Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam khu vực tỉnh Đồng Nai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam khu vực tỉnh Đồng Nai” luận văn đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai; Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai; Kiểm định sự khác biệt về nhân khẩu học ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai; Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất những hàm ý quản trị giúp Ban giám đốc BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai tham khảo đẩy mạnh việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên để nâng cao hiệu quả làm việc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những yếu tố ảnh hưởng đến HVCSTT gồm 07 nhân tố được sắp xếp theo thứ tự mức độ ảnh hưởng như sau: (1) Sự ủng hộ của quản lý cấp cao; (2) Làm việc nhóm; (3) Sự gắn kết; (4) Giao tiếp với đồng nghiệp; (5) Hệ thống khen thưởng; (6) Niềm tin và (7) Công nghệ thông tin.
Kết quả phân tích hồi quy đã cho thấy, các yếu tố trong mô hình nghiên cứu có thể giải thích được 52,4% sự biến thiên về hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai, một tỷ lệ tương đối cao cho thấy sự phù hợp của mô hình lý thuyết với dữ liệu thực tế là khá tốt. Các kiểm định hồi quy là đảm bảo.
Từ khóa: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức; Hành vi chia sẻ tri thức; Chia sẻ tri thức; Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam; Khu vực tỉnh Đồng Nai. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
ABSTRACT
With the topic “Factors affecting knowledge sharing behavior of employees at Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam in Dong Nai province” the thesis has identified the factors affecting the sharing behavior of employees. knowledge sharing of employees at BIDV in Dong Nai province; Measuring the influence of factors on knowledge sharing behavior of employees at BIDV in Dong Nai province; Testing the difference in demographics affecting knowledge sharing behavior of employees at BIDV in Dong Nai province; Based on the research results, the author proposes managerial implications to help BIDV’s Board of Directors in Dong Nai province refer to promoting knowledge sharing among employees to improve working efficiency.
The results of the study show that the factors affecting the academic performance include 07 factors arranged in order of influence level as follows: (1) The support of senior management; (2) Team work; (3) Cohesion; (4) Communicating with colleagues; (5) Reward system; (6) Trust and (7) Information Technology.
The results of the regression analysis have shown that the factors in the research model can explain 52.4% of the variation in knowledge sharing behavior of employees at BIDV in Dong Nai province, a billion Relatively high ratio indicates that the fit of the theoretical model with the actual data is quite good. Regression tests are warranted.
Keywords: Factors affecting knowledge sharing behavior; Knowledge sharing behavior; Knowledge sharing; Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam; Dong Nai province area.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Trị Kinh Doanh
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Với việc nhân viên sẵn sàng chia sẻ tri thức với nhau trong DN được xem là một lợi thế, một sự đổi mới giúp cho DN gia tăng được sự cạnh tranh của DN. Thông qua việc chia sẻ tri thức sẽ giúp cho nhân viên và các bộ phận, các đội, các nhóm với nhau trong DN làm việc hiệu quả hơn và năng suất làm việc tăng cao. Dựa trên nhiều nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra rằng, quá trình chia sẻ tri thức đạt hiệu quả tốt dẫn tới việc hầu hết các hoạt động SXKD đều phát triển theo, điều này thể hiện thông qua mức doanh số bán hàng, giá thành sản phẩm được giảm, năng suất làm việc của người lao động cũng được cải thiện hơn.
BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai hiện nay gồm 4 chi nhánh đó là: Đồng Nai, Nam Đồng Nai, Đông Đồng Nai và Biên Hòa. Mọi hoạt động của BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai đều tuân thủ theo quy định của chung của BIDV và NHNN. Thời gian qua, BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai đang dần hình thành nên giá trị riêng của mình phải kể tới như: Chiếm được niềm tin từ phía khách hàng, không ngừng đổi mới chất lượng dịch vụ, nâng cao năng lực và trách nhiệm đối với tài sản của khách hàng, mục tiêu nhằm trở thành ngân hàng có mức bán lẻ nhiều nhất trong nước cũng như khu vực. Muốn đạt được mong muốn như trên thì trước hết BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai cần tích cực đẩy mạnh mọi hoạt động, không ngừng nâng cao năng lực cho CBNV để phục vụ khách hàng tốt hơn, nhân viên hỗ trợ lẫn nhau giúp làm tốt nhiệm vụ được giao, thay đổi cách thức làm việc đơn lẻ và chuyển sang làm việc nhóm nhằm tăng năng suất cũng như hiệu quả công việc được nâng cao. Chính vì thế mà việc chia sẻ tri thức mang ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình thực hiện mục tiêu phát triển BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Trong những năm vừa qua, mặc dù BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai đã có trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao nghiệp vụ cho CBNV, nhưng các khóa học đào tạo vẫn chưa được tổ chức thường xuyên, cần xây dựng thêm những buổi hội thảo nhằm chia sẻ kiến thức chuyên môn giữa mọi người với nhau, tạo môi trường cho các nhân viên mới và nhân viên yếu kém có thể học hỏi từ người có nhiều kinh nghiệm cũng như kỹ năng giỏi. Có thể thấy, việc trao đổi tri thức giữa CBNV trong BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai đã được thực hiện nhưng quá trình làm việc nhóm vẫn chưa triển khai tốt, phía ngân hàng chưa đưa ra các quy định hay yêu cầu cụ thể và bắt buộc nào, hầu hết các nhân viên sẽ tự học hỏi lẫn nhau trên tinh thần tự phát. Yếu tố công việc cũng như môi trường làm việc của BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai luôn đ i hỏi mọi người cần phối hợp tốt với nhau mới có thể đạt được hiệu quả cao, từ đó cho thấy việc chia sẻ tri thức là hết sức cần thiết và quan trọng, nó giúp chất lượng công việc được tốt hơn.
Bên cạnh mặt hạn chế kể trên, thì việc chia sẻ kiến thức giữa nhân viên giỏi với đồng nghiệp vẫn chưa được phổ biến. Hầu hết những nhân viên có kỹ năng, kinh nghiệm và tay nghề cao vẫn chưa được khuyến khích nhiều trong việc chia sẻ cho đồng nghiệp xung quanh. Có thể thấy, thời gian gần đây có nhiều nhân viên giỏi đã xin nghỉ việc và mang theo cả những kinh nghiệm làm việc hiệu quả, điều này khiến năng suất làm việc tại một số bộ phận trong BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai bị ảnh hưởng. Để tránh tình trạng này tiếp diễn, lãnh đạo BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai cần biết được các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức, từ đó có chính sách cụ thể cũng như triển khai thường xuyên hơn nữa việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên của ngân hàng. Để tri thức của mỗi nhân viên trở thành tài sản tri thức của ngân hàng, để mọi nhân viên có thể cùng khai thác, sử dụng cho sự phát triển chung, đòi hỏi phải có một cơ chế về qui trình lưu giữ, chia sẻ và phát triển tri thức tại ngân hàng một cách thông suốt và đồng bộ.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam khu vực tỉnh Đồng Nai” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của tác giả.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của nghiên cứu là xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai. Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai đẩy mạnh hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhân viên nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên trong tương lai.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Luận văn cần giải quyết được 3 mục tiêu cụ thể sau:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai;
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai;
- Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất những hàm ý quản trị giúp Ban giám đốc BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai tham khảo đẩy mạnh việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên để nâng cao hiệu quả làm việc.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần trả lời các câu hỏi sau:
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai?
- Hàm ý quản trị nào giúp Ban giám đốc BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai đẩy mạnh hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhân viên?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai.
- Đối tượng khảo sát: nhân viên hiện đang làm việc tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai.
- Không gian nghiên cứu: tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai, cụ thể tại 4 Chi nhánh: Đồng Nai, Nam Đồng Nai, Đông Đồng Nai và Biên H a. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Tháng 06/2022-12/2022.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Năm 2020-2022.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên và hiệu chỉnh các thang đo của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đã đề xuất. Tác giả nghiên cứu tổng quan cơ sở lý thuyết để đưa ra các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu, đồng thời dùng kỹ thuật thảo luận nhóm với các chuyên gia về lĩnh vực NH để hiệu chỉnh thang đo, thiết lập bảng câu hỏi để sử dụng cho nghiên cứu chính thức. Kết quả nghiên cứu định tính làm cơ sở xây dựng bảng câu hỏi, thu thập thông tin để thực hiện nghiên cứu định lượng.
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được sử dụng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai. Tác giả sử dụng kỹ thuật xử lý và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 23.0, tiến hành kiểm định thông qua các bước: Đánh giá độ tin cậy các thang đo bằng kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA bằng kiểm định KMO, phân tích hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu với kiểm định F và Sig. Tiếp theo, thực hiện kiểm định T-Test và ANOVA nhằm tìm ra sự khác biệt có ý nghĩa về hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai giữa các nhóm nhân viên.
1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu này sẽ bổ sung vào hệ thống thang đo hành vi chia sẻ tri thức trong tổ chức, thông qua việc xây dựng một mô hình nghiên cứu giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai nói riêng và hệ thống NHVN nói chung. Kết quả có thể làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên áp dụng cho một NH cụ thể hoặc mở rộng kiểm định tại các NH khác nhau trên cả nước.
Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu này sẽ giúp cho các nhà quản lý của BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai nhận diện các yếu tố và mức độ ảnh hưởng các yếu tố này đến hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhân viên của BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai. Nghiên cứu này cũng đề xuất một số hàm ý quản trị giúp cho các nhà quản lý của BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai tham khảo đẩy mạnh việc chia sẻ tri viên thức giữa các nhân viên trong nội bộ BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai để tăng hiệu quả làm việc.
1.7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia thành 5 chương có nội dung như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Chương này tác giả nêu lý do tác giả thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu chung và cụ thể cho luận văn, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và cuối cùng kết cấu của luận văn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương này tác giả trình bày khái niệm, lý thuyết nền liên quan tới hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên, đồng thời lược khảo nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại NH TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam khu vực tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này tác giả trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu luận văn, các bước nghiên cứu định tính, định lượng và phương pháp xử lý dữ liệu cho nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai thông qua nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Chương này tác giả đưa ra kết luận, hàm ý quản trị cho nghiên cứu và đưa ra những hạn chế của nghiên cứu, đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho các tác giả nghiên cứu về sau.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Cơ sở lý luận Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
2.1.1 Tri thức và thông tin
Theo Davenport và Prusak (1998) định nghĩa “tri thức là một tập hợp bao gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin, và sự hiểu biết thông thái mà có thể giúp đánh giá và thu nạp thêm những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức được tạo ra và ứng dụng trong đầu óc của những người có nó. Trong một tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các văn bản và tài liệu, mà còn nằm trong thủ tục, quy trình, thông lệ và nguyên tắc của tổ chức đó. Tri thức được đúc kết từ thực tế, tri thức là tầm hiểu biết và kiến thức của con người. Những dữ liệu thô được con người đúc kết và trở thành tri thức và tri thức sử dụng cụ thể cho một mục đích nào đó nhằm tạo ra giá trị cho con người.
Định nghĩa tri thức của Von Krogh, G., Ichijo, K. and Nonaka, I (2000) có phạm vi rộng hơn và được cho là một quá trình thường xuyên của con người trong việc biện minh cho niềm tin cá nhân đối với chân lý. Theo các tác giả này thì thông tin là một dòng chảy các thông điệp, và tri thức được tạo ra khi dòng chảy các thông điệp này tương tác với niềm tin và sự cam kết của chủ nhân những thông điệp trên.
Thông tin chính là những thông báo, giải thích, hay trao đổi về một đối tượng cụ thể nào đó mà được thể hiện qua các tín hiệu nhận được dưới hình thức chữ số, chữ viết hay âm thanh…nhằm cung cấp thông tin một cách cụ thể về sự hiểu biết cho người nhận tin.
Ngoài ra, thông tin còn phản ánh tất cả các ý tưởng, sự kiện cũng như sự việc, vấn đề phán đoán làm gia tăng thêm sự hiểu biết cho người nhận tin trong quá trình giao tiếp với nhau hoặc có thể thông qua các phương tiện truyền thông, từ các nguồn dữ liệu quan sát được trong môi trường xung quanh.
Khái niệm về thông tin chính là việc xem xét, đánh giá tới các sự vật và hiện tượng có ở xung quanh chúng ta. Ví dụ cụ thể như: Những thông tin liên quan tới thời tiết, thời sự, giá cả,… Hầu hết những thông tin này có được nhờ vào việc học hỏi, rèn luyện, trao đổi, cảm nhận,… Mọi thông tin sẽ được lưu giữ bằng hình thức văn bản hay truyền miệng nhau; đối với loại hình công nghệ thông tin (CNTT) lại được lưu giữ dựa trên dạng thông tin điện tử như video, nhạc.
Nội dung của thông tin thực chất là một loại dữ liệu, sẽ được đi kèm với một số mục đích, liên kết hay sẽ trở thành kiến thức giúp sử dụng để tiến hành so sánh, nhận định cũng như tạo dựng mối liên hệ và dùng để thực hiện một sự đối thoại. Thông tin là dữ liệu trong bối cảnh có thể sử dụng cho việc ra quyết định. Dữ liệu luôn được sắp xếp để tạo ra ý nghĩa cho người nhận, có thể là văn bản, hình ảnh, đoạn phim, hoặc cuộc hội thoại với người khác.
Từ các nghiên cứu trước đây, đã chỉ ra được ba đặc điểm giúp nhận biết giữa tri thức và thông tin. Yếu tố thứ nhất phải kể tới đó là tri thức mang ý nghĩa nhằm thể hiện một quan điểm cụ thể nào đó, các suy nghĩ khác nhau hoặc nhận định mang tính cá nhân. Vì thế mà nó khác hoàn toàn với thông tin, tri thức thuộc về nhân tố niềm tin và sự cam kết. Thứ hai, mọi tri thức sẽ đều đưa tới một kết quả, tức là tri thức có mối liên hệ với các hành động. Thứ ba, yếu tố tri thức luôn đi cùng với một hoàn cảnh, các mối liên hệ, chính vì thế mà tri thức sẽ có ý nghĩa.
2.1.2 Quản lý tri thức Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Theo Armstrong (2009) thì việc quản lý tri thức là bất kỳ quá trình của việc tạo ra, tiếp thu, nắm bắt, chia sẻ, và sử dụng tri thức ở bất kỳ nơi nào, để nâng cao sự học hỏi và hiệu quả làm việc trong các tổ chức, là quá trình quản lý và thúc đẩy các kiến thức của tổ chức một cách tự động và tích cực.
Quản lý tri thức giúp tổ chức nâng cao lợi thế cạnh tranh. Bất kỳ sáng kiến, kế hoạch, chương trình, hệ thống hay sự thay đổi nhu cầu đều đặn cần có chiến lược rõ ràng. Theo Conley và Zheng (2009), chiến lược quản lý tri thức được lựa chọn bởi tổ chức, cần phải phù hợp và tích hợp tốt với chiến lược tổng thể của tổ chức.
Việc điều hành cũng như quản lý tri thức sẽ diễn ra theo hai hướng đó là dựa trên cá nhân hóa và dựa vào việc hệ thống hóa. Về cá nhân hóa thì công tác chia sẻ tri thức được xem như một hoạt động mang tính cá nhân, dựa trên sự phát triển và mong muốn chia sẻ của cá nhân đó diễn ra trong quá trình tương tác lẫn nhau. Đối với việc hệ thống hóa, nguồn tri thức sẽ được lưu giữ và tập trung tại bộ phận dữ liệu của đơn vị, sau đó sẽ được cung cấp cho toàn bộ nhân viên sử dụng. Dựa trên đặc điểm, tính chất mà các tổ chức có thể sử dụng nó nhằm tạo ra lợi nhuận, nếu tổ chức chuyển sang quá trình sản xuất hàng hóa đặc biệt, cần có sự sáng tạo thì cần đề cập nhiều tới cá nhân hóa.
Yếu tố quản lý tri thức được biết đến như một khái niệm khá rộng, trong đó có nhiều yếu tố như chia sẻ tri thức (knowledge sharing), truyền tải tri thức (knowledge transfer), hội nhập tri thức (knowledge integration) và sáng tạo tri thức (knowledge creation). Nhìn chung, mục đích của nghiên cứu này nhằm hướng tới việc khai thác ý nghĩa nhân tố chia sẻ tri thức cũng như yếu tố tác động tới việc chia sẻ tri thức.
2.1.3 Chia sẻ tri thức
2.1.3.1 Khái niệm chia sẻ tri thức Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Chia sẻ tri thức được định nghĩa là sự trao đổi tri thức (kỹ năng, kinh nghiệm và sự hiểu biết) giữa các cá nhân trong tổ chức. Theo Anne S Tsui, Zhi-Xue Zhang, Hui Wang and Renchen Xin (2006) cho rằng chia sẻ tri thức có thể giúp nhân viên chia sẻ sự hiểu biết và kinh nghiệm để giúp những dự án, kế hoạch hoàn thành một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, chia sẻ tri thức liên quan đến từng cá nhân trong việc chia sẻ với tổ chức thông tin, ý tưởng, đề xuất và sự thành thạo đến những người khác.
Theo Maponya (2004) chỉ ra rằng chia sẻ tri thức dựa trên kinh nghiệm thu được trong quá trình làm việc trong và ngoài tổ chức. Nếu tri thức có sẵn trong các thành viên, tổ chức sẽ giảm thiểu tối đa các quyết định trùng lặp và giải quyết vấn đề sẽ nhanh hơn. Các hoạt động chia sẻ tri thức hiệu quả sẽ giúp tái sử dụng tri thức của từng cá nhân và nâng cao tri thức lên một tấm cao mới.
Theo Anne S Tsui, Zhi-Xue Zhang, Hui Wang and Renchen Xin (2006) đưa ra định nghĩa liên quan tới việc chia sẻ tri thức bao gồm:
- Việc chia sẻ tri thức là quá trình đóng góp vào nguồn dữ liệu mang tính chung;
- Quá trình chia sẻ tri thức diễn ra trực tiếp và không trực tiếp đối với những người làm việc trong hoặc ngoài nhóm;
- Thực hiện việc chia sẻ tri thức diễn ra tại các hoạt động mang tính cộng đồng.
Chia sẻ tri thức cũng giống như tri thức, đều có thể thấy hoặc không thấy được. Công tác chia sẻ tri thức có thể nhận thấy dựa trên việc giao tiếp thông qua lời nói, tài liệu được sử dụng trong việc chia sẻ tri thức sẽ không thể thấy được, thường diễn ra tại các hoạt động mang tính xã hội, cách nhìn nhận hoặc việc tư vấn.
Khái niệm về chia sẻ tri thức có thể hiểu đơn giản như một hành động mang tính chủ quan hay cố tình, từ đó giúp cho tri thức cản bản thân được tái sử dụng lại thông qua những người xung quanh, điều này dựa trên quá trình chuyển giao tri thức; thực chất là việc cho và nhận tri thức, bên cạnh đó yếu tố đổi mới và mong muốn được chia sẻ tri thức hoàn toàn xuất phát từ sự cố gắng của cá nhân, giúp cho tri thức luôn được chia sẻ.
2.1.3.2 Tầm quan trọng của chia sẻ tri thức Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Nhìn chung, vai tr của việc chia sẻ tri thức là giúp tạo ra được sự liên kết giữa một cá nhân với một tổ chức, điều này thực hiện được dựa trên quá trình chuyển đổi tri thức từ cấp độ một cá nhân thành cấp độ một đơn vị hay tổ chức khác. Chính nhờ điều này mà tri thức mới chuyển thành giá trị mang tính kinh tế cũng như ưu thế trong quá trình cạnh tranh.
Theo Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (1990), họ đưa ra quan điểm là khi diễn ra quá trình trao đổi tri thức giữa những cá nhân có kinh nghiệm và năng lực tốt sẽ tạo ra được sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng lực phát triển đối với tổ chức, nó vượt quá khả năng của một cá nhân có thể làm được. C n Boland, R. J., & Tenkasi, R. V. (1995) thì lại chấp nhận quan điểm trên và nghĩ ưu thế cạnh tranh và mức độ thành công đối với một mặt hàng nào đó có trong tổ chức thì dựa trên việc kết hợp giữa các cá nhân có trình độ cao để tạo ra được một kết quả chung.
Giữa những nhân viên với nhau mà diễn ra việc chia sẻ tri thức là việc làm hết sức cần thiết, vì nhờ vậy mà tri thức của NNL trong doanh nghiệp được nâng cao hơn. Việc chia sẻ tri thức diễn ra trong các nhóm xem như việc làm hết sức quan trọng.
Theo Von Krogh, G., Ichijo, K. and Nonaka, I. (2000) thì công tác chia sẻ tri thức mang ý nghĩa to lớn giúp tạo ra nguồn tri thức mới và có thể áp dụng điều đó vào công tác nâng cao hiệu suất của doanh nghiệp. Quá trình chia sẻ tri thức được xem là cách thức giúp nhân viên có thể cống hiến một phần tri thức vào hoạt động chung, dẫn tới việc đổi mới và tăng thêm giá trị mang tính cạnh tranh của công ty (Jackson, S. E., Chuang, C. H., Harden, E. E., Jiang, Y., & Joseph, J. M., 2006).
Trải qua quá trình hoạt động lâu dài, hầu hết DN đều xem việc chia sẻ tri thức như một ưu thế trong quá trình cạnh tranh và vai trò của nó dần nâng lên. Thời đại phát triển như hiện nay thì khoảng cách về không gian và thời gian đã không quá xa, khả năng truyền đạt thông tin hết sức cần thiết nhằm ổn định và nâng cao ưu thế cạnh tranh của DN trước những đối thủ trên thị trường. Có thể biết được nhân tố nào đã tác động tới quá trình chia sẻ tri thức cũng như mức độ tác động là bao nhiêu, qua đó cho thấy đây là một nhiệm vụ quan trọng cần tập trung đầu tư và nghiên cứu nhiều hơn.
2.2 Các lý thuyết liên quan đến hành vi chia sẻ tri thức Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
2.2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội
Nhìn chung mọi lý thuyết trao đổi trong xã hội sẽ được sử dụng làm tiền đề cho những nghiên cứu mang tính khám phá về hành vi chia sẻ tri thức của một cá nhân. Nội dung lý thuyết trên vào năm 1958 đã được nhà xã hội học George C. Homans nhắc tới từ việc ra đời tác phẩm Hành vi xã hội là sự trao đổi. Bên cạnh đó, hành vi xã hội thực chất là quá trình trao đổi giữa những hoạt động mang tính vô hình hay hữu hình, những mặt ít và nhiều, lợi hoặc hại, trong đó có ít nhất là hai cá nhân (Greorge, C. H., 1958). Từ nội dung của học thuyết do Homans đưa ra thì nhiều nhà nghiên cứu sau này đã dựa vào đó và giúp nó được hoàn thiện hơn. Trong đó phải kể tới như: Peter M. Blau và Richard M. Emerson họ đã nối tiếp nghiên cứu và không ngừng pháp triển nó.
Dựa vào nội dung lý thuyết trên, hầu hết mọi cá nhân sẽ tiến hành dựa trên việc trao đổi các giá trị mang tính vật chất hay tinh thần, sự tán thành, đồng tình và danh dự. Theo nguyên tắc, những người cho đi nhiều sẽ được nhận lại nhiều, những người được nhận nhiều khi người khác nhìn vào họ cảm thấy bị tác động hoặc gây ra những ảnh hưởng đối với người khác (Rahab & Purbudi, 2013). Nhờ điều này mà giúp những người cho nhiều sẽ được nhận lại nhiều hơn từ chính những người đã được cho nhiều. Một số nghiên cứu đã cho thấy, một cá nhân khi thực hiện việc chia sẻ tri thức với mong muốn sẽ có người nào đó đáp ứng được giá trị tri thức trong tương lai của họ (Song, J., Bong, M., Lee, K., & Kim, S.-i., 2015). Thường xã hội sẽ có 04 nguyên tắc đó là:
- Khi nhận được lợi nhuận ở bất kỳ trường hợp nào thì mọi cá nhân sẽ đều áp dụng điều đó tại một hoàn cảnh tương ứng;
- Nếu những mong muốn hay nhu cầu của cá nhân được đáp ứng đầy đủ thì hầu hết họ sẽ không còn cố gắng để có thể đạt được nó nữa;
- Một khi hành vi nào đó diễn ra và được thưởng hay thu lại lợi ích thì hành vi đó hầu hết sẽ lặp lại;
- Đối với một phần thưởng có giá trị lớn thì cá nhân có thể bỏ ra mức chi phí cao về giá trị vật chất cũng như tinh thần, nhằm đạt được nó;
Chính vì thế mà nhận viên làm việc trong một tổ chức chỉ sẵn lòng chia sẻ tri thức của họ đối với đồng nghiệp, trừ khi họ nhận thấy được những lợi ích hoặc được sự khen thưởng hay tán thành từ cấp trên cũng như có các ưu đãi tương xứng với giá trị họ bỏ ra thì khi đó cá nhân sẽ có xu hướng luôn muốn lặp lại nó. Bên cạnh đó, nếu việc chia sẻ tri thức mà không nhận được bất kỳ lợi ích, hay giá trị nào về mặt vật chất và tinh thần, mà ngược lại họ phải bỏ chi phí để thực hiện công tác đó thì hầu hết nhân viên sẽ không sẵn sàng thực hiện.
Như vậy, thông qua lý thuyết trao đổi xã hội sẽ thúc đẩy nhân viên tích cực chia sẻ tri thức với nhau trong tổ chức giúp nâng cao hiệu quả làm việc và gia tăng sự gắn kết trong tổ chức.
2.2.2 Lý thuyết nhận thức xã hội Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Lý thuyết nhận thức xã hội được hình thành dựa vào lý thuyết học tập xã hội do Miller và Dollard (1941), Bandura. A, (1986) đưa ra, thông qua các giả định về học tập, suy nghĩ hay yếu tố môi trường xung quanh ảnh hưởng qua lại. Nội dung của lý thuyết bao gồm những yếu tố nhận thức, được xem như trung gian của việc học tập và con người cũng học tập được dựa vào việc quan sát môi trường xung quanh.
Nhận định của thuyết học tập xã hội đó là có thể tìm hiểu được dựa trên quá trình quan sát và học tập từ những yếu tố môi trường xung quanh. Có thể thấy, môi trường xung quanh mang ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng tới nhận thức và hành động của con người, từ đó tạo ra mối quan hệ đối ứng giữa môi trường, hành vi cũng như nhận thức của con người (Bandura A., 1986). Mọi thứ có được từ sự quan sát và học tập môi trường xung quanh sẽ đều tác động tới hành vi của con người. Một cá nhân tiến hành những hoạt động dưới sự ảnh hưởng của những nhân tố xã hội, môi trường xung quanh sẽ thu lại được sự phản hồi từ môi trường xung quanh, sau đó sẽ thay đổi hành vi, rồi lại tiếp tục tiến hành nó, sau đó lại điều chỉnh, một quy trình lặp lại liên tục.
Từ nội dung của lý thuyết học tập xã hội, hầu hết mọi nhân viên sẽ tiến hành quan sát môi trường xung quanh, sau đó thực hiện hành vi từ những nhận thức của bản thân. Mặt khác, nhận thức của một cá nhân dựa trên hai nhân tố đó là tự hiệu quả và kết quả mong đợi, những tác động của xã hội hầu hết có từ niềm tin.
Như vậy, thông qua lý thuyết nhận thức xã hội sẽ khiến cho nhân viên trong cùng một tổ chức chỉ sẵn lòng chia sẻ tri thức của họ với đồng nghiệp, khi mà điều này giúp đồng nghiệp của họ tốt lên. Từ đó có thể thấy vai trò của nhân tố niềm tin đối với việc chia sẻ tri thức”.
2.3 Lược khảo các nghiên cứu liên quan Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
2.3.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài
Hindah Mustika và cộng sự, (2022) nhận định rằng nền kinh tế dựa trên thông tin ngày nay, kiến thức được coi là nguồn lực quan trọng và hiệu quả để hỗ trợ các doanh nghiệp thiết lập sự hiệp lực giữa các bộ phận, thúc đẩy đổi mới, cung cấp giá trị cho khách hàng và tăng doanh thu thông qua tăng trưởng thị trường. Hành vi chia sẻ tri thức được định nghĩa là hành vi cá nhân liên quan đến việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm, ý tưởng và kỹ năng với các cá nhân hoặc nhóm người khác trong tổ chức nhằm nâng cao tính bền vững của công ty. Mục đích của nghiên cứu này là phân tích và thu thập bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức, bao gồm ý định chia sẻ tri thức, chia sẻ tri thức về hiệu quả bản thân và sự thích thú trong việc giúp đỡ người khác của 297 nhà quản lý cấp trung trong ngân hàng. Nghiên cứu này là một nghiên cứu giải thích tập trung vào mối quan hệ nhân quả giữa các biến. Dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát bảng câu hỏi và sau đó được phân tích bằng cách sử dụng mô hình Phương trình Cấu trúc (SEM) và (AMOS). Kết quả của nghiên cứu này cho thấy việc chia sẻ tri thức hiệu quả của bản thân và sự thích thú khi giúp đỡ người khác có tác động tích cực và đáng kể đến ý định chia sẻ tri thức. Hơn nữa, tính hiệu quả của việc chia sẻ tri thức, sự thích thú khi được giúp đỡ người khác và ý định chia sẻ tri thức có tác động tích cực và đáng kể đến hành vi chia sẻ tri thức. Vai trò hòa giải của ý định chia sẻ kiến thức cũng được chứng minh là có ý nghĩa.
Muhammad Rasyid Abdillah và cộng sự, (2018) cho rằng hành vi chia sẻ tri thức đã và đang là một vấn đề nóng trong quản lý tri thức. Trong bối cảnh kinh doanh năng động cao, việc hiểu các yếu tố khuyến khích hành vi chia sẻ tri thức là rất quan trọng nếu một tổ chức muốn cạnh tranh và giành chiến thắng trong ngành. Nghiên cứu này điều tra các tiền thân của hành vi chia sẻ tri thức. Nghiên cứu này xem xét các yếu tố khuyến khích hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhân viên ngân hàng bằng cách sử dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Ajzen. Mô hình nghiên cứu đề xuất đã được thử nghiệm bằng cách sử dụng phân tích bình phương nhỏ nhất từng phần. Dữ liệu bao gồm 200 câu trả lời từ các nhân viên đang làm việc trong các ngân hàng ở Pekanbaru, Riau, Indonesia được phân tích. Kết quả cho thấy rằng thái độ cá nhân, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức dẫn đến ý định chia sẻ tri thức. Các phát hiện cũng cho thấy rằng ảnh hưởng của thái độ cá nhân, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức đối với hành vi chia sẻ tri thức bị ảnh hưởng gián tiếp bởi ý định chia sẻ tri thức. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Muhammad Waqar và cộng sự, (2018) đã nghiên cứu điều tra chia sẻ tri thức trong các ngân hàng Hồi giáo. Lý thuyết về hành động có lý do của Fishbein (TRA) đã được sử dụng như một khung lý thuyết. Bảng câu hỏi kết thúc đã kết thúc được sử dụng để thu thập dữ liệu từ nhân viên của các ngân hàng Hồi giáo. Nghiên cứu này đã kiểm tra tác động của các biến độc lập, tức là Phần thưởng bên ngoài dự kiến (AER), Cảm giác về giá trị bản thân (SSW) và Tự tôn trọng tổ chức (OBSE) và Mối quan hệ đối ứng dự kiến (ARR) trên các biến tức là Ý định hướng tới Hiểu biết Chia sẻ (IKS), Thái độ chia sẻ kiến thức (ATKS). Mục tiêu là để tìm ra yếu tố dự đoán mạnh nhất. Mô hình hóa phương trình cấu trúc (SEM) đã được áp dụng để kiểm tra các mối quan hệ được giả định. Phân tích cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa IKS và ATKS. Các giả thuyết liên quan đến SSW và OBSE đã được chứng thực. Mặc dù ARR và AER không ảnh hưởng đến thái độ của KS, nhưng OBSE được cho là có tác động mạnh nhất đến thái độ của KS. Về kết quả, các ngân hàng Hồi giáo nên tập trung vào các cách khác để khuyến khích KS hơn là đầu tư vào hệ thống khen thưởng. Họ cũng nên tập trung vào việc cải thiện mối quan hệ và cũng đảm bảo hỗ trợ nhân viên bằng cách lập kế hoạch vận chuyển và đảm bảo việc làm.
Mobashar Rehman và cộng sự, (2011) cho rằng chia sẻ tri thức là chìa khóa để thực hiện thành công quản lý tri thức. Đây là lý do giải thích tại sao trong năm qua các nhà nghiên cứu đã tập trung vào các khía cạnh khác nhau của việc chia sẻ tri thức. Bài báo này đánh giá các yếu tố quan trọng cho đến nay đã được nhiều tác giả thảo luận trong các nghiên cứu của họ và coi chúng là rất quan trọng đối với việc chia sẻ tri thức. Bên cạnh việc rà soát, một số nhân tố mới cũng được đưa vào nghiên cứu này. Các yếu tố được thảo luận trong nghiên cứu này là cơ cấu tổ chức, môi trường tổ chức, quy mô tổ chức, công nghệ thông tin, phần thưởng, các yếu tố gây căng thẳng và công việc. Bài báo này có thể cung cấp cho người đọc sự hiểu biết về chia sẻ tri thức và các yếu tố của nó. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Prodromos D Chatzoglou và cộng sự (2009) đã nghiên cứu về chủ đề hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên ngân hàng ở Hy Lạp. Bài báo này nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức trong khuôn khổ tổ chức, sử dụng các lý thuyết tâm lý xã hội được chấp nhận rộng rãi. Hành vi chia sẻ kiến thức của nhân viên ngân hàng ở Hy Lạp được kiểm tra bằng cách sử dụng mô hình tổng hợp, dựa trên lý thuyết về hành vi có kế hoạch. Mô hình nghiên cứu đề xuất đã được thử nghiệm bằng cách sử dụng mô hình phương trình cấu trúc. Kết quả chỉ ra rằng ý định chia sẻ tri thức chủ yếu bị ảnh hưởng bởi thái độ của nhân viên đối với việc chia sẻ tri thức, tiếp theo là các chuẩn mực chủ quan. Hành vi chia sẻ tri thức được kiểm tra chỉ tập trung vào những niềm tin nổi bật. Kết quả nên được xác nhận bằng cách sử dụng một mẫu lớn hơn, cũng như thông qua các nghiên cứu cắt ngang. Các kết quả nêu bật sự cần thiết của việc tạo ra một môi trường giúp các cá nhân phát triển thái độ thuận lợi hơn đối với việc chia sẻ tri thức cũng như vai trò quan trọng của áp lực xã hội mà các thành viên tổ chức (đồng nghiệp, giám sát, quản lý cấp cao) nhận thấy về ý định cá nhân để chia sẻ tri thức. Những đóng góp chính của nghiên cứu này là: kiểm tra việc chia sẻ tri thức trong lĩnh vực ngân hàng; thử nghiệm một mô hình nghiên cứu nổi tiếng cụ thể trong môi trường Đông Nam Âu; kiểm tra hành vi chia sẻ tri thức thực tế và không chỉ về ý định hành vi chia sẻ tri thức và cuối cùng, kiểm tra tác động trực tiếp của kiểm soát hành vi nhận thức được đối với hành vi chia sẻ tri thức, mặc dù được đề xuất theo lý thuyết, nhưng đã bị bỏ qua trước đó học.
2.3.2 Công trình nghiên cứu trong nước
Trần Ngọc Tú (2021) “đã thực hiện nghiên cứu dựa vào việc lấy khảo sát với 279 giảng viên đang công tác và làm việc tại các trường ĐH thuộc khối công lập tại TPHCM, bằng cách thức lựa chọn mẫu thuận tiện. Bên cạnh đó, dựa trên kết quả có được từ những nghiên cứu đi trước, tại đây tác giả đã đưa ra ý kiến nhằm đề xuất hình thức nhận định ảnh hưởng của những nhân tố tới hành vi chia sẻ tri thức đối với đồng nghiệp của giảng viên. Nhìn chung, phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu phải kể tới như: Phương pháp phân tích và kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) cùng với sự hỗ trợ đắc lực của SmartSPL3.0. Từ đó cho ra kết quả, có tới 04 nhân tố ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kế liên quan tới hành vi tiến hành chia sẻ tri thức của giảng viên, đó là: (1) Công nghệ thông tin (CNTT), (2) Sự quan tâm của cấp trên, (3) Văn hóa tổ chức (4) Hệ thống khen thưởng.
Nguyễn Phan Như Ngọc (2020) cho rằng tri thức là một loại tài sản mang tính chất quan trọng, nó có được từ sự sáng tạo, không ngừng thay đổi sao cho phù hợp nhất, bên cạnh đó cũng thể hiện khả năng cống hiến cho quá trình đi lên của DN. Vì vậy mà công tác chia sẻ tri thức tại một tổ chức nhất định luôn nhận được sự quan tâm nhằm biết được phương pháp dùng để nâng cao việc chia sẻ tri thức, dùng lợi thế cạnh tranh đúng đắn và hiệu quả. Ngành CNTT mang những đặc điểm riêng, đi đôi với quá trình đi lên của DN. Nghiên cứu này tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chia sẻ tri thức của nhân viên trong ngành công nghệ thông tin. Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy có 4 nhân tố trong mô hình nghiên cứu tác động lên việc chia sẻ tri thức trong lĩnh vực này: Niềm tin giữa mọi người trong công ty, Mối quan hệ xã hội, Hệ thống khen thưởng dựa trên hiệu quả công việc và hành chính hóa. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Tiếu Phương Quỳnh và Lê Nam Hải (2020) lại chỉ ra việc chia sẻ tri thức của nhân viên tại DN mang ý nghĩa lớn giúp thể hiện khả năng sáng tạo cũng như hiệu quả làm việc của nhân viên tăng theo. Từ việc tiếp nối mô hình của Burgess (2005), nội dung nghiên cứu thể hiện việc nhắc tới hành vi chia sẻ tri thức đối với nhân viên tại ngành tài chính – ngân hàng. Bên cạnh đó, cho thấy có 06 yếu tố ảnh hưởng tới hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên là: Những rủi ro gặp phải, chính sách đãi ngộ, những nhân tố tác động, cũng như sự xấu hổ hay lợi nhuận và quy tắc qua lại. Quá trình nhận định các nhân tố tác động tới hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên, điều này tạo ra hướng giải quyết đối với nhà quản trị khi hình thành văn hóa doanh nghiệp mang tính bền vững.
Trần Thị Mến và Trần Văn Dũng (2018) từ các nghiên cứu mang tính định hướng, mà nhóm nhiều tác giả cùng nhau nghiên cứu chỉ ra được nhận định các yếu tố tác động tới hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên NH BIDV Bình Dương. Dựa trên kết quả nghiên cứu có thể thấy những yếu tố bao gồm: Tổ chức làm việc nhóm, tạo lòng tin, sự gắn kết, hệ thống thực hiện việc khen thưởng, CNTT, đối thoại với mọi người, khi nhận được sự quan tâm của quản lý cấp cao gây tác động tới việc chia sẻ tri thức của nhân viên BIDV Bình Dương.
Nguyễn Ngọc Duy Phương và Phạm Thái Sơn (2018) đã có cuộc nghiên cứu về các nhân tố tác động tới việc chia sẻ tri thức của nhân viên làm việc tại NH TMCP Việt Nam, khu vực tỉnh Lâm Đồng. Mục đích của nghiên cứu này là muốn biết được các yếu tố nào đã tác động tới hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên làm việc trong ngân hàng. Trong nghiên cứu đều sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm tiến hành khảo sát với 180 CBNV ngân hàng, dựa trên quá trình phân tích độ tin cậy Cronbachs Alpha, phân tích yếu tố EFA và phương pháp hồi quy. Mặc dù vậy, từ kết quả thu được đã chỉ ra 03 yếu tố tác động trực tiếp tới hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên, được phân chia theo thứ tự giảm dần như: (1) Quan tâm của lãnh đạo (QT), (2) Khen thưởng (KT), (3) Giao tiếp (GT). Vì vậy mà nghiên cứu đưa ra một số biện pháp cụ thể giúp công tác chia sẻ tri thức của nhân viên ngân hàng ngày càng đi lên.
2.3.3 Khoảng trống nghiên cứu
Hiện nay có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về đề tài các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên ở mỗi quốc gia khác nhau, mỗi doanh nghiệp/tổ chức khác nhau và mỗi thời gian, bối cảnh nghiên cứu khác nhau. Và hiện nay chưa có tác giả nào thực hiện đề tài các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam khu vực tỉnh Đồng Nai. Do đó, đề tài nghiên cứu của tác giả không có sự trùng lắp so với các tác giả nghiên cứu trước. Và có tính cấp thiết cho ngân hàng trong giai đoạn hiện tại”.
2.4 Đề xuất mô hình nghiên cứu Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu liên quan
| Nghiên cứu | Niềm tin | Làm việc
nhóm |
Hệ thống công nghệ thông tin | Hệ thống khen thưởng | Sự quan tâm của quản lý cấp cao | Giao tiếp với đồng nghiệp | Sự gắn kết | Sự thích thú | Thái độ | Chuẩn chủ quan | Kiểm soát hành vi | Môi trường tổ chức | Căng thẳng | Văn hóa tổ chức |
|
Hindah Mustika, Anis Eliyana, Tri Siwi Agustina and Aisha Anwar (2022) |
+ | + | + | |||||||||||
|
Muhammad Waqar, Muhammad Anwar ul Haq and Muhammad Usman (2018) |
+ | + | + | + | + | + | + | |||||||
|
Mobashar Rehman, Ahmad Kamil B Mahmood and Rohani Salleh (2011) |
+ | + | + | + | + | + | ||||||||
|
Prodromos D Chatzoglou and Eftichia Vraimaki (2009) |
+ | + | + | + | + | |||||||||
|
Trần Ngọc Tú (2021) |
+ | + | + | + | ||||||||||
|
Nguyễn Phan Như Ngọc (2020) |
+ | + | + | + | ||||||||||
|
Trần Thị Mến và Trần Văn Dũng (2018) |
+ | + | + | + | + | + | + | |||||||
|
Nguyễn Ngọc Duy Phương và Phạm Thái Sơn (2018) |
+ | + | + |
(Nguồn: Tác giả tổng hợp) Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Dựa trên cơ sở lý thuyết trao đổi xã hội của nhà nghiên cứu George C. Homans giới thiệu năm 1958, lý thuyết nhận thức xã hội do Bandura và cộng sự (1986) và lược khảo các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước của các tác giả: Hindah Mustika, Anis Eliyana, Tri Siwi Agustina and Aisha Anwar (2022); Muhammad Rasyid Abdillah, Ching-Torng Lin, Rizqa Anita and Bambang Suroto (2018); Muhammad Waqar, Muhammad Anwar ul Haq and Muhammad Usman (2018); Mobashar Rehman, Ahmad Kamil B Mahmood and Rohani Salleh (2011); Prodromos D Chatzoglou and Eftichia Vraimaki (2009); Trần Ngọc Tú (2021); Nguyễn Phan Như Ngọc (2020); Tiếu Phương Quỳnh và Lê Nam Hải (2020); Trần Thị Mến và Trần Văn Dũng (2018); Nguyễn Ngọc Duy Phương và Phạm Thái Sơn (2018) cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên. Tác giả lựa chọn các yếu tố có tần suất xuất hiện nhiều nhất, được nhiều tác giả chứng minh có ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức để xây dựng mô hình nghiên cứu của tác giả đồng thời tác giả kế thừa mô hình nghiên cứu của Trần Thị Mến và Trần Văn Dũng (2018) vì nhóm tác giả này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bình Dương, có cùng bối cảnh ngàng ngân hàng với tác giả, thời gian nghiên cứu gần đây nên có tính cập nhật và mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả này cũng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu có ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên. Do đó, mô hình nghiên cứu gồm 7 yếu tố sau:
(1) – “Niềm tin”, (2) – “Làm việc nhóm”, (3) – “Hệ thống công nghệ thông tin”, (4) – “Hệ thống khen thưởng”, (5) – “Sự quan tâm của quản lý cấp cao”, (6) – “Giao tiếp với đồng nghiệp, (7) – “Sự gắn kết”. Lý do tác giả lựa chọn các yếu tố trên là do các yếu tố trên được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu nhiều và có ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên. Ngoài ra, căn cứ vào thực tiễn và đặc thù của BIDV nói chung và BIDV – CN tỉnh Bình Dương nói riêng có thể thấy đa số nhân viên làm việc tại NH là những người có thâm niên, kiến thức chưa có sự cập nhật những cái mới, do đó, cần có một luồng gió mới từ lớp nhân viên trẻ mới vào NH để chia sẻ những kiến thức mới, những ứng dụng công nghệ thông tin để giúp BIDV – CN tỉnh Bình Dương nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, đa số nhân viên làm việc tại BIDV – CN tỉnh Bình Dương có mối quan hệ thân thiết với lãnh đạo, thường chia thành nhiều nhóm nhỏ, ít chia sẻ thông tin qua lại giữa đồng nghiệp với nhau trong BIDV – CN tỉnh Bình Dương, nên hiệu quả công việc tại BIDV – CN tỉnh Bình Dương hiện nay chưa thật sự tốt và nó ảnh hưởng lớn tới tri thức của BIDV – CN tỉnh Bình Dương.
Mô hình nghiên cứu đề xuất có dạng như sau:
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Niềm tin là “sự kỳ vọng tích cực về tính chính trực, khả năng, sự trung thực, và thiện chí của một người đối với năng lực của những đồng nghiệp khác trong tổ chức. Sự tin tưởng đóng một vai trò quan trọng trong những mối quan hệ xã hội, hơn là trong các giao dịch kinh tế (Kathryn M. Bartol & Abhishek Srivastava, 2002). Do đó, Niềm tin sẽ tạo điều kiện cho chia sẻ tri thức, vì sự tự nguyện chia sẻ tri thức của một người cho người khác là sự trao đổi mang tính xã hội. Tác giả Anne S Tsui, Zhi-Xue Zhang, Hui Wang and Renchen Xin (2006) đã củng cố nhận định rằng nếu một doanh nghiệp có tồn tại sự tin tưởng lẫn nhau thì việc chia sẻ tri thức sẽ diễn ra dễ dàng hơn. Niềm tin đóng vai tr rất quan trọng trong việc chia sẻ tri thức. Niềm tin càng cao, chúng ta càng dễ dàng chấp nhận tri thức từ đồng nghiệp mang lại vì chúng ta tin tưởng rằng tri thức đó có lợi cho bản thân chúng ta (Hindah Mustika, Anis Eliyana, Tri Siwi Agustina and Aisha Anwar, 2022). Theo Muhammad Waqar, Muhammad Anwar ul Haq and Muhammad Usman (2018), niềm tin và sự cởi mở trong tổ chức thúc đẩy các hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên. Trong giao tiếp, nói chuyện và tương tác giữa các cá nhân hoặc giữa các nhóm, động viên và thúc đẩy các nhân viên tham gia vào các hoạt động về tri thức là rất quan trọng. Mối quan hệ chính thức, xã giao rất quan trọng trong việc chia sẻ những quan điểm và tri thức khác nhau tại Tổ chức. Tác giả đồng ý với nghiên cứu đi trước và cho rằng tại Tổ chức nếu nhân viên được niềm tin vào kinh nghiệm và năng lực làm việc của đồng nghiệp thì sẽ thúc đẩy cho họ chia sẻ tri thức.
Giả thuyết H1: Niềm tin ảnh hưởng cùng chiều (+) đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai.
Do nhu cầu về việc đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ và sáng tạo trong các nhóm nhân viên nên các nhân viên phải làm việc với nhau để trao dồi tri thức. Hơn nữa, để phát triển doanh nghiệp rất cần những kế hoạch từ các nhóm nhân viên có thực lực cùng nhau phối hợp, cùng nhau thực hiện nhằm nâng cao tính đoàn kết từ các nhân viên thuộc doanh nghiệp (Mobashar Rehman, Ahmad Kamil B Mahmood and Rohani Salleh, 2011). Nói cách khác, thành viên của một nhóm làm việc phải từ các bộ phận khác nhau, mà họ thường chỉ biết rõ về lĩnh vực chuyên môn của mình mà thiếu những hiểu biết cần thiết về các lĩnh vực khác. Sự khác biệt về văn hóa cũng có thể gây khó khăn trong quá trình làm việc nhóm (Prodromos D Chatzoglou and Eftichia Vraimaki, 2009). Chính vì thế mà việc tăng hiệu suất cũng như lợi ích khi tiến hành làm việc nhóm, phải kể tới như công tác chia sẻ và trao đổi tri thức giữa những thành viên trong một nhóm được xem như yếu tố hết sức quan trọng. Quá trình quản lý tri thức như biện pháp thiết thực hỗ trợ tốt cho vấn đề này, vì nó có khả năng kích thích tinh thần bàn bạc và chia sẻ tri thức của thành viên trong nhóm và trong tổ chức.
Giả thuyết H2: Làm việc nhóm ảnh hưởng cùng chiều (+) đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Hệ thống công nghệ thông tin bao gồm các nhân tố con người, dữ liệu và các quá trình được sắp xếp một cách có hệ thống dựa vào các thiết bị kỹ thuật – công nghệ hiện đại nhằm tạo sự tương tác với nhau, hỗ trợ cho quá trình hoạt động hàng ngày, giải quyết vấn đề và ra các quyết định quan trọng trong tổ chức (Alavi, M. and Leidner, D.E, 2001), là tập hợp các phương tiện và công cụ hiện đại – chủ yếu là máy tính và viễn thông, nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú.
Các tổ chức thường tạo mới hoặc thu thập những thông tin sẵn có thành một kho tri thức để nhân viên có thể dễ dàng chia sẻ những tri thức chuyên môn của mình thông qua các phương tiện công nghệ điện tử hoặc dễ dàng tiếp cận những tri thức, kinh nghiệm của người khác đã chia sẻ. Việc kết nối tri thức như vậy cho phép doanh nghiệp chuyển giao tri thức cho những nhân viên mới sau này, nhờ đó mà hệ thống công nghệ thông tin sẽ thúc đẩy việc tiếp nhận các tri thức mới, củng cố các tri thức đã tích lũy trước đây hoặc được tận dụng trong toàn bộ tổ chức (Bharadwaj, A.S, 2000). Thông qua các nghiên cứu trước đây đã thể hiện rằng hệ thống CNTT mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý tri thức Muhammad Waqar, Muhammad Anwar ul Haq and Muhammad Usman, (2018) cho rằng hệ thống công nghệ thông tin có mối quan hệ cùng chiều với chia sẻ tri thức, sẽ cải thiện được hiệu suất của doanh nghiệp và làm gia tăng tỷ lệ chia sẻ tri thức trong doanh nghiệp đó. Tại Tổ chức nếu như nhân viên sử dụng công nghệ thông tin để liên lạc phối hợp trao đổi công việc thì sẽ thúc đẩy việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên.
Giả thuyết H3: Hệ thống công nghệ thông tin ảnh hưởng cùng chiều (+) đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai.
Hệ thống khen thưởng là một tập hợp các ưu đãi cần thiết dành cho thành viên trong tổ chức nhằm định hướng cho hành vi của họ (Cabrera, E.F. and Bonache, J, 1999) hoặc là cải thiện hiệu quả trong việc học tập (Mobashar Rehman, Ahmad Kamil B Mahmood and Rohani Salleh, 2011). Phần thưởng của tổ chức có thể là những lợi ích vật chất như tăng lương, thưởng, cũng có thể là những lợi ích phi vật chất như việc ghi nhận kết quả công việc, đánh giá cao hay việc xem xét thăng tiến trước hạn. Ngoài ra, những phần thưởng dài hạn như việc chia sẻ lợi nhuận hoặc các tùy chọn khác dành cho nhân viên cũng được nhìn nhận như một phương tiện hiệu quả thúc đẩy việc chia sẻ tri thức so với những ưu đãi ngắn hạn khác. Phần thưởng, bao gồm tiền và các ưu đãi khác nhau của tổ chức là trung tâm của động lực của nhân viên để theo đuổi và hoàn thành các mục tiêu trong công việc của mình, đặc biệt là tại Tổ chức. Trong bối cảnh của việc chia sẻ kiến thức, Hệ thống khen thưởng có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ và ràng buộc với lòng tự ái và nghề nghiệp của nhân viên (Muhammad Waqar, Muhammad Anwar ul Haq and Muhammad Usman, 2018). Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Mức độ cao hay thấp của chia sẻ tri thức trong tổ chức hoàn toàn phụ thuộc vào việc nhân viên mong đợi phần thưởng mà họ nhận được là nhiều hay ít, như phần thưởng về tài chính, thăng tiến, cơ hội trao dồi kiến thức. Tuy nhiên, việc sử dụng phần thưởng xem như yếu tố kích thích chia sẻ tri thức cũng mang lại nhiều rủi ro khi nhân viên quá xem trọng phần thưởng hơn là tri thức họ nhận được (Argote, L., & Epple, D., 1990).
Leonard (1998) cho rằng hệ thống khen thưởng trong tổ chức có thể xác định tri thức sẽ được truy cập thế nào và bằng cách nào nó truyền tải trong tổ chức. Hệ thống khuyến khích nên được thực hiện để thúc đẩy động lực của nhân viên đã dành thời gian để tạo ra tri thức mới, chia sẻ tri thức của họ và giúp đỡ người khác bên ngoài bộ phận hoặc chức năng của mình.
Theo lý thuyết trao đổi xã hội, các cá nhân sẽ hành xử trên cơ sở hợp lý về lợi ích. Do đó, việc chia sẻ tri thức chỉ xảy ra nếu kết quả của nó đạt được như mong đợi, hoặc là kết quả đạt được phải lớn hơn chi phí đã bỏ ra. Đó là lý do tại sao các cá nhân tham gia vào quá trình chia sẻ tri thức quan tâm đến các chế độ ưu đãi, khen thưởng (Alavi, M. and Leidner, D.E, 2001). Các nhân viên có nhiều khả năng sẽ tham gia vào hoạt động chuyển giao tri thức hơn, nếu họ làm việc trong một môi trường doanh nghiệp khuyến khích loại hình chia sẻ như thế (Lucas, R. E., & Dyrenforth, P. S, 2006). Một chế độ khen thưởng công bằng sẽ thúc đẩy nhân viên sẵn lòng chia sẻ tri thức hơn (Rhodes và cộng sự, 2008). Chế độ khen thưởng phù hợp sẽ tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy việc chia sẻ tri thức (Kathryn M. Bartol & Abhishek Srivastava, 2002). Từ nghiên cứu trên, tác giả thấy đây là nhân tố tác động tới hoạt động chia sẻ tri thức trong tổ chức, vì thế khi tổ chức công tác khen thưởng đối với nhân viên đã chia sẻ tri thức thì việc làm này sẽ tạo động lực cho nhân viên thực hiện việc chia sẻ tri thức cho đồng nghiệp thường xuyên hơn.
Giả thuyết H4: Hệ thống khen thưởng ảnh hưởng cùng chiều (+) đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai.
Hindah Mustika, Anis Eliyana, Tri Siwi Agustina and Aisha Anwar (2022) cho rằng chia sẻ tri thức là quá trình truyền tải hoặc phổ biến tri thức từ một người, nhóm hoặc một tổ chức đến những nơi khác. Tổ chức luôn khuyến khích tri thức và giao tiếp mở giữa các đơn vị trong tổ chức. Mức độ gắn kết cao sẽ xây dựng được òng tin từ các bộ phận và từng cá nhân (Muhammad Waqar, Muhammad Anwar ul Haq and Muhammad Usman, 2018). Sự gắn kết thúc đẩy quá trình giao tiếp và chia sẻ tri thức trong tổ chức. Ngoài ra, đó cũng là tín hiệu quan trọng cho các đối tác thấy được sự sẵn sàng giao tiếp và trao đổi thông tin cũng như tri thức để giúp cho việc nắm bắt tri thức dễ dàng hơn.
Prodromos Chatzoglou and Eftichia Vraimaki (2009) kết luận rằng khi một người chia sẻ tri thức quan trọng đến với người khác, đó là sự xác nhận gắn kết với người đó và thúc đẩy người đó chia sẻ tri thức trở lại.
Giả thuyết H5: Sự gắn kết ảnh hưởng cùng chiều (+) đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
Giao tiếp giữa các đồng nghiệp trong tổ chức là nền tảng cơ bản trong việc khích lệ chia sẻ tri thức (Muhammad Waqar, Muhammad Anwar ul Haq and Muhammad Usman, 2018). Tổ chức khuyến khích chia sẻ tri thức và tri thức hội nhập vào tổ chức một cách tự nhiên để thúc đẩy các cuộc thảo luận cởi mở, tranh luận nhiệt tình và mang đến cho các cá nhân dù ở vị trí công việc nào cũng có thể tự do trình bày ý kiến và quan điểm của bản thân về nhiều vấn đề khác nhau (Prodromos D Chatzoglou and Eftichia Vraimaki, 2009). Thông qua các hoạt động thực tiễn, cá nhân có thể thu thập thông tin, dữ liệu từ nhiều nhóm khác nhau, đánh giá ý kiến, quan điểm của mình, từ đó có thể chuyển đổi dữ liệu và thông tin để tạo ra tri thức mới cho bản thân. Chính vì vậy, các tổ chức khuyến khích mở các buổi trao đổi, thảo luận giữa các nhân viên để có thể thúc đẩy việc chia sẻ tri thức một cách dễ dàng và thành công, để tạo ra tri thức mới và giảm thiểu tối đa các chi phí cho việc thử nghiệm và khắc phục hậu quả. Qua các nội dung cũng như dẫn chứng cụ thể đối với tác động tích cực của việc giao tiếp giữa các nhân viên với nhau nhằm chia sẻ tri thức trong doanh nghiệp hiện nay.
Giả thuyết H6: Giao tiếp với đồng nghiệp ảnh hưởng cùng chiều (+) đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai.
Quản lý cấp cao là nhóm bao gồm các cá nhân ở cấp độ cao nhất của Tổ chức có trách nhiệm quản lý và chịu trách nhiệm với những quyết định của mình trong các hoạt động chung của Tổ chức. Trong quá trình xây dựng những giá trị dựa trên định hướng tri thức mà Tổ chức đang xây dựng, các nhà quản lý cấp cao có thể ảnh hưởng đến nhân viên do mình quản lý bằng cách tạo ra và gìn giữ những giá trị và niềm tin tích cực của tổ chức (Lin, 2007). Theo Prodromos Chatzoglou and Eftichia Vraimaki (2009), sự ủng hộ và quan tâm của các quản lý cấp cao sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của nhân viên với chia sẻ tri thức. Do đó, có thể dự đoán rằng sự quan tâm của quản lý cấp cao có vai trò quan trọng trong việc chia sẻ tri thức của nhân viên.
Giả thuyết H7: Sự quan tâm của quản lý cấp cao ảnh hưởng cùng chiều (+) đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai”.
Tóm tắt chương 2
Trong chương 2, tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết về thông tin, chia sẻ tri thức, lý thuyết nền của đề tài. Dựa vào các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả đề xuất mô hình: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai dựa trên 7 yếu tố chính, đó là: Niềm tin, Làm việc nhóm, Hệ thống công nghệ thông tin, Hệ thống khen thưởng, Sự quan tâm của quản lý cấp cao, Giao tiếp với đồng nghiệp, Sự gắn kết. Các yếu tố này đều tác động cùng chiều đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai. Ở chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các vấn đề liên quan đến phương pháp nghiên cứu gồm thiết kế nghiên cứu, mẫu nghiên cứu và điều chỉnh thang đo. Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

