Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Qua những phân tích và đánh giá về thực trạng cũng như nguyên nhân của những tồn tại và bất cập nêu trên có thể thấy rằng, vấn đề thẩm định và thẩm tra Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành còn rất nhiều vướng mắc. Nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trên thực tiễn, bản thân tôi xin đưa ra một số giải pháp như sau

3.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng của các Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ở địa phương ban hành, hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này cần được sửa đổi bổ sung như sau:

Một là, nêu rõ phạm vi ban hành, chương trình ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cần quy định: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân chỉ tập trung ban hành Văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những vấn đề bức xúc nhất của địa phương và những vấn đề mà văn bản luật giao địa phương quy định chi tiết, tránh trường hợp Văn bản quy phạm pháp luật của địa phương ban hành nhắc lại những quy định của cơ quan trung ương. Thực tế hiện nay các cơ quan nhà nước ở địa phương, nhất là đối với cấp huyện và xã, việc ban hành ra các văn bản quy phạm pháp luật giải quyết những vấn đề của địa phương mình chủ yếu vẫn là nhắc lại những quy định được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương. Điều này gây nên tình trạng có quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật, làm cho hệ thống văn bản trở nên quá tải và thiếu sự thống nhất. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, UBND 2004 liệt kê những lĩnh vực mà Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân có quyền ban hành văn bản để quy định cũng có sự bất hợp lý. Từ cấp tỉnh, đến cấp huyện và cấp xã khác nhau về sự phân cấp phạm vi lãnh thổ nhưng nội dung quy định lĩnh vực điều chỉnh lại hoàn toàn giống nhau. Nhất là đối với cấp huyện và cấp xã khi mà điều kiện kinh tế – xã hội của từng vùng không có quá nhiều đặc thù thì việc ban hành các Văn bản quy phạm pháp luật quy định lại các quy phạm pháp luật của cấp trên là hoàn toàn không cần thiết. Chính vì vậy, tôi kiến nghị chỉ giao thẩm quyền ban hành Văn bản quy phạm pháp luật cho cơ quan nhà nước ở cấp tỉnh để có sự thống nhất và tránh quá tải trong hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật của địa phương. Bên cạnh đó, hiện nay theo quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân năm 2004 thì cơ quan Tư pháp có vai trò phối hợp cùng Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trong việc dự kiến chương trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật, nhưng ở giai đoạn sau khi các ngành đã gửi dự kiến ban hành của ngành mình, lúc này cơ quan Tư pháp sẽ không thể hiện hết được vai trò của mình trong việc phối hợp xây dựng dự kiến chương trình Văn bản quy phạm pháp luật, thậm chí có đôi lúc còn thụ động. Chính vì vậy, đề nghị sửa đổi quy định về cơ quan chủ trì xây dựng chương trình ban hành Văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương theo hướng tăng cường vai trò của cơ quan Tư pháp trong việc lập dự kiến chương trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật của các ngành trước khi gửi dự kiến đến văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Điều này vừa góp phần tạo nên một chương trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đồng thời phát huy được tối đa vai trò của cơ quan Tư pháp địa phương trong hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Hai là, sửa đổi quy định về đối tượng thẩm định, thẩm tra. Hầu như ở các địa phương, Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành chủ yếu dưới hình thức là nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân. Các văn bản được ban hành dưới hình thức chỉ thị thường chỉ được dùng để đôn đốc hay tăng cường những mặt công tác cụ thể. Theo quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 Chỉ thỉ của Ủy ban nhân dân được ban hành để quy định biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của cơ quan, đơn vị trực thuộc và của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình. Xét về bản chất, chỉ thị là loại văn bản được sử dụng để chỉ đạo, điều hành, thực hiện những công việc thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các cấp mà không phù hợp để đặt ra các quy phạm. Trước kia trong quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 sửa đổi bổ sung 2002 quy định khá nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành chỉ thị như Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng,… nhưng đến nay, Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 2008 đã lược bỏ đi hoàn toàn thẩm quyền ban hành chỉ thị của các chủ thể này và hiện nay chỉ còn duy nhất chỉ thị quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân các cấp ban hành. Tuy nhiên, song song với nó còn có chỉ thị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân ban hành. Tiêu chí nào để xác định chính xác về nội dung đâu là quy phạm pháp luật, đâu là áp dụng pháp luật giữa chỉ thị của Ủy ban nhân dân và chỉ thị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân? Việc xác định một chỉ thị có phải là Văn bản quy phạm pháp luật hay không rất khó nhất là trong khi chưa có một cách hiểu thống nhất về Văn bản quy phạm pháp luật. Thông thường cùng một nội dung như nhau, nếu chỉ thị được Chủ tịch kí với thể thức kí thay mặt Ủy ban nhân dân thì đó là quy phạm pháp luật còn nếu sử dụng thể thức kí trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân thì là chỉ thị áp dụng pháp luật. Đó chỉ là thói quen trong quá trình ban hành văn bản ở các địa phương và điều này gây khó khăn trong quá trình thực hiện công tác thẩm định thẩm tra nói riêng cũng như cho quá trình ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật nói chung. Do vậy, tôi đồng ý với quan điểm bỏ hình thức chỉ thị của Ủy ban nhân dân là hình thức Văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với thực tiễn hoạt động ban hành văn bản của địa phương. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Ba là, cần phải khẳng định việc thẩm định, thẩm tra tính khả thi của dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật là bắt buộc. Hiện nay, Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Nghị định hướng dẫn thi hành đều quy định cơ quan thẩm định có thể phát biểu về tính khả thi của dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại không quy định việc thẩm tra phải phát biểu về vấn đề này. Theo tôi việc cơ quan thẩm định, thẩm tra phát biểu về tính khả thi của dự thảo văn bản là rất quan trọng. Bởi vì, nếu cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân không thẩm định, thẩm tra tốt tính khả thi của dự thảo, thì sẽ để lọt các văn bản không có tính khả thi, không phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến niềm tin của tổ chức và nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật. Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, việc thẩm định, thẩm tra tính khả thi của dự thảo văn bản tuy không phải là công việc đơn giản, nhưng không phải là quá nan giải khi pháp luật quy định cơ quan chủ trì soạn thảo phải có trách nhiệm khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương liên quan đến dự thảo ngay từ giai đoạn lập chương trình. Nhất là khi chúng ta cải tiến cách thức tổ chức thẩm định, thẩm tra theo hướng huy động cao hơn trí tuệ của các chuyên gia trong hoạt động thẩm định, thẩm tra. Vì vậy, đề nghị Luật phải khẳng định thẩm định và thẩm tra tính khả thi của dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật là bắt buộc trong các nội dung dự thảo và cơ quan thẩm định, thẩm tra phải đồng thời chịu trách nhiệm cùng với cơ quan soạn thảo về tính khả thi của dự thảo đó.

Bốn là, thay đổi quy định về thời gian thẩm định và thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp. Chúng ta nên có sự phân loại đối với các Văn bản quy phạm pháp luật để quy định thời gian thẩm định, thẩm tra cho phù hợp. Mức quy định thời gian cho hoạt động thẩm định và thẩm tra như hiện nay chỉ có thể áp dụng với những Văn bản quy phạm pháp luật đơn giản và không mang tính phức tạp. Còn đối với những Văn bản quy phạm pháp luật phức tạp, cần thành lập Hội đồng thẩm định, thẩm tra, thì nên tăng thời gian thẩm định, thẩm tra lên mức tối thiểu là 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thẩm định, thẩm tra đối với Văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh và ngày đối với Văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện. Bên cạnh đó cần quy định mức thời gian tối thiểu cho hoạt động thẩm định, thẩm tra trong trường hợp ban hành Văn bản quy phạm pháp luật đột xuất ngoài chương trình, kế hoạch. Luật phải quy định rõ thời gian thẩm định, thẩm tra được tính từ ngày cơ quan có thẩm quyền thẩm định, thẩm tra nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định, thẩm tra hợp lệ theo quy định.

Năm là, cần phải khẳng định tầm quan trọng của hoạt động thẩm định và thẩm tra trong ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù cũng có những địa phương lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đánh giá cao công tác thẩm định, thẩm tra, thể hiện sự tin tưởng thông qua việc chỉ ký ban hành khi đã có ý kiến thẩm định, thẩm tra của cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân nhưng đó chỉ là bộ phận thiểu số địa phương thực hiện. Còn trên thực tế, hai hoạt động này vẫn còn chưa được coi trọng ở hầu hết các địa phương, thâm chí nhiều địa phương còn bỏ qua khâu này trong quy trình ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Chính vì vậy, luật phải quy định rằng: cơ quan có thẩm quyền ban hành Văn bản quy phạm pháp luật (HĐND và Ủy ban nhân dân) có trách nhiệm từ chối không thông qua văn bản khi chưa có ý kiến thẩm định, thẩm tra của cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân. Văn bản quy phạm pháp luật nếu thông qua mà không có ý kiến thẩm định, thẩm tra thì bị coi là vi phạm quy trình ban hành và có thể bị xem xét về giá trị pháp lý, tránh tình trạng thực tế hiện nay ở nhiều địa phương là cơ quan soạn thảo gửi thẳng dự thảo đến Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân để tiến hành thủ tục thông qua. Cơ quan thẩm định, thẩm tra có quyền từ chối thẩm định, thẩm tra trong trường hợp hồ sơ không đủ theo quy định hoặc không đảm bảo thời gian thẩm định, thẩm tra. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Sáu là, Luật nên bổ sung quy định về trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình thẩm định, thẩm tra. Hiện nay cơ quan thẩm định, thẩm tra không tiến hành thẩm định, thẩm tra hoặc thẩm định, thẩm tra mang tính hình thức, cũng như các cơ quan soạn thảo không gửi dự thảo tới cơ quan thẩm định, thẩm tra đều không phải chịu trách nhiệm nào. Việc cơ quan tiến hành thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật làm không tốt vai trò và trách nhiệm của mình sẽ gián tiếp làm giảm đi giá trị của văn bản sẽ được ban hành trên thực tiễn. Nếu một dự thảo văn bản quy phạm pháp luật không được thẩm định, thẩm tra về toàn bộ những vấn đề có liên quan như tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính khả thi của văn bản,… thì văn bản được ban hành có thể sẽ không có chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu và phát huy được hiệu quả của văn bản trên thực tiễn. Mặt khác, việc buông lỏng chế tài đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành thẩm định và thẩm tra sẽ gây nên tâm lý chủ quan, cẩu thả và thậm chí bỏ qua khâu thẩm định và thẩm tra trong quá trình công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể có liên quan. Chính vì vậy, việc bổ sung trách nhiệm của các chủ thể đối với hoạt động thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần thiết phải đặt ra.

Cuối cùng là, tiếp tục nghiên cứu để tiến đến thống nhất Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và địa phương. Sau khi Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 ra đời (có hiệu lực ngày 01/01/2009) thì một số quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã không còn phù hợp với thực tiễn nên cần phải sửa đổi sớm để tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật.Việc thống nhất ở tầm văn bản Luật sẽ dần dần đưa công tác ban hành Văn bản quy phạm pháp luật nói chung và công tác thẩm định và thẩm tra nói riêng đi vào nề nếp, trật tự.

Việc sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động thẩm định, thẩm tra của cơ quan Tư pháp địa phương và các ban của Hội đồng nhân dân theo hướng trên sẽ tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho các chủ thể tiến hành hoạt động được thuận lợi có hiệu quả hơn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.2. Các giải pháp cải thiện việc tổ chức thực hiện hoạt động thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành.

3.2.1. Trước hết, cần nâng cao nhận thức và tăng cường kỷ luật trong công tác thẩm định, thẩm tra.

Thẩm định và thẩm tra là hoạt động vô cùng quan trọng, có tác động không nhỏ đến chất lượng của toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Nếu công tác thẩm định, thẩm tra được thực hiện tốt sẽ nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và góp phần nâng cao uy tín của ngành tư pháp. Tuy nhiên, bản thân các cá nhân, cơ quan tham gia vào quy trình xây dựng pháp luật cũng như các cá nhân đơn vị trong cơ quan có thẩm quyền thẩm định và thẩm tra văn bản không phải tất cả đều nhận thức đầy đủ vấn đề này. Ngay một số đơn vị thẩm định, thẩm tra trong các cơ quan đó nhiều khi vẫn xem thẩm định, thẩm tra chỉ là công việc của một cá nhân, một nhóm người mà từ đó có cách thức tổ chức phân công thẩm định, thẩm tra chưa ngang tầm với vai trò, vị trí của hoạt động này. Vì vậy, cần phải nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ làm công tác thẩm định và thẩm tra. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Không chỉ nâng cao nhận thức cho các cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra mà còn phải nâng cao nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác văn bản của địa phương. Đối với các cấp uỷ Đảng, lãnh đạo chính quyền địa phương phải nhận thức được tầm quan trọng của công tác văn bản nói chung và hoạt động thẩm định, thẩm tra nói riêng. Văn bản địa phương là những văn bản cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến người dân địa phương. Văn bản do địa phương ban hành phục vụ trực tiếp cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Một văn bản ban hành có chất lượng sẽ phát huy hiệu quả trong công tác quản lý địa phương, qua đó đánh giá được hiệu quả hoạt động của cấp uỷ Đảng, chính quyền trong nhiệm kỳ, đồng thời tăng cường trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu các đơn vị chủ trì thẩm định, thẩm tra và tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động thẩm định, thẩm tra. Cần tăng cường vị trí vai trò của người đứng đầu cơ quan tư pháp trong quản lý Nhà nước về công tác xây dựng và thẩm định, thẩm tra Văn bản quy phạm pháp luật.. Việc ban hành một Văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành có thủ tục thẩm định, thẩm tra và sau khi ban hành có thủ tục kiểm tra đều do cơ quan Tư pháp thực hiện. Với việc cơ cấu lãnh đạo cơ quan tư pháp trong thành phần tỉnh uỷ viên, thành viên uỷ ban sẽ phổ biến kịp thời những chủ trương, đường lối của Đảng, chỉ đạo công tác văn bản một cách sâu sắc và có chất lượng. Có như vậy mới bảo đảm cho việc ban hành văn bản đúng với chủ trương, chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước và phù hợp với tình hình địa phương.

3.2.2. Đổi mới về phương pháp và cách thức tổ chức thẩm định và thẩm tra cho phù hợp với thực tiễn hiện nay Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Cần sắp xếp lại tổ chức theo hướng chuyên môn hoá và tập trung đầu mối chuyên ngành, tức bố trí một đơn vị thực hiện chuyên trách công tác thẩm định, thẩm tra hoặc trong các bộ phận chức năng phải có cán bộ chuyên trách thực hiện thẩm định, thẩm tra. Đồng thời tăng cường cơ chế phối hợp để huy động trí tuệ, nguồn nhân lực trong nội bộ cơ quan tư pháp, các ban của Hội đồng nhân dân và cả nguồn lực ngoài cơ quan. Có như vậy, khi thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của đơn vị, bộ phận nào thì bộ phận đó sẽ đóng vai trò thường trực của Hội đồng thẩm định, thẩm tra văn bản đó. Đối với những dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực thì cần tăng cường hơn nữa cơ chế phối hợp thẩm định, thẩm tra liên ngành.

Song song với đó cũng cần phải tiến hành cải cách hành chính trong hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Tư pháp, các ban của Hội đồng nhân dân địa phương. Xây dựng quy trình thẩm định, thẩm tra mang tính khoa học cao trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc hợp lý, khoa học, dân chủ, huy động trí tuệ tập thể. Trong đó cần đảm bảo các yêu cầu đơn giản hoá về thủ tục và áp dụng công nghệ thông tin nhằm kiểm soát quy trình, chất lượng và giảm thời gian ở những khâu không cần thiết để dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu thẩm định, thẩm tra.

Luật quy định trong quá trình thẩm định, thẩm tra, cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân có thể mời các luật gia và chuyên gia am hiểu vấn đề chuyên môn thuộc nội dung dự thảo tham gia thẩm định, thẩm tra nhưng trên thực tế các cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân thường tự mình thẩm định, thẩm tra mà ít khi mời các chuyên gia và luật gia kể cả đối với các dự thảo phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có thể do thời gian thẩm định, thẩm tra ngắn hoặc kinh phí thẩm định, thẩm tra không đủ để mời. Chính vì vậy, để chất lượng thẩm định được nâng cao thì các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, các Ban của Hội đồng nhân dân cần có cơ chế để phối hợp với các luật gia, chuyên gia đặc biệt trong việc thẩm định, thẩm tra các dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật phức tạp.

Không những thế cũng cần đặt ra chế tài đối với việc cơ quan chủ trì soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật không mời thành viên cơ quan Tư pháp tham gia vào quá trình soạn thảo văn bản hay mời khi ở giai đoạn cuối của việc soạn thảo. Việc mời thành viên cơ quan Tư pháp, các ban của Hội đồng nhân dân tham gia vào quá trình soạn thảo văn bản ngay từ đầu là rất hợp lý vì như chúng ta đã biết đa phần thành viên của cơ quan tư pháp, các ban của Hội đồng nhân dân chỉ có trình độ chủ yếu là chuyên ngành luật, hoặc chuyên ngành riêng của ban mình, rất ít người có sự am hiểu chuyên sâu về các lĩnh vực khác của đời sống. Mà Văn bản quy phạm pháp luật thì điều chỉnh các quan hệ xã hội vô cùng đa dạng và phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nên việc thành viên cơ quan Tư pháp, các ban của Hội đồng nhân dân tham gia từ đầu vào quá trình soạn thảo sẽ giúp cho họ có cơ hội tìm hiểu thêm về lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh để tạo thuận lợi hơn khi thẩm định, thẩm tra sẽ rút ngắn thời gian nghiên cứu tìm hiểu về vấn để, lĩnh vực đó. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng việc cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân tham gia vào quá trình soạn thảo ngay từ đầu sẽ làm mất đi tính khách quan, tính độc lập tương đối của ý kiến thẩm định, thẩm tra. Cũng không thể hoàn toàn phủ nhận quan điểm này, nhưng xét trong tổng thể không thể vì lo ngại này mà đi vào trạng thái cực đoan, cách ly, độc lập hoàn toàn giữa cơ quan thẩm định, thẩm tra và cơ quan chủ trì soạn thảo. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

3.2.3. Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa cơ quan Tư pháp, các ban của Hội đồng nhân dân, cơ quan chủ trì soạn thảo, văn phòng Ủy ban nhân dân và các cơ quan khác trong quá trình thẩm định, thẩm tra, tổng hợp, tiếp thu ý kiến thẩm định, thẩm tra.

Cần phải tiếp tục tăng cường cơ chế phối hợp này vì những lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, mục đích chung của cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm định, thẩm tra là hoàn thành và tạo ra một dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật tốt đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và tính khả thi của dự thảo. Hoàn toàn không có sự đối lập về lợi ích giữa các cơ quan này trong quá trình soạn thảo mặc dù chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan có thể khác nhau. Nhưng cũng không loại trừ trường hợp vì lợi ích cục bộ của ngành, cơ quan chủ trì soạn thảo muốn đưa ra những nội dung “có lợi” trong dự thảo dù nội dung đó không đảm bảo các yêu cầu chung nêu trên, và do đó không muốn các cơ quan liên quan trong đó có cơ quan thẩm định, thẩm tra phát hiện, nêu vấn đề. Tuy nhiên, đó chỉ là những trường hợp cá biệt nên không lấn át được mục tiêu chung, yêu cầu chung của hoạt động xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật nói chung và hoạt động ban hành Văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương nói riêng.

Thứ hai, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước ta là vừa có sự phân công, phân nhiệm rõ, vừa có sự liên kết phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan. Cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm định, thẩm tra cũng nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nên cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc này, trong đó yêu cầu phối hợp hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cơ quan là yêu cầu cần thiết.

Thứ ba, cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm định, thẩm tra có “mặt mạnh” riêng. Ở góc độ quản lý nhà nước chuyên ngành, không cơ quan nào có thể làm tốt hơn cơ quan chủ trì soạn thảo và chúng ta đang thực hiện nguyên tắc: văn bản thuộc ngành, lĩnh vực nào thì giao cho ngành, lĩnh vực đó phụ trách. Ở góc độ bảo đảm tính pháp lý, tức tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ, cách thức diễn đạt điều luật, ngôn ngữ pháp lý thì cơ quan thẩm định, thẩm tra lại là cơ quan nổi trội hơn. Căn cứ vào đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật, sự phối hợp giữa hai cơ quan này trong quá trình soạn thảo, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật là cần thiết vì lợi ích chung của tập thể, vì yêu cầu tăng cường pháp chế, trật tự kỷ cương quản lý nhà nước, quản lý xã hội như hiện nay. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Vấn đề đặt ra hiện nay là sự phối hợp giữa các cơ quan này còn lỏng lẻo, chưa đồng bộ và kịp thời, chưa đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy cần tăng cường sử dụng cơ chế họp liên ngành, trong đó cơ quan thẩm định, thẩm tra phải có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo, không chỉ ở giai đoạn tiền thẩm định, thẩm tra mà cả trong việc yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo cung cấp bổ sung thông tin về dự thảo văn bản, tham gia phiên họp thẩm định, thẩm tra để thuyết trình về dự thảo văn bản.

Đồng thời, để tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc đảm bảo tuân thủ các quy định về thời hạn gửi dự thảo thẩm định, thẩm tra, thể thức gửi hồ sơ thẩm định, thẩm tra thì cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân cần theo dõi, tổng hợp tình hình các dự án, dự thảo gửi thẩm định, thẩm tra chậm không đúng thời hạn, sai thể thức làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thẩm định, thẩm tra để báo cáo gửi sang Văn phòng Ủy ban nhân dân, thường trực Hội đồng nhân dân để có cơ chế chấn chỉnh cơ quan chủ trì soạn thảo. Việc đặt ra trách nhiệm cho cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc gửi chậm, gửi sai thể thức dự thảo sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ thẩm định, thẩm tra và tăng cường tính kỷ luật trong công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung.

Không những thế cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân cần trực tiếp theo dõi việc cơ quan soạn thảo giải thích, tiếp thu ý kiến thẩm định, thẩm tra, theo dõi việc văn phòng Ủy ban nhân dân, thường trực Hội đồng nhân dân tổng hợp, xử lý ý kiến thẩm định, thẩm tra, xử lý các ý kiến chưa thống nhất giữa các cơ quan ban ngành.. và nêu quan điểm của mình về việc thông qua hoặc không thông qua dự thảo văn bản. Vì nhiều khi ý kiến của cơ quan thẩm định, thẩm tra đã không được cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu để chỉnh lý dự thảo trước khi trình chủ thể có thẩm quyền ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù về nguyên tắc, cơ quan soạn thảo không bắt buộc phải tiếp thu các ý kiến trong báo cáo thẩm định, thẩm tra mà chỉ nghiên cứu thấy hợp lý thì tiếp thu. Trường hợp không tiếp thu phải giải trình rõ trong tờ trình hoặc trong báo cáo giải trình về việc tiếp thu ý kiến thẩm định, thẩm tra. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng: với vai trò là cơ quan “gác cổng” giúp Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân cần có sự am hiểu hệ thống pháp luật hiện hành để phục vụ cho công tác thẩm định, thẩm tra. Do vậy, cơ quan soạn thảo phải tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định, thẩm tra. Tôi cũng đồng tình với quan điểm này, có như vậy giá trị của thẩm định, thẩm tra mới được khẳng định và phát huy hiệu quả.

3.3. Các giải pháp liên quan đến nguồn nhân lực thực hiện công tác thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành.

Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào. Việc đầu tư và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đảm nhiệm công tác thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật là hướng đầu tư có hiệu quả, vừa có tính cấp bách vừa có tính lâu dài. Để cho công tác thẩm định, thẩm tra được tiến hành có hiệu qủa thì cần phải nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác này, cụ thể: Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Một là, bổ sung thêm số lượng cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra vì hiện nay số lượng cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra còn thiếu rất nhiều, đa phần là kiêm nhiệm. Ngoài công việc thẩm định, thẩm tra họ còn đảm nhận một lĩnh vực khác của xã hội, chính vì vậy không tạo nên sự chuyên sâu, chuyên nghiệp trong công việc. Việc tăng về số lượng cán bộ sẽ làm giảm sự kiêm nhiệm trong hoạt động của cán bộ, giúp họ đầu tư nhiều thời gian hơn cho công việc; Nên áp dụng một số mô hình bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ hiện đang làm công tác thẩm định, thẩm tra như: bồi dưỡng thêm kiến thức chuyên ngành khác đối với những cán bộ đã tốt nghiệp chuyên ngành luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý đối với người đã được đào tạo chuyên ngành khác. Việc đào tạo như vậy sẽ giúp cho các cán bộ làm công tác có sự am hiểu phong phú hơn về các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo thuận lợi cho việc thẩm định, thẩm tra được khách quan và khoa học.

Hai là, nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra bằng cách tiêu chuẩn hoá chức danh “Thẩm định viên”, “Thẩm tra viên” cho đội ngũ công chức trực tiếp thực hiện thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật (về trình độ đào tạo, chuyên ngành đào tạo, kỹ năng nghiệp vụ thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật) không chỉ đối với cán bộ thẩm định, thẩm tra trong nội bộ cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân mà cả cán bộ pháp chế của các ban, ngành. Bên cạnh đó cần chú trọng việc mở các lớp tập huấn, toạ đàm, hội nghị… về công tác xây dựng văn bản, kỹ thuật soạn thảo văn bản. Đặc biệt, chú trọng việc đào tạo, tập huấn kỹ năng thẩm định, thẩm tra cho các cán bộ thẩm định, thẩm tra của các cơ quan Tư pháp và các ban của Hội đồng nhân dân.

Bên cạnh đó, cần có những quy định mang tính hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho những cán bộ, công chức làm công tác văn bản nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mở rộng tầm hiểu biết để phục vụ công tác. Đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra phải được ổn định và có thể xem họ là những người làm công tác chuyên sâu. Chính vì vậy, khi đã đưa công tác thẩm định, thẩm tra thành một chức danh trong các chức danh tư pháp thì cũng cần có phụ cấp như các chức danh tư pháp khác như: Thẩm phán, chấp hành viên, công chứng viên…. Điều này sẽ phần nào khuyến khích tinh thần làm việc của cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra văn bản. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Không những thế cần phải xây dựng, biên soạn các cuốn cẩm nang hỗ trợ về kỹ thuật soạn thảo văn bản, kỹ năng thẩm định, cẩm nang về kỹ năng kiểm tra văn bản, hệ thống hoá, pháp điển hoá…Mặc dù cuốn Sổ tay nghiệp vụ soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đã được xuất bản năm 2007 nhưng cuốn sách mới chỉ dừng lại ở khía cạnh chung chung của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà chưa có sự hỗ trợ chuyên sâu về kỹ năng thẩm định. Và đến năm 2011, cuốn Sổ tay Kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật (Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam VIE/02/015) ra đời đã có bước tiến mới khi hướng dẫn một cách chi tiết về quy trình kĩ thuật thẩm định văn bản. Có thể nói cuốn Sổ tay này đã ghi nhận một cách đầy đủ và hoàn thiện nhất về quy trình thẩm định Văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, chủ yếu lại là Văn bản quy phạm pháp luật của trung ương. Còn đối với Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành thì vẫn chưa được quy định rõ, nhất là hoạt động thẩm tra do các ban của Hội đồng nhân dân thực hiện thì hầu như không có hướng dẫn cụ thể nào. Thiết nghĩ, cần phải có một cuốn cẩm nang hỗ trợ chuyên sâu về kỹ năng thẩm định và thẩm tra đối với Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành nhằm giúp cho hoạt động này được thống nhất và phát huy hiệu quả trên thực tiễn.

Hiện nay trong chương trình đào tạo cử nhân luật của các trường Đại học trong cả nước, sinh viên đã được tiếp cận với môn học kỹ thuật soạn thảo văn bản (xây dựng văn bản pháp luật). Nhưng môn học mới chỉ tạo cho sinh viên kiến thức nền về quy trình kỹ thuật soạn thảo, ban hành một số văn bản mà chưa có kiến thức chuyên sâu hay kỹ năng thực hành một quy trình trong cả quá trình soạn thảo và ban hành văn bản đặc biệt là kỹ năng thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, nên bổ sung nội dung “kỹ năng thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật” vào môn kỹ thuật soạn thảo văn bản trong chương trình đào tạo hoặc có thể tách ra thành một môn học riêng mang tính bắt buộc. Hiện nay, trường Đại học Luật Hà Nội là cơ sở đào tạo đầu tiên đã xây dựng nội dung “kỹ năng thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật” thành một môn học riêng, tuy chỉ mới mang tính chất là môn học tự chọn, nhằm giúp sinh viên khi tốt nghiệp ra trường đã được trang bị nền kiến thức và kỹ năng cơ bản về thẩm định, thẩm tra và soạn thảo văn bản, cần thiết phải có sự quan tâm nhất định đối với nội dung này, bởi lẽ sinh viên chuyên ngành luật sau khi ra trường sẽ chính là nguồn nhân lực hùng hậu cho các cơ quan xây dựng pháp luật, pháp chế của Bộ, ngành sau này.

3.4. Tăng cường các điều kiện bảo đảm đối với hoạt động thẩm định và thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành.

3.4.1. Bảo đảm về kinh phí cho hoạt động thẩm định và thẩm tra Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Như chúng ta đã biết mức kinh phí phục vụ cho công tác ban hành văn bản nói chung và cho công tác thẩm định nói riêng hiện thực hiện theo Thông tư liên tịch số 47/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 16 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tư pháp – Bộ Tài quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Đây là văn bản mới ban hành thay thế cho Thông tư liên tịch số 09/2007/TTLT-BTP-BTC ngày 15/11/2007 của Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đảm bảo cho công tác xây dựng các Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trước đây. Thông tư mới đã có những thay đổi cơ bản cũng như tăng kinh phí cho hoạt động thẩm định và thẩm tra Văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Đó thực sự là tín hiệu đáng mừng cho hoạt động ban hành Văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương nói chung và hoạt động thẩm định, thẩm tra nói riêng. Tuy nhiên, bản thân tôi vẫn muốn đưa ra một số ý kiến đối với vấn đề này. Cụ thể:

Một là, mức kinh phí xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương có thể chia thành nhiều loại, tuỳ theo tính chất từng văn bản và điều kiện kinh tế- xã hội của địa phương. Xây dựng các tiêu chí để phân loại tính chất của văn bản thẩm định, thẩm tra theo mức độ phức tạp, phạm vi ảnh hưởng, nhu cầu tổ chức Hội đồng thẩm định, thẩm tra, họp liên ngành để xác định mức kinh phí hỗ trợ phù hợp cho từng loại văn bản chứ không nên phân bổ kinh phí một cách bình quân như hiện nay. Mức kinh phí dành cho thẩm định, thẩm tra văn bản đơn giản phạm vi tác động hẹp cũng bằng mức kinh phí dành cho văn bản thẩm định có nội dung phức tạp, phạm vi tác động rộng lớn cần phải mời các luật gia, chuyên gia am hiểu lĩnh vực chuyên môn là không phù hợp.

Hai là, đồng thời với việc hoàn thiện các quy định về cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ cho công tác thẩm định, thẩm tra thì cũng cần có quy định về phân bổ kinh phí giữa đơn vị chủ trì thẩm định, thẩm tra và đơn vị tham gia thẩm định, thẩm tra căn cứ vào vai trò của mỗi đơn vị trong quá trình thẩm định.

Ba là, nên cho phép các địa phương có thể chủ động huy động các nguồn kinh phí khác nhau ngoài nguồn kinh phí từ ngân sách phục vụ cho công tác thẩm định, thẩm tra. Chẳng hạn, đối với các cuộc họp liên ngành, họp tư vấn thẩm định, thẩm tra để trao đổi về những vấn đề vướng mắc, còn có nhiều ý kiến khác nhau giữa cơ quan soạn thảo và các ban ngành liên quan thì có thể huy động thêm nguồn kinh phí hỗ trợ từ phía cơ quan chủ trì soạn thảo.

Việc quy định của pháp luật chưa hợp lý đã tạo thành một rào cản đối với công tác thẩm định, thẩm tra. Nhưng bên cạnh đó việc thực thi các quy định đó cũng chưa được tốt. Thực tế cho thấy văn bản đã thẩm định, thẩm tra song và ban hành nhưng cơ quan tiến hành công tác thẩm định, thẩm tra vẫn chưa nhận đủ kinh phí cho việc thẩm định, thẩm tra văn bản đó. Vì vậy, đối với việc triển khai thực hiện các văn bản liên quan đến kinh phí phục vụ cho công tác thẩm định, thẩm tra nói riêng và việc xây dựng văn bản nói chung cần phải được thực hiện kịp thời để động viên tinh thần cho cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra.

3.4.2. Đảm bảo nguồn thông tin tư liệu cho hoạt động thẩm định, thẩm tra Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Việc thiếu thông tin, tư liệu về vấn đề mà dự thảo điều chỉnh sẽ khiến cho hoạt động thẩm định, thẩm tra không chính xác, ảnh hưởng đến tính khả thi của văn bản khi ban hành. Những văn bản của Đảng ở các cấp về chính sách phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn địa phương, các đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực trên địa bàn địa phương và các đề tài nghiên cứu chiến lược phát triển vùng là những nguồn tư liệu tốt mà cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra cần được tiếp cận, để từ đó, kết hợp với tình hình địa phương đưa ra những ý kiến thẩm định, thẩm tra có giá trị đảm bảo cho văn bản quy phạm pháp luật có tính khả thi cao.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thẩm định, thẩm tra là vô cùng cần thiết. Bởi lẽ ngày nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc đã trở thành một đòi hỏi tất yếu trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mặc dù công nghệ thông tin được chú trọng ứng dụng trong công việc tại nước ta chưa lâu và trong điều kiện hạ tầng kỹ thuật còn nhiều hạn chế, nhưng những lợi ích hiệu quả mà nó mang lại đã khẳng định vai trò to lớn của công nghệ thông tin. Vì vậy, trong thời gian tới, Nhà nước cần:

Tăng cường sử dụng hệ thống mạng máy tính để duy trì các thông tin cần thiết giữa cơ quan chủ trì soạn thảo với cơ quan thẩm định, thẩm tra, thông tin giữa các đơn vị trong nội bộ cơ quan thẩm định, thẩm tra để phục vụ cho hoạt động thẩm định, thẩm tra. Đối với hệ thống máy vi tính để bàn phục vụ cho công việc tại chỗ, cần bảo đảm đủ về số lượng mỗi người một máy, các máy có tốc độ cao, dung lượng ổ đĩa lớn, được cài đặt đầy đủ các phần mềm hỗ trợ cho việc thẩm định, thẩm tra, được kết nối internet thông suốt, liên tục, được gắn những thiết bị ngoại vi cần thiết theo yêu cầu công việc và một số máy vi tính xách tay để phục vụ khi phải di dời, đi lại để thẩm định, thẩm tra văn bản.

Xây dựng các phần mềm soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật và phần mềm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Phần mềm hỗ trợ thẩm định, thẩm tra phải chứa đầy đủ các thao tác quy trình nghiệp vụ, hệ cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động thẩm định, thẩm tra. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Ngoài việc thực hiện tốt công việc chuyên môn về thẩm định, thẩm tra thì các cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra đều phải biết sử dụng máy vi tính, làm chủ được công nghệ thông tin theo đúng yêu cầu công việc được giao. Vì các cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra tại các huyện có điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển hoặc ở vùng sâu vùng xa thì trình độ chuyên môn còn yếu và ít có điều kiện được tiếp cận công nghệ thông tin.

Trên đây là một số giải pháp và kiến nghị cơ bản nhất nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ở địa phương ban hành. Ngoài ra, ở một góc độ nào đó cũng cần phải nâng cao chất lượng của dự thảo và hồ sơ thẩm định, thẩm tra để tạo thuận lợi cho công tác thẩm định, thẩm tra. Nếu một dự thảo không tốt về mặt nội dung thì cơ quan tiến hành thẩm định, thẩm tra sẽ phải mất nhiều thời gian để nêu vấn đề, lập luận trong báo cáo thẩm định, thẩm tra và đôi khi có thể bỏ sót những nội dung quan trọng khác. Nếu một dự thảo có nội dung tốt, nhưng kỹ thuật soạn thảo không đảm bảo cũng khiến cơ quan thẩm định, thẩm tra phải mất thời gian góp ý những vấn đề có tính chất kỹ thuật thay vì tập trung vào những nội dung thẩm định, thẩm tra chính. Vì vậy, các cơ quan soạn thảo cần đưa ra đánh giá tác động của pháp luật, chính sách đến đời sống kinh tế – xã hội của địa phương mình, từ đó xây dựng được dự thảo phù hợp với thực tiễn và mang lại giá trị pháp lý cao.

Giai đoạn này được thực hiện tốt thì chất lượng dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật được nâng cao, tạo thuận lợi cho giai đoạn sau, giai đoạn thẩm định và thẩm tra.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Để sớm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó mọi chủ thể đều nghiêm chỉnh chịu sự phục tùng pháp luật – một pháp luật có tính pháp lý cao, phù hợp với lý trí, thể hiện đầy đủ những giá trị cao nhất của xã hội, của con người thì việc ban hành một hệ thống pháp luật đồng bộ từ Trung ương đến địa phương là một yêu cầu cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng, mà vai trò đóng góp không nhỏ chính là hoạt động thẩm định và thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật cơ quan Nhà nước ở địa phương ban hành.

Trong thời gian qua, công tác xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp nói chung và công tác thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Tư pháp địa phương và các ban của Hội đồng nhân dân nói riêng đã được chú trọng và đạt được nhiều thành tựu đáng kể góp phần làm giảm bớt sự mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục để đáp ứng được thực tiễn phát triển đất nước và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay đòi hỏi số lượng văn bản điều chỉnh các quan hệ phát sinh lớn kèm theo đó là chất lượng văn bản ban hành phải được nâng cao. Muốn như vậy, trước hết cần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật nói chung và Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ở địa phương nói riêng, nâng cao hơn nữa kỹ năng nghiệp vụ thẩm định, thẩm tra cho các cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra và nhiều biện pháp đồng bộ khác. Như nâng cao nhận thức và tăng cưởng kỷ luật trong công tác thẩm định, thẩm tra; đổi mới về phương pháp và cách thức tổ chức thẩm định và thẩm tra cho phù hợp với thực tiễn hiện nay, tăng cường hiệu quả phối hợp giữa cơ quan Tư pháp, các ban của Hội đồng nhân dân, cơ quan chủ trì soạn thảo, văn phòng Ủy ban nhân dân và các cơ quan khác trong quá trình thẩm định, thẩm tra, tổng hợp, tiếp thu ý kiến thẩm định, thẩm tra. Cùng với đó là các giải pháp liên quan đến nguồn nhân lực thực hiện công tác thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường các điều kiện bảo đảm đối với hoạt động thẩm định và thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành nhu bảo đảm về kinh phí cho hoạt động thẩm định và thẩm tra, đảm bảo nguồn thông tin tư liệu cho hoạt động thẩm định, thẩm tra…

Luận văn được hoàn thành dự trên sự kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó của nhiều tác giả. Bên cạnh đó, tác giả luận văn đã nghiên cứu sâu hơn về hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ở địa phương ban hành, đánh giá một cách khách quan và toàn diện thực trạng hoạt động thẩm định và thẩm tra, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Đó chính là những điểm mới của luận văn. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và phạm vi rộng của đề tài nghiên cứu cho nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Hy vọng, đề tài này sẽ được nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện hơn nữa trong tương lai góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động này trên thực tiễn. Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

One thought on “Luận văn: Giải pháp thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *