Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hiệu ứng tháng Năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Hiệu ứng tháng Năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tóm tắt:
Hiệu ứng tháng Năm là một trong những hiện tượng được quan sát thường xuyên trên thị trường chứng khoán. Trong lịch sử, tháng 5 thường xuất hiện xu hướng tăng giá mạnh hơn so với các tháng khác trong năm trên thị trường chứng khoán. Hiệu ứng này đã được các nhà nghiên cứu và chuyên gia tài chính quan tâm và nghiên cứu kỹ lưỡng. Nó thu hút sự quan tâm của cả nhà đầu tư chuyên nghiệp và cá nhân. Lựa chọn nghiên cứu về hiệu ứng tháng Năm được thực hiện vì nó liên quan trực tiếp đến sự biến động giá cổ phiếu và phát triển của thị trường chứng khoán. Nghiên cứu về hiệu ứng tháng 5 giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán và các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự biến động giá cổ phiếu trong cả thời gian ngắn và dài hạn.
Để kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng tháng Năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu đã sử dụng ba mô hình trong việc chạy hồi quy, bao gồm OLS và ARCH. Việc sử dụng hai mô hình này giúp tăng độ tin cậy của nghiên cứu, vì từ mỗi mô hình, ta có thể nhận thấy được nhược điểm và ưu điểm, từ đó bổ sung vào mô hình tiếp theo. Trong nghiên cứu, p-value được sử dụng để kiểm định hiệu ứng tháng Năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ khóa: hiệu ứng tháng năm, hiệu ứng thời gian, thị trường chứng khoán…
ABSTRACT
Thesis title: Project title: Effect of May on Vietnam’s stock market
Summary:
The May Effect is one of the frequently observed phenomena in the stock market. It suggests that in the month of May, the stock market tends to experience higher price increases compared to other months in the year. This effect has been carefully observed and analyzed by researchers and financial experts, garnering interest from both professional investors and individuals. The choice of studying the May Effect is because it directly relates to stock price volatility and the development of the stock market. Researching the May Effect helps us gain a better understanding of the mechanisms underlying the stock market and the factors that can influence short-term and long-term stock price fluctuations.
To examine the existence of the May Effect in the Vietnamese stock market, the study conducted regression analysis using three models: OLS, ARCH. Running two models enhances the reliability of the research, as each model can reveal the weaknesses of the other and incorporate the strengths of the subsequent model. The p-value test was used in the study to examine the presence of the May Effect in the Vietnamese stock market.
Keywords: May effect, time effect, stock market…
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Giáo sư Fama (1965; 1970) đã đề xuất một lý thuyết về thị trường hiệu quả. Theo lý thuyết này, tất cả các thành viên tham gia trên thị trường có thể tiếp cận thông tin thị trường mà không gánh chi phí giao dịch và kỳ vọng của nhà đầu tư là hợp lý. Do đó, giá của các chứng khoán phản ánh toàn bộ thông tin thị trường và tương ứng với giá trị nội tại của chúng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn tại của hiệu ứng thời gian trên một số thị trường chứng khoán trên toàn cầu..
Hiệu ứng thời gian là sự tái lập các biến động lợi nhuận bất thường của các chứng khoán theo một quy luật cụ thể, ví dụ như hiệu ứng tháng Giêng hoặc hiệu ứng Halloween. Hiệu ứng tháng Giêng cho thấy lợi nhuận chứng khoán thường cao nhất trong tháng này, trong khi hiệu ứng Halloween cho rằng việc mua chứng khoán từ tháng 11 đến tháng 4 thường cho ra lợi nhuận cao hơn so với việc mua từ tháng 5 đến tháng 10. Tồn tại của hiệu ứng thời gian giúp nhà đầu tư phát triển các chiến lược đầu tư hiệu quả để đạt lợi nhuận cao, mặc dù điều này mâu thuẫn với lý thuyết thị trường hiệu quả của Giáo sư Fama.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có được nhiều thành tựu đáng kể trong hơn 10 năm qua và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư. Do đó, nghiên cứu về sự tồn tại của “hiệu ứng thời gian” trên thị trường này đã được khuyến khích.
Trong nghiên cứu “Seasonality in the Vietnam Stock Index” (2013), H.Swint Friday và Nhung Hoang đã khảo sát hiệu ứng thời gian trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian 10 năm, từ ngày 28 tháng 07 năm 2000 đến ngày 31 tháng 12 năm 2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận của chỉ số VN-Index đạt đỉnh cao vào tháng 4 và đáy thấp vào tháng 7, xác nhận sự tồn tại của hiệu ứng Halloween trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả giải thích kết quả bằng sử dụng lượng mưa trung bình hàng tháng làm biến giải thích cho hiệu ứng Halloween đã được áp dụng trong nghiên cứu. Tuy nhiên, phương pháp thống kê mô tả chỉ giúp phân tích xu hướng tỷ suất sinh lợi trung bình của thị trường và nhận biết tỷ suất sinh lợi bất thường tại các thời điểm, nhưng chưa cung cấp kiểm định rõ ràng về sự tồn tại của các hiện tượng này thông qua các mô hình. Do đó, cần tiến hành kiểm định lại sự tồn tại của hiệu ứng thời gian trên thị trường chứng khoán Việt Nam bằng cách sử dụng các mô hình phù hợp. Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
Hiệu ứng “Sell in May” đã được đề cập đến như một thời điểm quan trọng, được coi là “vùng trống thông tin”, gây lo ngại cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, hiệu ứng này có sự khác biệt trong từng thị trường và loại tài sản tài chính khác nhau. Tại Hoa Kỳ, tháng 5 thường thu hút nhiều dòng tiền vào các cổ phiếu tăng trưởng, bởi đây là thời điểm các doanh nghiệp thực hiện tiến độ kinh doanh mạnh mẽ trong nửa cuối năm. Ví dụ, tỷ lệ các công ty công nghệ trong rổ S&P 500 đã tăng 27% so với chỉ 8% của rổ MSCI tại Châu Âu.
Tập trung vào thời điểm mua và bán có thể đồng nghĩa với việc bỏ lỡ cơ hội đầu tư vào các cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng cao nhất. Ngoài ra, các thị trường có thể có những biến động đáng kể trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 10. Ví dụ, tại Trung Quốc, thị trường chứng khoán đã tăng hơn 20% trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10 trong suốt 3 năm liên tiếp từ 2019 đến 2022. Trong khi đó, tại khu vực Eurozone, chứng khoán tăng hơn 10% trong 6 tháng đầu năm 2021.
Tuy nhiên, hiệu ứng “Sell in May” chưa có sự rõ ràng tại thị trường chứng khoán Việt Nam do các quy định cấm bán khống và áp đặt các biện pháp để ổn định hoạt động giao dịch. Vì vậy, luận văn này được tiến hành để đánh giá xem hiệu ứng “Sell in May” có áp dụng được tại Việt Nam hay không, và nếu có, thì hoạt động như thế nào.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiệu ứng thời gian là sự xuất hiện định kỳ của các biến động bất thường trong giá cổ phiếu. Có nhiều hiệu ứng đáng chú ý như hiệu ứng theo ngày trong tuần, tuần trong tháng, tháng trong năm, hiệu ứng tháng Giêng, hiệu ứng cuối tuần và hiệu ứng Halloween.
Trong số đó, hiệu ứng tháng Năm là một trong những hiện tượng thường được quan sát trên thị trường chứng khoán. Tháng 5 trong lịch sử thường có xu hướng tăng giá mạnh hơn so với các tháng khác trong năm. Hiệu ứng này đã được các nhà nghiên cứu và chuyên gia tài chính quan tâm và phân tích kỹ lưỡng, thu hút sự quan tâm của cả nhà đầu tư chuyên nghiệp và cá nhân.
Lựa chọn đề tài nghiên cứu về hiệu ứng tháng Năm được đưa ra vì nó liên quan trực tiếp đến biến động giá cổ phiếu và sự phát triển của thị trường chứng khoán. Nghiên cứu về hiệu ứng tháng 5 giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán, cũng như những yếu tố có thể ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu trong cả ngắn hạn và dài hạn.
Ngoài ra, việc nghiên cứu hiệu ứng tháng Năm cũng có thể giúp cho các nhà đầu tư và quản lý tài sản có thể dự đoán và điều chỉnh chiến lược đầu tư của mình một cách chính xác hơn. Đặc biệt, việc áp dụng hiệu ứng tháng Năm vào các chiến lược đầu tư có thể giúp cho nhà đầu tư đạt được lợi nhuận cao hơn.
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về hiệu ứng tháng Năm còn ở Việt Nam thì các nghiên cứu về hiện ứng tháng Năm vẫn còn ít và chưa cho thấy rõ được sự tác động của hiệu ứng tháng Năm đến thị trường chứng khoán. Tác giả đã chọn Hiệu ứng tháng Năm để làm rõ hơn về nghiên cứu này.
1.3 Mục tiêu của đề tài Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
1.3.1 Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu nhằm mục tiêu kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng tháng Năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua việc sử dụng mô hình để kiểm định tỷ suất lợi nhuận của các cổ phiếu trên TTCK Việt Nam. Từ kết quả thực nghiệm nghiên cứu nhằm cung cấp các thông tin giúp các nhà đầu tư đưa ra chiến lược đầu tư phù hợp
1.3.2 Mục tiêu cụ thể:
Để đạt được mục tiêu tổng quát, đề tài xác định các mục tiêu cụ thể như sau:
- Kiểm định sự tồn tại của “Hiệu ứng tháng Năm” trên TTCK VN;
- Đề ra các khuyến nghị giúp các nhà đầu tư đưa ra chiến lược đầu tư phù hợp
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Thứ nhất: Có tồn tại “Hiệu ứng tháng Năm” trên TTCK VN hay không?
- Thứ hai: Nếu tồn tại “Hiêu ứng tháng Năm” nhà đầu tư nên có các chiến lược đầu tư như thế nào để gia tăng hiệu quả đầu tư?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Hiệu ứng tháng Năm
- Phạm vi không gian: TTCKVN
- Phạm vi thời gian: 2014 – 2021
1.6 Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng tháng Năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Dựa trên kết quả có được, đề tài nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của hiệu ứng tháng Năm trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Cùng với dữ liệu thu thập được nghiên cứu đưa ra khuyến nghị cho nhà đầu tư trong việc lựa chọn chiến lược đầu tư hiệu quả.
1.7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Chương 1: GIỚI THIỆU Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
Chương 1 sẽ trình bày tính cấp thiết qua đó cho biết lý do chọn đề tài nghiên cứu cũng như xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, tiếp đó là xác định phạm vi và các đối tượng cho nghiên cứu. Chương này cũng nêu ra phương pháp nghiên cứu của khoá luận cũng sẽ trình bày ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu . Cuối cùng tại chương sẽ trình bày tổng quan cấu trúc của khoá luận
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 2 của khóa luận trình bày các khái niệm, lý thuyết cơ bản làm nền tăng cho đề tài này. Đó là các khái niệm về thị trường chứng khoán, vai trò và chức năng của thị trường chứng khoán. Tiếp đó là các lý thuyết nền tảng cho đề tài như lý thuyết về hiệu trường hiệu quả, lý thuyết về bước đi ngẫu nhiên và các giả thuyết cho hiệu ứng tháng Năm. Ở phần cuối chương 2 tác giá sẽ trình bày kết quả các nghiên cứu trước đó về hiệu ứng tháng Năm ở trên thế giới và trong nước..
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 của khóa luận sẽ tập trung nêu rõ về phương pháp nghiên cứu của đề tài, dữ liệu được thu thập, cách xử lý dữ liệu nghiên cứu. Ngoài ra trong chương này tác giả cũng trình bày về mô hình nghiên cứu, các kiểm định thống kê mà nghiên cứu sử dụng trong việc nghiên cứu về hiệu ứng tháng Năm
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương 4 sẽ trình bày các kết quả của mô hình nghiên cứu cũng như các kiểm định thống kê. Cụ thể là thống kê mô tả, các kiểm định và kết quả của hồi quy OLS, hồi quy ARCH.-ARMA Từ các kết quả được đưa ra, chương này sẽ nêu ra các đánh giá về sự phù hợp và ý nghĩa số liệu mà kết quả cho ra. Làm cơ sở tiền đề dẫn đến chương 5
Chương 5: CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Tác giả sẽ đưa ra các kết luận từ mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, kết quả thống kê. Từ các kết luận được đưa ra, chương này sẽ trình bày các kiến nghị giúp cho các nhà đầu tư trên thị trường có chiến lược đầu tư hợp lý
TÓM TẮT CHƯƠNG I
Chương 1 giới thiệu tổng quát bài khoá luận cho người đọc, cung cấp cho người đọc về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và cấu trúc của khoá luận.
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả
Giáo sư Fama được ghi nhận là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về thị trường hiệu quả. Thị trường hiệu quả là một lý thuyết tài chính cho rằng tại bất kỳ thời điểm nào, nhà đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và họ sẽ hành động một cách nhất quán dựa trên thông tin đó. Theo đó, giá cả trên thị trường sẽ phản ánh đầy đủ mọi thông tin có sẵn. Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng các thị trường tài chính là hiệu quả và giá trị của tài sản trên thị trường, đặc biệt là trên thị trường chứng khoán, phản ánh đầy đủ thông tin. Do đó, không thể thu được lợi nhuận bằng cách sử dụng thông tin đã biết trước đó hoặc dựa trên sự biến động giá cả trong quá khứ. Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
Khái niệm này đã trở thành nên kinh điển và tiêu chuẩn trong nghiên cứu về thị trường hiệu quả. Thị trường hiệu quả cho rằng thị trường xử lý thông tin một cách toàn diện, không có bất kỳ thông tin liên quan nào bị bỏ qua. Và vì vậy, giá cả của tài sản trên thị trường luôn ở mức phù hợp với giá trị nội tại của nó. Nếu thị trường hiệu quả tồn tại, không có sự khác biệt lợi nhuận bất thường nào dành cho các nhà đầu tư
Theo Eugene Fama (1970), người tiên phong đề xuất lý thuyết về thị trường hiệu quả, một thị trường tài chính được coi là hiệu quả khi giá chứng khoán hiện tại phản ánh toàn bộ thông tin có sẵn.
Lý thuyết này dựa trên ba điều kiện chính sau đây:
- Thị trường có một số lượng lớn nhà đầu tư hành động một cách hợp lý, tối đa hóa lợi nhuận và định giá chứng khoán một cách hợp lý.
- Nếu có những nhà đầu tư hành động không hợp lý, hành động của họ sẽ bị loại bỏ bởi những nhà đầu tư khác hoặc những tác động của các nhà mua bán chênh lệch, và không ảnh hưởng đến giá cả.
- Người tham gia thị trường có khả năng tiếp cận thông tin gần như cùng lúc, rộng rãi và không tốn phí cho tất cả các thông tin. Nhà đầu tư phản ứng đầy đủ và ngay lập tức với thông tin mới, và giá cả được điều chỉnh tương ứng.
Các đặc điểm của thị trường hiệu quả bao gồm:
- Giá tài sản phản ánh đầy đủ thông tin: Tất cả thông tin công khai và kỳ vọng của nhà đầu tư được tích hợp vào giá của tài sản.
- Không có cơ hội kiếm lợi bất hợp pháp: Do giá tài sản đã phản ánh đầy đủ thông tin, không có cơ hội kiếm lợi bất hợp pháp trên thị trường.
- Tương đồng lợi nhuận: Các tài sản tương tự sẽ có mức lợi nhuận tương đương trên thị trường.
- Không thể dự đoán: Không có cách nào để dự đoán sự thay đổi giá của tài sản.
- Người tham gia thị trường có kiến thức và kỹ năng đầy đủ để đưa ra quyết định đầu tư
Trong thị trường cạnh tranh, việc sử dụng thông tin về thay đổi giá cả trong quá khứ để dự đoán tương lai và tạo ra tỷ suất lợi nhuận dễ dàng sẽ không kéo dài. Khi các nhà đầu tư cố gắng tận dụng thông tin về giá cả trong quá khứ, thông tin đó sẽ được phản ánh ngay trong giá cả cổ phiếu hiện tại, chứ không phải trong tương lai. Các mẫu mực trong giá sẽ không còn tồn tại và các thay đổi giá cả trong một giai đoạn sẽ độc lập với các thay đổi trong giai đoạn tiếp theo. Eugene Fama đã phân loại thông tin thành ba nhóm: thông tin quá khứ, thông tin công khai và thông tin đầy đủ bao gồm thông tin nội bộ. Các cấp độ của thị trường hiệu quả được chia thành ba loại dựa trên sự sẵn có của ba nhóm thông tin.
Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu: Giả định rằng giá chứng khoán phản ánh đầy đủ thông tin đã được công bố trong quá khứ. Do đó, nhà đầu tư không thể tạo ra lợi nhuận bằng cách sử dụng thông tin lịch sử để dự đoán giá cả cổ phiếu trong tương lai.
Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng vừa: Cho rằng giá chứng khoán đã phản ánh đầy đủ cả thông tin công bố trong quá khứ lẫn thông tin mới nhất vừa được công bố. Do đó, nhà đầu tư không thể tận dụng thông tin này để kiếm lợi bất hợp pháp bằng cách mua rẻ và bán đắt chứng khoán. Ngay khi thông tin được công bố, giá cả cổ phiếu đã thay đổi để phản ánh thông tin đó. Nhà đầu tư không thể tạo ra lợi nhuận bằng cách sử dụng thông tin công khai để phân tích.
Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh khẳng định mạnh mẽ hơn về tính hiệu quả của thị trường tài chính, cho rằng giá cả chứng khoán đã phản ánh toàn bộ thông tin công bố trong quá khứ, hiện tại và thông tin nội bộ. Cơ sở của lý thuyết này là: nếu có thông tin nội bộ, những người có thông tin đó sẽ mua bán chứng khoán để kiếm lợi nhuận, và giá cả chứng khoán sẽ thay đổi cho đến khi không còn cơ hội kiếm lời. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh tính hiệu quả dạng yếu và dạng vừa của thị trường có thể đúng. Có nhiều nghiên cứu phản bác lý thuyết dạng mạnh, cho rằng nó không chính xác và thị trường không đạt được tính hiệu quả dạng mạnh. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự không hiệu quả của thị trường mà nhà đầu cơ có thể tạo ra lợi nhuận. Ví dụ, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhà đầu cơ có thể chiến thắng thị trường bằng cách mua cổ phiếu với tỷ lệ giá/ lợi nhuận (P/E) thấp.
Để có thể trả lời câu hỏi thứ nhất, nghiên cứu cần sử dụng một mô hình định giá chứng khoán cụ thể. Điều này giúp xác định liệu giá chứng khoán có phản ánh đầy đủ thông tin trên thị trường hay không. Tuy nhiên, tính chính xác của mô hình định giá chứng khoán được sử dụng là một yếu tố quan trọng trong quá trình đánh giá hiệu quả của thị trường. Nếu mô hình định giá chứng khoán không đáng tin cậy, điều này có thể dẫn đến kết quả về tính không hiệu quả của thị trường.
Để có thể trả lời câu hỏi tiếp theo, xác định liệu giá cả có phản ánh toàn bộ thông tin hay không, nghiên cứu cần định danh các thông tin cần được phản ánh. Việc hiểu rõ bản chất của thông tin là một yếu tố quan trọng để chọn phương pháp kiểm định thích hợp và đánh giá tính hiệu quả của thị trường. Các nghiên cứu thường tập trung vào việc xác định xem giá chứng khoán có phản ánh thông tin công khai, thông tin nội bộ của công ty, thông tin thị trường hay các yếu tố khác. Bằng cách phân tích và kiểm định, nghiên cứu có thể đưa ra kết luận về mức độ phản ánh thông tin của giá chứng khoán trên thị trường.
2.1.2 Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (random walk) cho rằng các quyết định liên tiếp theo thời gian là độc lập và được rút ra từ cùng một phân phối, với các tham số phân phối như số bình quân và phương sai có giá trị như nhau. Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu cũng khẳng định rằng trong quá trình xác định giá cả cổ phiếu, các nhà đầu tư hoạt động trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo và đã tính đến rủi ro hệ thống, tức là những rủi ro phát sinh từ nền kinh tế chung. Những biến động do rủi ro không hệ thống được hình thành một cách ngẫu nhiên và cho thấy sự tăng hoặc giảm giá có xác suất như nhau. Những rủi ro thuộc loại này chỉ có thể loại bỏ bằng cách đa dạng hóa cấu trúc đầu tư.
Vào năm 1973, Burton Malkiel đã viết cuốn sách “A Random Walk Down Wall Street” (Một cuộc đi bộ ngẫu nhiên dọc phố Wall) và lý thuyết bước đi ngẫu nhiên bắt đầu trở nên phổ biến. Cuốn sách này được coi là một trong những cuốn sách đầu tư kinh điển nhất trên thị trường chứng khoán. Lý thuyết này cho rằng không thể sử dụng sự biến đổi giá cả của một cổ phiếu hoặc chỉ số chứng khoán trong quá khứ để dự đoán sự biến đổi trong tương lai. Maurice Kendall đã đưa ra lý thuyết này vào năm 1953 và ông cho rằng các biến đổi giá cả chứng khoán là tương tác lẫn nhau và có khả năng thay đổi với cùng một xác suất. Tuy nhiên, theo thời gian, giá cả chứng khoán dường như luôn có xu hướng tăng.
Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên cho thấy rằng giá cả chứng khoán tuân theo một quá trình ngẫu nhiên và không thể được dự đoán trước. Khả năng tăng hoặc giảm của chứng khoán trong tương lai là tương đương. Người theo lý thuyết này cho rằng thị trường không thể được dự đoán dựa trên những gì đã xảy ra, vì luôn có những rủi ro không thể được biết trước. Malkiel cho rằng chiến lược mua và giữ trong dài hạn là tốt nhất và phân tích cơ bản và kỹ thuật là vô ích. Thống kê của ông chứng minh rằng hầu hết các quỹ đầu tư không thể vượt qua mức trung bình chuẩn của thị trường như chỉ số S&P 500. Mặc dù nhiều người tin theo lý thuyết này, nhưng một số khác lại cho rằng đầu tư đã thay đổi trong 30 năm qua và mọi người có thể tiếp cận thông tin và định giá chứng khoán một cách hợp lý hơn. Đầu tư không còn chỉ là một trò chơi may rủi.
Nhiều mô hình đã được sử dụng để mô phỏng biến động giá cả chứng khoán, trong đó mô hình bước đi ngẫu nhiên được coi là lý thuyết trung tâm và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về thị trường chứng khoán. Uddin và Khoha đã chỉ ra rằng để dự đoán biến động giá cả chứng khoán, ta cần dựa vào thông tin của ngày hiện tại hơn là các ngày trước đó. Tuy nhiên, vì tin tức trên thị trường chứng khoán không thể được dự đoán, biến động giá cả chứng khoán hoàn toàn ngẫu nhiên và không thể dự đoán trước được.
Bachelier (1900) được xem là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên quan tâm đến sự biến động giá cả chứng khoán thông qua học thuyết đầu cơ. Theo lý thuyết chuyển động Brown, nhà đầu tư nghiệp dư và chuyên nghiệp đạt được tỉ suất sinh lợi như nhau, và không có quy luật hoặc sự lặp lại trong biến động giá cả chứng khoán. Nhiều nhà nghiên cứu sau này đã đồng ý với kết luận này của Bachelier, bao gồm Fame (1965), Fama và Blume (1966), Obsorne (1959), Mandelbrot (1964), French và Roll (1986), Fama và French (1998). Trong số này, nghiên cứu của Fama (1965) được coi là nổi tiếng nhất khi ông chứng minh rằng giá cả chứng khoán biến động ngẫu nhiên và do đó không thể dự đoán giá cả chứng khoán trong tương lai bằng cách sử dụng thông tin quá khứ.
Thuyết bước ngẫu nhiên đã được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều thị trường chứng khoán quốc tế gần đây. Các nghiên cứu trước đó, như Hooi và Smyth (2005) và Okpara (2012), đã chỉ ra rằng giả thuyết Ho (tồn tại bước ngẫu nhiên) không bị bác bỏ với mức ý nghĩa 1% và 5% ở nhiều thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới đây lại cho thấy rằng thuyết bước ngẫu nhiên không tồn tại. Ví dụ, Lo và Mackinlay đã thực hiện kiểm định phương sai trên dữ liệu hàng tuần của thị trường chứng khoán New York và Mỹ từ năm 1962 đến 1985 và phát hiện rằng thuyết bước ngẫu nhiên bị bác bỏ. Frennberg và Hansson (1993) cũng như Chaudhuri và Wu (2003) cũng đã đưa ra kết luận tương tự dựa trên việc kiểm tra dữ liệu tại các thị trường chứng khoán khác nhau. Các nghiên cứu này cho thấy việc áp dụng các chiến lược đầu tư dựa trên biến động quá khứ của giá cả chứng khoán để dự đoán giá cả trong tương lai là không hiệu quả.
Tóm lại, tranh cãi về sự tồn tại của thuyết bước ngẫu nhiên vẫn còn tiếp diễn và được đánh giá thông qua các bằng chứng thực nghiệm. Một số nghiên cứu như Dimson và Mussavia (2000) và Blume và Siegel (1992) đã đưa ra các giả thuyết liên quan đến sự tồn tại của thuyết bước ngẫu nhiên và mối liên hệ của nó với thuyết thị trường hiệu quả. Thuyết bước ngẫu nhiên đóng vai trò cơ bản trong sự phát triển của thuyết thị trường hiệu quả và cả hai lý thuyết này có sự tương quan mật thiết. Để có cái nhìn toàn diện hơn về sự biến động giá cổ phiếu và phát triển của thị trường chứng khoán, chúng ta cần tìm hiểu thêm về lý thuyết thị trường hiệu quả trong các phần tiếp theo. Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
2.1.3 Lý thuyết về “hiệu ứng thời gian”
Hiệu ứng thời gian là một hiện tượng kinh tế đặc trưng, đặc biệt trong các thị trường chứng khoán, liên quan đến yếu tố thời gian. Hiệu ứng này bao gồm những hành vi khác nhau của thị trường chứng khoán trong các ngày khác nhau của tuần, tuần trong tháng và tháng trong năm (có xu hướng theo mùa). Nhà đầu tư có thể có tâm lý khác nhau trước và sau những khoảng thời gian đặc biệt này, và điều này ảnh hưởng đến khối lượng giao dịch trên thị trường. Kết quả là xuất hiện suất sinh lợi bất thường so với suất sinh lợi trung bình của các khoảng thời gian khác trong năm.
Hiệu ứng này được gọi là “Hiệu ứng thời gian – calendar effect”. Hiệu ứng thời gian là sự lặp lại không thường xuyên của giá cả cổ phiếu theo chu kỳ thời gian, và một số hiệu ứng phổ biến bao gồm hiệu ứng các ngày trong tuần, tuần trong tháng, tháng trong năm, hiệu ứng tháng đầu năm, hiệu ứng các ngày cuối tuần và hiệu ứng Halloween
Tâm lý hiệu ứng thời gian trong thị trường chứng khoán có nghĩa là nhiều hiện tượng bất thường trong hoạt động kinh doanh xảy ra theo thời gian. Điều này không phải là điều hoàn toàn bất ngờ, vì nhiều hoạt động kinh tế và kinh doanh diễn ra theo lịch trình. Các công ty thường công bố báo cáo kết quả kinh doanh hàng quý và hoàn tất việc tài chính vào cuối năm để tính thuế. Doanh số bán lẻ thường tăng vào các dịp lễ và nhu cầu về nhiên liệu biến đổi theo thời tiết và mùa vụ. Tuy nhiên, một số hiệu ứng thời gian không có lý do rõ ràng nhưng lại ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
Hiệu ứng thời gian liên quan đến các chỉ số và xu hướng dựa trên thời gian. Nó có liên quan đến hoạt động chứng khoán và hoạt động chung của thị trường. Ý tưởng cơ bản đằng sau đó là có những thời điểm nhất định trong năm khi các điều kiện cụ thể có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh. Các xu hướng ổn định có thể được dự đoán với mức độ chính xác cao.
Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng các hiệu ứng thời gian khác nhau tồn tại trên thị trường chứng khoán quốc tế. Các hiệu ứng nổi bật và được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến là “hiệu ứng tháng Mười”, “hiệu ứng ngày thứ Hai”, “hiệu ứng tháng Giêng”, “hiệu ứng Halloween”, “hiệu ứng ngày cuối tuần”, “hiệu ứng chuyển tiếp tháng”, …
2.1.3.1 Hiệu ứng ngày trong tuần
Các nghiên cứu trong suốt nhiều năm đã tập trung vào hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là trên thị trường chứng khoán Mỹ – thị trường phát triển hàng đầu thế giới. Nghiên cứu của Gibbons và Hess vào năm 1981, dựa trên dữ liệu từ năm 1962 đến năm 1978, đã khám phá ra rằng tỷ suất sinh lợi vào ngày thứ Hai thường thấp hơn đáng kể so với các ngày khác, trong khi tỷ suất sinh lợi vào ngày thứ Sáu lại cao nhất. Nghiên cứu của Keim và Stambaugh (1984), sử dụng dữ liệu từ năm 1928 đến năm 1982, cũng đưa ra kết luận tương tự.
Hiệu ứng ngày trong tuần là hiện tượng đặc biệt trong tỷ suất sinh lợi trung bình của các cổ phiếu trên thị trường. Mặc dù hiệu ứng này thường được quan sát trên thị trường Mỹ, nhưng cũng có khả năng xuất hiện trên các thị trường khác. Ngoài ngày thứ Hai và thứ Sáu, hiệu ứng ngày trong tuần cũng có thể xuất hiện vào các ngày khác, như ngày thứ Ba.
Các nghiên cứu này đã đóng góp vào việc hiểu và phân tích hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán, và chúng có thể hỗ trợ các nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định đúng lúc để tối ưu hóa lợi nhuận từ giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Các nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau, không chỉ ở Mỹ. Ví dụ, nghiên cứu của Jaffe và Westerfield (1985) đã chứng minh sự tồn tại của hiệu ứng này trên thị trường chứng khoán ở Nhật Bản, Anh, Úc và Canada. Trong đó, ở Nhật Bản, tỷ suất sinh lợi cao nhất xuất hiện vào ngày giao dịch cuối tuần – ngày thứ Bảy, và ở Úc và Nhật Bản đều có hiệu ứng ngày thứ Ba – ngày có tỷ suất sinh lợi thấp nhất trong tuần. Nghiên cứu của Agrawal và Tandon (1994) tiến hành ở 18 quốc gia khác nhau và cho thấy tỷ suất sinh lợi cao nhất trong tuần thường xảy ra vào ngày thứ Tư và thứ Sáu, trong khi tỷ suất sinh lợi thấp nhất tập trung vào ngày thứ Hai và thứ Ba. Nghiên cứu của Ho (1990) tại 10 nước Châu Á Thái Bình Dương, Mỹ và Anh cũng phát hiện ra những hiệu ứng tương tự trên các thị trường chứng khoán. Các nước Châu Á như Malaysia, Philippines, Úc, Nhật Bản, Thái Lan đều có hiệu ứng ngày trong tuần, trong đó Malaysia và Philippines có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, hiệu ứng ngày thứ Sáu cũng được tìm thấy ở 6 trong 10 quốc gia Châu Á được nghiên cứu. Từ các kết quả này, chúng ta có thể kết luận rằng hiệu ứng ngày trong tuần là một hiện tượng phổ biến trên thị trường chứng khoán của nhiều quốc gia khác nhau, không chỉ ở Mỹ. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của yếu tố thời gian và tuần tự ngày trong việc tạo ra biến động trong tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán.Mặc dù nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần, một số nghiên cứu khác đã được tiến hành để phản bác hiệu ứng này. Ví dụ, nghiên cứu của Connolly (1989) sử dụng dữ liệu trên thị trường chứng khoán Mỹ từ năm 1963 đến 1983 và không tìm thấy sự khác biệt đáng kể về tỷ suất sinh lợi vào ngày thứ Sáu so với các ngày khác trong tuần. Nghiên cứu của Jaffe, Westerfield và Ma (1989) cũng không tìm thấy hiệu ứng tỷ suất sinh lợi thấp vào ngày thứ Hai trên các thị trường chứng khoán khác nhau.
Có nhiều giả thiết được đưa ra để giải thích hiệu ứng ngày trong tuần, nhưng vẫn chưa có giả thiết nào hoàn toàn giải thích được sự tồn tại của hiệu ứng này. Một số giả thiết bao gồm việc ngày thứ Hai có khối lượng giao dịch thấp nhất và sự tham gia thị trường của các nhà đầu tư có tổ chức thấp nhất so với các ngày khác trong tuần, cùng với hành vi bán nhiều hơn mua của các nhà đầu tư cá nhân vào ngày đầu tuần để đảm bảo nhu cầu thanh khoản. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có giải thích chính thức nào cho hiệu ứng ngày trong tuần và vẫn là một vấn đề gây tranh cãi trong cộng đồng nghiên cứu
2.1.3.2 Hiệu ứng chuyển tháng Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
Hiệu ứng chuyển thẳng, còn được gọi là “Turn-of-the-month effect”, là một dạng hiệu ứng mùa vụ trong lĩnh vực tài chính. Hiệu ứng này được đưa ra lần đầu bởi Ariel (1987). Theo nghiên cứu này, tỷ suất lợi nhuận của các ngày giao dịch cuối cùng trong tháng và các ngày giao dịch đầu tiên của tháng tiếp theo thường có xu hướng cao và dương, trong khi tỷ suất lợi nhuận của các ngày giao dịch khác trong tháng thường có xu hướng âm. Một nghiên cứu khác của Lakonishok và Smidth (1988) cho thấy rằng giai đoạn chuyển tháng kéo dài trong 4 ngày, bao gồm cả ngày giao dịch cuối cùng trong tháng và 3 ngày giao dịch đầu tiên của tháng tiếp theo, và trong khoảng thời gian này, tỷ suất lợi nhuận thường là dương. Từ đó, hiệu ứng chuyển thẳng có thể được hiểu là trong giai đoạn chuyển đổi giữa hai tháng liền kề, tỷ suất lợi nhuận trung bình có xu hướng cao và dương. Hiệu ứng này cũng có thể tương đồng với hiệu ứng chuyển năm, khi xem xét hai tháng cuối cùng và đầu tiên trong năm (tháng mười hai và tháng một). Mặc dù các nghiên cứu khác nhau không nhất quán về khoảng thời gian chính xác của giai đoạn chuyển tháng, nhưng chung quy lại, chúng đều cho thấy tỷ suất lợi nhuận trong giai đoạn này là cao và dương.
Nghiên cứu của Kayacetin (2018) đề cập đến một số giả thuyết giải thích cho hiệu ứng này. Đầu tiên là giả thuyết về làm đẹp báo cáo tài chính, được nêu trong nghiên cứu của Haugen và Lakonishok (1988) và Ritter (1988). Giả thuyết này cho rằng các công ty thường có xu hướng công bố báo cáo tài chính đẹp hơn vào cuối tháng, để tạo ấn tượng tốt đối với cổ đông. Giả thuyết phân loại thông tin (the news clustering hypothesis) trong nghiên cứu của McNichols (1988) cũng được đề cập đến.
2.1.3.3 Hiệu ứng tháng Giêng
Các hiệu ứng mùa vụ trên thị trường chứng khoán luôn thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư và nhà nghiên cứu, và trong số đó, hiệu ứng tháng Giêng là một hiện tượng đặc biệt được nhiều người quan tâm. Được Wachtel lần đầu tiên nghiên cứu vào năm 1942, hiệu ứng tháng Giêng là sự tăng giá bất thường của chứng khoán trong tháng này. Hiện tượng này cung cấp cơ hội cho các nhà đầu tư mua chứng khoán với giá thấp hơn trước khi đến tháng Giêng và bán chứng khoán khi giá bắt đầu tăng, đem lại lợi suất cao hơn so với mức trung bình trên thị trường đầu tư. Tuy nhiên, các hiệu ứng tháng Giêng trên toàn cầu không đồng đều.
Có nhiều giả thuyết đã được đưa ra để giải thích hiện tượng này. Một trong số đó là giả thuyết thông tin kế toán, cho rằng các công ty thường công bố thông tin quan trọng về tài chính của họ vào cuối năm, và thông tin này ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trong tháng Giêng. Giả thuyết “tax loss selling” cho rằng các nhà đầu tư có xu hướng bán cổ phiếu để thực hiện lỗ thuế trong tháng mười hai, và sau đó mua lại chúng vào tháng Giêng, dẫn đến sự tăng giá không tự nhiên. Giả thuyết trò chơi cho rằng các nhà đầu tư thông minh đều nhận ra hiệu ứng tháng Giêng và thực hiện chiến lược mua bán cổ phiếu để tận dụng hiệu ứng này. Cuối cùng, giả thuyết làm đẹp báo cáo tài chính cho rằng các công ty thường có xu hướng làm đẹp báo cáo tài chính của mình vào cuối năm để tạo ra ấn tượng tốt đối với cổ đông, và điều này có thể gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trong tháng Giêng.
Hiệu ứng tháng Giêng, được phát hiện lần đầu vào hoặc trước năm 1942 bởi chủ ngân hàng đầu tư Sidney B. Wachtel và được quan sát từ năm 1925, là hiện tượng trong đó cổ phiếu nhỏ thường có kết quả tốt hơn so với thị trường chung trong tháng này, đặc biệt là trong khoảng thời gian trước đó. Có một số giải thích cho hiện tượng này. Một giải thích là tâm lý của các nhà đầu tư cá nhân, những người thường có mối quan tâm đến việc giảm thiểu thuế thu nhập và thường bán cổ phiếu nhỏ vào cuối năm để giảm chi phí thuế. Sau đó, họ tái đầu tư vào đầu năm mới. Ngoài ra, các khoản tiền thưởng cuối năm cũng được sử dụng để mua cổ phiếu, đẩy giá cổ phiếu lên. Tuy nhiên, hiệu ứng tháng Giêng không luôn xảy ra theo cách này, ví dụ như trong các năm 1982, 1987, 1989 và 1990, khi cổ phiếu nhỏ đã trải qua sự suy giảm so với cổ phiếu lớn trong tháng Giêng.
Có nhiều nghiên cứu đã khẳng định hiệu ứng tháng Giêng tồn tại trên nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới. Ví dụ, Rozell và Kinney (1976) đã công bố một báo cáo chuyên đề về hiệu ứng tháng Giêng trên thị trường chứng khoán New York từ năm 1904 đến 1974. Theo báo cáo này, trong tháng Giêng, tỷ suất sinh lợi trung bình đạt 3,48%, cao hơn gấp 8 lần so với tỷ suất sinh lợi trung bình của 11 tháng còn lại trong năm là 0,42%. Nghiên cứu của Ritter (1988) tập trung vào các nhà đầu tư cá nhân và cho thấy rằng biến động giá chứng khoán vào cuối năm đối với các công ty nhỏ có xu hướng tương quan với các nhà đầu tư nhỏ. Trong tháng 12, thường có một hiện tượng mà các nhà đầu tư nhỏ bắt đầu bán cổ phiếu của mình, đặc biệt là cổ phiếu vốn hóa nhỏ hoặc cổ phiếu đang gặp thua lỗ, nhằm giảm thiểu số tiền phải đóng thuế vào cuối năm.
Điều này tạo ra áp lực bán mạnh đối với các cổ phiếu đang trong giai đoạn giảm giá. Tuy nhiên, khi kỳ quyết toán thuế kết thúc và năm mới bắt đầu, áp lực bán này thường giảm đi và các cổ phiếu, đã bị định giá thấp hơn mức thực tế, có xu hướng trở lại mức giá phù hợp của chúng. Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
2.1.3.4 Hiệu ứng tháng Năm
Hiệu ứng tháng Năm là một hiện tượng đáng chú ý trên thị trường chứng khoán toàn cầu, và nổi tiếng với câu ngạn ngữ “Sell in May and go away”. Trong lĩnh vực tài chính, đã có nhiều nghiên cứu về hiệu ứng này. Hiệu ứng Halloween cho thấy việc mua cổ phiếu trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 4 thường tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn so với việc mua cổ phiếu trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 (vì Halloween diễn ra vào tháng 10 nên gọi là hiệu ứng Halloween). Theo Riepe (2003), phân tích chỉ số S&P 500 từ tháng 01/1926 đến tháng 03/2003 cho thấy tỷ suất sinh lợi trung bình mỗi tháng trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 là 0,77%. Tuy nhiên, tỷ suất sinh lợi trung bình trong 6 tháng còn lại lại cao hơn đến 50%, đạt mức 1,15%. Nghiên cứu của Bouman và Jacobsen (2002) cũng chỉ ra rằng hiệu ứng Halloween đã xuất hiện tại 36 trong tổng số 37 quốc gia được họ nghiên cứu như Belgium, Brazil, Canada, Argentina, Austria, Australia, Chile, và nhiều nơi khác.
Một giải thích cho rằng ở châu Âu, đa số các nhà đầu tư thường đi nghỉ hè vào tháng Năm thế nên tính thanh khoản của thị trường bị tụt giảm, giao dịch trở nên chậm lại. Do đó, cổ phiếu thường giảm giá vào đầu tháng. Một lý giải khác có thể là do các yếu tố cơ bản của nền kinh tế, chẳng hạn như hàng tiêu dùng và ngành nông nghiệp thay đổi.
2.1.3.5 Hiệu ứng tháng Mười Một
Hiệu ứng tháng Mười Một là một trong những hiệu ứng thị trường phổ biến, được nghiên cứu song song với hiệu ứng tháng Giêng. Bhara và đồng nghiệp (1999) đã đưa ra giả thuyết “tax loss selling” để giải thích hiệu ứng này. Theo đó, nhà đầu tư có xu hướng bán các cổ phiếu thua lỗ để được hưởng lợi về mặt thuế vào cuối năm theo luật thuế 1986 ở Mỹ. Thay đổi ngày kết thúc năm tài chính từ ngày 31 tháng 12 sang ngày 31 tháng 10 đã tạo ra sự dịch chuyển của hiệu ứng chuyển năm từ tháng Giêng sang tháng Mười Một. Điều này dẫn đến mức lợi nhuận trong tháng Mười Một cao hơn so với các tháng khác.
Hiệu ứng tháng Mười Một là hiện tượng thị trường chứng khoán thường có xu hướng tăng giá vào tháng 11 của mỗi năm. Hiệu ứng này đã được quan sát và nghiên cứu bởi các nhà kinh tế học và nhà đầu tư trong nhiều năm. Một số giải thích cho hiệu ứng này bao gồm sự tập trung của các sự kiện quan trọng vào tháng 11, nhưng cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng của kinh tế trong quý 4 của nhiều nước và nhu cầu mua vào của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, như với nhiều hiện tượng trên thị trường chứng khoán, không có giải thích chính thức hoặc chắc chắn nào cho hiệu ứng tháng Mười Một. Các nhà đầu tư nên cẩn trọng khi áp dụng các chiến lược đầu tư dựa trên hiệu ứng này và luôn tiếp cận thị trường với một quan điểm cân nhắc và tính toán rủi ro.
2.1.3.6 Hiệu ứng ngày thứ Hai
Hiệu ứng ngày thứ Hai, hay còn được gọi là hiệu ứng cuối tuần, là hiện tượng khi tỷ suất lợi nhuận vào ngày thứ Hai thường thấp hơn so với các ngày khác trong tuần và có xu hướng trung bình là số âm. Hiệu ứng ngày thứ Hai được lần đầu phát hiện vào năm 1973 trong nghiên cứu của Cross khi nhận thấy tỷ suất sinh lợi trung bình của chứng khoán vào ngày thứ Hai là âm. Đến năm 1980, sử dụng phương pháp kiểm định bằng kinh tế lượng, Frech đã phát hiện và khẳng định sự tồn tại của hiệu ứng ngày thứ Hai.
Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Thi Xuân Hương, Võ Xuân Vinh và Nguyễn Phúc Cảnh (2017) trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000-2014, kết quả cho thấy sự tồn tại của hiệu ứng ngày thứ Hai trong giai đoạn trước khủng hoảng 2000-2007. Tuy nhiên, trong giai đoạn trong và sau khủng hoảng 2010-2014, không còn sự xuất hiện của hiệu ứng này. Kết quả nghiên cứu cũng đưa ra kết luận về tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam, rằng nó đã trở nên hiệu quả hơn sau khủng hoảng.
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
Nghiên cứu về hiệu ứng tháng Năm đã được tiến hành rộng rãi trên toàn cầu. Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu về hiệu ứng tháng Năm tại các quốc gia trên thế giới không luôn tương đồng, phụ thuộc vào tình hình thị trường chứng khoán cụ thể của từng quốc gia.
Nghiên cứu đầu tiên về hiệu ứng tháng Năm được thực hiện bởi Bouman và Jacobsen (2002), cho thấy hiện tượng này xảy ra ở 36 trong tổng số 37 quốc gia được kiểm tra từ năm 1694, và được cho là rõ rệt hơn ở châu Âu. Có một số giải thích cho hiện tượng bất thường này, ví dụ như cho rằng tại châu Âu, đa số các nhà đầu tư thường đi nghỉ hè vào tháng Năm, dẫn đến tính thanh khoản thấp và giao dịch trở nên ảm đạm. Do đó, giá cổ phiếu thường giảm vào đầu tháng. Một giải thích khác có thể liên quan đến sự thay đổi các yếu tố cơ bản trong nền kinh tế như nông nghiệp và hàng tiêu dùng (Bouman và Jacobsen, 2002).
Một nghiên cứu khác của Andrade, Chhaochharia và Fuerst (2014) đã chỉ ra rõ ràng rằng hiệu ứng “bán và đi” vẫn tồn tại đồng thời. Dựa trên nghiên cứu từ năm 1998 đến 2014, chu kỳ 6 tháng từ tháng 11 đến tháng 4 thường có tỷ suất sinh lợi cao hơn 10 điểm phần trăm so với chu kỳ 6 tháng từ tháng 5 đến tháng 10.
Trong nghiên cứu của Biao Guo, Xingguo Luo và Ziding Zhang (2016) về hiệu ứng tháng Năm trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, kết quả cho thấy hiệu ứng tháng Năm vẫn tồn tại trên thị trường chứng khoán Trung Quốc – thị trường lớn nhất thế giới. Đặc biệt, hiệu ứng này không biến mất đối với phần lớn các ngành công nghiệp. Một chiến lược giao dịch đơn giản dựa trên hiệu ứng này đã được chứng minh là tốt hơn chiến lược mua và giữ, và có thể giúp bảo vệ các nhà đầu tư khỏi tổn thất nghiêm trọng sau các cuộc suy thoái lớn.
Nghiên cứu của Hubert Dichtla và Wolfgang Drobetz (2016) cho thấy rằng hiệu ứng Halloween được nghiên cứu bởi Bouman và Jacobsen (2002) đã mất đi sức mạnh hoặc thậm chí giảm dần trong thời gian gần đây. Do đó, các nhà đầu tư nên cân nhắc và áp dụng chiến lược Halloween trong tương lai một cách thận trọng.
Trong nghiên cứu của Biao Guo, Xingguo Luo và Ziding Zhang(2016) nghiên cứu về Hiệu ứng tháng Năm tại thị trường Trung Quốc cho thấy rằng hiệu ứng tháng Năm tồn tại trên thị trường chứng khoán Trung Quốc thị trường lớn nhất thế giới. Đặc biệt, hiệu ứng này không biến mất đối với phần lớn các ngành công nghiệp. Một chiến lược giao dịch đơn giản, dựa trên hiệu ứng, được chứng minh là tốt hơn chiến lược mua và giữ và có thể bảo vệ các nhà đầu tư khỏi những tổn thất nghiêm trọng sau cuộc suy thoái lớn.
Theo nghiên cứu của Hubert Dichtla và Wolfgang Drobetz (2016), nghiên cứu về hiệu ứng Halloween của Bouman và Jacobsen (2002) đã mất đi sức mạnh hoặc thậm chí giảm dần trong thời gian gần đây. Do đó, các nhà đầu tư nên cân nhắc và áp dụng chiến lược Halloween trong tương lai một cách thận trọng. Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
Trong nghiên cứu của Doeswijk (2010) về giả thuyết chu kỳ lạc quan, kết quả cho thấy trung bình, cổ phiếu mang lại lợi nhuận gần như bằng 0 từ tháng Năm đến tháng Mười. Nghiên cứu giả định rằng mô hình theo mùa này có thể được giải thích bằng chu kỳ lạc quan. Khi đến gần cuối năm, các nhà đầu tư thường có kỳ vọng quá lạc quan về năm tới. Tuy nhiên, sau vài tháng, sự lạc quan ban đầu trở nên khó duy trì và thị trường chứng khoán trải qua một mùa hè tạm lắng. Một chiến lược xoay vòng ngành toàn cầu dựa trên lý thuyết này dường như mang lại lợi nhuận cao.
Khi nghiên cứu sự liên kết giữa giá cổ phiếu và các thay đổi ngoại sinh trong cảm xúc của con người, Kamstra và đồng nghiệp (2003) đã phát hiện rằng tỷ suất sinh lợi trung bình của thị trường thấp hơn trong mùa thu và mùa đông. Nguyên nhân được cho là do sự rối loạn cảm xúc theo mùa và sự rối loạn trầm cảm liên quan đến sự giảm số giờ có ánh sáng ban ngày. Kết quả nghiên cứu từ các vùng địa lý khác nhau và từ cả hai bán cầu đều tương thích với giải thích này
Nghiên cứu của Su và đồng nghiệp (2013) tập trung vào thị trường chứng khoán Trung Quốc và xem xét tỷ suất lợi nhuận bất thường trên các cổ phiếu với vốn hóa nhỏ. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 1993 đến năm 2006 trên các chỉ số chứng khoán Trung Quốc. Phương pháp nghiên cứu sử dụng phân tích số liệu định lượng, trong đó các mô hình hồi quy được chạy. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự xuất hiện của Hiệu ứng Tháng Giêng, nhưng có sự xuất hiện của hiệu ứng chuyển năm. Trong tháng Ba, tỷ suất lợi nhuận trung bình trên các cổ phiếu tăng cao hơn so với các tháng khác, đặc biệt là trong danh mục các doanh nghiệp có vốn hóa nhỏ. Tác giả tin rằng tháng Ba thể hiện rõ hiệu ứng chuyển năm do sự phù hợp với nền văn hóa tại Trung Quốc.
Theo nghiên cứu của Chen và Chiến (2013), tập trung vào giải thích tác động của khối lượng giao dịch trong tháng Giêng dựa trên các lý thuyết từ tài chính hành vi. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 1972 đến năm 2006 trên TTCK Đài Loan. Phương pháp nghiên cứu sử dụng phân tích t, kiểm định p-value. Kết quả nghiên cứu cho thấy xuất hiện Hiệu ứng Tháng Giêng trên TTCK Đài Loan đối với các doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra, tác giả giải thích rằng trong thị trường tăng giá và được thưởng lợi trong tháng Giêng, hiệu ứng này càng trở nên rõ rệt.
Nghiên cứu của Cristina Balint và Oian Gica (2014) đã kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng Tháng Giêng trên TTCK Rumani. Khoảng thời gian quan sát được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2007 (trước khủng hoảng) và giai đoạn từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2012 (trong khủng hoảng). Hai tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, chạy hồi quy Of S, ARCH và GARCH với mô hình hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu ứng Tháng Giêng tồn tại trong giai đoạn trước khủng hoảng, trong khi trong giai đoạn khủng hoảng, hiệu ứng Tháng Giêng chỉ xuất hiện ở danh mục cổ phiếu có vốn hóa nhỏ nhất. Từ kết luận này, Balint và Gica cho rằng có thể tìm kiếm lợi nhuận vượt trội hơn từ hiệu ứng Tháng Giêng trên TTCK Rumani trong cả hai giai đoạn.
Nghiên cứu của Ahsan và Sarkar (2015) đã kiểm tra sự tồn tại của hiệu ứng Tháng Giêng trên TTCK Dhaka (DSE) tại Bangladesh. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ tháng 01/1987 đến tháng 11/2014. Phương pháp nghiên cứu của bài là phương pháp định lượng, sử dụng mô hình hồi quy đa biến với hồi quy OLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự xuất hiện của hiệu ứng Tháng Giêng tại DSE, tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận trong tháng 6 cao hơn so với các tháng khác, cho thấy sự bất thường về tỷ suất lợi nhuận của tháng 6. Nhóm tác giả cho rằng nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận vượt trội bằng cách tận dụng sự bất thường này. Ở Bangladesh, tháng 7 là tháng đầu tiên trong năm tài chính, tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận trong tháng này không cao hơn các tháng khác, việc này đã mất đi tính hữu ích của giả thuyết “Tax-loss selling”
Nghiên cứu của Norvaisiene và cộng sự (2017) nhằm kiểm định và điều tra các bằng chứng về hiệu ứng mùa vụ trên các TTCK thuộc biển Baltic, đồng thời xác định chiến lược lợi nhuận theo mùa để nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận bất thường trên thị trường. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là chỉ số giá hàng ngày của Nasdaq OMX Tallinn, Nasdaq OMX Riga và Nasdaq OMX Vilnius trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2016. Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp định lượng, trong đó mô hình hồi quy với biến giả được áp dụng cho từng tháng, và sử dụng phương pháp hồi quy OLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của hiệu ứng mùa vụ tại các TTCK trong khu vực này. Cụ thể, tại Estonia, có bằng chứng cho sự tồn tại của hiệu ứng Tháng Giêng và hiệu ứng Tháng Mười. Tại Lithuania, các tháng thành công nhất là tháng Một, tháng Tám và tháng Mười Một, và có hiệu ứng Halloween hay còn được gọi là “Sell in May and go away” tại Estonia và Lithuania. Nghiên cứu cũng kết luận rằng nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận bất thường thông qua các hiệu ứng mùa vụ trên các TTCK trong khu vực này.
Nghiên cứu của Athanassakos (2017) nhằm kiểm định sự tồn tại của tỷ suất lợi nhuận vượt trội trong các doanh nghiệp ít rủi ro và các ngành công nghiệp ít rủi ro tại Canada. Nghiên cứu cũng kiểm định mối liên hệ giữa các giả thuyết giải thích hiệu ứng Tháng Giêng như giả thuyết “Tax-loss selling” và giả thuyết “gamesmanship”. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 12.830 quan sát từ 101 doanh nghiệp thuộc 13 ngành công nghiệp trong khoảng thời gian từ tháng 01/1980 đến tháng 12/1998. Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp định lượng, trong đó mô hình hồi quy OLS với biến giả được áp dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của hiệu ứng mùa vụ trong mẫu dữ liệu này, tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận trong tháng Một thấp bất thường so với các tháng khác trong năm. Đối với các công ty có chỉ số beta cao và đánh giá xếp hạng trái phiếu thấp, chỉ có sự xuất hiện của hiệu ứng Tháng Giêng. Các công ty tốt sẽ có tỷ suất lợi nhuận vượt trội vào quý cuối năm, điều này có thể được giải thích bằng giả thuyết “gamesmanship”. Cuối cùng, tác giả kết luận rằng kích thước của doanh nghiệp hay giá trị vốn hóa không phải là yếu tố quyết định đối với hiệu ứng Tháng Giêng. Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
Nghiên cứu của Huseyin Ocal, Sueyya Imre(2023) kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng tháng Năm với mốc thời gian từ năm 2017 đến năm 2022 ở các thị trường như Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Pháp và Đức cho thấy có sự tồn tại của hiệu ứng tháng Năm thông qua việc sử dụng mô hình tuyến tính hồi quy ARIMA với các chỉ số chứng khoán tại các thị trường cụ thể.
2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước
Trong nghiên cứu của Trầm Thị Xuân Hương, Vũ Xuân Vinh và Nguyễn Phúc Cảnh (2017), tác giả tìm hiểu về hiệu ứng mùa vụ trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là hiệu ứng ngày Thứ Hai. Mặc dù nghiên cứu không liên quan đến Hiệu ứng Tháng Giêng, nhưng phương pháp và dữ liệu nghiên cứu tương tự với các nghiên cứu khác về hiệu ứng mùa vụ tại Việt Nam, do đó nghiên cứu này được đề cập trong phần này. Dữ liệu được thu thập trước và sau khủng hoảng từ năm 2000 đến năm 2015 trên chỉ số VN-Index và các chỉ số vốn hóa khác như VN30, Large Cap và Small Cap. Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp định lượng, trong đó mô hình hồi quy biến giá theo ngày trong tuần được sử dụng, và áp dụng hồi quy OLS cho mô hình. Kết quả cho thấy, trước khủng hoảng đã xuất hiện hiệu ứng ngày Thứ Hai, nhưng sau đó giai đoạn trong và sau khủng hoảng, sự tồn tại của hiệu ứng này đã không còn được quan sát thấy.
Nghiên cứu của Trương Đông Lộc (2014) tập trung vào thị trường chứng khoán Việt Nam sử dụng chỉ số VN-Index trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2013. Phương pháp nghiên cứu sử dụng là OLS và GARCH. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lợi ngày thứ Ba có thể âm hoặc dương, trong khi tỷ suất sinh lợi và biến động của chứng khoán vào ngày thứ Sáu cũng có thể âm hoặc dương.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Oanh (2017), đã được chỉ ra rằng tồn tại hiệu ứng ngày trong tuần trên các thị trường nghiên cứu. Hiệu ứng Tháng Giêng cũng được thấy tại Thái Lan và Philippines, trong khi hiệu ứng ngày nghỉ tồn tại ở Việt Nam và Philippines, với ngày nghỉ nhà nước đạt mức ý nghĩa thống kê ở Việt Nam, Philippines và Malaysia.
Trong nghiên cứu của Chung Tiến Lưu, Cường Hùng Phạm và Long Phạm (2018), nhóm tác giả đã tập trung vào việc nghiên cứu các hiệu ứng mùa vụ trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm hiệu ứng ngày trong tuần, hiệu ứng Tháng Giêng và hiệu ứng chuyển tháng. Để thu thập dữ liệu, nhóm tác giả đã sử dụng chỉ số VN-Index từ Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2016. Phương pháp nghiên cứu định lượng và các giả thuyết đã được kiểm định bằng phương pháp kiểm định t với mức ý nghĩa 5%. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu ứng mùa vụ tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng chưa có sự hiệu quả thực sự. Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn có thể tận dụng những không thường xuyên trong mùa vụ để tìm kiếm lợi nhuận vượt trội so với mức trung bình trên thị trường. Nhóm tác giả cũng nhấn mạnh rằng nghiên cứu của họ chỉ sử dụng dữ liệu quá khứ, do đó giá trị chứng khoán có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác trong tương lai và khi các nhà đầu tư phát hiện sự không thường xuyên trong mùa vụ này, việc tìm kiếm lợi nhuận từ hiệu ứng mùa vụ có thể không còn mang lại hiệu quả cho các nhà đầu tư.
TÓM TẮT CHƯƠNG II
Trong chương 2 trình bày các lý thuyết cơ sở cho việc nghiên cứu hiệu ứng tháng Năm.Chương trình bày hai lý thuyết quan trọng nền tảng cho nghiên cứu là lý thuyết thị trường hiệu quả và lý thuyết bước đi ngẫu nhiên. Khái niệm về hiệu ứng thời gian cũng như một số dạng của hiệu ứng thời gian được trình bày. Trong chương này khóa luận cũng trình bày các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu ứng tháng Năm trên thế giới và tại Việt Nam. Các nghiên cứu trên thế giới về hiệu ứng Tháng Năm rất đa dạng và chính vì thế kết quả cũng như sự giải thích cho hiệu ứng này cũng có sự khác nhau ít nhiều. Nhưng nhìn chung thì tất cả các nghiên cứu này đều giải thích dựa trên một vài giả thuyết được trình bày trong chương. Các nghiên cứu tại Việt Nam đều cho ra kết quả có sự tồn tại của hiệu ứng Tháng Năm trên TTCK Việt Nam Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Hiệu ứng tháng năm trên thị trường chứng khoán VN […]