả là nợ xấu có tác động tiêu cực đến hoạt động tín dụng và tài chính của ngân hàng. Vì vậy, việc xác định mức độ rủi ro mà ngân hàng chấp nhận để từ đó bắt đầu phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục tổn thất là biện pháp đúng đắn để thực hiện và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Xử lý nợ xấu của NHTM có thể được định nghĩa theo Ủy ban Basel: “Xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại là quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược, chính sách tiền tệ và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn liên quan đến tín dụng, quản lý tổn thất, hiệu quả, bền vững; có biện pháp chống thất thoát tín dụng và biện pháp xử lý nợ xấu mới phát sinh nhằm tăng thu nhập, hạ mức chi phí, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả ngắn hạn và dài hạn của các ngân hàng thương mại. Như vậy, xử lý nợ xấu là hoạt động của ngân hàng thương mại xử lý các nợ xấu phát sinh nhằm giảm thiểu thiệt hại do tổn thất tín dụng gây ra bằng các biện pháp phổ biến như đòi nợ; cơ cấu lại nợ; bán nợ; đóng băng tài sản người vay, thanh lý bảo lãnh; khoanh nợ, thu hồi nợ; yêu cầu người đồng trách nhiệm bồi thường; sử dụng quỹ tài sản tài chính hoặc xử lý dự phòng rủi ro tín dụng và các biện pháp tài chính rủi ro tín dụng khác.
1.2.2. Hình thức xử lý nợ xấu
Hiện nay, việc xử lý nợ xấu là việc quan trọng trong việc tái cấu trúc hoạt động của các NHTM. Hiện nay, các nước trên thế giới thường triển khai xử lý nợ xấu theo những hướng cơ bản như sau:
- Hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ thông qua ngân sách nhà nước
Xử lý nợ xấu qua kênh bơm vốn là một cách mà nhà nước trực tiếp hỗ trợ các ngân hàng và các TCTC khác trong việc ứng phó với khủng hoảng. Thiết lập cơ chế thỏa thuận giữa TCTD và người đi vay để xử lý món nợ xấu, chủ nợ (trong trường hợp này là tổ chức tín dụng) và người đi vay đàm phán các hình thức trả nợ như thanh lý tài sản, gia hạn hợp đồng, điều chỉnh một số thỏa thuận của hợp đồng.
- Thành lập Công ty quản lý tài sản (Asset Management Company – AMC) để xử lý nợ xấu bằng cách thu mua nợ xấu
Đối với hình thức phi tập trung (decentralized), đó là các khoản nợ xấu vẫn nằm trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Việc quản lý nợ xấu của ngân hàng do các đơn vị thành lập trong ngân hàng phụ trách. Phương pháp này dựa trên quan điểm rằng các ngân hàng có đủ thông tin về các công ty xấu hoặc yếu kém để có thể thúc đẩy việc tái cơ cấu các công ty này. Đồng thời, các ngân hàng cũng đang cố gắng thu hồi càng nhiều nợ xấu càng tốt. Các nước thành lập AMC theo hình thức tập trung là: Hàn Quốc, Cộng hòa Séc, Hoa Kỳ… Trung Quốc và Ba Lan là đại diện của các nước thực hiện hình thức phi tập trung. Hungary và Thái Lan là hai quốc gia sử dụng kết hợp cả hai hình thức này. (iii)Từng ngân hàng thành lập bộ phận xử lý nợ xấu chuyên nghiệp Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
- Xử lý tập trung bằng cách thành lập công ty quản lý tài sản
Nợ xấu tách khỏi bảng cân đối kế toán của ngân hàng và chuyển nó cho AMC hoặc Cơ quan quản lý thanh khoản ngân hàng, để các đơn vị này có thể chịu trách nhiệm thu hồi các khoản nợ xấu. Các công ty quản lý tài sản được thành lập theo hình thức này trong giai đoạn đầu hầu hết là của Nhà nước. Về lợi thế, các mô hình chính có thể thu thập một số lượng lớn nguồn tài chính và nguồn nhân lực chất lượng cao vào các đại lý, do đó cải thiện khả năng tối đa hóa giá trị của tài sản nợ xấu. AMC cũng tập trung vào chứng khoán tài sản thuận tiện hơn, loại bỏ các khoản nợ xấu tương đối và nhanh chóng. Ngoài ra, thực tế là chỉ có một cơ quan tập trung có được các quyền hợp pháp về thu hồi nợ và tổ chức lại các ngân hàng sẽ tránh được sự chồng chéo, do đó đạt đến mức độ thống nhất cao trong việc triển khai thu hồi nợ. Ngoài ra, nếu một mô hình tập trung không được quản lý và hiệu quả nghiêm ngặt, sự tồn tại của AMC sẽ khiến hệ thống tài chính suy yếu và giảm giá trị của tài sản.
Có hai loại tổ chức quản lý tài sản chính trong phương thức xử lý nợ xấu tập trung: Tổ chức thanh lý tài sản bao gồm tổ chức thanh lý tài sản nhanh và tổ chức tái cơ cấu dài hạn. Thành lập một cơ quan thanh lý để bán các tài sản lưu động như bất động sản, các khoản vay bất động sản thương mại, các khoản vay có bảo đảm, v.v. Những tài sản này là tài sản đã bán hoặc chứng khoán dễ chuyển đổi. Các hình thức bán tài sản nợ xấu chủ yếu là bán tài sản theo lô, bán tài sản riêng lẻ, bảo lãnh khoản vay, chứng khoán hóa tài sản.
Xử lý phi tập trung bằng cách từng cho nhánh thành lập bộ phận xử lý nợ xấu Các khoản nợ xấu vẫn còn trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng và được xử lý bằng cách thành lập các nhà quản lý tài sản tư nhân. Cách tiếp cận này dựa trên quan điểm rằng các ngân hàng có đầy đủ thông tin về các công ty hoạt động kém hiệu quả để tạo điều kiện tái cấu trúc các công ty này; đồng thời, các ngân hàng cũng có động lực cao nhất để tối đa hóa khả năng thu hồi nợ xấu.
1.2.3. Các phương pháp xử lý nợ xấu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
- Trì hoãn nợ
Đây được xem là là nhóm giải pháp xử lý nợ tạm thời, từ việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, khoanh nợ; chuyển giao nợ cho AMC của chính bản thân các ngân hàng có nợ xấu; bán nợ tạm thời (mua bán trong một thời hạn nhất định) cho pháp nhân, cá nhân khác; bán nợ không đứt đoạn cho công ty xử lý nợ; hay còn gọi là việc đảo nợ, giãn nợ, hoãn nợ, gom nợ, nhốt nợ, cô lập nợ, chế biến nợ, dừng thu nợ, bao vây nợ, phong tỏa nợ, đóng băng nợ. Nhóm giải pháp này chỉ đẩy lùi thời điểm nợ (trong hạn và quá hạn) bị biến thành nợ xấu, là xử lý nhưng không có khả năng thu hồi được nợ, không thay đổi số nợ (không làm tăng, giảm cả nợ gốc và nợ lãi, ngoại trừ trường hợp khoanh nợ đồng thời với việc dừng tính và thu lãi). Phương án bán nợ cho các AMC thành công chủ yếu thuộc về nhóm giải pháp này, thông qua việc hạch toán loại trừ một phần hoặc toàn bộ khoản nợ khỏi sổ sách kế toán.
- (2) Giảm trừ nợ
Đây cũng là nhóm giải pháp hạch toán loại trừ một phần hay toàn bộ khoản nợ khỏi sổ sách kế toán, thông qua việc miễn giảm nợ gốc, nợ lãi, phí, tiền phạt, sử dụng dự phòng tín dụng để giảm nợ gốc, hay còn gọi là giảm nợ, bớt nợ, miễn nợ, xóa nợ.
Nhóm giải pháp này cũng không thu hồi được nợ, mà chỉ là việc gạt bỏ nợ, đồng thời với việc tăng chi phí, giảm lãi, là nhận phần thiệt hại về phía ngân hàng. Trường hợp vẫn tiếp tục thu hồi được nợ sau đó, thì ngân hàng không hạch toán vào khoản thu nợ tín dụng, mà sẽ được tính vào khoản thu nhập khác.
- (3) Bù trừ nợ
Đó là tập hợp các giải pháp nhằm cân bằng nghĩa vụ trả nợ giữa các bên, trong đó có việc “lấy tài sản thế chấp để bù trừ việc thực hiện nghĩa vụ” để trả nợ hay còn gọi là xử lý nợ. giảm nợ, giảm nợ, bắt đầu thanh toán. Tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ có thể là tài sản bảo đảm tiền vay hoặc tài sản khác của bên vay hoặc của người khác. Một hình thức khác cũng có thể gọi là xử lý nợ, đó là chuyển nợ thành vốn đầu tư vào công ty con nợ. Nhóm giải pháp này không phải là thu nợ trực tiếp mà gián tiếp bằng cách xóa nợ tín dụng tương ứng với khoản nợ đã xử lý. Nếu sau đó ngân hàng bán một tài sản hoặc cổ phiếu được thanh toán như một khoản nợ hoặc thu lợi nhuận từ nó, nhưng nhận được số tiền nhỏ hơn khoản nợ đã thanh toán, thì đó được coi là một khoản lỗ cho ngân hàng, một khoản đầu tư không hiệu quả với sự đầu tư tài chính này.
- (4) Thu hồi nợ
Thu hồi nợ là nhóm giải pháp thu hồi số tiền đã cho vay, bao gồm:
- Thu tiền trả nợ của người vay hoặc thu tiền trả nợ từ người khác;
- Thu hồi nợ từ việc bán hẳn nợ (bán đứt đoạn, không mua lại);
- Thu hồi nợ từ tiền khai thác, sử dụng, cho thuê và phát mại tài sản bảo đảm;
- Thu hồi nợ thông qua việc thanh lý tài sản khi giải thể, phá sản doanh nghiệp.
Việc xử lý nợ theo các giải pháp thu hồi nợ này là xử lý nợ thật sự, triệt để, thu hồi được dứt điểm (toàn bộ hoặc một phần) nợ xấu.
1.3. Xử lý nợ xấu tại các Công ty Quản lý tài sản Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
1.3.1. Công ty Quản lý tài sản (AMC)
1.3.1.1. Khái niệm
Công ty quản lý tài sản (AMC là viết tắt của Asset Management Company), được dịch ra là Công ty Quản lý tài sản dành cho doanh nghiệp và nhà đầu tư (nhà đầu tư) trong tiếng Việt. Nhưng rộng hơn, AMC bao gồm nhiều Công ty quản lý tài sản khác nhau, cũng có thể là một ngân hàng, nhiều ngân hàng và đôi khi là cả một quốc gia, chẳng hạn như VAMC của Chính phủ Việt Nam. AMC là công ty chuyên sử dụng tài sản của khách hàng để đầu tư vào các kênh khác trên thị trường nhằm mang lại lợi nhuận cho khách hàng. Đối với các tổ chức tín dụng, cần thành lập công ty tài sản.
AMC là là công ty chuyên xử lý nợ xấu, với nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Có thể xem đây là một công ty có mục đích đặc biệt được thành lập dưới danh nghĩa công ty trách nhiệm hữu hạn và 100% sở hữu của nhà nước. Nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ vốn thành lập của công ty này và được kiểm soát, giám sát và kiểm soát bởi một ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
1.3.1.2. Các hình thức sở hữu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Thực tế tại Việt Nam có hai hình thức sở hữu là Công ty Quản lý tài sản do Nhà nước thành lập (VAMC) và Công ty Quản lý tài sản do tư nhân và các ngân hàng thành lập.
Công ty Quản lý tài sản Nhà nước do Nhà nước thành lập (Việt Nam Asset Management Company – VAMC) là công ty 100% vốn nhà nước hoặc nhà nước nắm giữ trên 50% vốn đăng ký hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Về bản chất, đây là mô hình hoạt động đặc quyền, do nhà nước chỉ đạo, tập trung vào xử lý nợ xấu, có thể xử lý nợ xấu nhanh chóng, hiệu quả, thu hồi vốn tồn đọng, thực hiện chứng khoán hóa nợ. Công ty là trung tâm của việc hình thành thị trường mua bán nợ. Mô hình này có tính chuyên môn hóa cao, đặc quyền xử lý nợ hiệu quả, giảm chi phí, thời gian xử lý ngắn, sử dụng hiệu quả công tác quản lý nợ, phù hợp với thị trường có quy mô nợ xấu lớn. Kết quả của các quy định và chính sách quốc gia vận hành hệ thống tài chính và tiền tệ quốc gia.
Công ty Quản lý tài sản tư nhân có thể hình thành theo các hình thức: Được tổ chức tín dụng thành lập với tư cách là công ty con chuyên xử lý và phát triển tài sản bảo đảm nợ xấu, ủy quyền quản lý và thu hồi nợ xấu, trước hết xử lý nợ xấu của chính tổ chức tín dụng. Hoặc thành lập một tổ chức tư nhân để mua và xử lý nợ xấu, tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu. Các mô hình này áp dụng cho các khoản nợ khó đòi quy mô nhỏ. Vì ngân hàng là đơn vị nắm rõ tình hình của khách hàng nhất và có đầy đủ giấy tờ liên quan nên ngân hàng là đơn vị phù hợp để xử lý nợ xấu hơn là công ty quản lý tài sản nhà nước. Trong một số trường hợp, để có thể hỗ trợ khách hàng thực hiện các biện pháp như tái cấp vốn, hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh, các ngân hàng thương mại có thể phát huy hết vai trò của mình. Hiện tại, dịch vụ hỗ trợ khách hàng nhiều hơn là các công ty quản lý tài sản nhà nước.
1.3.1.3. Chức năng nhiệm vụ
Nhiệm vụ hàng đầu của các công ty xử lý nợ là xử lý nợ xấu để việc quản lý tiền và tài sản không dừng lại trước sự vận động không ngừng của thị trường. Hiện nay, có 02 nhiệm vụ được xem là quan trọng của các công ty quản lý nợ
- Một là, mua nợ xấu, có 02 hình thức mua nợ, cụ thể:
Mua nợ theo hình thức trái phiếu đặc biệt (mua bằng giá trị sổ): Đây là hình thức thường được VAMC và các công ty quản lý tài sản quốc gia sử dụng để xử lý nợ xấu một cách tập trung nhất, nâng cao hiệu quả về mặt thời gian và áp dụng các giải pháp theo cơ chế đặc thù của công ty quản lý tài sản quốc gia. Việc mua nợ xấu trên bảng cân đối kế toán của tổ chức tín dụng bằng giá trị ghi sổ. Mục đích nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu trên bảng cân đối kế toán (BCTC) của các TCTD, giảm áp lực trích lập dự phòng, tăng trách nhiệm thu hồi nợ của các TCTD. Việc mua nợ dưới dạng trái phiếu đặc biệt này thực chất chỉ mang tính chất hỗ trợ các TCTD, chưa đi vào thực chất thu hồi nợ, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu của các TCTD ở mức chấp nhận được, nhanh chóng kéo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành về mức an toàn có thể sử dụng khi thị trường mua bán nợ xấu chưa hình thành và phát triển. Nhược điểm là thời gian xử lý nợ dài và phụ thuộc vào các tổ chức tín dụng. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Mua nợ theo giá trị thị trường: VAMC là đơn vị mua nợ bằng tiền thật của TCTD, được mua cả nợ nội bảng và nợ ngoại bảng, được định giá đúng theo GTTT của khoản nợ tại thời điểm thực hiện. Việc xác định giá trị khoản nợ được thực hiện thông qua một trung gian định giá có uy tín, hoạt động tốt dựa trên các giá trị được thị trường chấp nhận. Lợi thế khả thi của nợ nội bảng và nợ ngoại bảng, thể hiện tính minh bạch, khách quan trong quá trình thực hiện, đảm bảo quyền lợi của TCTD cũng như VAMC khi tham gia giao dịch. Mặt hạn chế là nó chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi có cơ sở hình thành thị trường mua bán nợ, định giá nợ, khung pháp lý rõ ràng về mua bán, xử lý nợ xấu.
Hai là, xử lý nợ xấu: Sau khi thực hiện việc mua nợ xấu, các AMC áp dụng các biện pháp để xử lý nợ xấu như theo dõi thu hồi nợ từ khách hàng, áp dụng biện pháp cơ cấu nợ, khởi kiện và đề nghị thi hành án, AMC còn thực hiện các biện pháp theo chức năng đặc thù như sau:
Bán TSBĐ: AMC sẽ quản lý và bán tài sản bảo đảm cho khoản nợ theo các điều khoản và điều kiện được quy định trong Hợp Đồng vay, các cam kết bằng văn bản của Bên vay và Bên cho vay cũng như các quy tắc, quy định và tài liệu khác của Tùy theo quy định, AMC thực hiện các phương thức bán tài sản bảo đảm khác nhau. Mua bán thương lượng, đấu giá, đấu giá công khai minh bạch. Tuy nhiên, đối với các đối tượng như dự án lớn thì quy trình khó khăn hơn so với các đối tượng nhỏ hơn do phải mất nhiều thời gian hơn để tìm được nhà đầu tư phù hợp.
Bán các khoản phải thu: AMC có thể bán lại các khoản phải thu cho người mua là pháp nhân/cá nhân. Việc bán các khoản phải thu cũng có thể dưới hình thức bán theo hợp đồng, bán công khai hoặc đấu giá. Việc bán khoản phải thu giúp AMC chuyển giao cho bên mua khoản phải thu toàn bộ các quyền liên quan đến nghĩa vụ của khách hàng được quy định tại hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp và hồ sơ vay của bên đi Điều này sẽ giúp AMC nhanh chóng thu hồi vốn và chủ động được kế hoạch kinh doanh. Việc bán nợ có thể được thực hiện riêng lẻ, theo nhóm khách hàng hoặc theo đợt nhằm đa dạng hóa các vấn đề liên quan đến xử lý nợ.
Chuyển nợ thành vốn góp: Giải pháp của AMC nhằm chuyển toàn bộ nợ của bên đi vay thành vốn góp, đưa AMC trở thành cổ đông của công ty có nợ khó đòi. AMC có quyền thực hiện tất cả các quyền của cổ đông theo quy định của pháp luật. Từ đó, được tham gia vào các hoạt động của công B. Tổ chức quản lý, điều hành và hoạt động có hiệu quả. Điểm thuận lợi là AMC được tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, kiểm soát và tác nghiệp của công ty nhằm tối ưu hóa hoạt động, nâng cao giá trị nợ mua và tăng cường khả năng thu hồi vốn. Hạn chế là AMC phải có nhân sự quen thuộc và có kinh nghiệm điều hành các mảng kinh doanh này. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
- Ủy quyền lại việc quản lý và thanh toán nợ cho Ngân hàng bán nợ hoặc tổ chức khác: Việc AMC ủy quyền lại cho ngân hàng bán nợ hoặc tổ chức khác thực hiện chức năng trả nợ và thu hồi nợ khi chưa được sự chấp thuận của AMC có thể xảy ra. Ưu điểm là có sẵn nhiều nguồn lực bên ngoài. Nhược điểm là AMC không theo dõi sát tình hình và thay đổi nhanh quy trình thu, quyết toán.
- Chứng khoán hóa nợ xấu: Với điều kiện thị trường mua bán nợ xấu phát triển, hành lang pháp lý đầy đủ. AMC có thể chấp thuận việc phát hành trái phiếu trong nước/ngoại
- Nhận tài sản thế chấp để đáp ứng nghĩa vụ của bên nợ: AMC cũng có thể nhận tài sản thế chấp để bù đắp nghĩa vụ trả nợ của mình, nhưng việc nhận tài sản thế chấp tùy thuộc vào mục đích, mục đích sử dụng và hoạt động của AMC (sử dụng trụ sở chính, thành lập, đầu tư, khai thác, cho thuê, v.v.).
Ngoài các nhiệm vụ chính được liệt kê ở trên, các AMC còn thay đổi tùy theo đặc điểm quốc gia, quy định pháp lý và mục tiêu của các cơ quan quản lý. AMC đảm nhận thêm nhiệm vụ tư vấn và hòa giải. Các khoản đầu tư, góp vốn; cơ cấu nợ; bảo lãnh khoản vay…
1.3.2. Phương thức xử lý tại các công ty xử lý nợ xấu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
1.3.2.1. Phương pháp bán nợ
- (1) Mua bằng trái phiếu đặc biệt là sản phẩm đặc thù của VAMC
Trái phiếu đặc biệt được định nghĩa Theo khoản 8 Điều 3 tại Thông tư 19/2015/TT- NHNN như sau: “Trái phiếu đặc biệt là giấy tờ có giá có thời hạn do Công ty Quản lý tài sản phát hành để mua nợ xấu của các TCTD”.
Đồng thời, tại khoản 1, điều 10 của thông tư này, mục đích và nguyên tắc của TPĐB: “Tổ chức phát hành trái phiếu đặc biệt là Công ty Quản lý tài sản, theo đó Công ty quản lý tài sản ủy quyền cho Sở giao dịch NHNN tổ chức phát hành trái phiếu khoản cho vay, TPĐB quy định tại Thông tư này. Công ty quản lý tài sản phát hành TPĐB để trả cho tổ chức tín dụng tiền bán nợ khi mua nợ xấu của tổ chức tín dụng. Việc phát hành trái phiếu và TPĐB để thanh toán cho các TCTD bán nợ được thực hiện riêng lẻ trên cơ sở nhu cầu thực tế và khả năng xảy ra kế hoạch mua nợ phát hành trái phiếu theo giá thị trường, phương án phát hành trái phiếu đặc biệt đã được Ngân hàng nhà nước chấp thuận trái phiếu hoặc TPĐB tương ứng với khoản mua hoặc bán tổn thất tín dụng được phát hành tại khoản 3 điều này. Trường hợp khoản các món nợ xấu được mua hoặc bán là khoản cấp tín dụng hợp vốn gia hạn, Công ty Quản lý tài sản phát hành trái phiếu hoặc khoản vay đặc biệt tương ứng cho từng tổ chức tín dụng tham gia khoản vay hợp vốn. Phát hành trái phiếu đặc biệt (TPĐB) để thu hồi nợ xấu từ các TCTD, giúp các TCTD giảm áp lực phải đưa ra các quy định pháp lý để xử lý nợ xấu trong điều kiện tài chính khó khăn, đẩy đầu tư tín dụng ra xa để khuyến khích tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh việc phát hành trái phiếu đặc biệt để thu hồi nợ xấu, VAMC phân loại các khoản nợ đã mua là giải pháp xử lý vào nhóm nợ xấu có thể chấp nhận được.
- (2) Đối với khoản nợ mua theo giá trị thị trường
Mua khoản nợ theo hợp đồng theo giá trị thị trường và các khoản nợ xấu sẽ được định giá lại. Khi các khoản nợ xấu được mua theo GTTT, các AMC định giá lại khoản nợ xấu dựa trên việc họ có thể thu hồi nợ gốc và TSBĐ của khoản nợ xấu hay không. Trường hợp cần thiết, AMC thuê tổ chức tư vấn thẩm định nợ xấu và TSBĐ.
Về việc giới hạn phạm vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá: AMC có thể thỏa thuận với TCTD để mua nợ xấu của tổ chức tín dụng GTTT của tổ chức tín dụng sao cho giá mua bằng với giá trị định giá của tổ chức định giá độc lập. Tuy nhiên, Bộ Tài chính hiện mới chỉ ban hành các tiêu chuẩn định giá tài sản, chưa có quy định cụ thể về tiêu chuẩn định giá khoản nợ dựa trên các tiêu chí do tổ chức định giá đưa ra. Đồng thời, giá trị thẩm định là cơ sở quan trọng để xác định giá bán khoản nợ xấu theo giá trị thị trường của AMC, tổ chức tín dụng.
Về phát triển thị trường mua bán nợ: Hoạt động mua bán rủi ro tín dụng diễn ra chủ yếu giữa các tổ chức tín dụng và bên mua khoản vay lớn nhất là AMC; sự vắng mặt của các công cụ phái sinh nợ và thị trường phái sinh; việc thẩm định giá khoản nợ đang được các tổ chức thẩm định giá áp dụng theo hệ thống tiêu chuẩn xếp hạng của Việt Nam (thường là trong thẩm định giá) nên đôi khi việc áp dụng của các tổ chức xếp hạng trong xếp hạng nợ là khác nhau dẫn đến khó khăn cho các bên trong việc lựa chọn giá tham chiếu. tiêu chí xác định giá ban đầu của giao dịch nợ.
1.3.2.2. Phương pháp xử lý tài sản bảo đảm Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Theo quy định hiện hành, có 3 phương thức xử lý TSBĐ bao gồm: bán TSBĐ, bên nhận bảo đảm nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm có nghĩa vụ nhận tiền hoặc tài sản khác của bên bảo lãnh từ bên thứ ba, nếu bên thế chấp có quyền đòi nợ đối với người thứ ba.
Đối với phương pháp bán TSBĐ, hiện nay đây là phương pháp được áp dụng nhiều nhất trong việc xử lý TSBĐ trong thực tế. Việc bán TSBĐ có thể được bán đấu giá hoặc bán riêng lẻ cho một hoặc nhiều người mua TSBĐ không trên cơ sở đấu giá. Phương pháp bán đấu giá chỉ áp dụng trong trường hợp bắt buộc theo quy định pháp luật hoặc khi các bên không có thỏa thuận hay không thỏa thuận được về phương thức xử lý tài sản. Do đó, có thể thỏa thuận việc bán riêng lẻ trong tất cả các trường hợp mà pháp luật không bắt buộc bán đấu giá.
Đối với phương pháp nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ Phương thức này có thể hiểu là bên nhận bảo đảm chuyển quyền sở hữu tài sản bảo đảm cho bên nhận tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ thay cho bên nhận bảo đảm. Sự khác biệt giữa việc bán tài sản thế chấp và thay thế tài sản thế chấp khi thực hiện nghĩa vụ liên quan đến bên chuyển nhượng tài sản thế chấp. Trong trường hợp bán tài sản chứng khoán, bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cũng có thể trở thành bên nhận tài sản chứng khoán. Ngược lại, nếu tài sản thế chấp do tự mình lấy được thay vì thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận tài sản là bên nhận bảo đảm.
Đối với phương pháp nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác liên quan đến quyền đòi nợ từ bên thứ ba
Có thể hiểu đây là việc chuyển nhượng quyền đòi nợ từ bên bảo đảm sang bên nhận bảo đảm và giá trị của quyền đòi nợ có thể bù trừ với giá trị của nghĩa vụ bảo đảm.
1.3.2.3. Phương pháp cơ cấu lại nợ
Các phương thức cơ cấu lại nợ là điều chỉnh điều kiện trả nợ; gia hạn nợ; miễn, giảm tiền phạt, phí, lãi đối với các khoản nợ quá hạn; điều chỉnh lãi suất nợ xấu. Cơ cấu lại nợ là biện pháp ngân hàng áp dụng khi khách hàng không có khả năng trả nợ theo thời hạn trả nợ đã thỏa thuận trước do sản xuất, kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn khi đến hạn trả nợ. Áp dụng biện pháp này đòi hỏi các ngân hàng phải đánh giá chính xác khả năng trở lại khả năng thanh toán sau tái cơ cấu. Trường hợp việc tái cơ cấu không cải thiện được khả năng thanh toán. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Cơ cấu lại nợ xấu phải tuân thủ quy định của pháp luật và quy định của hợp đồng tín dụng hoặc thỏa thuận cho vay, hợp đồng ủy thác tín dụng, hợp đồng mua, ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp, hợp đồng mua bán quyền chủ nợ. Công ty quản lý tài sản xem xét, quyết định và chịu trách nhiệm về việc cơ cấu lại khoản nợ xấu đã mua theo giá trị thị trường trên cơ sở đề nghị bằng văn bản của bên đi vay. Theo đề nghị bằng văn bản của bên đi vay, AMC thực hiện cơ cấu lại khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt theo quy định tại văn bản hợp nhất số 06/VBHN-NHNN.
Cơ cấu lại nợ được Thông tư số 19/2015/TT-NHNN định nghĩa là điều chỉnh kỳ hạn trả nợ; gia hạn nợ; miễn, giảm tiền phạt, phí, lãi đối với khoản vay quá hạn; điều chỉnh lãi suất nợ xấu. AMC xem xét cơ cấu lại nợ khi có yêu cầu bằng văn bản của khách hàng và khách hàng không đang trong quá trình giải thể, phá sản, hủy bỏ giấy phép kinh doanh.
1.3.2.4. Hoạt động đấu giá tài sản
Nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 04/3/2012 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản quy định quy trình bán đấu giá tài sản, cụ thể:
Thỏa thuận được giá khởi điểm bán đấu giá với Bên bảo đảm: trong trường hợp khách hàng hợp tác tự nguyện bàn giao tài sản/thu giữ tài sản bảo đảm mà khách hàng đồng thuận áp dụng giá khởi điểm bán đấu giá TSBĐ được ghi rõ trong biên bản bàn giao/Vi bằng được thừ phát lại, khi đó giá khởi điểm sẽ áp dụng như đã thỏa thuận.
Không thỏa thuận được giá khởi điểm với bên bảo đảm: trong trường hợp thu giữ TSBĐ thành, nhưng không thương lượng được giá khởi điểm bán đấu giá TSBĐ với Bên bảo đảm do không hợp tác: Trong vòng 07 ngày làm việc, tổ chức tín dụng sẽ thỏa thuận với Bên bảo đảm về việc lựa chọn đơn vị thẩm định giá. Trường hợp không thỏa thuận được với Bên bảo đảm. Tổ chức tín dụng sẽ thông báo công khai thuê doanh nghiệp thẩm định giá ít nhất 07 ngày làm việc trên cổng thông tin của Ngân hàng nhà Nước Việt Nam theo quy định hiện hành để xác định giá khởi điểm bán đấu giá. Để đảm bảo quyền lợi các bên, tránh khiếu kiện khiếu nại sau khi bán đấu giá TSBĐ thành đến việc sang tên chuyển nhượng của bên mua thì sau khi lựa chọn được đơn vị thẩm định để định giá TSBĐ xác định được giá khởi điểm bán đấu giá TSBĐ, Chi nhánh nên thông báo định giá TSBĐ, giá khởi điểm, phương án giá giảm các phiên… đến nơi cư trú/địa chỉ theo HĐTC cho Bên bảo đảm trước khi thực hiện (trường hợp bên bảo đảm né tránh không nhận thông báo nêu trên có thể thuê thừa phát lại).
Khi đó, Chi nhánh cần phối hợp với Ban Đấu giá tài sản để bàn giao hồ sơ, phối hợp cử đại diện tham gia Hội đồng Đấu giá/Tổ Đấu giá.
Khi TSBĐ được đấu giá thành, lập biên bản đấu giá thành, ký Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, theo dõi tiến độ thanh toán của bên trúng đấu giá, bàn giao hồ sơ tài sản. Hoạt động bán đấu giá tài sản của các công ty quản lý tài sản hiện nay được thực hiện minh bạch, rõ ràng. Việc thế chấp và xử lý tài sản thế chấp là yếu tố cốt lõi của quan hệ thế chấp trong toàn bộ quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng thế chấp, bảo vệ quyền lợi của chính ngân hàng trong quan hệ thế chấp. Đấu giá là một trong những phương thức xử lý tài sản bảo đảm tốt nhất mà công ty quản lý tài sản lựa chọn để xử lý tài sản bảo đảm nhằm thu hồi nợ, đây cũng là giai đoạn cuối cùng trong hoạt động của công ty quản lý tài sản và cũng là giai đoạn khó khăn nhất. Theo quy định, bán đấu giá tài sản bảo đảm là hình thức bán tài sản thông qua đấu thầu rộng rãi giữa nhiều người có quyền lợi, trong đó người có quyền sở hữu tài sản bán đấu giá cao nhất. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Trình tự thủ tục đấu giá tài sản bảo đảm:
1.3.2.5. Hoạt động thu giữ tài sản
Thu giữ tài sản bảo đảm là một trong những việc quan trọng trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Muốn phát mại hay nhận gán nợ bằng tài sản thế chấp, nhất là bất động sản, thì bên nhận thế chấp phải nắm giữ được tài sản.
Hiện nay, việc thu giữ tài sản do bên giữ tài sản bảo đảm thực hiện và phải giao tài sản cho bên xử lý tài sản theo thông báo đích thân; nếu quá thời hạn ghi trong thông báo mà bên bảo đảm không giao tài sản thì tài sản người định đoạt có quyền thu giữ tài sản xử lý tài sản thế chấp hoặc yêu cầu tòa án xử lý. Việc tịch thu tài sản thế chấp hầu như chỉ có thể thực hiện được nếu chủ sở hữu và người nắm giữ tài sản tự nguyện giao nộp hoặc không phản đối việc tịch thu tài sản của người nhận thế chấp. Nếu chủ sở hữu không tự nguyện hoặc không đồng ý thì về cơ bản bên nhận thế chấp không được thực hiện quyền thu giữ tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
1.3.3. Vai trò xử lý nợ xấu tại các công ty xử lý nợ xấu
Vai trò xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng hiện nay có 05 vai trò chính như sau:
Thứ nhất, kiểm soát nợ xấu, đây là mục tiêu cơ bản đầu tiên của công tác quản lý nợ xấu. Theo quy định của cơ quan quản lý và thông lệ quốc tế, nợ xấu và mức độ rủi ro phải được kiểm soát trong phạm vi cho phép. Mục tiêu này được thể hiện ở các chỉ tiêu định lượng như tỷ lệ nợ xấu mục tiêu, tốc độ tăng nợ xấu và tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu giảm…
Thứ hai, an toàn tổng thể hoạt động kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là an toàn hoạt động tín dụng là tiêu chí quan trọng nhất để xác định mục tiêu quản lý nợ xấu. Việc quản lý nợ xấu phải đảm bảo tuân thủ các quy định về hạn mức rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn và đảm bảo an toàn hoạt động (ví dụ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu); quy định nội bộ của ngân hàng. Thứ ba, đảm bảo khả năng sinh lời, trong khi kiểm soát nợ xấu và đảm bảo an toàn, hoạt động quản lý nợ xấu phải chú trọng đến khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng. Điều này không chỉ bao gồm vấn đề doanh thu, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng mà còn là hạn chế của chi phí quản lý nợ xấu.
Thứ tư, sạch bảng thống kê tài sản cho các NHTM, hoạt dộng xử lý nợ xấu tại ngân hàng, khi các khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh do nguyên nhân khách quan song có triển vọng phục hồi hoặc các doanh nghiệp tạm thời sa sút hoặc đối với khách hàng có nợ lớn nhưng vẫn có cơ hội phục hồi. Khi đó có thể giúp ngân hàng nhanh chóng xử lý khoản nợ xấu, làm sạch bảng cân đối kế toán.
Thứ năm, phát huy tính chuyên môn hóa trong xử lý nợ xấu, hoạt động xử lý nợ xấu hiện nay là cấp thiết và quan trọng trong ngành TCNH. Khi mà các TCTD luôn tiềm ẩn các rủi ro về các khoản nợ và khi xảy ra vấn đề nợ xấu vẫn chưa có nhiều sự linh hoạt và phương án xử lý kịp thời, do đó các công ty quản lý tài sản thành lập để xử lý nợ xấu và nâng cao chuyên môn trong công tác xử lý nợ xấu của các TCTD. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
1.3.4. Chỉ tiêu đánh giá xử lý nợ xấu tại các công ty xử lý nợ xấu
Để đánh giá công tác quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại được thực hiện dựa trên một số tiêu chí như:
Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ nợ xấu AMC đã mua từ các TCTD so với tổng dư nợ xấu của các TCTD.
Chỉ tiêu này phản ánh tổng khối lượng nợ xấu AMC đã mua so với tổng dư nợ xấu của các TCTD.
Công thức tính:
- Tỷ lệ nợ xấu AMC đã mua so với tổng nợ xấu = của các TCTD
- Tổng dư nợ xấu AMC đã mua (dư nợ gốc nội bảng) x 100% Tổng nợ xấu của các TCTD
Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ nợ xấu được xử lý thông qua bán nợ theo từng phương thức cho AMC so với tổng nợ xấu được xử lý của các TCTD
Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ phần trăm tổng dư nợ xấu các TCTD bán cho AMC theo từng phương thức trên tổng số nợ xấu của các TCTD đã được xử lý. Tỷ lệ này thể hiện sự đóng góp xử lý nợ xấu theo từng phương thức của AMC đối với kết quả xử lý nợ xấu của toàn ngành ngân hàng.
Công thức tính:
- Tỷ lệ nợ xấu được xử lý = thông qua bán nợ cho AMC
- Tổng dư nợ xấu AMC đã mua
- Dư nợ gốc nội bảng x 100%
Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ thu hồi nợ xấu của AMC so với tổng nợ xấu AMC mua về. Tỷ lệ này thể hiện AMC xử lý thu hồi được bao nhiêu so với tổng khối lượng nợ AMC mua về.
Công thức tính:
- Tỷ lệ thu hồi nợ = xấu của AMC
- Tổng giá trị thu hồi thực tế
- Tổng giá trị thị trường hoặc giá trị sổ sách đã mua x 100%
Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ dư nợ, khách hàng được cơ cấu nợ/tổng dư nợ xấu nội bảng, khách hàng AMC đã mua của TCTD.
Tỷ lệ này thể hiện bao nhiêu phần trăm nợ xấu AMC mua về đã được AMC cơ cấu nợ. Công thức tính:
- Tỷ lệ dư nợ được xử lý theo từng phương thức
- Mức nợ được xử lý theo từng phương thức =
- Tổng dư nợ gốc nội bảng mua nợ theo các phương thức của AMC x 100%
Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ dư nợ thu hồi từ xử lý TSBĐ/tổng dư nợ thu hồi.
Tỷ lệ này thể hiện trong tổng số nợ thu hồi được thì thu nợ thông qua xử lý TSBĐ chiếm tỷ lệ bao nhiêu.
Công thức tính: Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
- Tỷ lệ thu hồi nợ xấu từ xử lý TSBĐ
- Tổng dư nợ xấu AMC thu hồi thông qua xử lý TSBĐ =
- Tổng dư nợ xấu mua AMC đã thu hồi được × 100%
Tiêu chí 6: Tỷ suất lợi nhuận trên trên vốn Công thức tính:
- Giá trị thu hồi thực tế – Giá trị thực tế đã mua
- Tỷ lệ lãi ròng =
- Giá trị thực tế đã mua × 100%
Đây là hai tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ sinh lời của các AMC. Để tính toán chính xác tiêu chí này, thông thường các ngân hàng căn cứ vào lợi nhuận sau khi trích lập dự phòng rủi ro.
1.3.5. Các nhân tố ảnh hưởng xử lý nợ xấu tại các công ty xử lý nợ xấu Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
1.3.5.1. Nhóm các nhân tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên và xã hội
Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Các hiện tượng thiên nhiên bất thường như thiên tai, bão lũ, động đất, hỏa hoạn, dịch bệnh… có thể gây trở ngại rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, công ty. Ngoài ra, công tác quản lý nợ xấu của các ngân hàng còn bị ảnh hưởng một phần bởi các hiện tượng tự nhiên như thiên tai, bão lũ, hạn hán hoặc các điều kiện xã hội như phong tục tập quán, đặc điểm vùng miền, do một số khách hàng vay vốn hoạt động trong lĩnh vực chịu tác động trực tiếp của các hiện tượng nói trên. . . Nếu các hiện tượng này diễn ra theo chiều hướng bất lợi cho sản xuất kinh doanh của người vay, khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng yếu đi sẽ làm tăng nguy cơ gây nợ xấu, các biện pháp trả nợ của ngân hàng có thể không phát huy được hiệu quả.
- Thể chế chính trị và môi trường pháp lý
Mỗi quốc gia đều tồn tại và phát triển với một thể chế chính trị nhất định. Thể chế chính trị quyết định cách thức và tốc độ phát triển của một quốc gia. Kinh doanh trong một môi trường chính trị ổn định là điều kiện cần thiết cho sự thành công của các công ty. Khi môi trường chính trị không ổn định sẽ dẫn đến rủi ro chính trị khó lường và các trường hợp bất khả kháng khác phát sinh từ hệ quả của rủi ro chính trị. Thể chế chính trị là yếu tố quyết định trực tiếp đến môi trường pháp luật. Môi trường pháp lý lành mạnh, ổn định là một trong những nền tảng quan trọng nhất để doanh nghiệp yên tâm phát triển. Sự thiếu ổn định, trùng lặp và lỏng lẻo của các quy định, văn bản pháp luật là nguyên nhân dẫn đến rủi ro, đặc biệt là rủi ro liên quan đến chính sách thương mại, làm suy giảm niềm tin của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, những sơ hở, thiếu chặt chẽ trong các văn bản quy phạm pháp luật đã tạo điều kiện cho một số cá nhân, tập thể vụ lợi, trục lợi, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và thiệt hại cho toàn doanh nghiệp. Quản lý nợ xấu ngân hàng cũng không ngoại lệ. Một quốc gia có thể chế chính trị ổn định, hành lang pháp lý chặt chẽ, đầy đủ và minh bạch sẽ tạo nền tảng để các ngân hàng nâng cao khả năng quản lý rủi ro về nợ xấu.
- Môi trường kinh tế Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Môi trường kinh tế có thể ảnh hưởng, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến chiến lược, chính sách, mục tiêu kinh doanh cũng như khả năng tạo giá trị, thu nhập của doanh nghiệp. Hoạt động quản lý nợ xấu cũng chịu tác động mạnh mẽ của cả hai môi trường kinh tế vĩ mô và vi mô này. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, sự vận động vốn trong nền kinh tế được thông suốt, cung cầu hàng hóa có xu hướng vận động về thế cân bằng, các yếu tố vĩ mô đều ở chiều hướng có lợi cho các doanh nghiệp, kích thích sản xuất và tiêu dùng, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các khách hàng vay. Đây là điều kiện tốt giúp khách hàng vay hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng, giảm tỷ lệ nợ xấu. Đối với môi trường vi mô, khi cạnh tranh diễn ra quyết liệt, để khẳng định vị trí của mình trên thương trường, các ngân hàng đôi khi phải đưa ra lựa chọn để cân bằng lợi ích với rủi ro và chấp nhận hạ điều kiện tín dụng để tranh giành khách hàng, từ đó dẫn đến nguy cơ nợ xấu gia tăng trong danh mục tín dụng.
1.3.5.2. Nhóm các nhân tố chủ quan
- Chiến lược về quản lý nợ xấu
Đây cũng chính là nhân tố quyết định cách thức vận động của cả quá trình quản lý nợ xấu. Quan điểm này được thể hiện trên rất nhiều phương diện đặc biệt là mục tiêu quản lý nợ xấu và tuyên bố khẩu vị rủi ro của ngân hàng, nó cũng đồng thời được thể hiện trên các quyết định trong quá trình điều hành và quản lý các hoạt động kinh doanh. Theo Basel II: “Khẩu vị rủi ro là việc xác định ở mức độ tổng quan về mức độ rủi ro mà một tổ chức sẵn sàng chấp nhận sau khi xem xét các vấn đề tương quan rủi ro/lợi nhuận, khẩu vị rủi ro thường được áp dụng như một quan điểm hướng tới tương lai về chấp nhận rủi ro”. Đối với rủi ro tín dụng, mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thể hiện ở mối quan hệ giữa nợ xấu và kết quả kinh doanh kỳ vọng. Khẩu vị rủi ro tín dụng của ngân hàng quyết định trực tiếp đến hiệu quả công tác quản lý nợ xấu. Khi ngân hàng có khẩu vị rủi ro cao, đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ chấp nhận mạo hiểm, danh mục và mức độ rủi ro của nợ xấu ngân hàng sẽ tăng và ngược lại. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng phải đảm bảo tính đồng nhất, rõ ràng trong việc xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng và mô hình quản lý nợ xấu, đảm bảo tính khoa học, không chồng chéo trong thiết lập thẩm quyền phê duyệt, kiểm soát và báo cáo rủi ro tín dụng, báo cáo nợ xấu. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ thể hiện rõ tầm nhìn, chiến lược của ngân hàng đó đối với công tác quản lý rủi ro tín dụng và quản lý nợ xấu, do vậy phải thống nhất, phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng.
- Năng lực và chính sách tài chính đầu tư cho hoạt động quản lý nợ xấu
Đây là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nợ xấu. Chính sách tài chính đầu tư cho hoạt động quản lý nợ xấu thể hiện mức độ ưu tiên và tầm quan trọng của hoạt động quản lý nợ xấu trong mắt các nhà lý của ngan hàng. Với một chính sách tài chính đầu tư dồi dào, hệ thống công nghệ thông tin sẽ được nâng cấp và hoàn thiện theo hướng hiện đại hóa, tăng tính chính xác trong việc quản lý và phân tích thông tin, cảnh báo sớm rủi ro tín dụng, đo lường tổn thất các khoản nợ xấu theo các mô hình định lượng tiên tiến. Bên cạnh đó chính sách tài chính đầu tư cho hoạt động quản lý nợ xấu giúp ngân hàng có đủ kinh phí để thuê các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực quản lý nợ xấu về tư vấn và trực tiếp tham gia vào các hoạt động quản lý nợ xấu như xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản nội bộ về quản lý nợ xấu, xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý nợ xấu, đào tạo các cán bộ, nhân viên về quản lý nợ xấu… Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
- Văn hóa quản lý nợ xấu
Văn hóa quản lý rủi ro hay văn hóa rủi ro của ngân hàng được hiểu là tổng thể những giá trị, mục tiêu, chiến lược, niềm tin, thái độ đối với rủi ro, qua đó định hình cho mỗi nhân viên trong ngân hàng những quan điểm về sự đánh đổi sự rủi ro và lợi ích (RMA Enterprise Risk Council -2018). Như vậy có thể hiểu văn hóa rủi ro là ý chí chung của toàn thể cán bộ, nhân viên, là niềm tin và cách thức tiếp nhận, xử lý thông tin về rủi ro mà mọi nhân viên ngân hàng cùng công nhận và hành động như một thói quen. Văn hóa rủi ro của ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định sự thành công của công tác quản lý nợ xấu. Để quản lý nợ xấu đạt hiệu quả, việc chủ động và tích cực xây dựng khung quản trị rủi ro, hướng tới phù hợp và tuân thủ theo thông lệ quốc tế là chưa đủ, các ngân hàng còn cần xây dựng cho mình văn hóa quản lý rủi ro vững mạnh, có thể tạo ra giá trị nội tại lớn lao để nâng cao và cải thiện năng lực cạnh tranh.
Văn hóa quản lý nợ xấu được tiếp cận dưới các yếu tố cấu thành sau:
- Đào tạo quản lý nợ xấu cho cán bộ ngân hàng
Đào tạo liên quan đến việc cung cấp cho cán bộ đạt được các kỹ năng kiến thức cũng như phương thức để thực hiện các công việc mà cán bộ đảm trách. Trong nghiên cứu này, đào tạo quản lý nợ xấu là quá trình cung cấp cho nhân lực trong ngân hàng hiểu và nắm bắt được các kiến thức, kỹ năng và tư duy cần thiết trong quá trình quản lý nợ xấu.
- Phân cấp, phân quyền về quản lý nợ xấu
Để công tác quản lý nợ xấu đạt được kết quả tốt nhất, ngân hàng cần có chính sách phân cấp, phân quyền rõ ràng, tránh chồng chéo thẩm quyền, trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý nợ xấu.
- Truyền thông về quản lý nợ xấu
Truyền thông về quản lý nợ xấu bao gồm truyền thông nội bộ và truyền thông ra bên ngoài tổ chức. Công tác truyền thông cho phép ngân hàng phổ biến thông tin, kiến thức về quản lý nợ xấu đến mọi cá nhân, bộ phận trong ngân hàng nhằm nâng cao nhận thức của các cán bộ, đơn vị trong tổ chức về quản lý nợ xấu.
- Cách thức, biện pháp tổ chức thực hiện quản lý nợ xấu
Tổ chức thực hiện quản lý nợ xấu bao gồm bốn bước: Nhận diện, đo lường, kiểm soát và xử lý. Cách thức, biện pháp để tổ chức thực hiện các bước quản lý nợ xấu quyết định tính phù hợp, hiệu lực của công tác quản lý nợ xấu. Các biện pháp nhận diện, đánh giá, ngăn ngừa, xử lý nợ xấu cũng như cách thức sử dụng các biện pháp đó chính là cơ sở để công tác quản lý nợ xấu đạt được mục tiêu đã đề ra. Nếu các biện pháp quản lý nợ xấu và cách thức triển khai các các biện pháp đó không tốt có thể khiến công tác quản lý nợ xấu không đạt được mục tiêu đề ra.
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt trong công tác xử lý nợ xấu của ngân hàng cần phải có trình độ chuyên môn, am hiểu nghiệp vụ, kiến thức chuyên sâu, bên cạnh đó cần nắm vững các quy định của pháp luật, có sự nhạy bén trong việc nắm bắt tâm lý khách hàng nhằm đánh giá, phân tích hành vi của khách hàng. Số lượng lao động dồi dào, có chất lượng, được đào tạo bài bản là nền tảng tốt để ngân hàng nâng cao chất lượng công tác quản lý nợ xấu. Trong xu thế phát triển hiện nay, nguồn nhân lực của đất nước ngày càng tăng lên cả về chất lượng và số lượng.
- Nền tảng công nghệ
Nền tảng công nghệ có ảnh hưởng to lớn tới hiệu quả quản lý nợ xấu, đặc biệt là hệ thống công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý nợ xấu của ngân hàng, giúp cho công tác quản lý nợ xấu diễn ra nhanh, chính xác, tiết kiệm chi phí và đạt được hiệu quả cao. Việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ ngân hàng xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, phân tích định tính mức độ rủi ro từ các khoản nợ xấu, các mô hình ma trận, hàm số phức tạp được xử lý dễ dàng. Nhờ tiến bộ khoa học công nghệ mà chất lượng công tác quản lý nợ xấu của ngân hàng ngày một tăng.
1.4. Kinh nghiệm và bài học xử lý nợ xấu tại các nước Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
1.4.1. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại các nước
1.4.1.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Nguyên nhân phát sinh nợ khó đòi: Từ năm 1980 đến năm 1998, nền kinh tế phát triển quá nóng, đầu tư của doanh nghiệp phân tán, việc phân tích thu nhập và rủi ro chưa thấu đáo. Mức độ mà các ngân hàng Hàn Quốc vay ngoại tệ ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay nội tệ dài hạn hoặc tài trợ cho các khoản vay mới. Chính sự bất đối xứng về thời gian và tiền bạc đã làm suy yếu hệ thống ngân hàng. Tháng 3 năm 1998, tổng số nợ khó đòi của các tổ chức tài chính Hàn Quốc lên tới 118 nghìn tỷ won (chiếm 18% tổng dư nợ), chiếm 27% GDP, trong đó có 50 nghìn tỷ won là nợ quá hạn từ 3 đến 6 tháng, chiếm 42% tổng số nợ xấu, 68 nghìn tỷ won còn lại là các khoản nợ đã quá hạn trên 6 tháng và có nguy cơ vỡ nợ cao.
Hình 1. 1. Tỉ lệ nợ xấu ở Hàn Quốc (%)
Cách thức hoạt động: Mục tiêu chính của Tổng công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) là giải quyết các khoản nợ khó đòi càng nhanh càng tốt. KAMCO mua các tài sản xấu từ các NH và các TCTD. Sau đó, KAMCO xử lý các khoản nợ xấu này để góp phần cải thiện các sản phẩm của Hàn Quốc thông qua nguồn vốn được tài trợ bởi chính phủ trong chương trình tái cơ cấu khu vực tài chính. Ngoài ra, tài sản xấu còn được KAMCO xử lý thông qua một loạt các biện pháp cải tiến khác bao gồm cả phát hành các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản. Để có thể đánh giá đúng tình hình và đề ra các giải pháp hiệu quả, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc đã chấp nhận chuẩn mực thế giới và đưa các khoản nợ quá hạn trên ba tháng vào nhóm nợ xấu.
Hành làng pháp lý thấy rằng, hệ thống tư pháp của Hàn Quốc tương đối hiệu quả và trao quyền rõ ràng cho các chủ nợ khi thực thi các thủ tục thu hồi nợ khó đòi. Kinh phí hoạt động của KAMCO được tài trợ trực tiếp bởi chính phủ. Trái phiếu KAMCO chiếm hơn 90% tổng nguồn vốn của AMC, con số này tương đương khoảng 60% ở Trung Quốc và Malaysia. Trái phiếu KAMCO thường được phát hành trực tiếp cho các ngân hàng để đổi lấy các khoản nợ khó đòi của các ngân hàng. Ngoài ra, KAMCO đã vay khoảng 5% – 13% tổng số vốn cần thiết, chủ yếu từ các tổ chức thuộc sở hữu của chính phủ.
Quá trình tái cơ cấu ở Hàn Quốc không chỉ diễn ra đối với các ngân hàng yếu kém mà được tiến hành ở tất cả các tổ chức tài chính, ngân hàng với mục tiêu: (i) Tạo ra các ngân hàng lớn sau khi hợp nhất và sáp nhập có đủ năng lực tài chính để nâng cao hiệu quả kinh doanh và có khả năng cạnh tranh hiệu quả với các ngân hàng nước ngoài; (ii) Thu hẹp phạm vi hoạt động của các ngân hàng có quy mô vừa để tập trung phát triển các hoạt động kinh doanh chính; (iii) Duy trì các ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Cũng giống như Việt Nam, Hàn Quốc khuyến khích các ngân hàng xử lý nợ xấu bằng các biện pháp tự thân, mua bán trên thị trường mua bán nợ và bán nợ xấu cho KAMCO (tương tự như VAMC của Việt Nam). Để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các ngân hàng trong xử lý nợ xấu, Chính phủ Hàn Quốc thực thi nhiều biện pháp khuyến khích, hỗ trợ thị trường mua bán nợ phát triển và được cụ thể hóa bằng một hệ thống luật pháp đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, tạo sự chủ động, linh hoạt cho các chủ thể tham gia quá trình xử lý nợ xấu, đặc biệt là các quy định liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm. Trong đó, Chính phủ Hàn Quốc trao quyền rất lớn cho KAMCO trong việc xử lý nợ xấu thông qua một bộ luật riêng biệt về cải tổ chức năng và nhiệm vụ của KAMCO, nhờ đó, nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã được xử lý rất nhanh, dứt điểm, hạn chế tối đa tác động lan truyền trong hệ thống.
Bảng 1. 1. Thu hồi nợ xấu của KAMCO theo từng phương pháp xử lý năm 2001
Đơn vị: tỷ USD
|
Phương pháp |
Giá trị sổ sách | Giá mua lại | Thu hồi | Tỷ lệ thu hồi |
| Đấu giá quốc tế | 5,49 | 1,17 | 1,53 | 130,7% |
| Chứng khoán hóa khoản nợ (ABS) | 7,82 | 4,14 | 4,68 | 113,0% |
| Thành lập liên doanh (JV – AMC/CRC) | 4,32 | 0,99 | 1,53 | 154,5% |
| Tái cấu trúc doanh nghiệp | 31,12 | 7,01 | 13,31 | 189,7% |
| Khác | 51,61 | 21,94 | 22,21 | 101,2% |
| Tổng cộng | 100,36 | 35,25 | 43,26 | 122,7% |
(Nguồn: KAMCO)
1.4.1.2. Kinh nghiệm của Malaysia
Nguyên nhân phát sinh nợ khó đòi: Cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế các nước Đông Nam Á. Vào thời điểm đó, đồng ringgit mất giá tới 50% và niềm tin của người tiêu dùng giảm sút nghiêm trọng. Đối mặt với khủng hoảng kinh tế, chính phủ Malaysia buộc phải thành lập 3 cơ quan nhằm giảm nợ xấu, lành mạnh hóa hệ thống tài chính và khôi phục đà tăng trưởng: Danaharta (cơ quan xử lý nợ xấu), Danamodal (cơ quan tái cấp vốn) và ủy ban tái cơ cấu nợ doanh nghiệp (cơ quan chính người vay và chủ nợ của họ) trung gian) là một trong những kế hoạch ngắn hạn được xác định. Trong số đó Danahara là trung tâm của kế hoạch. Cáchthức hoạt động: Mua các khoản nợ khó đòi và nhanh chóng xử lý hoặc mua lại và để tự phục hồi. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Hình 1. 2. Tỉ lệ nợ xấu ở Malaysia (%)
Hành lang pháp lý: Một yếu tố rất quan trọng trong sự thành công của Danaharta là nó có sự hỗ trợ đặc biệt từ chính phủ Malaysia. Đạo luật Danaharta, được ban hành vào tháng 8 năm 1998, đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý rất cụ thể cho tổ chức. Dự luật cấp cho Danaharta các đặc quyền khác chưa từng có trong lịch sử ngành tài chính của đất nước, chẳng hạn như quyền mua lại tài sản của các tổ chức tài chính, bổ nhiệm lãnh đạo của các tổ chức có nợ xấu cao, quyền tịch thu tài sản thế chấp, v.v. Với những ưu tiên này, Danaharta có thể áp dụng cả cách tiếp cận mềm mỏng và cứng rắn khi xử lý các khoản nợ khó đòi. Thông thường, các phương pháp mềm như cơ cấu lại nợ và thỏa thuận cơ cấu lại nợ được ưa chuộng và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, Danaharta được phép sử dụng các đặc quyền do Đạo luật Danaharta cung cấp trong một số trường hợp nhất định mà bên vay không thể duy trì việc trả nợ. Vốn lưu động của Danaharta: Khi bắt đầu hoạt động, chính phủ Malaysia đã cấp cho Danaharta 3 tỷ Ringgit làm vốn, phần còn lại phải tự huy động. Theo ước tính sơ bộ, Danaharta cần tới 25 tỷ Ringgit để xử lý các khoản nợ khó đòi, chủ yếu bằng cách phát hành trái phiếu. Danaharta cũng trực tiếp phát hành trái phiếu cho các ngân hàng để đổi lấy các khoản nợ khó đòi. Loại trái phiếu được phát hành là trái phiếu không lãi suất, không trả lãi định kỳ nhưng vẫn có thể bị yêu cầu trả lãi khi đáo hạn. Đối với các ngân hàng, việc hoán đổi các khoản nợ xấu không tạo doanh thu bằng trái phiếu được chính phủ hậu thuẫn sẽ giúp bảng cân đối kế toán lành mạnh hơn và cải thiện các tỷ lệ an toàn tài chính.
Nợ xấu có thể mua được: Sau khi tỷ lệ nợ xấu tăng lên 11,4% vào tháng 8 năm 1998, nhiệm vụ của Danaharta là đưa tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 10%. Tuy nhiên, AMC này không thể xử lý hết các khoản nợ xấu tồn đọng nên Danaharta đã đặt mục tiêu chỉ mua các khoản nợ xấu vượt quá 5 triệu Ringgit để xử lý. Điều này tương đương với khoảng 2.000 đến 3.000 khoản nợ khó đòi, một con số có thể đạt được với khả năng hoạt động trong 5 năm của Danaharta..
Định giá nợ: Về mặt hình thức, Danaharta mua bán nợ với các định chế tài chính theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, Danaharta đã thiết lập một cơ chế định giá các khoản nợ một cách rõ ràng và minh bạch. Đối với các khoản phải thu có bảo đảm, giá mua được xác định theo giá trị hợp lý của chứng khoán. Danaharta chỉ chấp nhận các tài sản tài chính như cổ phiếu và bất động sản. Đối với nợ xấu được bảo đảm bằng bất động sản (BĐS), giá trị hợp lý của tài sản đảm bảo được tính bằng 95% giá trị thị trường của BĐS, do cơ quan thẩm định độc lập đánh giá và được Chính phủ chấp thuận. Đối với cổ phiếu niêm yết, giá trị hợp lý phụ thuộc vào số lượng nắm giữ. Nếu giá trị hợp lý của tài sản thế chấp bằng hoặc lớn hơn tiền gốc cộng với tiền lãi, Danaharta sẽ mua tiền gốc cộng với tiền lãi. Giá mua là giá trị hợp lý nếu giá trị hợp lý nhỏ hơn tổng nợ, gốc và lãi và lớn hơn hoặc bằng giá trị gốc. Tuy nhiên, nếu giá trị hợp lý thấp hơn tiền gốc, giá mua sẽ bằng tiền gốc, nhưng Danaharta sẽ chỉ ứng trước một số tiền bằng với giá trị hợp lý của tài sản thế chấp. Đối với khoản nợ không có bảo đảm, giá mua được ấn định bằng 10% trên dư nợ gốc. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Bảng 1. 2. Định giá khoản nợ
| STT | Trường hợp | Giá mua lại |
| 1 | Giá trị hợp lý của tài sản bảo đảm >= Nợ gốc + Nợ lãi | Nợ gốc + Nợ lãi |
| 2 | Giá trị hợp lý của tài sản bảo đảm < Nợ gốc | Nợ gốc nhưng chỉ trả trước bằng giá trị hợp lý của TSBĐ |
Bán và thanh lý nợ xấu: Danaharta ưu tiên mua bán nợ xấu dựa trên mức độ đánh giá của tổ chức tài chính trên cơ sở xếp hạng các tổ chức tài chính, hạng 01 là tổ chức tài chính với tỷ lệ nợ xấu cao và nhiều khả năng phải bán nợ và hạng 04 là tổ chức có ít khả năng bán nợ xấu nhất. Thông thường, Danaharta sẽ xác định giá và gửi đề nghị đến các ngân hàng hay công ty tài chính. Sau đó, các khoản nợ xấu này được mua và nằm dưới danh mục “Nợ mua lại”. Để xử lý các khoản nợ, Danaharta sẽ mua đứt và thanh lý nhanh hoặc mua nợ xấu rồi tiền hành quản lý nợ. Với những đặc điểm trên, Danaharta đã góp phần vào thành công của Chính phủ Malaysia trong việc xử lý nợ xấu, đưa tỷ lệ nợ xấu về ngưỡng an toàn.
1.4.1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu: Vào thời điểm mới áp dụng hệ thống kinh tế kế hoạch hóa, khi các ngân hàng thương mại nhà nước chỉ đóng vai trò là cơ quan hành chính và chịu trách nhiệm cấp vốn cho các doanh nghiệp và dự án, vốn nhà nước hoạt động kém hiệu quả thậm chí còn thua lỗ. quy trình phân tích tín dụng chặt chẽ nên rủi ro tín dụng là khó tránh khỏi. Để giải quyết tình hình nợ xấu, Trung Quốc đã thành lập Công ty quản lý tài sản nhà nước (AMC).
Hình 1. 3. Tỉ lệ nợ xấu ở Trung Quốc (%)
Cơ chế hoạt động: Từ năm 1999-2003 được đặc trưng bởi việc thành lập bốn công ty quản lý tài sản nhà nước (AMC), mỗi công ty phục vụ một trong bốn ngân hàng thương mại lớn của nhà nước, đó là Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC), Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (CCB), Ngân hàng Trung Quốc (BOC) và Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (ABC) – chiếm 70% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng) đã cam kết tổng cộng 1 khoản thanh toán trước năm 1996 nợ xấu 4 ngân hàng 400 tỷ nhân dân tệ (169 tỷ USD). % GDP của Trung Quốc năm 1999. Nợ xấu sẽ được chuyển trực tiếp từ bốn ngân hàng thương mại sang từng công ty trong số bốn AMC theo giá trị sổ sách. Trách nhiệm chính của bốn AMC này là: Quản lý tất cả các khoản nợ khó đòi thông qua hoạt động kinh doanh và quản trị nhằm tối đa hóa giá trị tài sản mua lại. Cấu trúc hoạt động của mô hình AMC của Trung Quốc được phân quyền để giải quyết vấn đề nợ xấu của các ngân hàng quốc doanh.
Hành lang pháp lý: Hành lang pháp lý là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự thành bại của các AMC trong việc đạt được mục tiêu xử lý nợ xấu của mình. Nếu không có hệ thống văn bản pháp lý hỗ trợ cho hoạt động của AMC, bản thân AMC sẽ phải đối mặt với những khó khăn mà các ngân hàng gặp phải trong việc thu hồi nợ xấu. Để giải quyết triệt để các khoản nợ xấu, các AMC của Trung Quốc đã được trao một số đặc quyền để biến các khoản nợ xấu thành một khoản đầu tư khả thi trong việc xử lý, mua lại và tái cơ cấu khoản vay (có thể tách ra hoặc gộp lại). Nguồn vốn của AMC được cung cấp bởi chính phủ, nhưng chỉ chiếm khoảng 3% số nợ xấu được chuyển giao. Chỉ một phần của nguồn vốn này là bằng tiền mặt, phần còn lại dưới dạng các tòa nhà, thiết bị và các tài sản khác thuộc sở hữu trước đây của ngân hàng. AMC có bốn nguồn tài trợ, bao gồm vốn chủ sở hữu từ Bộ Tài chính, các khoản vay đặc biệt từ Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, phát hành trái phiếu được Bộ Tài chính bảo lãnh và các khoản vay thương mại từ các cơ quan quản lý và các tổ chức tài chính khác. Trên thực tế, AMC đã phải vay tới 40% từ ngân hàng trung ương Trung Quốc để mua lại lượng nợ xấu khổng lồ này. AMC đã thực hiện một số hành động để chống nợ xấu, bao gồm thanh lý tài sản, bán tài sản trực tiếp cho các nhà đầu tư và chứng khoán hóa các khoản nợ xấu. Vì việc xử lý nợ xấu của Trung Quốc cũng liên quan đến việc tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước, AMC cũng đóng một vai trò trong việc tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước thông qua hoán đổi nợ và tái cơ cấu.
Bảng 1. 3. Hoạt động của 4 AMC lớn thuộc sở hữu nhà nước (1999-2006)
Đơn vị: 100 triệu Nhân dân tệ, % Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
| AMC | Lượng mua nợ xấu | Giải quyết | Tỉ lệ giải quyết | Thu hồi | Tỉ lệ thu hồi |
| Great Wall | 3.458 | 2.707,8 | 78,31 | 278,3 | 10,28 |
| Huarong | 4.077 | 2.468,0 | 60,53 | 546,6 | 22,15 |
| Orient | 2.674 | 1.419,9 | 53,10 | 328,1 | 23,11 |
| Cinda | 3.730 | 2.067,7 | 55,43 | 652,6 | 31,56 |
Nguồn: Báp cáo tháng số 616 của KDB, Kim Dae Hwan 2007
Hình 1. 4. Thị phần Big 4 AMC Trung Quốc tính đến ngày 19/4/2023
Nợ xấu được xem xét có thể mua: Chất lượng nợ xấu là yếu tố then chốt quyết định hành vi và hiệu quả xử lý của AMC. Ở Trung Quốc, hầu hết các khoản nợ xấu do AMC mua là nợ có TSBĐ, chiếm hơn 22%, nhưng chỉ có 7% tổng nợ xấu được bảo đảm bằng bất động sản (Xu, 2005), thấp hơn nhiều hơn so với tỷ lệ tại Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc (60%) nên khả năng thanh lý tài sản để thu hồi nợ của các nước này là rất thấp. Định giá khoản nợ: Phương pháp định giá của AMC khi mua nợ xấu từ ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc chuyển giao nợ xấu. Nói chung, có hai phương pháp định giá được các AMC trên thế giới sử dụng: giá trị sổ sách và giá trị phù hợp. Ở Trung Quốc, quy tắc mua các khoản nợ xấu theo giá trị sổ sách, mà giá trị thị trường khi đó được ước tính chỉ bằng 20% giá trị sổ sách, đã giúp các ngân hàng thương mại nhà nước lớn loại bỏ các khoản nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán của họ, tổn thất không thể tránh khỏi và mất đi động cơ để tối đa hóa khả năng phục hồi của nó. Những thiếu sót trong quy tắc này đã cho phép AMC mua lại các khoản nợ khó đòi theo giá trị thị trường vào năm 2004. Vào tháng 7 năm 2004, Cinda AMC đã mua lại 278,7 tỷ đô la nợ xấu với 50 cent cho 1 đô và cho biết khả năng có thể thu hồi là 33-34 cent vào cuối năm 2005. Bán và thanh lý khoản phải thu: Sau khi xác nhận việc mua và chuyển nhượng nợ xấu từ ngân hàng, nhiệm vụ còn lại của AMC là thu xếp việc bán khoản nợ xấu này bằng nhiều hình thức. Các biện pháp xử lý nợ xấu này được AMC lựa chọn tùy thuộc vào đặc điểm của từng danh mục nợ xấu, mục tiêu và trách nhiệm của AMC trong từng thời kỳ hoặc các yếu tố khác. AMC quản lý nợ bằng cách phát hành trái phiếu (khoảng 55% số nợ xấu). Phương thức xử lý nợ chủ yếu của AMC là thu hồi nợ và chuyển thành danh mục đầu tư, đưa ra đấu giá, chuyển thành cổ phiếu hoặc mang ra khỏi Trung Quốc thông qua quan hệ đối tác hoặc liên doanh với các công ty chứng khoán nước ngoài hoặc trong nước. Năm 1999, chính phủ đã chuyển nợ xấu tổng cộng 173 tỷ USD (tương đương khoảng 20% tổng dư nợ của các ngân hàng lớn) từ 4 ngân hàng thương mại nhà nước sang 4 công ty quản lý tài sản (AMC). Đến cuối năm 2004, 4 AMC này chỉ thu hồi được 675 tỷ nhân dân tệ. Con số này chưa đến 40% (ước tính 20-30%) giá trị các khoản nợ khó đòi do Nhật Bản chuyển giao kể từ năm 1999. Tốc độ và tốc độ thu hồi chậm của Trung Quốc chủ yếu là do chất lượng tài sản kém, quy định mua lại nợ xấu theo giá trị sổ sách và quyền miễn trừ kiểm toán của AMC. Bốn công ty quản lý tài sản (AMC) ở Trung Quốc đã sử dụng đầy đủ các công cụ khác nhau để giúp hệ thống ngân hàng vượt qua thời kỳ khó khăn và củng cố.
1.4.2. Bài học kinh nghiệm rút ra với Công ty xử lý nợ Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
Thứ nhất, để nhanh chóng xử lý nợ xấu tại các tổ chức tài chính, hầu hết Chính phủ của các nước đều bơm vốn (bằng tiền mặt hoặc bằng trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh) cho một số ngân hàng lớn, cho các công ty xử lý nợ tập trung để ngay lập tức làm sạch sổ sách cho các ngân hàng, không gây áp lực trích lập cho các ngân hàng trong ngắn hạn, đảm bảo các ngân hàng nhận vốn đều đáp ứng các quy định về an toàn vốn để thực hiện mở rộng tín dụng cho nền kinh tế và giúp đẩy nhanh quá trình thu mua nợ của các công ty xử lý nợ tập trung.
Ngoài ra, Chính phủ các nước cũng xem xét, quyết định xóa nợ cho một số tập đoàn kinh tế nhà nước. Tất cả các khoản hỗ trợ này không mang tính bao cấp mà Chính phủ đều có các cơ chế để thu hồi. Được cấp tín dụng đúng lúc, đúng thời điểm sẽ hỗ trợ các ngân hàng, doanh nghiệp nhanh chóng thoát khỏi gánh nặng chi phí, nợ nần, khơi thông nguồn vốn tín dụng, duy trì, mở rộng sản xuất. Đồng thời, thông qua việc hỗ trợ tài chính từ Chính phủ, hệ thống ngân hàng cũng có điều kiện để giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, về khung pháp lý cho các công ty quản lý tài sản (AMC), để các AMC hoạt động thực sự hiệu quả thì AMC phải được giao quyền lực đủ mạnh. Quyền lực của AMC phải được giao cụ thể với nguồn ngân sách nhất định, gắn với một thời hạn cụ thể để giúp xử lý các khoản nợ xấu đang ở mức cao. Đồng thời, phải xác định rõ rằng AMC là các công ty quản lý tài sản chứ không phải là kho lưu giữ nợ xấu của hệ thống tài chính.
Thứ ba, về phát triển khung pháp lý cho thị trường mua – bán và xử lý tài sản xấu. Từ bài học của Hàn Quốc cho thấy, mua bán nợ chính là một trong những biện pháp quan trọng để thoát khỏi khủng hoảng và áp lực nợ xấu. Việc tham gia của các thành phần kinh tế có chức năng kinh doanh mua, bán nợ xấu sẽ tận dụng được các nguồn lực xã hội, góp phần cùng AMC đẩy nhanh tốc độ và chất lượng xử lý nợ xấu. Nếu không có thị trường mua, bán nợ thì AMC sẽ trở thành độc quyền mà độc quyền thường dẫn đến hàng loạt các vấn đề về tính minh bạch, lợi ích nhóm, tiêu cực…
Thứ tư, xử lý nợ xấu phải đi đôi với tái cấu trúc doanh nghiệp, đặc biệt là DNNN. Bài học của Hàn Quốc cho thấy, để xử lý tận gốc nợ xấu cách duy nhất là phải tái cấu trúc doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp đóng vai trò đầu tàu của nền kinh tế. Theo đó, các nước đều thành lập những cơ quan chuyên biệt tham gia mua nợ xấu của hệ thống tổ chức tài chính, từ đó, trực tiếp tham gia vào quá trình tái thiết, quản trị, từng bước nâng cao chất lượng doanh nghiệp, tạo giá trị thặng dư cho xã hội.
Thứ năm, đa dạng hóa các hình thức xử lý nợ xấu: Hàn Quốc áp dụng rất nhiều biện pháp xử lý nợ xấu từ bán buôn, bán lẻ các khoản nợ xấu cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đến phát hành các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản, bán đấu giá các khoản nợ có chủ nợ bị phá sản, bán tài sản thu hồi nợ, đấu thầu quốc tế và tái cấu trúc nợ, chuyển nợ thành vốn góp để tranh thủ trình độ quản lý, điều hành của các nguồn lực đặc biệt là nguồn lực nước ngoài để đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, tái cấu trúc doanh nghiệp
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu làm rõ các nội dung cơ bản của khái niệm nợ xấu dưới góc độ lý luận tài chính ngân hàng giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của nợ xấu, có cái nhìn toàn diện về đề tài nghiên cứu. Điều này có ý nghĩa lý luận quan trọng, bởi để làm tốt công tác xử lý nợ xấu, trước hết cần hiểu đúng bản chất của nợ xấu để có định hướng, giải pháp hiệu quả. Nợ xấu có tác động tiêu cực đến kinh tế vĩ mô và an toàn của hệ thống tài chính nên việc xử lý nợ xấu cần có sự tham gia của nhà nước và các tổ chức, thành phần của nền kinh tế. Các công cụ và phương thức khác nhau sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý nợ xấu. Việc lựa chọn công cụ, giải pháp hữu hiệu để xử lý nợ xấu phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế của nước sở tại, nguyên nhân phát sinh nợ xấu và cơ sở pháp lý hiện có. Nội dung này sẽ được làm rõ bởi việc nghiên cứu thực trạng hoạt động và hiệu quả xử lý nợ xấu tại VAMC ở nội dung tại Chương II của luận văn. Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Hoàn thiện xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản […]