Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Ảnh hưởng của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
1.1. Tiêu đề “Ảnh hưởng của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam”
1.2. Tóm tắt
Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2024. Dữ liệu được thu thập từ 27 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tác giả đã tiến hành tổng hợp lý thuyết nền tảng bên cạnh việc lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước làm cơ sở để xây dựng mô hình cùng giả thuyết nghiên cứu. Các biến được xem xét bao gồm: Tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR); Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS); Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE); Tỷ lệ lạm phát (F); và Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP).
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến tỷ lệ chi trả cổ tức, thu nhập trên mỗi cổ phiếu có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Ngược lại, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
1.3. Từ khóa
Chính sách cổ tức, Tỷ suất sinh lời cổ phiếu, Tỷ lệ chi trả cổ tức, Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ lạm phát, Tốc độ tăng trưởng kinh tế.
- ABSTRACT
1.1. Tittle “The impact of dividend policy on the stock price of listed Banks in Viet Nam”
1.2. Summary
This thesis investigates the impact of dividend policy on the stock price of listed banks in Viet Nam during the period from 2015 to 2024. The dataset collected from 27 banks listed on Viet Nam’s stock exchanges.
The author has compiled foundational theories alongside reviewing studies both domestic and international studies as a basis for developing the model and research hypotheses. The variables examined include: Stock Return (SR), Earnings Per Share (EPS), Return on Equity (ROE), Inflation rate (F), and Gross Domestic Product growth rate (GDP).
Empirical results indicate that dividend payout ratio, earnings per share exert a statistically significant and positive influence on the stock return. Conversely, return on equity, inflation rate and economic growth rate show a negative impact on the stock return.
1.3. Keywords Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Dividend policy, Stock return, Dividend payout ratio, Return on equity, Inflation rate, Economic growth rate.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong lĩnh vực tài chính, chính sách cổ tức (CSCT) là một trong những khía cạnh quan trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp, đặc biệt đối với ngành ngân hàng, nơi sự minh bạch và tính ổn định phải được đặt lên hàng đầu. Chính vì thế, các ngân hàng niêm yết (NHNY) không chỉ phải đối mặt với sức ép từ phía nhà đầu tư mà còn phải chịu giám sát chặt chẽ từ cơ quan có thẩm quyền. Trong bối cảnh này, Chính sách cổ tức đóng vai trò là công cụ cân bằng lợi ích của nhà đầu tư và tuân thủ các yêu cầu quản lý rủi ro và quy định pháp luật.
Hiện nay, ảnh hưởng của Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu đã tạo ra hai luồng ý kiến đối lập. Một mặt cho rằng Chính sách cổ tức ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết, nhưng vẫn tồn tại những lập luận ngược lại.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng Chính sách cổ tức có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Lý luận của Lintner (1956) cho rằng Chính sách cổ tức không chỉ là công cụ phân phối lợi nhuận mà còn là tín hiệu quan trọng về sức khỏe tài chính và triển vọng của doanh nghiệp. Miller và Rock (1985) cho rằng các quyết định của doanh nghiệp trong Chính sách cổ tức không chỉ ảnh hưởng đến giá trị hiện tại mà còn là kỳ vọng của cổ đông về hiệu quả hoạt động trong tương lai. Baskin (1989) cho rằng Chính sách cổ tức có thể làm cho tỷ suất sinh lời cổ phiếu ổn định hơn hoặc biến động nhiều hơn. Vấn đề này càng trở nên cần thiết đối với ngành ngân hàng, nơi mà việc duy trì ổn định tài chính đóng vai trò thiết yếu, vừa thể hiện hiệu quả kinh doanh, vừa bảo đảm niềm tin của nhà đầu tư.
Mặt khác, lý thuyết của Miller và Modigliani (1961) cho rằng trong một thị trường hiệu quả, Chính sách cổ tức không có tác động đến giá trị doanh nghiệp, bởi tỷ suất sinh lời cổ phiếu trả cổ tức sẽ giảm vào ngày giao dịch không hưởng quyền khoảng bằng số tiền trả cổ tức và vấn đề chi trả hay tái đầu tư bằng lợi nhuận giữ lại không làm thay đổi giá trị thực của doanh nghiệp. Black (1976) cũng cho rằng Chính sách cổ tức không làm thay đổi đến quyết định kinh doanh của công ty. Việc trả cổ tức bằng tiền mặt sẽ làm giảm lượng tiền mặt mà tương đương mà ngân hàng đang nắm giữ hoặc làm tăng lượng tiền huy động nếu chi trả bằng cổ phiếu. Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Trong bối cảnh Việt Nam, các Ngân hàng niêm yết Việt Nam đang đối mặt với quá trình hội nhập quốc tế với sức ép cạnh tranh ngày càng lớn. Thị trường tài chính toàn cầu biến động, cộng thêm nhiều yêu cầu khác khắt khe hơn về quản trị và an toàn vốn theo tiêu chuẩn Basel II, III, đặt ra thách thức lớn cho các ngân hàng trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách tài chính, bao gồm cả Chính sách cổ tức trong bối cảnh những năm gần đây khi mà các nhà quản lý chỉ thường thông tin đến các nhà đầu tư những tin tức khả quan và các thông tin tiêu cực thường được doanh nghiệp giữ lại và chỉ được công bố khi các yêu cầu pháp lý hoặc ràng buộc tài chính khiến họ không thể tiếp tục trì hoãn. Vì thế nên Chính sách cổ tức càng được quan tâm hơn cả. Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng chưa có sự quan tâm trong chính sách này. Đồng thời, các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của Chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam vẫn còn hạn chế và chưa đầy đủ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Ảnh hưởng của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam” được tác giả thực hiện nhằm đề xuất kiến nghị cho các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam duy trì tỷ suất sinh lời cổ phiếu ổn định thông qua Chính sách cổ tức định kỳ của ngân hàng.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đo lường mức độ tác động của Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam. Qua đó, tác giả đề xuất các hàm ý chính sách cho các Ngân hàng niêm yết trong việc duy trì tỷ suất sinh lời cổ phiếu ổn định thông qua Chính sách cổ tức phù hợp.
- Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể được xác định như sau:
Thứ nhất, đo lường mức độ tác động của Chính sách cổ tức lên tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam.
Thứ hai, đề xuất các hàm ý chính sách cho các Ngân hàng niêm yết nhằm đưa ra Chính sách cổ tức phù hợp để duy trì tỷ suất sinh lời cổ phiếu ổn định.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện hóa mục tiêu nghiên cứu nêu trên, tác giả cần làm rõ những câu hỏi sau:
Thứ nhất, mức độ tác động của Chính sách cổ tức đối với tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam như thế nào?
Thứ hai, các hàm ý chính sách nào được đề xuất cho các Ngân hàng niêm yết nhằm đưa ra Chính sách cổ tức phù hợp trong việc duy trì tỷ suất sinh lời cổ phiếu ổn định?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
- Đối tượng nghiên cứu
Tác động của Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp tại 27 Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam. Nguyên nhân do các Ngân hàng niêm yết này có số liệu được tổng hợp và công bố đầy đủ thông qua các báo cáo tài chính và tài liệu được công bố đầy đủ qua các phương tiện thông tin đại chúng. Thuận lợi cho việc thu thập và xử lý dữ liệu của luận văn.
Phạm vi về thời gian: Luận văn thu thập dữ liệu của 27 Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2024. Tác giả sử dụng khoảng thời gian này vì trong thời kỳ này kinh tế Việt Nam chứng kiến những biến động rõ rệt như khủng hoảng tài chính 2018, đại dịch Covid – 19 giai đoạn 2020 – 2021 và giai đoạn phục hồi hậu Covid – 19 trong giai đoạn 2023 – 2024.
1.5. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận
Nghiên cứu này được tiến hành để hệ thống hóa và tổng hợp khung lý thuyết liên quan đến Chính sách cổ tức ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết. Bên cạnh đó, xác định được khoảng trống nghiên cứu thông qua việc lược khảo các nghiên cứu trước đây nhằm đề xuất hàm ý chính sách cho Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam. Những kết quả đạt được từ nghiên cứu này có thể đóng vai trò tạo tiền đề cho nghiên cứu tiếp theo trong cùng lĩnh vực hoặc phạm vi nghiên cứu.
- Về mặt thực tiễn
Đối với nhà quản lý ngân hàng có thể xem xét và cân nhắc để đưa ra quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn phương thức chi trả cổ tức hợp lý để quản lý tỷ suất sinh lời cổ phiếu của ngân hàng. Đối với các nhà đầu tư có thể thông qua việc xem xét lựa chọn các ngân hàng có Chính sách cổ tức phù hợp, tăng trưởng sau mỗi năm và các yếu tố tài chính (thu nhập trên mỗi cổ phiếu, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, …) và các yếu tố vĩ mô (tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, …) để đạt được tỷ suất sinh lời cổ phiếu vượt trội. Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
1.6. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu về đề tài
Trong chương này sẽ trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm lý do lựa chọn, bối cảnh thực hiện, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi thực hiện, đóng góp của đề tài và kết cấu của luận văn. Đây là phần định hướng giúp người đọc nắm bắt được vấn đề cốt lõi mà đề tài muốn giải quyết.
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu
Trong chương này sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến đề tài, đồng thời lượt khảo các nghiên cứu trước đây cả trong và ngoài nước. Mục tiêu là xây dựng khung lý thuyết vững chắc và xác định được khoảng trống nghiên cứu mà đề tài sẽ tập trung nghiên cứu.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này tập trung trình bày chi tiết quy trình và phương pháp nghiên cứu, bao gồm cách thức thu thập dữ liệu và các bước xử lý số liệu. Đồng thời, mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết được đưa ra nhằm bảo đảm tính khoa học và độ tin cậy của kết quả.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong chương này sẽ trình bày các kết quả phân tích định lượng từ mô hình hồi quy và thảo luận ý nghĩa của kết quả. Đồng thời, tiến hành so sánh kết quả với các nghiên cứu trước và lý giải theo bối cảnh thực tiễn.
- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương này sẽ tóm lược những điểm quan trọng được rút ra từ nghiên cứu, đồng thời giải đáp các câu hỏi nghiên cứu và đề xuất các hàm ý chính sách. Bên cạnh đó, những hạn chế của nghiên cứu cũng được tác giả trình bày rõ và nêu ra định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo có liên quan, phù hợp với bối cảnh hiện tại của thị trường chứng khoán Việt Nam.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Trong chương 1 tác giả tiến hành đưa ra vấn đề và trình bày sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Từ đó, tác giả đưa ra được mục tiêu nghiên cứu và đặt ra câu hỏi nghiên cứu cần phải hoàn thành tương ứng. Sau đó, để giải quyết vấn đề đặt ra, đối tượng được nghiên cứu đã được tác giả tiến hành xem xét, đồng thời rút ra được những đóng góp của đề tài.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan lý thuyết
2.1.1 Cổ tức và chính sách cổ tức
2.1.1.1 Cổ tức
Cổ tức là khoản lợi nhuận sau thuế được doanh nghiệp phân phối cho các cổ đông (chủ sở hữu công ty) theo tỷ lệ phần trăm cổ phần mà họ nắm giữ. Theo Brealey và Cộng sự (2014), cổ tức là một trong hai hình thức cơ bản để doanh nghiệp phân phối giá trị cho cổ đông bên cạnh việc doanh nghiệp mua lại cổ phiếu. Tương tự, Al-Malkawi và Cộng sự (2010) cho rằng cổ tức được định nghĩa là việc phân phối lợi nhuận sau thuế bằng tài sản thực giữa các cổ đông trong công ty dựa trên tỷ lệ sở hữu cổ phiếu thông qua 3 điều kiện: Thứ nhất, cổ tức chỉ có thể được phân phối từ lợi nhuận; Thứ hai, cổ tức phải ở dạng tài sản thực (phổ biến nhất là ở dạng cổ phiếu); Thứ ba, các cổ đông đều được chia tương ứng số cổ tức với tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của họ trong công ty.
Về mặt pháp lý, cổ tức là khoản lợi nhuận ròng mà công ty trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại để chi trả cho cổ đông bằng tiền mặt, cổ phiếu hoặc bằng tài sản khác được quy định tại điều lệ của công ty. Việc chi trả cổ tức chỉ được thực hiện khi công ty đã hoàn thành các nghĩa vụ thuế và tài chính theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty (theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020 căn cứ vào khoản 2 và 3 Điều 135).
2.1.1.2 Khái niệm chính sách cổ tức Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Theo Van Horne và Wachowicz (2009), Chính sách cổ tức là quyết định của doanh nghiệp liên quan đến việc phân phối lợi nhuận sau thuế, nhằm đo lường mức độ phân chia lợi nhuận giữa cổ tức và lợi nhuận giữ lại cho hoạt động tái đầu tư. Nhấn mạnh vai trò của Chính sách cổ tức như một công cụ nhằm mục đích cân bằng lợi ích giữa cổ đông và sự phát triển của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Brealey và Cộng sự (2014) cho rằng Chính sách cổ tức là lựa chọn giữa việc chi trả cho cổ đông dưới dạng cổ tức và giữ lại lợi nhuận để tài trợ cho các dự án đầu tư.
Có thể thấy được Chính sách cổ tức bao gồm yếu tố phân bổ lợi nhuận (phân phối lợi nhuận dưới dạng cổ tức hoặc giữ lại để tái đầu tư) và yếu tố thị trường. Bởi mức cổ tức được chỉ trả thường được các nhà đầu tư xem như là thông điệp về sức khoẻ tài chính và kỳ vọng về sự tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai. Tính ổn định của việc chi trả cổ tức là một đặc điểm hấp dẫn đối với nhiều nhà đầu tư. Sự ổn định ở đây là vấn đề doanh nghiệp duy trì chính sách chi trả cổ tức phù hợp với một đường xu hướng có độ dốc lên. Khi cho rằng các yếu tố khác được giữ nguyên, một cổ phiếu có thể có giá cao hơn nếu doanh nghiệp đó có thể duy trì chính sách chi trả cổ tức một cách ổn định trong suốt quá trình hoạt động (Van Horne và Wachowic, 2009). Việc chi trả cổ tức thường tạo ra các phản ứng tích cực từ thị trường, đặc biệt trong các ngành có tính nhạy cảm cao như ngân hàng (Raju và Raju, 2025). Do đó, bất kỳ sự điều chỉnh nào trong Chính sách cổ tức của doanh nghiệp đều có thể tác động trực tiếp đến giá trị cổ phiếu trên thị trường.
- Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động dựa trên quan điểm của Van Horne và Wachowicz (2009) đánh giá rằng tỷ lệ chi trả cổ tức không phải là một con số cố định, mà sẽ thay đổi theo nhu cầu đầu tư theo từng giai đoạn. Có nghĩa là trong giai đoạn xuất hiện nhiều cơ hội đầu tư, lợi nhuận sẽ được doanh nghiệp đặt ưu tiên trong việc giữ lại nhằm tái đầu tư, khi đó tỷ lệ chi trả cổ tức có thể bằng không. Ngược lại, khi doanh nghiệp không thể tìm thấy các cơ hội đầu tư sinh lời, cổ tức có thể được chi trả bằng 100% lợi nhuận. Chính sách này có thể giúp doanh nghiệp hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn vốn vay, duy trì cơ cấu vốn hợp lý từ đó tiết kiệm chi phí tài chính. Tuy nhiên, chính sách giữ lại lợi nhuận một cách thụ động cũng có những điểm chưa hoàn thiện, hạn chế lớn là mức cổ tức không ổn định dẫn đến ảnh hưởng tâm lý cổ đông, đặc biệt phù hợp với các nhà đầu tư ưu tiên nguồn thu nhập ổn định từ cổ tức. Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Chính sách lợi nhuận thụ động giữ lại thường được ứng dụng mạnh mẽ tại các ngân hàng, nơi mà thường ưu tiên lợi nhuận giữ lại phần lợi nhuận để củng cố vốn tự có, từ đó bảo đảm năng lực tín dụng, đồng thời bảo đảm phù hợp với các chuẩn mực an toàn vốn theo Basel II/III. Vì vậy, Chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại thường dao động và phụ thuộc vào nhu cầu vốn cùng các chiến lược tăng tưởng theo từng giai đoạn trong tương lai.
- Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định
Một trong những Chính sách cổ tức phổ biến và được nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các ngân hàng áp dụng là Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định. Đặc điểm nổi bật của chính sách này là việc duy trì chính sách chi trả cổ tức tiền mặt đều đặn qua các giai đoạn bất chấp các biến động về lợi nhuận. Mục tiêu của chính sách này là làm giảm sự biến động cổ tức, từ đó tạo ra sự tin tưởng và ổn định tâm lý cho nhà đầu tư.
CSCT luôn được ưu tiên bởi tính ổn định trong cổ tức tiền mặt đóng vai trò như thước đo phản ánh sức khỏe tài chính lành mạnh và triển vọng dài hạn của doanh nghiệp (Brealey và Cộng sự, 2014). Ngược lại, việc giảm chi trả cổ tức thường được xem là một tín hiệu bất lợi và dự báo khó khăn về tăng trưởng. Ngoài ra, vấn đề tâm lý và kỳ vọng của các nhà đầu tư cũng không kém phần quan trọng khi họ thường ưa thích thu nhập ổn định (Lintner, 1956). Việc chi trả cổ tức đều đặn và ổn định giúp doanh nghiệp củng cố lòng tin xét trên phương diện nhà đầu tư. Đặc điểm này đặc biệt quan trọng với các Ngân hàng niêm yết, nơi mà sự ổn định gắn với uy tín và khả năng huy động vốn. Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
2.1.1.3 Quy trình chi trả cổ tức
Quy trình chi trả cổ tức được thiết kế nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, minh bạch và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa cổ đông với yêu cầu về an toàn vốn. Khác với các doanh nghiệp thông thường, ngân hàng là một tổ chức tài chính đặc thù phải tuân thủ đồng thời giữa luật và các quy định ban hành từ NHNN về chỉ tiêu an toàn vốn và quản trị rủi ro. Vì vậy, việc thực hiện đúng quy trình chi trả cổ tức nhằm đảm bảo sự công bằng cho các nhà đầu tư và thể hiện sự ổn định về tài chính cũng như uy tín và vị thế của ngân hàng trong môi trường kinh doanh.
Quyết định và phê duyệt việc chi trả cổ tức phải được thực hiện minh bạch theo quy trình cụ thể. Hội đồng quản trị sẽ đề xuất phương án phân phối lợi nhuận dựa trên kết quả kinh doanh và nhu cầu vốn giữ lại để đáp ứng mức độ an toàn vốn và chiến lược phát triển dài hạn. Phương án này cần được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Ngoài ra, đối với ngân hàng, việc phê duyệt còn phải chấp hành theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước về mức vốn tự có tối thiểu, tránh chi trả cổ tức vượt quá khả năng tài chính.
Quy trình chi trả cổ tức thường bao gồm các bước cơ bản sau:
- Hình 1.1: Quy trình chi trả cổ tức
Ngày công bố thông tin (Declaration Date): Sau khi được Đại hội đồng cổ đông thông qua, Ngân hàng niêm yết chính thức công bố thông tin cổ tức trên Sở Giao dịch Chứng khoán. Thông tin được công bố bao gồm: loại hình chi trả, tỷ lệ chi trả và thời gian thực hiện. Đây là mốc thời gian quan trọng vì thông tin công bố này thường tạo ra phản ứng tức thì đến kỳ vọng từ phản ứng của thị trường. Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Ngày giao dịch không hưởng quyền (Ex-dividend Date): Đây là mốc thời gian gắn liền với cơ chế thanh toán T+2 trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Vào ngày này, các nhà đầu tư mua cổ phiếu sẽ không còn quyền nhận cổ tức. Có nghĩa là nếu các nhà đầu tư mua cổ phiếu từ ngày này trở đi sẽ không thuộc đối tượng được phân phối cổ tức của đợt chi trả tiếp theo. Trong thực tế, giá cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền thường được điều chỉnh giảm tương ứng với giá trị cổ tức chi trả bằng tiền mặt. Đối với nhà đầu tư dài hạn, mốc thời gian này ít ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ, nhưng mốc thời gian này lại quan trọng đối với nhà đầu tư ngắn hạn.
Ngày chốt danh sách cổ đông (Record Date): Ngày chốt danh sách cổ đông thường được gọi là ngày đăng ký cuối cùng, ngày này là thời điểm Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSD) sẽ chốt danh sách các cổ đông đủ điều kiện nhận cổ tức. Các cổ đông đủ điều kiện là các cổ đông đã sở hữu cổ phiếu trước ngày giao dịch không hưởng quyền.
Ngày thanh toán (Payment Date): Ngày thanh toán là mốc thời gian cuối cùng trong quy trình chi trả cổ tức, vào ngày này việc phân phối cổ tức cho cổ đông sẽ được theo hình thức đã công bố. Cổ tức phải được thanh toán đầy đủ cho cổ đông trong thời hạn tối đa 6 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên (Khoản 4 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020).
2.1.1.4 Các hình thức chi trả cổ tức
Cổ tức được phân loại theo các hình thức chi trả sau:
- Cổ tức được chi trả bằng tiền mặt
Chi trả cổ tức bằng tiền mặt là việc doanh nghiệp phân bổ một phần lợi nhuận sau thuế để chi trả trực tiếp cho cổ đông bằng tiền mặt dựa trên số lượng cổ phần mà cổ đông hiện đang sở hữu. Việc phân phối cổ tức bằng tiền mặt được coi là hình thức truyền thống, có mức độ ứng dụng cao trong thực tiễn, theo đó doanh nghiệp phân phối một phần lợi nhuận sau thuế bằng tiền mặt trực tiếp cho cổ đông. Hình thức này giúp mang lại lợi ích cho cổ đông nhưng đồng thời làm giảm lượng tiền mặt giữ lại và ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp trong việc tái đầu tư. Brealey và Cộng sự (2014) cho rằng trả cổ tức bằng tiền mặt là cách làm thể hiện rõ ràng nhất xét trong bối cảnh Chính sách cổ tức, tạo ra dòng tiền thực tế và là tín hiệu tốt cho nhà đầu tư. Do đó, việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt có tác động mạnh đến kỳ vọng của thị trường đối với doanh nghiệp đó.
- Cổ tức được chi trả bằng cổ phiếu Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Bên cạnh việc doanh nghiệp chi trả cổ tức bằng tiền mặt, các doanh nghiệp cũng có thể thực hiện chi trả bằng cổ phiếu, tức là phân phối cổ tức dưới dạng cổ phần hiện hữu dựa trên tỷ lệ sở hữu cho cổ đông hiện hữu. Theo Van Horne và Wachowic (2009), chi trả cổ tức bằng cổ phiếu đơn giản là việc chi trả thêm cổ phiếu phổ thông cho cổ đông trong khi tỷ lệ nắm giữ cổ phần trong doanh nghiệp của cổ đông không biến động. Có nghĩa là hình thức này không tạo ra dòng tiền trực tiếp cho cổ đông mà chỉ dẫn đến sự gia tăng số lượng cổ phần lưu hành trên thị trường. Qua đó, doanh nghiệp có thể duy trì nguồn vốn nhằm phục vụ cho các hoạt động đầu tư và đồng thời vẫn duy trì cam kết phân phối lợi nhuận cho cổ đông.
Về mặt lý thuyết, việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu chỉ là một sự thay đổi hoàn toàn mang tính hình thức, làm tăng số lượng cổ phiếu nhưng không ảnh hưởng đến tài sản, lợi nhuận hoặc tổng giá trị của công ty (Brealey và Cộng sự, 2014). Từ góc nhìn thị trường, hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu thường tạo ra những tác động tâm lý trái chiều. Việc phát hành thêm cổ phiểu sẽ giúp tăng vốn chủ sở hữu, tạo điều kiện mở rộng việc đầu tư trong tương lai, qua đó nâng cao giá trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành dẫn đến hiện tượng pha loãng cổ phiếu và khiến giá cổ phiếu giảm trong ngắn hạn. Tuy nhiên, tác động này thường mang tính kỹ thuật và xảy ra trong thời gian ngắn hạn, về mặt dài hạn giá cổ phiếu sẽ phản ánh theo triển vọng và quá trình doanh nghiệp phát triển.
- Cổ tức được chi trả bằng tài sản
Không chỉ giới hạn ở tiền mặt và cổ phiếu, doanh nghiệp còn có khả năng chi trả cổ tức dưới dạng tài sản hữu hình. Đây là hình thức cổ tức được phân phối đến cổ đông dưới dạng tài sản khác ngoài tiền mặt và cổ phiếu, như bất động sản, hàng tồn kho hoặc chứng khoán đầu tư doanh nghiệp đang nắm giữ. Việc chi trả cổ tức dưới dạng tài sản cho phép doanh nghiệp duy trì dòng tiền, đồng thời tái cơ cấu tài sản. Tuy nhiên, hình thức này hiếm khi xảy ra do những hạn chế về mặt định giá và tính thanh khoản. Đối với các ngân hàng, hình thức này ít xảy ra do hoạt động trong lĩnh vực có tính chất đặc thù và tuân theo chuẩn mực quản trị vốn nghiêm ngặt.
2.1.2 Lý thuyết về tác động của chính sách cổ tức lên tỷ suất sinh lời cổ phiếu Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
- Lý thuyết cổ phiếu độc lập với cổ tức (Dividend Irrelevance Theory)
Lý thuyết cổ phiếu độc lập với cổ tức (Dividend Irrelevance Theory), được đề xuất bởi Miller và Modigliani (1961) nhằm giải thích sự đa dạng trong Chính sách cổ tức của doanh nghiệp và tác động mà chính sách này gây ra đối với mức sinh lời cổ phiếu trên thị trường. Theo lý thuyết này, trong thị trường vốn giả định hoàn hảo (không có chi phí giao dịch và thông tin đối xứng, tức là các nhà đầu tư đều có đầy đủ thông tin) thì giá trị của doanh nghiệp trong trường hợp này chỉ phản ánh hiệu quả sinh lời của tài sản và chính sách đầu tư chứ không bị ảnh hưởng bởi Chính sách cổ tức (Miller và Modigliani, 1961).
Theo đó, việc doanh nghiệp lựa chọn giữa phân phối cổ tức cho cổ đông và sử dụng lợi nhuận giữ lại cho hoạt động tái đầu tư đều không ảnh hưởng đến giá trị nội tại của cổ phiếu. Mặc dù giả định về thị trường hoàn hảo không có tính thực nghiệm nhưng lý thuyết cổ phiếu độc lập với cổ tức vẫn nay được xem là một trong những lý thuyết cổ tức quan trọng nhất và là nền tảng để phát triển các lý thuyết sau này nhằm giải thích những khiếm khuyết và hạn chế trong thực tế.
- Lý thuyết con chim trong tay (Bird-in-Hand Theory)
Lý thuyết con chim trong tay (Bird-in-Hand Theory) được nhắc đến và nhận được sự ủng hộ từ nhiều nhà nghiên cứu như Gordon (1963) và Lintner (1956), lý thuyết này nhấn mạnh doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức lớn thường tạo hiệu ứng tích cực đối với mức sinh lời cổ phiếu. Theo đó, cổ tức hiện tại được xem là ít rủi ro hơn lợi nhuận trong việc chênh lệch tỷ suất sinh lời so với tương lai, bởi vì cổ tức sẽ được phân phối cho cổ đông ngay lập tức, trong khi lợi nhuận từ việc tái đầu tư hoặc tăng trưởng tỷ suất sinh lời trong tương lai có thể đối mặt với nhiều rủi ro. Nguyên nhân là do phần lớn nhà đầu tư có xu hướng đề cao sự chắc chắn trong lợi nhuận, do đó một chính sách chi trả cổ tức ở mức cao khiến doanh nghiệp được thị trường đánh giá là có mức độ rủi ro thấp hơn so với doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư thay vì chi trả cổ tức, điều này khiến các nhà đầu tư đặt câu hỏi về tính hiệu quả và khả năng sinh lợi của các quyết định đầu tư.
- Lý thuyết phát tín hiệu (Signaling Theory)
Lý thuyết phát tín hiệu (Signaling Theory) được đưa ra bởi Bhattacharya (1979) nhằm giải thích mối quan hệ giữa Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp giữa nhà quản trị và các nhà đầu tư trong bối cảnh sự chênh lệch trong khả năng tiếp cận thông tin. Với lý thuyết này, các nhà nghiên cứu cho rằng do đặc thù quản lý, ban lãnh đạo thường tiếp cận và kiểm soát nhiều thông tin nội bộ hơn, trong khi nhà đầu tư chỉ dựa vào dữ liệu công khai. Vì thế, Chính sách cổ tức hoạt động như một phương tiện giúp doanh nghiệp gửi tín hiệu đến thị trường. Một quyết định tăng cổ tức thường được các nhà đầu tư xem như tín hiệu tích cực cho thấy rằng doanh nghiệp đang có triển vọng. Tuy nhiên, cổ tức chỉ thực sự có ý nghĩa phát tín hiệu trên thị trường nếu những gì nó hàm ý cho dòng tiền tương lai của doanh nghiệp thực sự xảy ra. Có nghĩa là mức tỷ suất sinh lời được hàm ý bởi chính sách chi trả cổ tức phải phải thể hiện đúng thực trạng giá trị dòng tiền tương lai của doanh nghiệp.
- Lý thuyết chi phí đại diện (Agency Costs Theory) Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Khái niệm về chi phí đại diện (Acency Costs Theory) xuất phát từ công trình nghiên cứu của Berle và Means (1932) sau đó được Jensen và Meckling (1976) phát triển thành lý thuyết chi phí đại diện, các tác giả chỉ ra rằng trong các doanh nghiệp, quyền sở hữu và quyền kiểm soát thường bị tách rời, trong đó cổ đông là chủ sở hữu nhưng quyền điều hành lại thuộc về nhà quản trị. Sự phân tách này có thể dẫn đến xung đột lợi ích, trong điều kiện cả hai bên đang trong mối quan hệ lợi ích thì có thể nhà quản trị không phải lúc nào cũng hành động theo hướng tối đa hoá lợi ích cho cổ đông (Jensen và Meckling, 2019). Cụ thể, chính là xu hướng theo đuổi những mục tiêu mang tính cá nhân như mở rộng quy mô doanh nghiệp hoặc gia tăng quyền lực thay vì tối đa hóa lợi ích cổ đông của các nhà quản trị. Đây chính là nền tảng cho việc hình thành lý thuyết về chi phí đại diện.
Lý thuyết chi phí đại diện chỉ ra rằng xung đột lợi ích giữa nhà quản trị và cổ đông sẽ tạo ra các chi phí liên quan như chi phí giám sát của cổ đông nhằm hạn chế hành vi sai lệch, chi phí ràng buộc mà nhà quản trị phải bỏ ra để cam kết hành động phù hợp và các tổn thất còn lại do vẫn tồn tại sự chênh lệch giữa lợi ích tối ưu của cổ đông và hành vi thực tế của nhà quản trị.
Theo lý thuyết chi phí đại diện, cổ đông và nhà quản trị thường phát sinh xung đột lợi ích khi nhà quản trị nắm giữ quá nhiều nguồn lực tài chính trong tay. Khi doanh nghiệp giữ lại đa số lợi nhuận thay vì chi trả cổ tức, nhà quản trị có thể sử dụng dòng tiền này để tài trợ cho các dự án không tối ưu hoặc phục vụ lợi ích cá nhân, điều này làm gia tăng chi phí đại diện (Jensen và Meckling, 2019). Ngược lại, việc doanh nghiệp thực hiện Chính sách cổ tức cao, đặc biệt là chi trả cổ tức bằng tiền mặt sẽ làm giảm lượng tiền mặt trong doanh nghiệp, buộc nhà quản trị phải huy động nguồn vốn từ bên ngoài nếu muốn đầu tư. Quá trình huy động vốn này giúp thị trường và các nhà đầu tư giám sát chặt chẽ hơn, từ đó làm giảm chi phí người đại diện.
Trong bối cảnh các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam, việc thực hiện Chính sách cổ tức bằng tiền mặt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, thể hiện được cam kết của ngân hàng trong việc phân phối lợi nhuận cho cổ đông, qua đó củng cố niềm tin của nhà đầu tư. Thứ hai, việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt giúp hạn chế tình trạng nhà quản trị giữ lại quá nhiều lợi nhuận để đầu tư vào các dự án rủi ro hoặc không mang lại giá trị tối đa cho cổ đông. Do đó, cổ tức bằng tiền mặt không chỉ là công cụ phân phối lợi nhuận mà còn là cơ chế quản trị hữu hiệu, góp phần giảm thiểu chi phí người đại diện và nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Ngoài ra, việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt còn có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Khi dòng tiền bị rút khỏi doanh nghiệp, nhà quản trị phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn trong việc lựa chọn dự án để đầu tư, đồng thời còn chịu áp lực từ nhà đầu tư và thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn. Điều này tạo ra cơ chế kỷ luật trong tài chính, giúp giảm thiểu tình trạng đầu tư một cách dàn trải hay phục vụ lợi ích cá nhân. Do đó, Chính sách cổ tức vừa là công cụ phân phối lợi nhuận, vừa lại cơ chế quản lý hiệu quả, nhằm góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi cổ đông.
2.2. Lược khảo nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Ali và Chowdhury (2010) đã nghiên cứu tác động của Chính sách cổ tức lên tỷ suất sinh lời cổ phiếu trên thị trường chứng khoán mới nổi tại Bangladesh, với dữ liệu từ 25 ngân hàng thương mại tư nhân niêm yết trên Dhaka (DSE) từ 01/2008 – 09/2008. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu đã phân tích hành vi tỷ suất sinh lời cổ phiếu trong 44 ngày kể từ ngày thông báo trả cổ tức. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Chính sách cổ tức không làm thay đổi đáng kể giá trị cổ phiếu trên thị trường.
Trong nghiên cứu về tác động của Chính sách cổ tức đối với tỷ suất sinh lời cổ phiếu, với dữ liệu của 30 ngân hàng thương mại niêm yết trên DSE trong giai đoạn 2007 – 2011, Masum (2014) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua hệ số tương quan Pearson, FEM và REM. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy Chính sách cổ tức và lợi nhuận sau thuế có mối quan hệ nghịch biến với tỷ suất sinh lời cổ phiếu, trong khi tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu lại có mối quan hệ đồng biến.
Al-Shawawreh (2014) phân tích tác động của Chính sách cổ tức đến biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Jordan. Các công ty có chi trả cổ tức trong vòng 5 năm, thuộc các lĩnh vực như công nghiệp, dịch vụ, ngân hàng và bảo hiểm được thu thập dữ liệu trong giai đoạn 2001 – 2013. Qua kiểm định Durbin-Watson, kết quả chỉ ra được tỷ suất chi trả cổ tức là yếu tố chính quyết định đến sự biến động của tỷ suất sinh lời cổ phiếu trong mối quan hệ nghịch biến.
Adesina và cộng sự (2017) đã tiềm hiểu mối quan hệ giữa Chính sách cổ tức và định tỷ suất sinh lời cổ phiếu tại 4 ngân hàng Nigeria (Access Bank, First Bank, United Bank for Africa và Guarantee Trust Bank) thông qua dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính. Nhóm tác giả phân tích bằng mô hình hồi quy Pooled OLS, nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập trên mỗi cổ phiếu có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu, ngược lại nghiên cứu còn chỉ ra được rằng Chính sách cổ tức và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại có sự tác động qua lại với nhau trong mối quan hệ nghịch biến. Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Camilleri và cộng sự (2019) phân tích tác động của Chính sách cổ tức lên biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu tại 139 Ngân hàng niêm yết ở Địa Trung Hải từ 2001 – 2016. Thông qua mô hình hồi quy Pooled OLS, kết quả chỉ ra rằng Chính sách cổ tức có tác động đến biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu, nhưng kết quả thay đổi tuỳ theo từng mẫu và cách xử lý số liệu. Trong trường hợp loại bỏ khủng hoảng tài chính, tỷ suất cổ tức chuyển từ mối quan hệ tích cực sang tiêu cực đến biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Ngoài ra, các nhóm ngân hàng có mức cổ tức cao và thấp sẽ cho ra khác biệt đáng kể trong kết quả.
Singh và Tandon (2019) nghiên cứu 50 công ty Nifty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán quốc gia (NSE) Ấn Độ từ 2008 – 2017. Sử dụng các mô hình hồi quy và kiểm định Hausman, nhóm tác giả kết luận rằng tỷ suất cổ tức, ROE và EAT tác động ngược chiều đến biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu ở mức ý nghĩa 5% hoặc tối đa 10%. Trong khi đó, EPS có tác động tích cực đến biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
Al-Sharif (2020) tìm hiểu mối quan hệ giữa cổ tức và biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu tại các ngân hàng Hồi Giáo ở Jordan, sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính và dữ liệu giao dịch. Thông qua kiểm định Jarque-Bera và Durbin-Watson, kết quả nghiên cứu cho thấy Chính sách cổ tức (cổ tức tiền mặt và cổ tức cổ phiếu) có mối quan hệ nghịch biến với biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu, ngược lại lợi nhuận giữ lại tác động đến mức độ biến động của tỷ suất sinh lời cổ phiếu trong mối quan hệ đồng biến.
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Võ Xuân Vinh (2014) tìm hiểu mối quan hệ giữa Chính sách cổ tức và dao động tỷ suất sinh lời cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng từ 103 công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 – 2012. Qua mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM và REM, tác giả thấy được rằng hai biến chính đại diện cho Chính sách cổ tức trong nghiên cứu là tỷ lệ chi trả cổ tức và lợi tức cổ phiếu đều có tác động lên biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu và có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, biến tỷ lệ chi trả cổ tức có mối quan hệ cùng chiều và biến lợi tức cổ phiếu có mối quan hệ ngược chiều đến biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
Đặng Thị Quỳnh Anh và Phạm Thị Yến Nhi (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa Chính sách cổ tức lên biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu của 165 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ 2009 – 2013. Sử dụng mô hình hồi quy, FEM cho dữ liệu bảng và kết hợp với phân tích thống kê mô tả. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ suất cổ tức và tỷ lệ chi trả cổ tức có mối quan hệ thuận chiều với biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu, trong khi quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng cổ tức có tác động ngược chiều. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng cổ tức không có ý nghĩa thống kê.
Nguyễn Thanh Hiếu và cộng sự (2020) đã phân tích mối quan hệ giữa Chính sách cổ tức và biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu của 260 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2018. Sử dụng mô hình hồi quy FEM, REM và dựa trên GMM nghiên cứu cho thấy tỷ suất cổ tức, tỷ lệ tăng trưởng, đòn bẩy và biến động thu nhập doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Mặc khác, tỷ lệ chi trả cổ tức và quy mô công ty có ảnh hưởng ngược chiều với biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Hồ Thị Lam và Hồ Thuỷ Phương Trâm (2020) đã dựa trên dữ liệu chi trả cổ tức liên tục của các doanh nghiệp niêm yết trong khoảng thời gian 8 năm, từ năm 2010 đến năm 2018, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá tác động của Chính sách cổ tức đối với tỷ suất sinh lời cổ phiếu. FGLS được áp dụng trên dữ liệu bảng của 100 doanh nghiệp niêm yết tại hai sàn giao dịch HOSE và HNX nhằm đảm bảo độ chính xác và hiệu quả trong phân tích. Kết quả là đã tìm thấy bằng chứng việc Chính sách cổ tức có tác động đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Thông qua nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các mô hình Pooled OLS, FEM, REM cùng kiểm định Hausman, sau cùng quyết định chọn mô hình REM là mô hình chính để giải thích ý nghĩa. Nghiên cứu cho thấy rằng cổ tức trên mỗi cổ phiếu, lợi nhuận sau thuế và thu nhập trên mỗi cổ phiếu có tác động tích cực với tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Ngoài ra, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sỡ hữu có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Tỷ lệ chi trả cổ tức không đạt ý nghĩa thống kê trong nghiên này.
Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2019) đã tìm hiểu về ảnh hưởng của Chính sách cổ tức lên tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các công ty niêm yết mới nổi tại Sàn Chứng khoán Việt Nam đã áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng dữ liệu thứ cấp thông qua việc thu thập số liệu từ 248 công ty niêm yết mới nổi tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến 2017. Thông qua các mô hình FEM, REM, Pooled OLS và kiểm định Hausman, nhóm nghiên cứu đã chọn mô hình FEM. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tăng trưởng tài sản có tác động cùng chiều, trong khi các yếu tố tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu gồm thu nhập trên mỗi cổ phiếu, cổ tức, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản và tỷ lệ lạm phát. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP và quy mô doanh nghiệp không đạt mức ý nghĩa thống kê, hàm ý rằng hai yếu tố này không có tác động đáng kể đến biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu trong mô hình nghiên cứu.
Nguyễn Thị Bích Phượng (2025) đã nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa Chính sách cổ tức và biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương tối thiếu tổng quát GLS trên dữ liệu đã tổng hợp từ báo cáo tài chính hợp nhất của 338 doanh nghiệp được niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX trong 12 năm, từ năm 2012 đến năm 2023. Ảnh hưởng của Chính sách cổ tức được đại diện bởi hai đại diện đó là tỷ lệ phân phối cổ tức (PAYOUT) và tỷ suất cổ tức (DY), các biển kiểm soát bao gồm quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, hiệu quả hoạt động, tăng trường tài sản. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy tỷ suất cổ tức có mối quan hệ ngược chiều với biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu, trong khi tỷ lệ chi trả cổ tức lại có mối quan hệ thuận chiều, nhưng mức độ tác động không đủ lớn để tạo ra sự khác biệt đáng kể. Bên cạnh đó, đòn bẩy tài chính và tăng trưởng tài sản không có tác động đáng kể đến biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu, trong khi hiệu quả hoạt động lại ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ biến động này.
- Bảng 2. 1: Bảng tóm tắt các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước
2.2.3 Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Thông qua việc tổng hợp tổng quan các nghiên cứu trước, tác giả đã xác định được một số khoảng trống nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, các mẫu nghiên cứu là những dữ liệu trong quá khứ nên đôi khi không còn đúng với thời điểm hiện tại. Ngoài ra, các thị trường ở các nước phát triển đã hình thành từ lâu và có những bước phát triển nổi trội, trong khi đó Việt Nam chỉ mới hình thành sàn giao dịch chứng khoán đầu tiên (HOSE) vào năm 2000 nên có những đặc điểm không giống với các nghiên cứu trước đó.
Thứ hai, các nghiên cứu trước đây của Al-Shawawreh (2014); Adesina và Cộng sự (2017); Camilleri và Cộng sự (2019); Đặng Thị Quỳnh Anh và Phạm Thị Yến Nhi (2015) chưa chú trọng vào biến kiểm soát ROE. Trong khi, chỉ tiêu này không chỉ phản ánh hiệu quả kinh doanh mà còn thể hiện khả năng tối ưu hóa vốn trong môi trường ngân hàng khi được kiểm soát chặt chẽ. Việc kiểm định tác động của ROE đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu trong bối cảnh ngành ngân hàng Việt Nam sẽ giúp làm rõ hơn mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính và phản ứng thị trường, đồng thời cung cấp thêm các bằng chứng dựa trên dữ liệu thực nghiệm cho các lý thuyết cổ tức hiện đại.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về Chính sách cổ tức và các lý thuyết nền tảng nhằm làm rõ mối quan hệ của Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước được tác giả tiến hành khảo lược để minh chứng cho tác động của Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu, qua đó hình thành nền tảng lý luận và thực tiễn cho các phân tích ở Chương 3 và Chương 4. Luận văn: Ảnh hưởng chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC đến chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH

Pingback: Luận văn: KQNC đến chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH