Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: dự báo và biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường đại học giao thông vận tải đến năm 2040 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Dự báo hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải đến năm 2040

2.1.1 Căn cứ xây dựng dự báo hợp tác quốc tế về đào tạo

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2024-2040 của Thủ tướng Chính phủ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” [12, Tr. 6] và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [12, Tr. 5]. Mục tiêu cụ thể được đặt ra đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là sẽ điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, phấn đấu đến 2040, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân vào khoảng 350 – 400; đến năm 2040 có 25% giảng viên đại học và 8% giảng viên cao đẳng là tiến sỹ

Để đạt được các mục tiêu chiến lược cần thực hiện tốt 8 giải pháp, trong đó các giải pháp đổi mới quản lý giáo dục là giải pháp đột phá và giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là giải pháp then chốt. Bên cạnh đó, chiến lược cũng đưa ra giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục, trong đó Chính phủ khuyến khích các cơ sở giáo dục trong nước hợp tác với các cơ sở giáo dục nước ngoài để nâng cao năng lực quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ khoa học và quản lý giáo dục; tăng số lượng học bổng cho học sinh, sinh viên đi học nước ngoài.

  • Mục tiêu phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải đến năm 2040

Hợp tác quốc tế của Trường Đại học GTVT tập trung vào thực hiện một số mục tiêu sau:

Hợp tác quốc tế về đào tạo nhằm đào tạo đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao về khoa học kỹ thuật, được quốc tế thừa nhận; Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Hợp tác quốc tế về đào tạo nhằm góp phần đào tạo đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý của nhà trường có khả năng giảng dạy và quản lý các chương trình HTQT về ĐT; Phấn đấu đến năm 2040 toàn bộ giảng viên có khả năng giao tiếp và trao đổi với đồng nghiệp quốc tế bằng một trong 5 ngoại ngữ chủ yếu, ưu tiên tiếng Anh;

Hợp tác quốc tế về đào tạo nhằm tiếp nhận các phương pháp đào tạo, cách thức đào tạo, giáo trình tài liệu…học tập kinh nghiệm đào tạo của các giáo sư và các trường đại học nước ngoài, góp phần tích cực vào nâng cao chất lượng đào tạo trong nước; Đến năm 2040 bắt đầu đào tạo các chương trình quốc tế, số sinh viên nước ngoài trong các chương trình quốc tế đạt 20%. Hợp tác quốc tế về đào tạo góp phần phát triển thương hiệu của trường.

Đến năm 2040 đạt mục tiêu công nhận ngang bằng về chương trình đào tạo và bằng cấp với các trường Đại học hàng đầu khu vực Đông Nam Á, phấn đấu một số chuyên ngành mũi nhọn được công nhận tương đương với các trường Đại học nổi tiếng thế giới.

Thực hiện liên kết nghiên cứu khoa học và tư vấn quốc tế, trước mắt tập trung khai thác, phát triển dự án, chương trình nghiên cứu, tư vấn quốc tế tại Việt Nam và các chương trình, dự án nghiên cứu, tư vấn trong khu vực. Dần dần, HTQT về nghiên cứu và tư vấn là nguồn thu quan trọng cho Nhà trường Đẩy mạnh hoạt động HTQT giúp nhà trường củng cố và tăng cường phối hợp các nguồn lực bên trong, huy động được các nguồn lực bên ngoài đóng góp cho sự phát triển chung của Nhà trường.

2.1.2. Hình thức hợp tác quốc tế về đào tạo

Để phát triển quan hệ hợp tác quốc tế và phát triển thương hiệu của Nhà trường, các trường đại học nói chung và trường Đại học GTVT nói riêng trong những năm qua đều tăng cường xây dựng và triển khai các dự án/chương trình HTQT về ĐT theo nhiều hình thức khác nhau. Có thể kể tới một số hình thức hợp tác quốc tế về đào tạo điển hình như sau:

  • Chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo theo hình thức 1+3 (+4)

Đây là chương trình liên kết đào tạo trong đó có 1 năm học dự bị một trường ở Việt Nam và 3 năm hoặc 4 năm học đại học tại nước ngoài. Trong thời gian học tại Việt Nam, sinh viên được học ngôn ngữ và một số môn cơ bản như Toán, Tin học. Chương trình đào tạo này giúp sinh viên đạt yêu cầu đầu vào về ngôn ngữ trước khi sang học tại trường đối tác. Sau khi kết thúc khóa học dự bị ngôn ngữ, sinh viên có thể chuyển học đại học tại các trường. Có thể kể đến như Chương trình đào tạo tiền du học Pháp, Dự án phối hợp đào tạo tiến sỹ hai giai đoạn Việt – Đức của trường đại học GTVT.

  • Chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo theo hình thức 1+3 và 2+2

Đây là chương trình liên kết đào tạo cho phép sinh viên học theo chương trình đào tạo của nước ngoài trước khi đi du học. Sau khi học hết 1 hoặc 2 năm tại Việt Nam, sinh viên được chuyển tiếp vào năm thứ 2 hoặc năm thứ 3 của trường bạn. Đây là hình thức đào tạo tiết kiệm chi phí cho các bậc phụ huynh và giúp tạo nền về ngôn ngữ và kiến thức tốt trước khi sinh viên ra nước ngoài. Dự án phối hợp đào tạo kỹ sư hai giai đoạn Việt – Nga, đào tạo kỹ sư vật liệu và công nghệ Việt – Pháp là hai thí dụ điển hình. Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

  • Chương trình liên kết đào tạo 3+1

Đây là chương trình liên kết đào tạo 3 năm tại Việt Nam và 1 năm tại nước ngoài. Tham gia chương trình này các sinh viên tiết kiệm được khoản chi phí rất lớn mà có cơ hội lấy bằng quốc tế. Chương trình đào tạo 3 năm tại Việt Nam được đối tác nước ngoài công nhận trong đó tập trung vào những kiến thức chuyên ngành chủ yếu và học ngôn ngữ. Có thể kể tên một số chương trình như Chương trình đào tạo Điện – điện tử Việt – Anh hợp tác với trường đại học Shelfield Hallam – Vương quốc Anh, chương trình cầu đường bộ tiếng Pháp.

Ngoài ra, còn có nhiều hình thức HTQT về ĐT như các hình thức trao đổi sinh viên, giảng viên ngắn hạn (1 tháng, 3 tháng, 6 tháng), các khóa đào tạo quốc tế ngắn hạn mời các giảng viên nước ngoài đến giảng dạy, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh,…

Nhằm đa dạng hóa các loại hình đào tạo phối hợp với các đối tác nước ngoài, đến năm 2040, ngoài việc duy trì các hình thức đào tạo truyền thống, Trường Đại học GTVT bắt đầu triển khai đào tạo các chương trình quốc tế tại trường với các giảng viên của các trường đối tác và các giảng viên của trường.

2.1.3. Nội dung hợp tác quốc tế về đào tạo

Theo chiến lược phát triển đào tạo, đến năm 2040, Trường Đại học GTVT sẽ hoàn thành quá trình đổi mới chương trình đào tạo theo hướng đại học đa ngành, diện rộng và phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế của tất cả các ngành và chuyên ngành trong nhà trường. Đến năm 2040 xây dựng thành công thương hiệu quốc gia kỹ sư đại học GTVT và hình thành thương hiệu quốc tế cho các chuyên ngành đào tạo mũi nhọn. Do đó, nếu như trước đây, hầu hết các dự án/chương trình HTQT về ĐT của trường Đại học GTVT tập trung vào các chuyên ngành đào tạo mũi nhọn của trường như xây dựng công trình giao thông (Dự án đào tạo kỹ sư cầu đường bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, Dự án đào tạo chương trình tiên tiến ngành xây dựng CTGT), cơ khí ô tô (Dự án đào tạo kỹ sư cơ khí ô tô Pháp) thì từ năm 2022 đến nay, một số dự án/chương trình đào tạo trong các lĩnh vực mới được Nhà trường xây dựng và triển khai như Chương trình đào tạo vật liệu và công nghệ Việt – Pháp, chương trình đào tạo ngành kế toán tổng hợp tiếng Anh, chương trình đào tạo ngành quản lý xây dựng công trình giao thông tiếng Anh. Việc triển khai các chương trình này vừa phù hợp với mục tiêu của Nhà trường là phấn đấu trở thành trường đại học đa ngành vừa đáp ứng nhu cầu xã hội.

  • Dự báo nội dung HTQT về ĐT đến năm 2040 là:

Tiếp tục duy trì, phát triển các dự án / chương trình HTQT về ĐT ở cả bậc đại học và sau đại học.

Ở bậc đại học, tiếp tục duy trì và xây dựng mới các dự án/chương trình HTQT về ĐT đối với các ngành kỹ thuật và công nghệ; tăng cường xây dựng và triển khai thêm các dự án đối với các ngành kinh tế, khoa học tự nhiên và xã hội – nhân văn.

Ở bậc sau đại học, tiếp tục duy trì và phát triển các hình thức hợp tác đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ với các đối tác nước ngoài. Đến năm 2040, phấn đấu đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ tại trường theo chương trình đào tạo của các trường đại học đối tác.

Xây dựng và triển khai các khóa đào tạo quốc tế ngắn hạn cấp chứng chỉ quốc tế cho học viên;

Tổ chức các hội thảo quốc tế về giáo dục, các buổi giới thiệu về học bổng, chương trình học, trường học quốc tế để thu hút sự quan tâm của giảng viên và sinh viên.

Thành lập trung tâm đào tạo sau đại học quốc tế tại trường Đại học GTVT thực hiện đào tạo và cấp bằng chương trình đào tạo sau đại học quốc tế về giao thông vận tải trên cơ sở hợp tác với trường ĐH tổng hợp kỹ thuật Darmstadt – CHLB Đức.

2.1.4. Quy mô hợp tác quốc tế về đào tạo Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Hiện nay, cả nước có bốn trường đại học (Trường ĐH GTVT, Trường ĐH Hàng hải Việt Nam, Trường ĐH GTVT Tp HCM, Trường ĐH Công nghệ GTVT) và một học viện (Học viên Hàng không) được như xem là các cơ sở đào tạo đại học chuyên cung ứng nhân lực trình độ cao cho lĩnh vực GTVT. Bên cạnh đó còn có một số trường có tham gia đào tạo nhân lực bậc đại học cho ngành GTVT nhưng ở quy mô nhỏ hơn và cấp độ thấp hơn.

Theo chiến lược phát triển trường Đại học GTVT giai đoạn 2020 – 2040, trường sẽ tăng dần quy mô đào tạo toàn diện trên tất cả các hệ và các bậc đào tạo. Đến năm 2015 tổng số sinh viên đại học và sau đại học đạt 30.120 sinh viên, đến năm 2040 đạt 34.635 sinh viên.

Cùng với sự thay đổi về quy mô đào tạo chung của trường, quy mô hợp tác quốc tế về đào tạo cũng có sự thay đổi. Dự báo đến năm 2040, số lượng sinh viên theo học các chương trình/dự án HTQT về đào tạo tăng khoảng 40%, số sinh viên nước ngoài trong các chương trình quốc tế đạt trên 20%. Số lượng các dự án/chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo tăng khoảng 30%.

Đến năm 2015, Nhà trường sẽ áp dụng chương trình đào tạo tiên tiến trên cơ sở hợp tác với Đại học Leeds (Vương quốc Anh) đối với bậc đào tạo đại học ngành xây dựng công trình giao thông đồng thời nâng cấp và đổi mới chương trình đào tạo của từng ngành và chuyên ngành một cách hợp lý.

Giai đoạn 2026-2018, thành lập trung tâm đào tạo sau đại học quốc tế tại trường để thực hiện đào tạo và cấp bằng chương trình đào tạo sau đại học quốc tế về giao thông vận tải.

2.2. Các biện pháp quản lý dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải đến năm 2040 Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

2.2.1. Xây dựng kế hoạch phát triển các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo đến năm 2040 và hoàn thiện, bổ sung các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Kế hoạch hóa việc thiết kế, xây dựng các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo là nhiệm vụ, nội dung quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý các dự án HTQT về ĐT ở các trường đại học nói chung và Trường Đại học GTVT nói riêng. Để xây dựng kế hoạch phát triển các dự án HTQT về ĐT đến năm 2040, Nhà trường cần thực hiện một số bước như sau:

Trước hết cần rà soát lại toàn bộ các dự án đang được triển khai thực hiện tại trường để đánh giá ưu, khuyết điểm của từng dự án, từ đó rút ra kinh nghiệm trong xây dựng kế hoạch phát triển các dự án trong tương lai;

Tiếp theo cần xây dựng mục tiêu phát triển các dự án cả về tiến độ, số lượng và chất lượng. Để xác định được mục tiêu cần phải căn cứ vào chiến lược phát triển đào tạo của trường, trong đó có chiến lược phát triển hợp tác quốc tế đến năm 2040 và căn cứ vào các điều kiện thực tế;

Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị có liên quan tới việc xây dựng, quản lý và triển khai các dự án;

Xây dựng kế hoạch tìm kiếm đối tác và nguồn tài chính cho việc xây dựng và triển khai các dự án.

Bên cạnh việc xây dựng kế hoạch phát triển các dự án HTQT về ĐT, đối với hệ thống giáo dục Việt Nam nói chung, việc hoàn thiện và bổ sung các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án HTQT về ĐT cũng hết sức quan trọng, giúp các cơ sở giáo dục và cá nhân có thể nắm bắt được và thực hiện một cách đầy đủ và đúng quy trình, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để tăng cường QL và đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào việc phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục ở Việt Nam. Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Đối với Trường Đại học GTVT nói riêng, việc hoàn thiện và bổ sung các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án HTQT về ĐT sẽ giúp Nhà trường và các đơn vị chức năng trong trường có thể nắm bắt và thực hiện một cách đầy đủ và đúng quy định. Đồng thời, giúp quản lý chặt chẽ các dự án trong phạm vi trường trên cơ sở là sự phát triển về số lượng các dự án HTQT về ĐT, sự đa dạng về tính chất các dự án và sự thay đổi về cơ cấu tổ chức các đơn vị trong trường đại học GTVT. Việc hoàn thiện và bổ sung các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án HTQT về ĐT được tiến hành theo một số bước sau:

Rà soát, đánh giá lại các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án HTQT về ĐT đã có để có hướng bổ sung, điều chỉnh hoặc biên soạn mới. Đây là bước không thể thiếu trong quá trình hoàn thiện các văn bản, đặc biệt đối với các văn bản có yếu tố quốc tế. Bởi vì, chính sách ngoại giao của các nước thường xuyên thay đổi, cơ chế hoạt động của các trường đại học quốc tế cũng có nhiều biến đổi theo chính sách ngoại giao chung, theo xu thế của xã hội và theo điều kiện của từng trường. Điều đó ảnh hưởng tới hoạt động hợp tác quốc tế của Trường Đại học GTVT nói chung và trong hoạt động quản lý các dự án HTQT về ĐT của trường nói riêng, buộc lãnh đạo Nhà trường phải đưa ra những điều chỉnh phù hợp.

Tổ chức đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý các dự án HTQT về ĐT để tìm ra những ưu điểm và nhược điểm, đồng thời đề xuất những biện pháp chỉ đạo, hướng dẫn phù hợp, hiệu quả hơn.

Xây dựng các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án HTQT về ĐT. Xây dựng và ban hành các quy định cụ thể về hoạt động quản lý, quy định về phân công chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, từng bộ phận; phân cấp quản lý rõ ràng, cụ thể tránh chồng chéo.

Tổ chức các hội nghị hướng dẫn việc quản lý các dự án HTQT về ĐT cho các cán bộ quản lý thuộc các đơn vị chức năng, cho cán bộ khoa, viện và cho các giảng viên.

Thường xuyên phổ biến các văn bản hướng dẫn về quản lý các dự án HTQT về ĐT của đơn vị chủ quản là Bộ Giáo dục Đào tạo và của trường thông qua trang thông tin điện tử chính thức của Nhà trường và thông qua báo nội bộ trường, trong đó thể hiện rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận có liên quan tới việc quản lý các dự án HTQT về ĐT; thể hiện được các bước thực hiện một dự án HTQT về ĐT, cụ thể như thủ tục xin phép thực hiện một dự án/chương trình HTQT về ĐT, kiểm tra đánh giá dự án ra sao,…

2.2.2. Tăng cường phối hợp giữa các đơn vị quản lý dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Trong công tác quản lý ở mỗi cơ quan, ngoài việc phát huy năng lực của từng đơn vị trực thuộc, việc thiết yếu là phải có sự phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị. Quản lý các dự án HTQT về ĐT ở Trường Đại học GTVT cũng không nằm ngoài quy luật này. Tiếp tục duy trì tình trạng thiếu thống nhất trong tổ chức quản lý hợp tác đào tạo quốc tế không những sẽ dẫn đến nhiều khó khăn đối với nhà trường trong phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo mà còn hạn chế khả năng huy động các nguồn lực được tạo ra trong khuôn khổ các dự án HTQT về ĐT hiện nay đối với sự phát triển chung của nhà trường. Vì vậy, Nhà trường luôn coi trọng các giải pháp tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị quản lý trực thuộc trường nói chung và các đơn vị quản lý dự án HTQT về ĐT nói riêng. Các đơn vị phối hợp càng chặt chẽ thì hiệu quả công việc càng cao. Để đạt được mục tiêu này, Nhà trường cần thực hiện một số công việc như sau: Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Thứ nhất, phân công chức năng, nhiệm vụ không được chồng chéo nhưng không tách rời. Chức năng của các đơn vị như là một chuỗi liên tục cho một hoạt động. Như trên đã nêu, Hiệu trưởng trường ĐH GTVT là người trực tiếp theo dõi và chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động đối ngoại của trường, phê duyệt tất cả các kế hoạch hoạt động đối ngoại, phân công công việc cho các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thực hiện công việc. Các đơn vị chức năng thực hiện công việc theo sự chỉ đạo chung của Hiệu trưởng và phối hợp với nhau để đem lại hiệu quả cao nhất. Sơ đồ ở dưới cho thấy sự phối hợp giữa các đơn vị quản lý dự án HTQT về ĐT ở Trường ĐH GTVT:

  • Sơ đồ 2.1: Mô hình quản lý các dự án HTQT về ĐT 

Thứ hai, các đơn vị có liên quan sẽ thực hiện các công việc Hiệu trưởng đã phân công. Thí dụ: để xây dựng và triển khai một dự án HTQT về ĐT, Phòng Đối ngoại có nhiệm vụ kiểm tra đối tác, nghiên cứu chính sách ngoại giao, nghiên cứu đối tác (những thế mạnh của đối tác) xem có phù hợp với điều kiện của trường và mục tiêu của dự án hay không; tổ chức đàm phán, ký kết; tiếp tục trao đổi thông tin với đối tác trong quá trình triển khai dự án.

Sau khi dự án được ký kết và phê duyệt, Trung tâm HTQT về ĐT và NC chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện dự án dưới sự chỉ đạo chung của Hiệu trưởng và sự phối hợp với Phòng Đối ngoại và các đơn vị chức năng có liên quan. Phối hợp với các đơn vị liên quan trong việc xây dựng nội dung, chương trình đào tạo; tổ chức thẩm định chương trình đào tạo và báo cáo Hội đồng khoa học – đào tạo trường xét duyệt; xây dựng các quy định về tổ chức đào tạo, công nhận tốt nghiệp; xây dựng, hướng dẫn thực hiện kế hoạch đào tạo theo học kỳ và năm học, lập thời khóa biểu giảng dạy, lịch thi; phối hợp với các đơn vị có liên quan lập kế hoạch biên soạn giáo trình, bài giảng phù hợp với từng dự án HTQT về ĐT; phối hợp với các đơn vị có liên quan để tuyển chọn, thành lập, tổ chức các lớp học; phối hợp với các đơn vị liên quan đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đào tạo; thẩm định và quản lý khối lượng hoạt động đào tạo và thanh toán kinh phí hoạt động đào tạo khác theo phân cấp; quản lý quá trình học tập của người học tại Trung tâm; phối hợp với các đơn vị có liên quan chủ trì quản lý và điều phối các giảng viên trong giảng dạy các học phần thuộc các dự án HTQT về ĐT;…

Các khoa, viện, bộ môn lựa chọn, bố trí giảng viên giảng dạy theo lịch giảng dạy mà Trung tâm HTQT về ĐT đưa ra.

Thứ ba, Nhà trường cần thường xuyên tổ chức họp, sơ, tổng kết nhằm đánh giá kịp thời công tác quản lý các dự án HTQT về ĐT ở các đơn vị có liên quan. Rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung kịp thời những thay đổi cần thiết cho dự án. Qua đó, đôn đốc, nhắc nhở bằng nhiều hình thức: giáo dục, động viên, khen thưởng, tặng thưởng,…

Có thể khẳng định, sự phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị quản lý dự án HTQT về ĐT sẽ góp phần to lớn cho sự thành công của các dự án, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo của trường và phát triển mối quan hệ hợp tác giữa Nhà trường với các đối tác nước ngoài.

2.2.3. Duy trì quan hệ hợp tác, tạo dựng quan hệ thân thiết với các đối tác truyền thống và mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác mới Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Thực tế cho thấy, một dự án hợp tác quốc tế về đào tạo không thể triển khai thành công nếu thiếu các đối tác quốc tế. Do đó, việc duy trì quan hệ hợp tác, tạo dựng quan hệ thân thiết với các đối tác truyền thống và mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác mới đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và triển khai các dự án HTQT về ĐT nói riêng và quan hệ hợp tác quốc tế của Trường Đại học GTVT nói chung. Duy trì quan hệ hợp tác để có thể thiết lập các dự án hợp tác đào tạo nếu có các dự án phù hợp với đặc điểm của trường đối tác; tạo dựng quan hệ thân thiết với các đối tác truyền thống vì các đối tác truyền thống được xem như những người bạn thân thiết, sẵn sàng giúp đỡ trường trong xây dựng và triển khai dự án, và cũng chính các đối tác truyền thống sẵn sàng chia sẻ thông tin, kinh nghiệm phát triển hợp tác quốc tế; mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác mới nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội là hợp tác với các đối tác ở các nước phương Tây tiên tiến.

Để duy trì mối quan hệ hợp tác hiện có, tạo dựng mối quan hệ thân thiết với các đối tác truyền thống và mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác mới, trước hết, Nhà trường cần tiếp đón nhiệt tình, chu đáo các đoàn công tác của các trường bạn. Thông qua các buổi tiếp đón đó, các trường có cơ hội trao đổi thông tin về trường, trao đổi thông tin hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm đào tạo và nghiên cứu, kinh nghiệm xây dựng và triển khai dự án các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo. Từ đó tìm kiếm cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực mà hai trường cùng quan tâm.

Thường xuyên tổ chức các đoàn công tác đến thăm và làm việc với các trường hiện là đối tác của Nhà trường và các trường đại học nước ngoài mới để tranh thủ cơ hội thiết lập quan hệ mới và duy trì, tăng cường quan hệ thân thiết. Bên cạnh mục đích duy trì, củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, những chuyến công tác tới các trường đại học nước ngoài cũng là dịp để các lãnh đạo, cán bộ quản lý của Nhà trường học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các đồng nghiệp nước ngoài và kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất thực tế của trường đối tác. Điều này là cực kỳ quan trọng đối với việc lựa chọn đối tác hợp tác xây dựng và triển khai các dự án HTQT về ĐT để tránh được những rủi ro không mong muốn.

Thường xuyên trao đổi thông tin với các đối tác, chủ động tìm hiểu các nguồn thông tin cơ bản như thông tin về mục tiêu dự án: phải gắn kết với mục tiêu chiến lược phát triển trường, hỗ trợ mục tiêu chung của trường; thông tin về đối tác: đây là vấn đề quan trọng, cần phải xem xét, tìm hiểu đối tác xem có phù hợp không? sở trường và thế mạnh của đối tác là gì? mục đích và quyền lợi của đối tác có minh bạch và chính đáng không? Uy tín và năng lực của đối tác có đáp ứng để thực hiện dự án không? Với những đối tác hiện nay ở các nước mới quan hệ ngoại giao với Việt Nam như Mỹ, Anh, Úc, Newzilân,… thì thông tin về đối tác lại càng quan trọng và cần thiết. Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Tăng cường tìm kiếm nguồn thông tin từ các đại diện cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước sở tại đồng thời tìm kiếm các thông tin qua nhiều kênh khác nhau, bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp để tìm kiếm các đối tác mới phù hợp với điều kiện hiện tại của trường. Một trong những nguồn thông tin hữu ích và đáng tin cậy có thể được khai thác từ chính các giảng viên và cán bộ của trường đã từng có thời gian học tập và nghiên cứu tại nước ngoài. Vì vậy, Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường cần khuyến khích, động viên các giảng viên, cán bộ của mình làm cầu nối cho quan hệ hợp tác của trường với các trường đại học nước ngoài.

Chủ động tìm kiếm và tham gia vào các tổ chức, mạng lưới các trường đại học quốc tế. Thông qua đó, có thể phát triển mối quan hệ hợp tác của trường, tìm kiếm cơ hội tham gia vào các dự án hợp tác đào tạo và nghiên cứu của các đối tác quốc tế, tìm kiếm học bổng cho cán bộ, giảng viên và sinh viên của trường, tìm kiếm nguồn tài chính cho việc duy trì và phát triển các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

2.2.4. Tăng cường tìm kiếm nguồn tài chính để triển khai dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Khi xây dựng một dự án hợp tác quốc tế về đào tạo, một trong những vấn đề được Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Giao thông Vận tải quan tâm nhất chính là nguồn tài chính để triển khai dự án. Nguồn tài chính là yếu tố quyết định dự án có được triển khai thực hiện hay không. Tuy nhiên, nguồn tài chính để triển khai các dự án HTQT về ĐT hiện nay hạn hẹp, không đủ để đầu tư cho các dự án, vì vậy, các trường đại học ở Việt Nam, trong đó có trường Đại học Giao thông vận tải phải chủ động tăng cường tìm kiếm nguồn tài chính nếu muốn phát triển các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Có hai nguồn tài chính mà các trường đại học Việt Nam tập trung khai thác là nguồn ngân sách Nhà nước (trước đây là đề án 322, nay là đề án 911) hoặc vốn vay của Chính phủ và nguồn tài trợ quốc tế (có thể từ Chính phủ của các nước đối tác hoặc từ chính trường đối tác). Những năm qua trường Đại học Giao thông vận tải đã nỗ lực tìm kiếm các nguồn tài chính để thực hiện dự án đào tạo và đã có một số dự án được phê duyệt với số tiền lên tới hàng chục tỉ đồng. Nhưng để tăng cường các nguồn tài chính cho thực hiện dự án, Nhà trường cần chủ động tiến hành các giải pháp để tăng cường nguồn tài chính cho việc quản lý và triển khai các dự án HTQT về ĐT.

Một là, khai thác tối đa nguồn ngân sách Nhà nước hoặc vốn vay của Chính phủ. Phải thường xuyên cập nhật các công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo về việc tài trợ cho các dự án HTQT về ĐT hoặc các chương trình học bổng giành cho cán bộ, giảng viên và sinh viên;

Hai là, huy động nguồn tài chính từ các trường đại học nước ngoài và các tổ chức, doanh nghiệp quốc tế hiện đang là đối tác của Nhà trường, mặc dù hiện nay, nguồn tài chính từ các trường đại học và các tổ chức nước ngoài cũng hạn chế hơn trước. Tuy nhiên, có thể khẳng định đây vẫn là một nguồn chính mà các trường đại học Việt Nam, trong đó có trường Đại học Giao thông vận tảie cần tập trung đầu tư khai thác.

Ba là, phát huy năng lực của những giảng viên đã được đi đào tạo tại nước ngoài để tìm kiếm nguồn tài trợ cho các dự án. Mỗi năm có hàng chục giảng viên được cử đi đào tạo tại các trường đại học nước ngoài. Sau một thời gian học tập, chính các giảng viên đó sẽ là cầu nối cho mối quan hệ hợp tác giữa Trường Đại học Giao thông vận tải và trường đại học mà họ đang học tập và nghiên cứu. Và cũng chính từ mối quan hệ đó, các giảng viên luôn được Nhà trường khuyến khích chủ động tìm kiếm nguồn tài trợ cho các dự án mà trường dự kiến triển khai. Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Bốn là, huy động nguồn tài chính của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội khác để thực hiện dự án hợp tác quốc tế về đào tạo. Việt Nam đang tiến tới giáo dục hội nhập, nghĩa là phải chấp nhận cơ chế thị trường trong giáo dục. Khi đó tính tự chủ của các trường đại học được khẳng định, tính cạnh tranh quyết liệt hơn, đòi hỏi các trường phải tự hạch toán đứng vững trên nguồn tài chính của mình. Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội, các trường có thể huy động tài chính từ các doanh nghiệp hay sự hỗ trợ từ các ngân hàng trong hoạt động đào tạo của mình. Sản phẩm của dự án đào tạo chính là một thứ hàng hoá đặc biệt cung ứng cho các doanh nghiệp, vì vậy việc các doanh nghiệp đầu tư cho dự án đào tạo là hoàn toàn phù hợp trong tương lai.

Năm là, huy động nguồn tài chính từ các cựu sinh viên của trường. Sau khi tốt nghiệp, rất nhiều cựu sinh viên của trường nắm giữ những chức vụ cao trong các cơ quan nhà nước và các tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Họ sẵn sàng đóng góp kinh phí cho các hoạt động của trường nhằm phát triển trường ngày càng vững mạnh.

2.2.5. Thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên tham gia các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Đội ngũ cán bộ, giảng viên tham gia xây dựng, quản lý các dự án hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông Vận tải bao gồm: Ban Giám hiệu (trực tiếp là Hiệu trưởng), Trưởng, Phó Trung tâm hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu; Trưởng, Phó phòng Đối ngoại; Trưởng Phó Phòng Tài chính – kế toán; Trưởng, Phó Phòng đào tạo đại học và sau đại học; các cán bộ chuyên trách và cán bộ kiêm nhiệm của Trung tâm HTQT về ĐT và NC; các Trưởng, Phó các khoa, chủ nhiệm các bộ môn và một số giảng viên.

Trong xu thế hội nhập mạnh mẽ, một yêu cầu đặt ra là chúng ta phải tương đồng với quốc tế về cách thức quản lý dự án theo chuẩn mực quản lý dự án quốc tế. Do đó cần phải có đội ngũ cán bộ quản lý, triển khai dự án không những đủ về số lượng mà đặc biệt phải mạnh về chuyên môn nghiệp vụ. Đội ngũ cán bộ đủ năng lực sẽ tranh thủ được nhiều dự án và triển khai có hiệu quả. Thực tế cho thấy nếu ở dự án nào ta có được nhiều cán bộ có trình độ cao tham gia làm việc với các chuyên gia nước ngoài thì dự án đó ta có quyền chủ động hơn, bình đẳng hơn, kinh phí dự án được sử dụng có hiệu quả hơn nhiều và chất lượng chuyên gia cũng tốt hơn.

Để làm tốt công tác đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý dự án HTQT về ĐT cần thực hiện một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tăng cường đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giảng viên, chuyên viên làm công tác quản lý dự án.

Một trong những yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của các dự án HTQT về ĐT là trình độ ngoại ngữ của cán bộ, giảng viên, chuyên viên. Thực tế cho thấy, ở một trường đại học kỹ thuật như trường Đại học Giao thông vận tải, những giảng viên ngoại ngữ thì không biết kiến thức chuyên ngành, còn giảng viên chuyên ngành thì không giỏi ngoại ngữ. Sự khác biệt này gây ra những khó khăn trong công tác biên dịch, phiên dịch và trong giao tiếp công việc- những mảng công việc cần sự phối hợp chặt chẽ giữa hai kiến thức ngoại ngữ và chuyên môn. Vì vậy việc đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giảng viên là cần thiết và là một quá trình liên tục, cần được thực hiện một cách bài bản, có tổ chức.

Nhà trường cần có chính sách khuyến khích, động viên, hỗ trợ và bắt buộc giảng viên nâng cao trình độ ngoại ngữ, đặc biệt đối với giảng viên trẻ. Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Cần xem những ngoại ngữ quan trọng như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức là một tiêu chí trong việc tuyển dụng, qui hoạch cán bộ. Như vậy mỗi cán bộ giảng viên sẽ tự học tập, rèn luyện nâng cao trình độ ngoại ngữ cho bản thân.

Nhà trường cần thường xuyên tổ chức những khoá đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giảng viên có sự tham gia giảng dạy của người nước ngoài, có mục tiêu đặt ra cho mỗi khoá học. Kinh phí cho các khoá có thể từ ngân sách tự có, có thể giảng viên đóng góp một phần. Khi kết thúc khoá học có xét thưởng động viên cho những học viên đạt trình độ yêu cầu, đồng thời có hình thức nhắc nhở, kỷ luật đối với những học viên không đạt trình độ, không nghiêm túc tham gia học tập.

Thứ hai, tự đào tạo học hỏi qua quá trình làm việc

Bên cạnh việc nâng cao trình độ ngoại ngữ, mỗi cán bộ quản lý cần tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân để có thể bắt kịp được những thay đổi của thời cuộc. Đối với phương pháp tự đào tạo để có thể đạt được hiệu quả như mong muốn thì Nhà trường cần:

Tạo lập môi trường quốc tế trong đó tuân thủ những tiêu chuẩn quốc tế về chương trình đào tạo, chất lượng lực lượng lao động (bao gồm cả giảng viên và đội ngũ cán bộ quản lý).

Lựa chọn cán bộ cho từng vị trí công việc căn cứ vào bản mô tả công việc. Như vậy, khi là một thành viên của môi trường này, các cán bộ buộc phải không ngừng phấn đấu vươn lên, tự biết học tập bổ xung trình độ nâng cao trình độ của mình. Thông qua học tập và làm việc trong môi trường này, nhận thức và hành vi của cán bộ quản lý, giảng viên nhất định cũng thay đổi theo chiều hướng tích cực.

Thứ ba, đào tạo trực tiếp dưới sự kèm cặp và hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài ở trong và ngoài nước.

Tạo điều kiện để các cán bộ quản lý có cơ hội được đào tạo trực tiếp dưới sự kèm cặp và hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài ở trong và ngoài nước bằng việc tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn ở trong nước hoặc ở nước ngoài. Các chương trình đào tạo này thường cung cấp cho người học kiến thức một cách hệ thống và đầy đủ. Phương pháp giảng dạy cũng rất phong phú để người học có thể học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia nước ngoài về công việc.

Thứ tư, tiến hành trao đổi cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ đi nước ngoài tham quan, thực tập.

Đây là cơ hội tốt nhất để các cán bộ có thể tận mắt chứng kiến hoặc được trực tiếp tham gia vào công việc tại các cơ sở ở nước ngoài. Thông qua các chuyến công tác đó, họ có thể học hỏi được từ các nước tiên tiến cách thức làm việc, quản lý hay để áp dụng vào trong nước.

Thứ năm, tổ chức các buổi hội thảo quốc tế về các lĩnh vực khác nhau.

Quá trình tổ chức các cuộc hội thảo sẽ giúp cho các cá nhân tự cập nhật kiến thức, có cơ hội trao đổi với các đối tác chuyên gia trên thế giới về các vấn đề lĩnh vực nhất định. Nhờ đó có thể phát triển được năng lực của mình.

Các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo đem đến cho môi trường giáo dục của Việt Nam chương trình và triết lý đào tạo của những nền giáo dục tiên tiến hơn, với tính mục đích cao và rõ ràng trong đào tạo, chú ý đến sự phát triển đa dạng và riêng có của mỗi cá nhân, là một môi trường tốt cho các giảng viên và cán bộ quản lý của ta quan sát và học hỏi, rèn luyện về chuyên môn và các chuẩn mực giá trị sống, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính chuyên nghiệp của người thầy.

2.2.6. Triển khai công tác kiểm định chất lượng các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Trong quá trình phi tập trung hóa và đại chúng hóa giáo dục đại học, các chuẩn mực giáo dục đại học bị thay đổi và khá khác nhau giữa các trường đại học, kiểm định chất lượng trở thành một công cụ hữu hiệu của nhiều nước trên thế giới để duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục đại học và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học. Kiểm định chất lượng là một quá trình đánh giá nhằm đưa ra một quyết định công nhận một trường đại học hay một chương trình đào tạo của nhà trường đáp ứng các chuẩn mực quy định. Mục đích của kiểm định chất lượng là nhằm đảm bảo đạt được những chuẩn mực nhất định trong đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người học. Điều này là đặc biệt cần thiết khi triển khai các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo, trong đó các chương trình đào tạo quốc tế được áp dụng toàn phần hoặc một phần cho hoạt động đào tạo sinh viên của các trường đại học Việt Nam nói chung và trường đại học Giao thông vận tải nói riêng.

Để triển khai công tác kiểm định chất lượng các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo, Trường Đại học GTVT cần thực hiện một số bước sau:

Trước hết, Nhà trường cần xây dựng và cập nhật các công cụ kiểm định chất lượng. Các công cụ kiểm định chất lượng bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, các văn bản hướng dẫn và đặc biệt là khung pháp lý cho loại công việc này.Ở đây, tiêu chuẩn được hiểu là mức độ yêu cầu và các đòi hỏi mà nhà trường hay các dự án HTQT về ĐT của nhà trường phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định. Một điểm đặc biệt đối với các dự án HTQT về ĐT là khi xây dựng các công cụ kiểm định chất lượng cần phải có sự trao đổi, bàn bạc với các đối tác nước ngoài.

Thứ hai, Nhà trường sử dụng các công cụ kiểm định chất lượng để tự triển khai đánh giá trong phạm vi một chương trình đào tạo thuộc dự án HTQT về ĐT mà Nhà trường đang phối hợp triển khai. Đây là một quá trình tiêu tốn nhiều công sức và thời gian. Ở bước này, Nhà trường tự học tập, tự nghiên cứu và tự hoàn thiện theo các chuẩn mực đã ban hành để chương trình đào tạo đó được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định.

Thứ ba, đăng ký đánh giá ngoài với một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục và đề nghị xem xét đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Đây là một quá trình nhằm làm tăng thêm giá trị của kết quả tự đánh giá. Đối với một số dự án hợp tác quốc tế về đào tạo được thực hiện bởi trường đại học Giao thông vận tải và đối tác nước ngoài, chẳng hạn như Dự án chương trình tiên tiến ngành xây dựng công trình giao thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu phải có cơ quan độc lập đánh giá chất lượng dự án. Trong trường hợp này, Nhà trường và trường đối tác bàn bạc với nhau về việc mời một tổ chức/cơ quan độc lập đánh giá chất lượng đào tạo theo tiêu chí mà Bộ đề ra. Từ những đánh giá đó, Nhà trường sẽ có những thay đổi phù hợp nếu cần thiết.

Thứ tư, cần thường xuyên báo cáo tình hình triển khai dự án, kết quả thực hiện đúng qui định; đề xuất những vấn đề vướng mắc, những kiến nghị với cơ quan chủ quản và cơ quan chức năng. Ở Việt Nam hiện nay, việc triển khai các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo vẫn đang ở mức độ vừa triển khai vừa học hỏi từ trường đối tác. Vì vậy, những kiến nghị, đề xuất của các trường đại học nói chung và trường Đại học GTVT nói riêng là rất cần thiết đối với đơn vị chủ quản – Bộ GD và ĐT để Bộ có hướng điều chỉnh, thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn.

2.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý được thiết kế để tham khảo ý kiến của các cán bộ quản lý dự án, các giảng viên và các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý dự án hợp tác quốc tế về ĐT về mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đưa ra trong luận văn. Nó giúp cho luận văn mang một cách nhìn sâu rộng hơn, thực tiễn hơn và hoàn chỉnh hơn.

Tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi kết hợp với trao đổi trực tiếp đối với các cán bộ, chuyên gia và giảng viên đang hoặc đã từng tham gia vào các dự án trong trường ĐH GTVT.

  • Số phiếu phát đi: 120
  • Số phiếu thu lại: 120
  • Số phiếu hợp lệ: 120
  • Số phiếu không hợp lệ: 0

Trong bảng hỏi tập trung điều tra một số vấn đề chung về cán bộ quản lý dự án và xin ý kiến các cá nhân về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đưa ra để quản lý dự án HTQT về ĐT tại trường ĐH giao thông vận tải. Mức độ cần thiết được điều tra theo 3 mức độ: rất cần thiết, cần thiết, không cần thiết. Mức độ khả thi được điều tra theo 3 mức độ: rất khả thi, khả thi, không khả thi. Cho điểm từ 1 đến 6 về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của từng biện pháp.

Bảng 2.1. Tổng hợp kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

Nhận xét chung

  • Về tính cấp thiết của các biện pháp

Nhìn vào kết quả khảo nghiệm ở bảng 2.1 ta thấy hầu hết những người được hỏi khẳng định các biện pháp mà tác giả đưa ra trong luận văn là có tính cấp thiết, trong đó biện pháp 5, 1, 2, 4 được nhiều ý kiến đánh giá cao. Qua trao đổi với đội ngũ cán bộ, giảng viên được biết, sự đánh giá trên là hết sức khách quan, vì họ cho rằng hiện nay các cán bộ và giảng viên tham gia quản lý các dự án cần phải được nâng cao trình độ cả về ngoại ngữ và chuyên môn để đáp ứng được đòi hỏi về tính chuyên nghiệp cao trong quản lý các dự án HTQT về ĐT. Ngoài ra, rất cần phải hoàn thiện và bổ sung thêm các văn bản hướng dẫn việc quản lý các dự án HTQT về ĐT để họ làm cơ sở triển khai thực hiện. Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Tuy nhiên, một số ý kiến lại cho rằng một số biện pháp đưa ra, nhất là biện pháp số 3 và số 6 không thực sự cần thiết. Lý do cơ bản của những ý kiến đó là thời gian qua Nhà trường đã thực hiện nhiều biện pháp để duy trì quan hệ hợp tác cũng như đẩy mạnh mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác mới và cũng thực hiện nhiều hoạt động liên quan tới kiểm định chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng các dự án HTQT về ĐT nói riêng.

Tổng hợp ý kiến của cán bộ, giảng viên, có thể sắp xếp tính cần thiết của các biện pháp theo thứ tự: 5-1-2-4-3-6.

  • Về tính khả thi của các biện pháp

So với tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp được nhiều ý kiến đánh giá thấp hơn. Lý do cơ bản của những ý kiến này căn cứ vào tình hình thực tế của hoạt động hợp tác quốc tế của Nhà trường, trong đó có việc quản lý và triển khai các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo. Mức độ khả thi của các biện pháp 3, 2, 5 được đánh giá cao hơn vì các biện pháp đó đều phù hợp với chủ trương lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường và phù hợp với năng lực cũng như điều kiện hiện có của trường.

Tuy nhiên, một số cán bộ và giảng viên được hỏi vẫn hoài nghi về mức độ khả thi của các biện pháp, đặc biệt là các biện pháp 4, 6 và 1. Họ cho rằng với tình hình kinh tế xã hội hiện nay, rất khó để các trường có thể tìm được các nguồn kinh phí triển khai dự án HTQT về ĐT và việc kiểm định chất lượng cũng khó được triển khai một cách thường xuyên và triệt để. Đặc biệt là biện pháp 4 – tăng cường tìm kiếm nguồn tài chính để triển khai dự án HTQT về ĐT là cần thiết nhưng để thực hiện hiệu quả biện pháp này không hề dễ dàng vì nguồn tài chính từ Chính phủ Việt nam cũng như từ các tổ chức quốc tế ngày càng khan hiếm. Như vậy, có thể sắp xếp tính khả thi của các biện pháp theo thứ tự: 3-2-5-1-6-4.

Tóm lại, qua khảo sát thực tế cho thấy, hầu hết ý kiến đều khẳng định các biện pháp mà tác giả đề xuất trong luận văn là phù hợp và có đủ điều kiện để thực hiện ở Trường Đại học GTVT hiện nay và trong thời gian tới.

Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý dự án HTQT về ĐT đến năm 2040 là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường. Tuy nhiên, để có được các biện pháp áp dụng cho giai đoạn này, cần phải dự báo xu thế HTQT về ĐT. Với tư cách là người nghiên cứu, tác giả đưa ra dự báo HTQT của Trường ĐH GTVT đến năm 2040 và các biện pháp quản lý với mong muốn đó sẽ là những gợi ý và đề xuất quan trọng để Nhà trường nghiên cứu áp dụng. Mỗi biện pháp có vị trí, vai trò, nội dung và hiệu quả áp dụng khác nhau nhưng đều nằm trong một chỉnh thể thống nhất của hoạt động quản lý. Vì thế, khi áp dụng các biện pháp, cần nắm chắc nội dung thực hiện, đồng thời phải hết sức linh hoạt, kết hợp hài hòa và tận dụng tối đa thế mạnh của từng biện pháp để thu được kết quả tốt nhất.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

1. Kết luận

Cuộc cách mạng chuyển nền kinh tế từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường ở nước ta trong hơn hai mươi năm qua đã khẳng định hướng đi đúng đắn và thành quả đạt được là đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả mà nó mang lại, chúng ta cũng phải chấp nhận những yếu tố bất lợi và phải khắc phục những rủi ro của nó. Bước vào giáo dục hội nhập cũng vậy. Giáo dục hội nhập là chấp nhận thị trường trong giáo dục, cạnh tranh trong giáo dục, đó chính là nhân tố để kích thích, phát triển giáo dục. Thị trường và cạnh tranh sẽ này sinh vấn đề không mong muốn, gây tác động xấu đến quá trình phát triển. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế quản lý phù hợp, vừa kích thích, tạo điều kiện thuận lợi cho các trường phát triển, vừa giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển cho các trường. Việc xây dựng và triển khai thực hiện các dự án HTQT về ĐT trong quá trình hội nhập sẽ giúp các trường tiếp cận với nền giáo dục, phương thức đào tạo tiên tiến, phương pháp dạy học và thiết bị giáo dục hiện đại.

Tăng cường thực hiện các dự án HTQT về ĐT là tạo môi trường và điều kiện tốt để giảng viên và sinh viên nâng cao trình độ ngoại ngữ cũng như trình độ chuyên môn của mình, góp phần nâng cao trình độ đào tạo của trường.

Dự án HTQT về ĐT là cầu nối cho mối quan hệ tốt đẹp giữa trường với các trường đại học và các tổ chức giáo dục ở nước ngoài. Các dự án HTQT về ĐT tại trường ĐH GTVT đã góp phần đáng kể trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo cho xã hội các nhà khoa học kỹ thuật và các giảng viên với trình độ quốc tế để đáp ứng được những yêu cầu của thời kỳ mới.

Với việc đưa ra biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo đến năm 2040, luận văn đã đưa ra một mô hình tổng quát về nội dung, phương pháp và cách tiếp cận trong việc quản lý các dự án HTQT về ĐT tại trường Đại học GTVT. Luận văn đã nêu ra được những điểm cần phải được khắc phục trong quản lý hiện nay, thể hiện ở sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị quản lý, sự thiếu tập trung, thiếu đồng bộ, thiếu sự phối hợp trong cơ cấu tổ chức quản lý các dự án HTQT về ĐT.

2. Kiến nghị Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Đảng và Nhà nước ta đã xác định để cải cách và xây dựng nền giáo dục Việt nam xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI cần tăng nhanh ngân sách Nhà nước cho giáo dục, thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, tăng cường xã hội hóa giáo dục và đẩy mạnh HTQT để bổ sung thêm nguồn lực cho GD&ĐT và sớm hội nhập khu vực và thế giới. Trong khi trước mắt chưa thể tăng nhanh được ngân sách nhà nước cho GD&ĐT và đóng góp của nhân dân, của xã hội cho GD thì cần thực hiện tốt công tác quản lý các dự án HTQT về ĐT. Luận văn xin đưa ra các kiến nghị sau đây:

  • Đối với cơ quan Nhà nước, Bộ chủ quản và các cơ quan chức năng có liên quan

Chính phủ cần có các Thông tư hướng dẫn thực hiện quyết định đi kèm các quyết định về quan hệ quốc tế để các trường có thể chủ động tiến hành;

Cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý các trường đại học, chỉnh sửa các quy định, quy chế cho phù hợp, đặc biệt là các văn bản liên quan đến việc thực hiện các dự án HTQT về ĐT;

Ban hành các Quyết định thể hiện việc hướng dẫn, giao quyền cụ thể và phân cấp quản lý các dự án cho các cơ sở giáo dục đào tạo nhằm tăng cường vai trò chủ động của các cơ sở nhưng vẫn đảm bảo chức năng quản lý nhà nước về công tác này;

Ban hành văn bản cụ thể qui định đơn vị đủ năng lực thẩm quyền xác minh năng lực pháp lý và tài chính của một trường đại học; có những hướng dẫn về những lĩnh vực được khuyến khích hay không được khuyến khích hợp tác đào tạo.

Chỉ đạo, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để các trường sớm hoàn thiện những quy định, bộ máy quản lý của mình trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án HTQT về ĐT;

Tổ chức kiểm tra, giám sát định kỳ tình hình hoạt động của các dự án đã được phê duyệt để kịp thời đình chỉ những trường không đạt tiêu chuẩn, tạo điều kiện giữ vị thế cho các trường đạt yêu cầu.

  • Đối với Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học Giao thông Vận tải

Trước mắt, cần đầu tư đủ mạnh cho phát triển HTQT nói chung và phát triển HTQT về ĐT nói riêng, trong đó tập trung tìm kiếm cơ hội để xây dựng các dự án hợp tác đào tạo với các đối tác nước ngoài.

Có những giải pháp và chính sách cụ thể để phát huy năng lực sáng tạo của các đơn vị chức năng liên quan và các cán bộ, giảng viên.

Sớm xây dựng và hoàn thiện văn bản quy định và hướng dẫn cụ thể về xây dựng và triển khai các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

  • Đối với các đơn vị chức năng

Phòng Đối ngoại tăng cường khai thác và tìm kiếm cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài, đồng thời thường xuyên cập nhật thông tin từ các trường đối tác.

Trung tâm hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu cần chủ động, linh hoạt hơn nữa trong quản lý và triển khai các dự án HTQT về ĐT, đặc biệt trong việc áp dụng các chương trình đào tạo quốc tế vào điều kiện thực tế của Nhà trường. Tăng cường phối hợp các đơn vị chức năng có liên quan trong quản lý các dự án.

Các khoa, viện, bộ môn chủ động lựa chọn giảng viên tham gia các dự án HTQT về ĐT, khuyến khích, giúp đỡ giảng viên trong quá trình giảng dạy. Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537