Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ

Các hoạt động quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt phải được thực hiện đồng bộ giữa các bộ phận và các thành viên của trường nhằm tạo ra kỷ cương, nề nếp, phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà truờng, tạo ra được môi trường giáo dục lành mạnh, nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp phải chú ý đến các yếu tố tác động tham gia vào các biện pháp của đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất – thiết bị dạy học. Chỉ khi thực hiện đồng bộ các biện pháp mới phát huy thế mạnh của từng biện pháp, trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường.

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Các biện pháp phải được thể hiện và cụ thể hoá đường lối, phương châm giáo dục của Đảng và Nhà nước, phù hợp với định chế giáo dục của ngành trong quá trình quản lý. Muốn vậy phải xác định định hướng chiến lược phát triển giáo dục hiện nay, các biện pháp cụ thể để thực hiện chiến lược giáo dục trong đó việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường là một trong những yếu tố cấp bách cần được tập trung giải quyết. Tính thực tiễn của các biện pháp đòi hỏi phải tìm các biện pháp quản lý phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, môi trường của nhà trường tiểu học, của đặc thù bộ môn Tiếng Việt, trên cơ sở tuân thủ nghiêm các hướng dẫn của Bộ GD&ĐT.

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

Yêu cầu này đòi hỏi các biện pháp được đề xuất có khả năng áp dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý của người Hiệu trưởng trường tiểu học một cách thuận lợi, trở thành hiện thực và đem lại hiệu quả cao trong việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học. Để đạt được điều này, khi xây dựng biện pháp phải đảm bảo tính khoa học, các bước tiến hành phải cụ thể, chính xác. Các biện pháp phải được kiểm chứng, khảo nghiệm một cách có căn cứ khách quan và có khả năng thực hiện cao. Các biện pháp phải được thực hiện một cách rộng rãi và được điều chỉnh, để ngày càng hoàn thiện.

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách người công dân XHCN Việt Nam, con người mang đậm những tinh hoa văn hoá, của những truyền thống tốt đẹp của dân tộc với thành tựu khoa học – kỹ thuật hiện đại. Vì vậy quản lý giáo dục phải quan tâm vận dụng nguyên tắc kế thừa phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc với thành tựu tiên tiến trên thế giới, kế thừa các biện pháp đã có một cách hợp lý và có hiệu quả..

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực

3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực

  • Mục đích biện pháp

Giúp mỗi Cán bộ quản lý và giáo viên dạy học môn Tiếng Việt nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói riêng, chất lượng giáo dục Tiểu học nói

Giúp người Cán bộ quản lý thuận lợi trong công tác tổ chức chỉ đạo và triển khai thực hiện các chức năng quản lý, quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt, tăng cường trách nhiệm của mỗi người đối với sự phát triển về chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên trong nhà trường.

Giúp giáo viên tin tưởng vào mục tiêu đúng đắn của hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học, biến những hiểu biết sâu sắc thành hành động tích cực. Giải quyết những khó khăn, vướng mắc của giáo viên khi dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Từ đó, hình thành ở bản thân mỗi người giáo viên ý thức tự hoàn thiện và nâng cao trình độ đào tạo, nhằm đáp ứng được yêu cầu dạy học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và thực tiễn giáo dục trong giai đoạn hiện

  • Nội dung và cách thực hiện

Ban giám hiệu nhà trường cần tranh thủ sự chỉ đạo sâu sát và tham mưu của Sở GD&ĐT Hà Nội và phòng giáo dục Tiểu học của Sở GD&ĐT Hà Nội, Phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm trong quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học. Hiệu trưởng cần chú ý một số nội dung sau: Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Nhận thức rõ về mục tiêu nội dung chương trình, các PPDH truyền thống vsf hiện đại cho hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Cán bộ quản lý ở các trường Tiểu học phải nghiên cứu kĩ các văn bản, chỉ thị về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học và tình hình hoạt động thực tế của trường mình, để từ đó xác định mục tiêu cho hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thiết thực trong từng năm học. Các mục tiêu phải mang tính cụ thể hóa, định lượng hóa, tiêu chuẩn hóa và có tính dự báo kết quả cao.

Tăng cường công tác tuyên truyền, động viên, khuyến khích nhằm nâng cao nhận thức cho Cán bộ quản lý và giáo viên. Xây dựng và bồi dưỡng lực lượng nòng cốt, nhiệt tình, luôn đi đầu trong công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cả tập thể sư phạm.

Cán bộ quản lý cần cụ thể hóa các tiêu chuẩn về năng lực sư phạm của giáo viên trong nhà trường Tiểu học hiện nay, từ đó quán triệt cho giáo viên về định hướng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của giáo viên trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Viẹt ở các trường Tiểu học. Xây dựng kế hoạch ngắn hạn, dài hạn để đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, luôn đặt ra những yêu cầu ngày càng cao trong việc tự hoàn thiện, tự nâng cao năng lực sư phạm cho mỗi giáo viên.

Không đơn giản là sự tiếp nhận một cách thụ động, mà quá trình nhận thức của con người là sự tiếp nhận một cách năng động sáng tạo có chọn lọc và có mục đích, khi đó nhận thức mới có thể định hướng cho hành động. Tuy nhiên, trình độ nhận thức của mỗi người khác nhau, tùy thuộc vào sự hiểu biết, niềm tin, tình cảm đối với ý nghĩa của vấn đề, nếu nhận thức sâu sắc thì hành động sẽ đúng hướng và có hiệu quả. Vì thế, cần chú ý đến việc bồi dưỡng nhận thức cho Cán bộ quản lý và giáo viên thật đồng bộ và sâu sắc, nhằm mang lại hiệu quả cao cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

  • Điều kiện thực hiện biện pháp

Để có được năng lực và trình độ quản lý, người Cán bộ quản lý phải làm việc tích cực trong thực tiễn hoạt động quản lý. Mặt khác, để không ngừng nâng cao nhận thức về việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt, người Cán bộ quản lý phải tích cực học tập, bồi dưỡng thường xuyên, liên tục. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học hiện nay.

Cần bồi dưỡng một đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt nòng cốt nhằm hỗ trợ các giáo viên khác về chuyên môn. Sắp xếp, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giáo viên được tham dự các buổi tập huấn về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt được học tập nâng cao trình độ.

3.2.2. Biện pháp 2: Quản lý thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

  • Mục đích biện pháp

Tổ chức thực hiện đúng, đủ chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học và thời gian học tập môn Tiếng Việt do Bộ GD&ĐT quy định.

Xây dựng được thời khoá biểu phù hợp với tâm, sinh lý lứa tuổi bảo đảm quyền lợi học tập của học sinh và phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương.

Quản lý giáo viên thực hiện đúng và có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học, giáo dục trong nhà trường Tiểu học (Được quy đinh tại điều 32 chương IV – Điều lệ trường Tiểu học).

  • Nội dung và cách thực hiện biện pháp

Theo hướng dẫn của công văn số 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 13/02/2012 về việc hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho học sinh Tiểu học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh trong từng lớp. Hiệu trưởng yêu cầu giáo viên xây dựng kế hoạch học cho từng môn học, từng tuần học và cả năm học.

Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình dạy học thông qua thời khóa biểu, thông qua hồ sơ chuyên môn như: kế hoạch bài học, kế hoạch bài dạy, sổ theo dõi và đánh giá học sinh, chấm chữa bài cho học sinh, quy chế cho điểm… Qua đó cần biểu dương kịp thời những giáo viên thực hiện nghiêm túc và tốt, sử dụng những giáo viên giỏi, có kinh nghiệm làm giáo viên cốt cán cho tổ khối chuyên môn.

Tăng cường dự giờ, thăm lớp, góp ý giờ dạy: Đây là biện pháp quản lý nhằm ngăn chặn hiện tượng cắt xén nội dung chương trình. Trong năm học tất cả giáo viên phải thao giảng và phải đi dự giờ để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, góp ý cho đồng nghiệp. Đối với Hiệu trưởng dự giờ thăm lớp là một công việc quan trọng trong công tác quản lý của mình. Qua đó Hiệu trưởng đánh giá được chất lượng dạy học của giáo viên và chất lượng học tập của học Tránh tình trạng dự giờ hình thức, đánh giá xếp loại chung chung. Thông qua dự giờ phải nêu được ưu, nhược điểm và hướng giải quyết để đạt được hiệu quả tốt nhất.

Tăng cường việc KTĐG, việc thực hiện nội dung chương trình – đây là khâu quan trọng của quá trình quản lý. Hiệu trưởng chỉ đạo cán bộ quản lý bám sát hoạt động dạy học, kiểm tra thường xuyên việc thực hiện kế hoạch của tổ khối chuyên môn. Trong quá trình kiểm tra kịp thời phát hiện những thiếu sót để góp ý điều chỉnh. Hiệu trưởng cần quan tâm đến các điều kiện CSVC, phương tiện, môi trường để quá trình dạy học diễn ra thuận lợi, hiệu quả.

Để thực hiện đầy đủ chương trình và quy định của Bộ GD&ĐT yêu cầu, hiệu trưởng phải chỉ đạo chặt chẽ giáo viên đặc biệt là tổ trưởng chuyên môn. Tổ trưởng phải xây dựng kế hoạch của từng bộ môn theo kế hoạch đã quy định như kế hoạch tuần, tháng, năm…Hiệu trưởng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra tiến độ và phân phối chương trình đã quy định, theo dõi việc thực hiện thời khoá biểu của học sinh trong ngày. Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Để xây dựng được thời khoá biểu của trường hợp lý nhất, hiệu trưởng cần nghiên cứu kỹ, hiểu đúng quy định biên chế năm học, tính đặc thù của môn Tiếng Việt, tâm, sinh lý của học sinh.

Tổ chức hoạt động dạy và học cũng như các hoạt động giáo dục ngoài giớ lên lớp, hoạt động ngoại khoá phải theo chương trình giáo dục Tiểu học do Bộ GD&ĐT quy định. Việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc chương trình giáo dục cả về nội dung,phương pháp, hình thức tổ chức… là điều kiện cơ bản để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục Tiểu học. Đây phải được coi là vấn đề có tính chất pháp lệnh bắt buộc. Nhiều Hiệu trưởng quản lý chưa chặt chẽ để giáo viên cắt xén chương trình, đơn giản hoá kiến thức và phương pháp của bộ môn, nền nếp dạy và học hàng ngày chuệch choạc.

Hiệu trưởng cần phải giám sát các hoạt động thực hiện nhiệm vụ của giáo viên trường mình đó là: hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục theo đúng chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, KTĐG đúng quy định; lên lớp đúng giờ, không tuỳ tiện bỏ giờ, bỏ buổi học, đảm bảo chất lượng và hiệu quả giảng dạy; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia đầy đủ các hoạt động tổ chuyên môn. Tham gia công tác phổ cập giáo dục Tiểu học ở địa phương. Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy. Chủ động phối hợp với Đội TNTP Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng, với gia đình học sinh và tổ chức xã hội trong hoạt động dạy học và giáo dục.

Quản lý chương trình môn học, cần được xác định: Các kỹ năng cần thiết để thực hiện quá trình phân cấp quản lý còn rất hạn chế. Điều cần thiết giúp Hiệu trưởng ứng phó linh hoạt với vấn đề phân cấp quản lý và nắm vững hơn các quá trình thay đổi và đổi mới giáo dục. Hệ thống thông tin quản lý như việc thu thập số liệu và phản ánh của giáo viên cần phải hợp lý hoá và nâng cao năng lực thu thập, kiểm tra và phân tích số liệu cho các Hiệu trưởng.

Căn cứ vào phân phối chương trình quy định của Bộ GD&ĐT cùng với điều kiện thực tế của nhà trường, Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ khối chuyên môn và giáo viên đảm bảo dạy đúng, đủ nội dung chương trình. Nghiêm cấm việc tự ý cắt xén nội dung chương trình đã được quy định.

Chỉ đạo hoàn thiện và cụ thể hóa những nội dung và tổ chức thực hiện trong thực tế, đặc biệt đối với các hoạt động giáo dục, các nội dung chương trình gắn với địa phương, những hoạt động tham gia vào công tác thực tiễn đời sống. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện một số môn học tự chọn, một số bài giảng cụ thể…

Hiệu trưởng chỉ đạo dạy và học các môn văn hoá hiệu quả thiết thực là nâng cao chất lượng đào tạo. Cần chỉ đạo từ khâu lập thời khoá biểu, lập kế hoạch dạy học, chỉ đạo chương trình, xây dựng quy định cụ thể về nền nếp dạy của giáo viên, học của học sinh, chỉ đạo rút kinh nghiệm một số vấn đề đặc trưng nhất trong hoạt động dạy và học.

Để chỉ đạo tốt hoạt động dạy học, Hiệu trưởng cần tổ chức cho giáo viên nghiên cứu học tập nắm vững chương trình; soạn bài (soạn mẫu, kiểm tra soạn bài của giáo viên); kiểm tra việc dạy học trên lớp; đánh giá chất lượng học sinh (tổ chức cho giáo viên học tập nắm vững hướng dẫn đánh giá của Bộ GD&ĐT ngay từ đầu năm học, thực hiện những quy định về chế độ cho điểm, chấm điểm, chấm chữa bài kiểm tra, đánh giá xếp loại học sinh; trực tiếp chấm chữa lại một số bài kiểm tra để đánh giá việc chấm bài của giáo viên; kiểm tra sổ điểm lớp.

BGH cùng tổ chuyên môn kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên thường xuyên, định kỳ, đột xuất…

BGH kiểm tra việc thực hiện nội dung chương trình, kế hoạch dạy học, nền nếp dạy học… Qua đó có phát hiện những vi phạm, những sai lệch trong việc thực hiện nội dung chương trình để có những chấn chỉnh, điều chỉnh đúng đắn, phù hợp.

  • Điều kiện thực hiện

Hiệu trưởng cần triển khai sâu rộng tới toàn thể giáo viên những thông báo, quyết định, quy định của ngành về việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình.

Xây dựng đội ngũ cốt cán là chắc về kiến thức, vững về tay nghề nhằm giúp Hiệu trưởng kiểm tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình ở mỗi giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt.

Chỉ đạo chặt chẽ, đồng bộ từ ban giám hiệu đến tổ chuyên môn quản lý hoạt động dạy học của giáo viên.

3.2.3. Biện pháp 3: Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực

  • Mục đích biện pháp

Giúp cho công tác tổ chức quản lý đổi mới phương pháp hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội được thực hiện một cách khoa học, có định hướng rõ ràng, kế hoạch cụ thể và có tính chủ động

Thực hiện phân cấp quản lý, phát huy được trách nhiệm và quyền hạn của đội ngũ tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn.

Tổ trưởng chuyên môn cùng các khối trưởng chủ động thông qua kế hoạch chung của nhà trường, bàn bạc để xây dựng kế hoạch cho các hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho tổ, khối gắn với sinh hoạt chuyên môn một cách hợp lý nhất.

Cung cấp cho giáo viên những kiến thức về các PPDH mới, hiện đại, phù hợp và có thể áp dụng vào thực tế dạy học, đáp ứng được nhu cầu nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên trong trường.

CBQL dễ dàng kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động đổi mới PPDH môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và làm cơ sở cho công tác đánh giá thi đua trong các nhà trường.

  • Nội dung và cách thực hiện biện pháp

Hiệu trưởng triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện, tiêu chí đánh giá thi đua công tác đổi mới PPDH môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học của Bộ GD – ĐT và Sở GD- ĐT Hà Nội

Huy động ý tưởng, sáng kiến của lực lượng nòng cốt, nhằm giúp xây dựng kế hoạch công tác đổi mới PPDH môn Tiếng Việt của nhà trường theo từng học kỳ một cách cụ thể, rõ ràng và khoa học. Có thể xây dựng kế hoạch quản lý công tác đổi mới PPDH môn Tiếng Việt ngắn hạn, lồng trong kế hoạch dài hạn, có những định hướng riêng trong từng giai đoạn cụ thể.

Hiệu trưởng hướng dẫn tổ trưởng tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch của tổ sao cho đảm bảo đạt hiệu quả cao trong dạy học môn Tiếng Việt, nhằm phát huy tối đa năng lực chuyên môn của mỗi cá thể trong tập thể sư phạm. Chú ý đến thời gian tổ chức các hoạt động đổi mới PPDH môn Tiếng Việt phù hợp với chương trình nội dung bài dạy cho HS theo từng khối.

Công tác tổ chức chỉ đạo thể hiện vai trò tích cực của người Cán bộ quản lý vì thế cần có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng dựa trên kế hoạch đã đề Có sự chỉ huy, theo dõi, giám sát các hoạt động đổi mới phương pháp hoạt động dạy học môn Tiếng Việt diễn ra đúng hướng, đúng mục đích. Thường xuyên giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn và các bộ phận liên quan nhằm kịp thời phát hiện những sai sót. Có đánh giá, khen thưởng và xử phạt kịp thời và hợp lý nhằm rút kinh nghiệm giúp điều chỉnh cho các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt đạt hiệu quả hơn. Đồng thời có tiếp nhận thông tin phản hồi từ giáo viên và HS, nhanh chóng phân tích và điều chỉnh kế hoạch thực hiện đạt hiệu quả tối ưu.

Chỉ đạo tổ Thiết bị phối hợp với tổ chuyên môn nhằm đảm bảo việc hỗ trợ về kỹ thuật, cơ sở vật chất và trang thiết bị cho công tác tổ chức các hoạt động học tập cho Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Kế hoạch chuyên môn của tổ, khối cũng cần có sự phối hợp với kế hoạch của Đoàn thanh niên để tăng cường chất lượng các hoạt động ngoại khóa vừa học vừa chơi thông qua những sân chơi bổ ích, lý thú như giao lưu CLB Văn Tuổi thơ,…tạo hứng thú và đam mê trong việc học tập môn Tiếng Việt đồng thời giáo dục kỹ năng ứng xử trong giao tiếp, rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong văn nói và văn viết.

Mỗi trường Tiểu học cần xây dựng nhiều hình thức bồi dưỡng giáo viên về công tác đổi mới phương pháp trong hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học khác nhau, đảm bảo tính đa dạng, phong phú các hình thức và cũng để giáo viên có điều kiện lựa chọn cho mình hình thức bồi dưỡng phù hợp. Giải pháp thiết thực nhất là bồi dưỡng tại cơ sở, kết hợp chặt chẽ giữa bồi dưỡng, sử dụng và sàng lọc.

Cung cấp văn bản hướng dẫn và tài liệu học tập để giáo viên tổ chức thảo luận ở các nhóm chuyên môn, có thể gửi thắc mắc đến các chuyên gia giải đáp.

Tổ chức cho giáo viên thường xuyên dự giờ, thăm lớp lẫn nhau, góp ý, chia sẻ, rút kinh nghiệm sau các tiết dạy có thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt.

Tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn, sinh hoạt chuyên đề giới thiệu và đánh giá những bài học và sáng kiến kinh nghiệm của các giáo viên, các đơn vị đã đạt được trên thực tế vào dịp đầu năm học để tuyên truyền, chia sẻ và nhân rộng gương điển hình tốt về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Thông qua công tác này, là việc tạo nên sự tương tác, giúp đỡ giữa các giáo viên giữa các trường Tiểu học trong quận vừa tạo cơ hội cho giáo viên thể hiện mình trước tập thể, đem lại sự công nhận và tôn trọng của tập thể đối với cá nhân.

Có các chính sách động viên, khuyến khích, thu hút Cán bộ quản lý và giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học, đăng ký viết sáng kiến kinh nghiệm trong việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đặc biệt là có chế độ chính sách, lương thưởng và đề bạt khi giáo viên hoàn thành tốt việc học tập nâng chuẩn. Cần ban hành văn bản quy định mức hỗ trợ kinh phí phù hợp với thực tế như hỗ trợ về kinh phí đi lại, kinh phí mua tài liệu học tập, tham khảo và mua vật liệu tự làm đồ dùng phục vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu; có các tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng thỏa đáng đối với đối tượng Cán bộ quản lý, giáo viên này. Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Tổ chức các lớp học bồi dưỡng năng lực, chuyên môn tại cơ sở, tạo mọi điều kiện về thời gian và cơ sở vật chất cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng của sở GD&ĐT đang thực hiện theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học.

Tổ chức các lớp tập huấn Cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán trong nhà trường về công tác đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Cần chú ý đến thời gian tổ chức bồi dưỡng, tập huấn, không nên tổ chức vào những lúc giáo viên quá bận rộn với việc hoàn thành hồ sơ, sổ sách, điểm số. Tạo điều điện, thời gian cho giáo viên thực tập những PPDH hiện đại vừa được bồi dưỡng để khi thực hiện giáo viên không bị lúng túng trước Sau đó nhân rộng ra toàn thể giáo viên cùng được bồi dưỡng những phương pháp này. Tăng cường tính thực hành trong phương pháp bồi dưỡng trên tinh thần tích cực hóa người học, chú trọng hoạt động tự bồi dưỡng của mỗi cá nhân với trao đổi, thảo luận trong tổ nhóm chuyên môn xoay quanh những nội dung học tập.

Tổ chức cho giáo viên tham quan nghiên cứu học tập trong và ngoài nước tùy theo tình hình kinh phí thực tế có được tại nhà trường.

Phát động phong trào thi đua “mỗi Thầy, Cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” thông qua việc tổ chức các hình thức thi đua “dạy tốt – học tốt” với phương châm “lấy tự học làm chính” để mỗi giáo viên tự hoàn thiện mình.

Công tác thiết kế chương trình bồi dưỡng đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội phải được thực hiện đồng bộ từ nội dung cần bồi dưỡng, phương pháp bồi dưỡng đến việc ứng dụng những vấn đề đổi mới vào quá trình dạy học môn tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Nội dung cần bồi dưỡng cho giáo viên về việc đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay dựa trên cơ sở phát huy năng lực tự học, tích cực của HS, do đó công tác đổi mới cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS cũng phải được thực hiện đồng thời và tương thích với nội dung đó. Vấn đề này cần nghiên cứu kỹ và triển khai đồng độ từ các cấp quản lý giáo dục. Không thể hướng dẫn giáo viên sử dụng PPDH hiện đại vào dạy học nhưng đánh giá hiệu quả của phương pháp lại dùng cách thức cũ, điều đó hạn chế mức độ triển khai việc sử dụng các PPDH hiện đại trong hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Tổ chức các buổi thảo luận, trao đổi kinh nghiệm trong công tác tổ chức lớp học kết hợp với việc đổi mới PPDH hiện đại có ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát huy tính chủ động, tự tin của HS trong học tập.

Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử, di sản văn hóa trong và ngoài nước, tiểu sử của những người nổi tiếng trên thế giới và Việt nam; khuyến khích giáo viên lồng ghép các hoạt động tương tự vào bài học hoặc yêu cầu bài tập ở nhà gắn với việc vận dụng những kiến thức Tiếng Việt đã học.

Có kế hoạch triển khai thực hiện từng bước, có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường nhằm tăng cường sự linh động, tăng tính hấp dẫn, lôi cuốn HS tham gia vào các hoạt động ngoại khóa có tính chất “chơi mà học” như: GALA, CLB Văn học, Văn tuổi thơ,… thi hùng biện. Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Xây dựng trang webside cho tổ, khối chuyên môn nhằm cung cấp nhiều nguồn thông tin, sáng kiến kinh nghiệm, mô hình – phương pháp tổ chức lớp học tích cực, diễn đàn trao đổi,…hữu ích cho nhu cầu của không chỉ giáo viên mà còn với Thông qua các hoạt động trên website, Cán bộ quản lý và giáo viên có thêm một kênh thông tin mang tính thời sự giúp có thể đánh giá phần nào nhu cầu thực tế của HS đối với việc học Tiểng Việt cũng như nhận được những phản hồi về các giờ học có đổi mới PPDH của mình. Việc này cũng giúp Cán bộ quản lý và giáo viên thường xuyên tìm hiểu và nắm bắt kịp thời những việc đã làm được và những việc chưa làm được trong công tác lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của mình và tự lên kế hoạch tự bồi dưỡng những mặt còn hạn chế. Đây cũng chính là cách giúp giáo viên rút ra bài học kinh nghiệm để hướng dẫn HS tự tìm hiểu và bồi dưỡng kiến thức cũng như kỹ năng giao tiếp cho bản thân.

Tăng cường phân cấp quản lý trong công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học cho Cán bộ quản lý ở các trường trên cơ sở phát huy quyền tự chủ, độc lập và sáng tạo trong tổ chức các hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Căn cứ vào chiến lược phát triển giáo dục của các cấp quản lý giáo dục, căn cứ vào thực trạng đội ngũ và yêu cầu giảng dạy môn Tiếng Việt của mỗi đơn vị, ban giám hiệu các trường Tiểu học xây dựng đề án và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cho trường mình.

Vào đầu năm học, Cán bộ quản lý đặc biệt là Hiệu Trưởng căn cứ vào kết quả thanh tra chuyên môn trong năm học trước, thông qua trò chuyện, trao đổi, thăm dò qua đồng nghiệp, qua ý kiến phản hồi từ phụ huynh HS để tiến hành đánh giá mức độ tiến bộ của giáo viên, nếu giáo viên ở trường khác chuyển đến thì xem xét nghiên cứu hồ sơ, hỏi thăm Cán bộ quản lý ở trường cũ, xem xét kết quả học tập (đối với giáo viên mới ra trường). Có thể thông qua phiếu điều tra hoặc trao đổi trực tiếp với giáo viên hay tổ trưởng tổ chuyên môn về nhu cầu và nguyện vọng bồi dưỡng, về nội dung và các hình thức bồi dưỡng trong công tác giảng dạy môn Tiếng Việt. Tham gia dự giờ, thăm lớp giúp người Cán bộ quản lý thu thập thông tin một cách chính xác nhằm đánh giá năng lực dạy học của giáo viên, để phân loại và đánh giá chất lượng giáo viên. Dựa vào đó, Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch bồi dưỡng về PPDH môn Tiếng Việt cho tổ chuyên môn và bản thân giáo viên theo từng năm học.

Có kế hoạch tìm hiểu về đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi HS tiểu học nhằm giúp giáo viên nắm bắt được sở thích và nguyện vọng của Từ đó giáo viên có thể thiết kế những giờ học đổi mới PPDH phù hợp nhưng vẫn không kém phần sinh động và hiệu quả. Có kế hoạch giúp HS tìm hiểu về nội dung, mục đích, ý nghĩa của việc học môn Tiếng Việt bằng nhiều hình thức: bảng tin, thuyết trình, thi đố vui,…Sau mỗi hoạt động, có đánh giá kết quả, tuyên dương hay phê bình kịp thời và cụ thể nhằm giúp HS nhận thức sâu sắc hơn hiểu rõ hơn về học tập môn Tiếng Việt, hiểu rõ trách nhiệm của mình trong việc học tập môn Tiếng Việt và có sự phối hợp tích cực với các hoạt động giáo viên tổ chức trong lớp học.

Cần chú trọng nâng cao chất lượng của các buổi thảo luận trên một tiết dạy mẫu. Tất cả giáo viên cùng trao đổi thẳng thắn, trên tinh thần xây dựng giúp đỡ đồng nghiệp tiến bộ nói riêng và mục tiêu công tác nói Có như thế mới xóa bỏ suy nghĩ bảo thủ cho rằng các hoạt động quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt chỉ mang tính hình thức, biểu diễn, không sát thực tế.

Có kế hoạch định kỳ tổ chức đánh giá Cán bộ quản lý và giáo viên theo những tiêu chí then chốt thông qua cơ chế “tập trung dân chủ”. Hệ thống tiêu chí này gồm: Tầm nhìn và khả năng hoạch định chiến lược, năng lực điều hành công việc, đoàn kết nội bộ, uy tín trong nhân dân, cần kiệm và gương mẫu trong cuộc sống cá nhân và gia đình. Hoạt động này nhằm giúp cả Cán bộ quản lý và giáo viên nhìn nhận lại năng lực của mình để có hướng phấn đấu hoàn thiện.

  • Điều kiện thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Một ngôi trường có đủ điều kiện thực hiện công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt mà kết quả thu được không tốt thì trách nhiệm thuộc về năng lực tổ chức, chỉ đạo của Cán bộ quản lý và giáo viên. Để giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đối với những chủ trương, kế hoạch, chỉ thị của ngành về công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, nhà trường rất cần một Cán bộ quản lý có năng lực lãnh đạo, có tầm nhìn, có sự sáng tạo trong việc xây dựng kế hoạch, linh động trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện, linh hoạt trong công tác kiểm tra đánh giá việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

3.2.4. Biện pháp 4: Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực

  • Mục tiêu biện pháp

Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường. Hoạt động này diễn ra trong một không gian, thời gian nhất định với sự tham gia của nhiều đối tượng, nhiều nội dung khác nhau. Trong quá trình đó, tất nhiên có người làm tốt, người làm chưa tốt. Vì vậy, kiểm tra đánh giá luôn là một nội dung hết sức quan trọng trong quy trình quản lý hoạt động dạy học của người hiệu trưởng tiểu học. Kiểm tra, đánh giá trong hoạt động dạy học nhằm nắm bắt chính xác kết quả dạy học của nhà trường, kết quả đó đã đạt được so với các yêu cầu đề ra trong kế hoạch hoạt động dạy học của nhà trường chưa, nhằm tích cực hoá hoạt động dạy học trong nhà trường, tăng cường chất lượng dạy học giúp cho hiệu trưởng điều chỉnh được hoạt động dạy học.

  • Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Kiểm tra, đánh giá trong hoạt động dạy học là kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy học của cả thầy và trò. Kiểm tra, đánh giá tốt các nội dung của hoạt động dạy học, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch năm học. Đối với giáo viên: kiểm tra, đánh giá các nội dung hoạt động dạy học như việc thực hiện chương trình dạy học, soạn bài, giờ dạy trên lớp, những quy định về chuyên môn. Đối với học sinh: kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh từ đó xác định chất lượng của học sinh để đánh giá chính xác công tác dạy học của thầy.

Hiệu trưởng phải coi đổi mới việc kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý nhà trường, do vậy họ phải xác định được những yêu cầu của việc đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học trường tiểu học đó là: Phát hiện, đánh giá được tinh thần, thái độ, chất lượng công tác, những việc làm đúng, chưa đúng, những thiếu sót, lệch lạc…của giáo viên trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, các quy chế, quy định về chuyên môn nghiệp vụ. Đánh giá được thực chất, chất lượng học tập, rèn luyện của học sinh, của lớp do từng giáo viên phụ trách. Chỉ ra được cho thầy và trò phương hướng, biện pháp khắc phục, những tồn tại thiếu sót, bồi dưỡng cho chính bản thân người hiệu trưởng những vấn đề mới, những kinh nghiệm hay về chuyên môn, nghiệp vụ. Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Nội dung kiểm tra đó là đầy đủ các nội dung hoạt động dạy học môn Tiếng Việt như: kiểm tra việc thực hiện chương trình; kiểm tra việc soạn bài của giáo viên; kiểm tra việc giảng dạy trên lớp và dự giờ của giáo viên; kiểm tra kết quả học tập của học sinh.

Kiểm tra việc thực hiện chương trình dạy học là văn bản pháp quy mà mọi giáo viên phải tuân thủ một cách nghiêm túc. Để kiểm tra việc thực hiện chương trình của giáo viên, hiệu trưởng phải căn cứ vào: Bảng phân phối chương trình môn học Tiếng Việt ở tiểu học.Căn cứ vào hướng dẫn giảng dạy môn học ở tiểu học, các tài liệu về yêu cầu chỉnh lí, điều chỉnh nội dung dạy học của môn học. Kế hoạch dạy học (của tổ, khối chuyên môn và của cá nhân) đối với môn học.

Cách thức kiểm tra việc thực hiện chương trình: Lập sổ theo dõi thường xuyên việc thực hiện thời khoá biểu hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, học kì và cả năm học của giáo viên. Lên lịch kiểm tra theo đề chung môn học và vở ghi chép bài của học sinh. Cuối mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi học kì cần kiểm tra, ghi nhận xét việc thực hiện chương trình vào lịch báo giảng của mỗi giáo viên.

Kiểm tra việc soạn bài của giáo viên: hiệu trưởng căn cứ vào những quy định cụ thể đã đề ra về nội dung, yêu cầu chung của một giáo án mà tất cả cần phải đảm bảo khi soạn bài để kiểm tra. Trong kiểm tra nội dung bài soạn môn Tiếng Việt cần đặc biệt lưu ý các yêu cầu sau: Xác định đúng mục đích yêu cầu bài dạy. Xác định được các công việc cụ thể cần chuẩn bị của thầy và trò. Xác định đúng nội dung kiến thức trọng tâm. Xác định phương pháp dạy học phù hợp với các loại đối tượng và phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh. Xác định hệ thống câu hỏi phù hợp, khai thác được nội dung kiến thức trọng tâm và phù hợp với mỗi loại đối tượng học sinh.

Cách thức tiến hành kiểm tra việc soạn bài: Hiệu trưởng trực tiếp kiểm tra theo định kì và kí duyệt. Kiểm tra qua dự giờ. Kiểm tra gián tiếp qua tổ trưởng, khối trưởng chuyên môn. Kiểm tra việc giảng dạy trên lớp và việc dự giờ của giáo viên: hiệu trưởng căn cứ vào: Giờ lên lớp theo thời khoá biểu của giáo viên để kiểm tra. Lịch báo giảng và phân phối chương trình dạy học môn học. Các quy trình về giờ lên lớp, nề nếp tổ chức dạy học của nhà trường. Việc dự giờ xem xét việc đảm bảo nội dung bài dạy (về kiến thức cơ bản, tính chính xác, tính hệ thống), việc rèn luyện kỹ năng và công tác giáo dục tư tưởng thông qua bài học (phù hợp với đặc trưng bộ môn và mức độ sâu sắc…), việc vận dụng các phương pháp chung và riêng đối với môn học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh. Ngoài ra còn có thể xem xét về phong cách dạy của thầy và cách học của trò.

Kết quả đánh giá chung việc giảng dạy của thầy và kết quả tiếp thu bài học của trò thông qua việc khảo sát chất lượng. Cách thức tiến hành kiểm tra: hình thức chủ yếu là dự giờ. Việc dự giờ phải được tiến hành thường xuyên và phải có kế hoạch chỉ đạo các tổ, khối chuyên môn và các giáo viên dự giờ của nhau. Có thể dự giờ theo kế hoạch và dự giờ đột xuất.

Dự giờ theo kế hoạch: Chọn giáo viên dạy và lên lịch dự giờ. Hình thức này thường kết hợp với kế hoạch đăng kí thi đua hoặc kết hợp với kế hoạch kiểm tra toàn diện giáo viên hay thanh tra chuyên môn của phòng giáo dục. Dự giờ đột xuất: Hình thức này giúp hiệu trưởng nắm bắt được thực chất tình hình giảng dạy của giáo viên và nề nếp, chất lượng học tập của học sinh, của đơn vị lớp. Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Kiểm tra kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh: Hiệu trưởng cần quan tâm đến việc kiểm tra, đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh. Chỉ có đánh giá đúng thực chất kết quả học tập của học sinh mới có thể đánh giá chính xác công tác dạy học của thầy và như vậy mới có thể đánh giá được hiệu quả giảng dạy của nhà trường. Việc đánh giá nghiêm túc, cẩn trọng sẽ hạn chế được các hiện tượng tiêu cực đồng thời cũng giúp thầy và trò cùng thực sự cố gắng, nỗ lực trong dạy và học. Hiệu trưởng kiểm tra kết quả học tập của học sinh căn cứ vào: Yêu cầu, nội dung chương trình môn học; việc phân tích chất lượng đầu vào (có thể tính theo các mốc quy định như chất lượng học tập theo tháng, theo học kì, theo năm học) và so sánh với chất lượng ở thời điểm tiến hành đánh giá.

Cách thức tiến hành kiểm tra: Kiểm tra chất lượng học tập của môn Tiếng Việt theo chuyên đề chung: Khi sử dụng hình thức kiểm tra này, mỗi tổ chuyên môn nên căn cứ vào yêu cầu nội dung chương trình và phân phối chương trình dạy học môn học để xây dựng một số bộ đề chung (gọi là hình thức ngân hàng đề thi cho tổ, khối). Hiệu trưởng có thể chọn hoặc bốc ngẫu nhiên một trong số các đề thi đó làm đề thi chung cho các lớp trong khối. Sau khi chọn đề kiểm tra, công việc quan trọng là cần tổ chức nghiêm túc việc coi và chấm thi (coi thi đúng quy chế, chấm bài thi theo hai bước độc lập, có đánh phách và dọc phách…). Hình thức này có thể áp dụng cho việc kiểm tra theo định kì hoặc cho việc tổ chức thi học sinh giỏi môn Tiếng Việt do nhà trường tổ chức.

Kiểm tra thông qua việc chấm chữa bài và các thông tin khác. Hiệu trưởng có thể kiểm tra kết quả học tập của học sinh thông qua việc chấm chữa bài trong vở học hoặc qua nhận xét của giáo viên chủ nhiệm, của học sinh.

Một trong những khâu quan trọng làm tăng hiệu quả của công tác kiểm tra là trao đổi, góp ý với giáo viên. Sau khi kiểm tra, ngoài việc nêu những ưu, khuyết điểm thì cần chú ý bồi dưỡng cho giáo viên có thêm những nhận thức đúng, những hiểu biết mới và quan trọng hơn là chỉ ra được các biện pháp phát huy ưu điểm khắc phục thiếu sót. Việc góp ý phải rõ ràng, chính xác cụ thể, thiết thực, sát đối tượng, có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lí vững chắc, tránh góp ý một cách chung chung, theo cảm tính. Cuối cùng phải định được thời gian cho đối tượng được kiểm tra sửa chữa khuyết điểm, thiếu sót và thời gian kiểm tra lại việc sửa chữa, điều chỉnh.

  • Điều kiện thực hiện biện pháp

Biện pháp đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học là một biện pháp quan trọng trong quản lý dạy học môn Tiếng Việt của người hiệu trưởng. Kiểm tra đánh giá cần theo chuẩn mực và quy trình nhất định thì mới đem lại hiệu quả cho công tác quản lý. Người hiệu trưởng phải coi đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học là cột sống của công tác quản lý trường tiểu học. Riêng kế hoạch kiểm tra giảng dạy cần định rõ đối với từng giáo viên trong từng thời gian. Trong công tác kiểm tra, cần đạt được các yêu cầu sau:

Việc kiểm tra phải có kế hoạch cụ thể. Kế hoạch kiểm tra phải nêu rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra và thời gian tiến hành. Kế hoạch kiểm tra định kì cần công bố công khai để mọi người cùng thực hiện và tiện theo dõi kết quả.Trong kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan, chính xác. Từng nội dung kiểm tra phải có chuẩn đánh giá thích hợp. Trong kiểm tra phải đảm bảo tính linh hoạt đồng bộ và tính liên tục hệ thống.Kiểm tra phải dẫn đến tác động điều chỉnh hoạt động dạy học trong nhà trường.

3.2.5. Biện pháp 5 : Quản lý sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ việc dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

  • Mục đích biện pháp

Để đáp ứng yêu cầu thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá” hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường, các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội cần phải được đầu tư bổ sung khá nhiều về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học.

Nhằm đảm bảo cho việc triển khai thực hiện tốt việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tạo ra môi trường học tập tốt nhất, khang trang và hiện đại hơn. Giúp giáo viên có điều kiện tổ chức được nhiều hoạt động học tập tích cực cho HS tham gia với sự hỗ trợ của các trang thiết bị dạy học, giúp các em phát triển toàn diện hơn về các kỹ năng nghe, nói đọc, viết và giao tiếp. Giúp giáo viên tích cực đổi mới PPDH nhằm khuyến khích sự chủ động, sáng tạo của HS. Tạo điều kiện thuận lợi và duy trì bền vững các hoạt động ngoại khóa thú vị và bổ ích cho HS.

  • Nội dung và cách thực hiện biện pháp

Theo thông tư số 127/2015/TT-BTC ngày 19/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách năm 2016; Bộ GD – ĐT hướng dẫn Sở GD – ĐT các thành phố, thành phố tiến hành lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị trường học năm 2016 và 5 năm 2017 – 2026. Hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch trang bị nâng cấp cơ sở vật chất cho trường như sau:

Sử dụng nguồn kinh phí theo ngân sách và dự trù kinh phí hàng năm để mua sắm bổ sung các đồ dùng, trang thiết bị dạy học giúp cho việc tổ chức hoạt động học tập, vui chơi phù hợp với điều kiện của trường. Có kế hoạch sửa chữa định kỳ, bổ sung trang thiết bị, phương tiện dạy học đúng quy cách, đảm bảo chất lượng, theo hướng hiện đại hoá, đầu tư cho thư viện nhà trường có đủ các loại sách giáo khoa, sách hướng dẫn, sách tham khảo các bộ môn đặc biệt là các loại sách cho bộ môn Tiếng Việt.

Thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá giáo dục, tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học đặc biệt là việc giảng dạy môn Tiếng Việt trong nhà trường Tiêủ học. Huy động nguồn tài trợ của các nhà hảo tâm, doanh nghiệp để trang bị các phương tiện cần thiết nhất cho hoạt động dạy học của giáo viên. Huy động nguồn tài trợ từ giáo viên, cựu HS, các bậc phụ huynh, các tổ chức xã hội đóng góp kinh phí xây dựng phòng đa năng, giúp nhà trường trang bị các phòng học hiện đại, an toàn, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho HS phát huy tính sáng tạo thông qua việc tham gia các hoạt động học tập đa dạng và phong phú trong nhà trường.

Có kế hoạch trang bị thư viện thân thiện cho HS với đầy đủ sách tham khảo, trang bị máy tính có kết nối internet để HS tự tìm kiếm thông tin tri thức phát huy năng lực tự học dưới sự quản lý hướng dẫn của cán bộ phụ trách thư viện.

Ngoài ra, việc đảm bảo lớp học đủ ánh sáng, cần bố trí đèn đủ và đo độ sáng cho phù hợp cũng rất cần thiết. Bàn ghế cần được bố trí phù hợp với lứa tuổi HS, chỗ ngồi thoải mái, có thể dịch chuyển dễ dàng thuận lợi cho các hoạt động khác nhau của từng tiết học, phù hợp với việc ứng dụng các PPDH theo mục đích của giáo viên. Sĩ số HS trong mỗi lớp học đúng quy định 35HS/lớp. Như vậy, để giáo viên thực hiện hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội được tốt, ngoài sự nỗ lực của bản thân giáo viên cũng cần có môi trường thuận lợi, đó là điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị luôn được quan tâm và trang bị đầy đủ. Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

CBQL nhà trường có kế hoạch sắp xếp, tổ chức hệ thống phòng học, phòng làm việc cho phù hợp với thực tế của đơn vị, quản lý tạo điều kiện phục vụ tốt nhất cho giáo viên trong việc thực hiện cải tiến

Kịp thời đánh giá đúng đắn và khen thưởng các giáo viên tham gia tích cực làm đồ dùng dạy học hoặc cải tiến đồ dùng dạy học mang lại hiệu quả cao trong việc thực hiện quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt.

Thường xuyên tập huấn cho đội ngũ giáo viên biết cách sử dụng các trang thiết bị phương tiện, đồ dùng dạy học, sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị, phương tiện dạy học hiện có.

Phân công trách nhiệm cụ thể cho tổ trưởng, khối trưởng các nhóm chuyên môn và từng cá nhân giáo viên trong việc giữ gìn và bảo quản các trang thiết bị, phương tiện và đồ dùng dạy học được trang bị cho tổ, khối chuyên môn của mình.

CBQL cần lên kế hoạch kiểm tra việc sử dụng và khai thác những tiện ích của trang thiết bị của giáo viên một cách có hiệu quả, đưa vào tiêu chí đánh giá thi đua mỗi năm học. Nếu cần, tổ chức tập huấn giáo viên sử dụng các đồ dùng, trang thiết bị dạy học sao cho hợp lý, hiệu quả nhất.

Hơn hết, từng thành viên trong nhà trường phải có ý thức và tinh thần trách nhiệm trong việc bảo quản, giữ gìn đồ dùng dạy học, và đội ngũ giáo viên sử dụng hiệu quả các trang thiết bị hiện có và tích cực tham gia làm đồ dùng dạy học phục vụ cho việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Động viên giáo viên hướng dẫn và rèn luyện cho HS thói quen tự học, tự tra cứu tìm kiếm thông tin bổ ích trên mạng internet trên các trang website được đề nghị và kiểm duyệt của Sở GD&ĐT Hà Nội, Phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm. Ngoài ra, nhà trường có thể xây dựng trang web với sự hợp tác của các tổ bộ môn giới thiệu những kiến thức cần thiết cho HS tham khảo và tìm hiểu hỗ trợ việc tự học của các

  • Điều kiện thực hiện biện pháp

CBQL có kế hoạch quản lý, sắp xếp, tổ chức hệ thống phòng học, phòng bộ môn phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, nhằm hỗ trợ tối đa cho giáo viên trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt. Từng thành viên trong nhà trường phải có ý thức và tinh thần trách nhiệm trong việc bảo quản, giữ gìn đồ dùng dạy học, nghiên cứu cách sử dụng hiệu quả các trang thiết bị hiện có và tích cực tham gia làm đồ dùng dạy học phục vụ cho việc hoạt động dạy học môn Tiếng Việt.

3.2.6. Biện pháp 6 : Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực

  • Mục đích biện pháp

Đẩy mạnh hiệu quả của công tác xã hội hóa giáo dục. Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.Vận dụng những thế mạnh của các bên nhằm tăng cường sự tương tác giữa các bộ phận, các tổ chức trong quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tạo nên sự thống nhất hợp lực và hỗ trợ thêm cho từng bộ phận chủ động khi thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu thúc đẩy công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

  • Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Chủ động xây dựng kế hoạch phối kết hợp giữa ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội nhằm hỗ trợ trong việc thực hiện mục tiêu giảng dạy môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Huy động sức mạnh của các tổ chức xã hội, tham mưu và thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, vận động nhiều nguồn kinh phí đầu tư, tu bổ cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho nhà trường. Ngoài việc hỗ trợ nguồn kinh phí cho các trường Tiểu học ở quận Hoàn Kiếm để xây dựng sửa chữa, các đơn vị liên ngành còn có thể giúp đỡ về thủ tục hành chính.

Tăng cường công tác chỉ đạo việc phối hợp với cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền, giới thiệu đến HS những trang website bổ ích với các nguồn thông tin học tập có uy tín và được chọn lọc phù hợp với lứa tuổi HS Tiểu học. Phối hợp tổ chức các chuyến tham quan học tập như: tham quan, dã ngoại, …giúp HS có cơ hội tìm hiểu và bổ sung kiến thức trong nhà trường và cả kiến thức xã hội, cần có sự duy trì thực hiện thường xuyên trong năm học các hoạt động như thế này.

CBQL các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội cần tích cực tham mưu cho lãnh đạo Sở GD& ĐT Hà Nội, PGD&ĐT quận Hoàn Kiếm trong việc hỗ trợ về chỉ đạo, kinh phí, cơ sở vật chất cho việc thực hiện bồi dưỡng theo nguyện vọng, nhu cầu bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của giáo viên về việc nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới PPDH môn Tiếng Việt tại các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm qua kế hoạch cụ thể. Tranh thủ nguồn kinh phí từ các hoạt động xã hội hóa giáo dục của nhà trường như xây dựng quỹ khuyến học được đóng góp từ quỹ hội phụ huynh, nhà tài trợ; thành lập các CLB học tập, …Tham mưu cho các cấp ủy Đảng, lãnh đạo chính quyền địa phương hỗ trợ thêm về tinh thần, vật chất, tạo môi trường cộng đồng sư phạm thuận lợi cho hoạt động bồi dưỡng giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học trên địa bàn.

Phối hợp với các chuyên viên môn Tiếng Việc của Sở GD – ĐT Hà Nội, PGD&ĐT quân Hoàn Kiếm hợp đồng giảng viên, chủ động nguồn giảng viên giỏi về thỉnh giảng một số khóa học ngắn hay dài hạn về công tác chuyên môn tại các trường Tiểu học cũng như công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Công tác bồi dưỡng thường xuyên về việc giảng dạy môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học tại quận Hoàn Kiếm cũng rất cần sự hỗ trợ trực tiếp cũng như gián tiếp về cả kinh phí, nội dung, lẫn hình thức từ các tổ chức này.

  • Điều kiện thực hiện biện pháp

Phải có sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo địa phương, của Sở GD – ĐT, PGD&ĐT quận Hoàn Kiếm và sự linh hoạt, khéo léo trong công tác ngoại giao của Cán bộ quản lý các trường Tiểu học trên địa bàn.

Để thực hiện biện pháp này cần phải có thời gian và kế hoạch cụ thể về hình phát triển của đơn vị, công tác qui hoạch cán bộ quản lý, giáo viên … trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch tuyển dụng và đào tạo nhưng điều quan trọng hơn là phải chuẩn bị nguồn kinh phí để có thể đãi ngộ xứng đáng với năng lực của giáo viên mới tuyển về cũng như nguồn kinh phí đào tạo nâng cao trình độ giáo viên đã có.

Quản lý giáo viên thực hiện giảng dạy tuân theo mục tiêu của Giáo dục Tiểu học, nội dung, quy chế, Điều lệ Trường Tiểu học Việt Nam nhưng không máy móc. Nội dung dạy học tuân thủ nội dung chương trình của BGD&ĐT phát huy sự sáng tạo, mềm dẻo của cách dạy, cách học nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho HS, giáo viên, nhà trường trên địa bàn của mình.

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Các biện pháp đề xuất này có mối quan hệ hữu cơ, tương quan chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau và có mục đích chung nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Từ việc nâng cao nhận thức cho Cán bộ quản lý và giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt, Hiệu trưởng trường Tiểu học cần có kế hoạch quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình dạy học của giáo viên cũng như quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tiếp cận năng lực. Muốn quản lý tốt việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học theo quan điểm tiếp cận năng lực cần phải đảm bảo hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đồng bộ, hiện đại. Ngoài ra trong xu hướng hội nhập hiện nay đặc biệt đối với thành phố Hà Nội thì quản lý việc phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác dạy học môn Tiếng Việt. Các biện pháp được đề xuất có vị trí không ngang bằng nhau nhưng chúng có mối quan hệ thống nhất và chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, tao điều kiện cho nhau phát huy kết quả trong một thể thống nhất vì vậy cần phải tiến hành đồng bộ các biện pháp. Tuy nhiên, khi vận dụng cần căn cứ vào thực tế của nhà trường để thực hiện một cách linh hoạt.

3.4. Khảo nghiệm tính cấn thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

3.4.1. Mục đích khảo sát

Kiểm tra tính cần thiết và tính khả thi, đồng thời đánh giá những ưu điểm nổi bật của các biện pháp quản lí qua ý kiến đánh giá độc lập của nhóm chuyên gia, từ đó có căn cứ điều chỉnh.

3.4.2. Nội dung và phương pháp khảo sát

Khảo sát tính cần thiết, khả thi của các biện pháp thông qua phương pháp điều tra bằng bằng hỏi với thang đánh giá: Rất cần thiết/ Rất khả thi = 3 điểm ; Cần thiết/ khả thi = 2 điểm ; Ít cần thiết/ Ít khả thi = 1 điểm.

3.4.3. Đối tượng khảo sát

Đề tài phát ra 50 phiếu khảo sát: 02 phiếu dành cho cán bộ phụ trách lĩnh vực tiểu học của Phòng Giáo dục và đào tạo quận; 13 phiếu dành cho cán bộ quản lý tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, 25 phiếu dành cho các giáo viên dạy Tiếng Việt, 10 phiếu dành cho các phụ huynh. Tổng số phiếu thu về là 43 phiếu.

3.4.4. Kết quả khảo sát Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội được thể hiện qua bảng 3.1 sau đây:

  • Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp

Các chuyên gia đánh giá tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội có mức độ cần thiết rất cao với điểm trung bình ĐTB = 2.76. Đặc biệt, có 2 biện pháp được đánh giá tính cần thiết cao nhất là:

Biện pháp: “Quản lý sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ việc dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực” với ĐTB = 2.81, xếp thứ bậc 1/6.

Biện pháp: “Quản lý thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực” với ĐTB = 2.79, xếp thứ bậc 2/6.

  • Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp

Căn cứ vào bảng 3.2, những người được hỏi đánh giá các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội được đề xuất với ĐTB = 2.70 có tính khả thi cao, điểm bình quân của các biện pháp đề xuất tập trung, độ phân tán không đáng kể (2.63< ĐTB <2.77)

Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội được các chuyên gia đánh giá tương đối đồng đều do việc triển khai tổ chức thực hiện được thống nhất từ trên xuống dưới.

Các biện pháp được đánh giá tính khả thi cao nhất là: Biện pháp: “Quản lý thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực” có điểm trung bình ĐTB = 2.77, xếp thứ bậc 1/6. Biện pháp: “Quản lý sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ việc dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực” có điểm trung bình ĐTB = 2.72, xếp thứ bậc 2/6.

Kết luận chương 3

Trong xu hướng hội nhập hóa toàn cầu hiện nay, việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt là hoạt động vô cùng cần thiết và quan trọng. Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, chúng tôi đề xuất các biên pháp dựa trên những nguyên tắc cụ thể cũng như xuất phát từ nhu cầu thực tế của giáo dục Tiểu học hiện nay.

Qua kết quả khảo sát và các phân tích, ta có thể nhận thấy cả 6 biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của Hiệu trưởng các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Các biện pháp có mối quan hệ biện chứng và hữu cơ với nhau, bổ sung cho nhau. Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp được đề xuất trong luận văn đều có mức độ cần thiết cao và có tính khả thi, mang tính khoa học và thực tiễn cao.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

1. Kết luận

  • Về lý luận:

Dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là quá trình giáo viên tiến hành các thao tác có tổ chức, có định hướng nhằm giúp học sinh tiểu học chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, phát triển các năng lực nghe, năng lực nói, năng lực đọc đọc và năng lực viết về tiếng Việt trong chương trình môn học này ở bậc tiểu học.

Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng nhà trường) đến khách thể quản lý (giáo viên, cán bộ phục vụ và học sinh) nhằm hình thành các năng lực đọc, năng lực nghe, năng lực nói và năng lực viết môn tiếng Việt cho học sinh tiểu học.

Theo cách tiếp cận chức năng quản lý, tiếp cận theo nội dung của hoạt động dạy học, nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của hiệu trưởng trường tiểu học là: 1) Quản lý lập kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt; 2) Quản lý việc tổ chức thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt; 3) Quản lý hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên; 4) Quản lý hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh; 5) quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy của giáo viên và quản lý việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; 6) Quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tiếng Việt.

  • Về khảo sát thực tiễn:

Thực trạng hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên được đánh giá ở mức trung bình. Điều này cho thấy hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên ở các trường tiểu học được khảo sát đã đáp ứng được yêu cầu của dạy học môn tiếng việt, song vẫn còn tồn tại, hạn chế. Trong 4 nội dung dạy học hình thành năng lực cho học sinh thì nội dung dạy học nhằm hình thành năng lực nói cho học sinh được đánh giá cao nhất .

Thực trạng hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh theo tiếp cận năng lực cũng được đánh ở mức trung bình. Điều này cho thấy về cơ bản các học sinh đã học môn tiếng Việt đáp ứng các yêu cầu cơ bản, song vẫn còn hạn chế.

Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực tại quận Hoàn Kiếm được đánh giá ở mức trung bình, tiệm cận mức khá. Điều này cho thấy quản lý động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học của quận vẫn chưa đáp ứng tốt các yêu cầu về dạy học môn tiếng Việt ở bậc tiểu học.

Các nội dung quản lý đạt kết quả cụ thể sau: Việc xây dựng kế hoạch dạy học môn tiếng việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm ở mức trung bình, tiệm cận mức khá. Thực trạng quản lý thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt, thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên Tiếng Việt tại các trưởng tiểu học quận Hoàn Kiếm, thực trạng quản lý học tập môn tiếng Việt trên lớp của học sinh; thực trạng quản lý kiếm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực, thực trạng quản lý phương tiện, các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy các trường tiểu học của quận Hoàn Kiếm, đều đạt ở mức trung bình.

Các yếu tố được khảo sát ảnh hưởng tương đối nhiều đến quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của học sinh tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm. Trong 3 nhóm yếu tố được khảo sát nhóm yếu tố “Phẩm chất, năng lực của hiệu trưởng” ảnh hưởng nhiều nhất và nhóm yếu tố “sự phối hợp giữa Nhà trường – gia đình” ảnh hưởng ít hơn hai yếu tố còn lại .

Từ kết quả nghiên cứu luận văn đề xuất 6 biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực tại quận Hoàn Kiếm. Các biện pháp này có mối quan hệ biện chứng và tương hỗ với Kết quả khảo nghiệm cho thấy 6 biện pháp được đề xuất đều được đánh giá có sự cần thiết và tính khả thi.

2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

2.1. Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

  • Hoàn thiện hệ thống chính sách đãi ngộ đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục cấp tiểu học, quỹ hỗ trợ cho giáo viên, Cán bộ quản lý trường tiểu học tham quan học tập kinh nghiệm thực tiễn trong và ngoài nước.
  • Ban hành các văn bản chỉ đạo tập trung bồi dưỡng đội ngũ Cán bộ quản lý trường Tiểu học trên địa bàn.
  • Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị tốt hơn phục vụ cho hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học môn Tiếng Việt nói riêng ở bậc tiểu học.

2.2. Đối với Sở GD& ĐT Hà Nội, PGD&ĐT quận Hoàn Kiếm

  • Thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn và thực hiện có hệ thống về việc đổi mới hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học về công tác xây dựng kế hoạch cụ thể và chi tiết gắn với nội dung chương trình học thực tế các trường Tiểu học.
  • Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo về công tác quản lý hoạt động dạy học, việc đổi mới PPDH môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học, phải có công tác kiểm tra, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm sau các đợt tập huấn.
  • Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động để có kết luận đánh giá đúng thực chất việc thực hiện công tác quản lý hoạt động dạy học, việc thực hiện chương trình, đổi mới PPDH môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học.
  • Thường xuyên tổ chức cho các Cán bộ quản lý của các trường Tiểu học tham quan thực tế, học tập kinh nghiệm các điển hình tiên tiến trong và ngoài nước để làm phong phú thêm kinh nghiệm về công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt.

2.3. Đối với các trường Tiểu học ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

  • Xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học một cách chủ động, hiệu quả. Tổ chức nhiều buổi thao giảng, hội thảo thiết thực cho giáo viên học tập, trao đổi kinh nghiệm lẫn
  • Phân tích, đánh giá, và rút kinh nghiệm từ những thành tựu và hạn chế trong từng giai đoạn, nhằm có sự điều chỉnh kịp thời. Tuyên dương, khen thưởng những cá nhân thực hiện tốt, tích cực và nhân rộng gương điển hình.
  • Xây dựng kế hoạch trang bị cơ sở vật chất cho các trường Tiểu học nhằm đáp ứng việc tổ chức các hoạt động đổi mới PPDH môn Tiếng Việt trong nhà trường.
  • Huy động và phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm hỗ trợ giáo viên thực hiện tốt vai trò của mình trong công tác đổi mới PPDH môn Tiếng Việt.

2.4. Đối với cán bộ quản lý các trường Tiểu học

Chủ động tự bồi dưỡng, nghiên cứu nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và hiểu đúng ý nghĩa của công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học nói chung và ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội nói riêng nhằm thúc đẩy và giúp cho công tác dạy học môn Tiếng Việt ngày càng được thực hiện rộng rãi, thường thuyên và có hiệu quả hơn.

Tạo điều kiện để giáo viên học tập nâng cao trình độ để chuẩn hoá và nâng chuẩn trong đội ngũ giáo viên theo hướng đổi mới phương pháp dạy học tiếp cận năng lực.

Tập trung chỉ đạo điểm các hội thảo, chuyên đề và nâng cao chất lượng dạy học tốt hơn, đổi mới phương pháp dạy học tạo điều kiện cho các trường quản lý tốt hơn, nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực nói riêng.

2.5. Đối với giáo viên dạy môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học

Tích cực tìm tòi, khám phá và thử nghiệm các PPDH trong các giờ lên lớp cũng như các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoại khóa, khai thác triệt để những tiện ích của trang thiết bị dạy học hiện có vào việc dạy học nhằm phát huy tối đa tính chủ động học tập của học sinh theo tiếp cận năng lực.

Nhiệt tình tham gia các buổi thao giảng, hội thảo với sự trao đổi thẳng thắn trên tinh thần đóng góp và xây dựng. Thông qua các hoạt động này, bản thân người giáo viên cần tự rút kinh nghiệm, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kỹ năng dạy học trên lớp của bản thân để có thể vận dụng hiệu quả vào thực tế.

Thường xuyên học tập, tự học để nâng cao năng lực chuyên môn, hoàn thiện các kĩ năng sư phạm nhằm đáp ứng đòi hỏi của chương trình Giáo dục Tiểu học nói chung và hoạt động dạy học môn Tiếng Việt hiện. Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

One thought on “Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *