Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa Luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Việt Nam và kinh nghiệm từ một số nước Châu Âu dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, thế giới chứng kiến sự phát triển đầy ấn tượng của thị trường dịch vụ tài chính toàn cầu với sự mở rộng quy mô của các tập đoàn tài chính sang các nước ở tất cả các châu lục. Sự tăng trưởng vượt bậc ấy không chỉ xuất phát sự nới lỏng quy định của Chính phủ các nước về việc mở rộng phạm vi kinh doanh của ngân hàng ra các lĩnh vực tài chính khác (bảo hiểm, chứng khoán). Làn sóng tập đoàn hóa các tổ chức tài chính không chỉ dừng lại ở những nước phát triển và những nước công nghiệp mới mà còn ở những nước có nền kinh tế chuyển đổi, trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình cải cách và cấu trúc lại hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế chuyển đổi, có tốc độ tăng trưởng GDP cao (8,4% năm 2023) và ngành ngân hàng thời gian qua đang dần được củng cố về mọi mặt theo thông lệ quốc tế. Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11/1/2023 mở ra cho nước ta nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những thách thức, trong đó phải thực hiện cam kết về mở cửa ngành ngân hàng, theo đó những ngân hàng và tập đoàn tài chính lớn trên thế giới được phép mở ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Điều đó đồng nghĩa là hệ thống ngân hàng nước ta phải đối diện với một cuộc cạnh tranh quyết liệt trước các tập đoàn tài chính nước ngoài. Trước tình hình đó, nhu cầu xây dựng và phát triển các tập đoàn tài chính – ngân hàng đầu tiên ở nước ta trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã quyết định chọn đề tài : “Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Việt Nam và kinh nghiệm từ một số nước Châu Âu” cho khóa luận của mình.
Mục tiêu của khóa luận là lựa chọn được một mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng phù hợp và hữu hiệu với thực tiễn tình hình thị trường dịch vụ tài chính nước ta nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, từ kinh nghiệm của một số tập đoàn tài chính Châu Âu; đồng thời, tìm ra được một ngân hàng thương mại Việt Nam hội đủ một số điều kiện cơ bản triển vọng nhất để phát triển thành tập đoàn, từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị để thúc đẩy việc xây dựng ngân hàng đó thành tập đoàn tài chính – ngân hàng. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Về kết cấu, khóa luận được chia làm ba chương:
Chương I: Lí luận cơ bản về tập đoàn tài chính – ngân hàng. Ở chương này, người viết tập trung làm rõ những khái niệm, cơ sở lý thuyết liên quan đến tập đoàn tài chính – ngân hàng. Từ những cơ sở lý thuyết này để tiến hành tìm hiểu thực trạng và triển vọng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Việt Nam.
Chương II: Triển vọng phát triển mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng và kinh nghiệm từ một số nước Châu Âu. Vấn đề được tập trung phân tích trong chương II là từ thực trạng hệ thống ngân hàng thương mại nước ta để khẳng định việc xây dựng tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Việt Nam là tất yếu khách quan; đồng thời học tập kinh nghiệm từ một số nước Châu Âu.
Chương III: Những kiến nghị xây dựng tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Việt Nam. Ở chương này, người viết đã lựa chọn được mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng phù hợp với thực tế khách quan của Việt Nam. Ngoài ra, người viết cũng đã đánh giá khả năng, triển vọng xây dựng Vietcombank thành tập đoàn tài chính – ngân hàng dựa trên những điều kiện khách quan và nội tại của bản thân ngân hàng. Đồng thời, đề xuất một vài kiến nghị, thiết nghĩ rất thiết thực và có giá trị thực tiễn cho một ngân hàng tiềm năng thành công trong việc xây dựng tập đoàn tài chính – ngân hàng đầu tiên của Việt Nam.
Xây dựng tập đoàn tài chính – ngân hàng là một đề tài mới ở Việt Nam, nên chưa có nhiều những nghiên cứu, phân tích sâu và tổng quát nhằm đúc kết thành những kiến thức chung, thống nhất. Với tác phẩm nhỏ này, người viết kỳ vọng đóng góp được tiếng nói trong việc xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Việt Nam – vấn đề đang rất được nhiều nhà lãnh đạo ngân hàng quan tâm. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Do hạn chế về phương pháp tiếp cận của một sinh viên cũng như nguồn tài liệu thu thập được, nên khóa luận không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và những ai quan tâm đến vấn đề đang rất “thời sự” này.
Người viết xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến giáo viên hướng dẫn và những người đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài khóa luận này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Dịch Vụ Thuê Viết Khóa Luận Ngành Tài Chính Ngân Hàng
Chương I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
I: TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1, Khái niệm tập đoàn kinh tế
Trên thế giới, rất nhiều tập đoàn ở mọi lĩnh vực đã bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ 19 và không ngừng lớn mạnh cho đến ngày nay: từ tập đoàn đầu nhớt Mobile, BP, Shell đến tập đoàn công nghiệp ôtô như Toyota, General Motor, Ford, Rolls Royce,… đến tập đoàn bán lẻ như Wal Mart,…tập đoàn công nghệ, truyền thông như AOL, Planet,…và tập đoàn ngân hàng như Citigroup, HSBC Holdings, Bank of America,…
Tập đoàn kinh tế được gọi tên rất đa dạng với những mô hình tổ chức không giống nhau giữa các nước: Conglomerate (là tên gọi tập đoàn phổ biến Châu Âu), Holding Company (tại Mỹ và nhiều nước khác), Business Houses (tại Ấn Độ), Chaebol (ở Hàn Quốc), Zaibatsu và Keiretsu (lần lượt được gọi ở Nhật trước và sau Thế chiến II), và tên gọi phổ biến được dùng ở nhiều nước là Group hay Business Group. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Hàn Quốc, theo Luật Thương mại (Korea Fair Trade Act), Chaebol là một tổ hợp các công ty quy mô lớn mà các hoạt động kinh doanh của nó được điều hành bởi một người xác định. Đặc điểm quan trọng nhất là sự tập trung cao quyền sở hữu tập đoàn thuộc về một số cá nhân và gia đình họ, những người này sẽ chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động của tất cả các công ty thành viên của tập đoàn.
Theo Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương CIEM thì:
Khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô hình này, “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển.
Trong Luật doanh nghiệp của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2022, tại Điều 146, tập đoàn kinh tế chỉ được nhắc đến là một hình thức của nhóm công ty:
“1.Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
2.Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây:
- Công ty mẹ – công ty con;
- Tập đoàn kinh tế;
- Các hình thức khác.” Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Tại Điều 149 : “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế”. Nhưng đến nay, vẫn chưa có một văn bản chính thức nào quy định cụ thể về tập đoàn kinh tế.
Từ cuối năm 1995, nước ta đã có một số tập đoàn trong những ngành kinh tế then chốt, bao gồm tập đoàn dệt may, tập đoàn than và khoáng sản, tập đoàn bưu chính – viễn thông. Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 310/QĐ/2022/TTg-CP về thí điểm thành lập tập đoàn tài chính – bảo hiểm Bảo Việt đã đánh dấu một bước phát triển mới cho triển vọng hình thành các tập đoàn tài chính ở Việt Nam.
Như vậy, có khá nhiều khái niệm khác nhau về tập đoàn kinh tế nhưng chung quy lại, có thể hiểu: tập đoàn kinh tế là một tổ hợp lớn các đơn vị thành viên, liên kết với nhau thông qua mối quan hệ về tài chính, sản phẩm, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu,…và được sắp xếp theo một cấu trúc tổ chức nhất định. Bản thân tập đoàn không có tư cách pháp nhân, thường có một “công ty mẹ” đóng vai trò là “thương hiệu” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các “công ty con” chủ yếu về mặt tài chính và chiến lược phát triển.
2. Đặc điểm của tập đoàn kinh tế và nguyên tắc hoạt động Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
2.1 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
Tuy tập đoàn kinh tế có thể được gọi tên khác nhau, được tổ chức theo các mô hình khác nhau, được nhận thức chưa thống nhất giữa các quốc gia nhưng chúng vẫn mang trong mình những đặc điểm chung cơ bản:
Tập đoàn kinh tế hình thành dựa trên những nhu cầu thực tế khách quan của các hoạt động kinh tế, là kết quả quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thông qua các hình thức tích tụ hoá, chuyên môn hoá và hợp tác hoá ở trình độ cao nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận. Tập đoàn kinh tế sẽ gặp thất bại nếu hình thành trên cơ sở áp đặt, gán ghép các đơn vị thành viên bằng mệnh lệnh hành chính.
Về tổ chức: tập đoàn kinh tế là tập hợp của một số đơn vị thành viên thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tài chính,… Sự liên kết giữa các đơn vị thành viên (về tài chính, công nghệ, thị trường,…) rất đa dạng, có thể là chặt chẽ hoặc không chặt chẽ nhưng trên cơ sở cùng có lợi của mỗi thành viên và của cả tập đoàn. Trong tập hợp đó, có một đơn vị lớn và quan trọng nhất, đóng vai trò chi phối hoạt động của các đơn vị còn lại.
Các tập đoàn đa phần được tổ chức theo mô hình “công ty mẹ – công ty con”. Công ty mẹ sở hữu lượng lớn (hoặc hoàn toàn) trong tổng vốn chủ sở hữu của công ty con, nắm quyền chi phối các công ty con về mặt tài chính cũng như về mặt chiến lược phát triển. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Về cơ cấu sở hữu: sở hữu trong tập đoàn kinh tế là sở hữu hỗn hợp, là cấu trúc đa sở hữu, theo đó công ty mẹ hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần và luôn đóng vai trò chi phối, khống chế các công ty thành viên khác. Các công ty con có thể hạch toán trực thuộc công ty mẹ hoặc hạch toán độc lập với tư cách pháp nhân riêng. Những công ty con này có thể là những mắt xích trong dây chuyền sản xuất, kinh doanh theo hướng chuyên môn hoá hoặc hoạt động trong những lĩnh vực độc lập, không liên quan gì với nhau.
Về qui mô và phạm vi hoạt động: các tập đoàn kinh tế thường có qui mô lớn về vốn, lao động, doanh thu,… Phạm vi hoạt động rất rộng, thường vượt ra biên giới một quốc gia, thậm chí trên khắp thế giới để trở thành những tập đoàn xuyên quốc gia. Tập đoàn kinh tế đang hướng tới mục tiêu toàn cầu hoá chiến lược kinh doanh, nhằm đạt được những ưu thế trong cạnh tranh và thu lợi nhuận cao nhất.
Lĩnh vực kinh doanh: tập đoàn kinh tế có thể kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành. Ngày nay, các tập đoàn kinh tế phát triển theo xu hướng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là phổ biến nhưng luôn có một ngành, một lĩnh vực giữ vị trí mũi nhọn.
Về chiến lược kinh doanh chung: cơ quan đầu não của tập đoàn đảm trách việc soản thảo chiến lược theo định hướng chung của toàn tập đoàn và được thực hiện thống nhất bởi các đơn vị thành viên trong tập đoàn. Chiến lược chung được xây dựng trên cơ sở: phân tích nhu cầu thị trường và xu hướng biến đổi, ý đồ chiến lược phát triển của các nhà hoạch định chính sách, tính cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước…
2.2. Đặc trưng chung của tập đoàn Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Tập đoàn không có tư cách pháp nhân, không có trụ sở chính, không có cơ quan hành chính thường trực chung của tập đoàn.
Có một số thiết chế quản trị chung của tập đoàn như Hội đồng chiến lược, Uỷ ban kiểm toán, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng quản trị. Các thành viên trong những hội đồng hay uỷ ban này hoạt động theo tôn chỉ và mục đích chung đã được các bên thống nhất từ trước và đa số theo cơ chế kiêm nhiệm. Trong đó, chủ tịch tập đoàn thường là người có ảnh hưởng và uy tín lớn nhất, thuộc công ty xuất phát hay công ty chính của tập đoàn.
Thông thường chủ tịch và các thành viên trong hội đồng và uỷ ban hưởng lương chính từ các công ty thành viên và được hưởng thêm một khoản phụ cấp trách nhiệm do các công ty thành viên đóng góp theo quy định chung.
Khái niệm tập đoàn thường kèm theo “công ty xuất phát” hay “công ty gốc”, “công ty đứng đầu”, “công ty sáng lập”,…Vị thế của công ty này trước hết được biểu hiện ở biểu tượng logo của tập đoàn và ở khả năng chi phối hướng phát triển của các công ty thành viên trong tập đoàn.
Công ty trong tập đoàn hành động theo chiến lược chung, theo bản đồ phân bố thị trường, với các quan hệ gắn bó về vốn, thương hiệu, văn hoá, ngoại giao,… Cơ chế điều hành chung của tập đoàn chủ yếu dựa trên quan hệ về lợi ích kinh tế minh bạch và uy tín, cũng như các cam kết trong quy chế chung của tập đoàn, chứ không dựa trên mệnh lệnh hành chính. Các pháp nhân trong tập đoàn có chung quyền được bảo vệ để tránh khỏi nguy cơ bị thôn tính hay chèn ép từ những công ty ngoài tập đoàn. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
2.3. Đặc trưng của các công ty thành viên trong tập đoàn
- Đặc trưng quan trọng nhất là mỗi công ty trong tập đoàn là một pháp nhân độc lập: có tài sản riêng, trụ sở riêng, thị trường riêng, thậm chí ngành nghề riêng. Do đó, giữa các công ty trong tập đoàn có sự khác nhau về mức thu nhập, tình trạng rủi ro và quy mô tài chính.
- Nhìn chung, các tập đoàn kinh tế được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện, thông qua đàm phán để mua bán, liên doanh, sáp nhập, hợp nhất,… Trong đó, một công ty khởi xướng và đóng vai trò sáng lập ra tập đoàn (hình thức tập trung tư bản) từ nhiều công ty thành viên, hoặc từ một công ty lớn tách ra thành nhiều công ty độc lập (hình thức tích tụ tư bản).
Như vậy, việc hình thành một tập đoàn kinh tế không phải do mệnh lệnh hành chính Nhà nước mà do quyết định của nhà doanh nghiệp, được dư luận xã hội, thị trường và Nhà nước thừa nhận.
3. Các mô hình cấu trúc tổ chức của tập đoàn kinh tế Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Có nhiều mô hình cấu trúc tổ chức của tập đoàn kinh tế khác nhau tuỳ theo tiêu chí phân loại. Dựa trên việc tổng hợp các tài liệu nghiên cứu, người viết xin trình bày các mô hình:
3.1. Theo mối quan hệ giữa các cấp quản lý trong tập đoàn
(1) Mô hình theo cấu trúc nhất nguyên và tập trung quyền lực
Tập đoàn theo cấu trúc tổ chức này tập trung ở vai trò của Văn phòng đầu não (head office) trong các hoạt động của tập đoàn, đứng đầu Văn phòng là Uỷ ban điều hành (executive committee) và dưới là các phòng ban chức năng phụ trách các mảng hoạt động chuyên biệt như sản xuất, kinh doanh, tài chính.
Đặc trưng của mô hình này là sự tập trung quyền lực về các quyết định sản xuất – kinh doanh của cả tập đoàn đều được đặt dưới tay của Tổng Giám đốc. Uỷ ban điều hành quản lý các phòng ban chức năng thông qua việc phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng.
Do sự tập trung quyền lực quá nhiều vào nhà quản lý cấp cao nên mô hình này đã hạn chế tính năng động, sáng tạo, tự chủ của các thành viên trong tập đoàn. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Hiện nay, trên thế giới hầu như không còn tập đoàn kinh tế nào được tổ chức theo mô hình này nữa.
(2) Mô hình theo cấu trúc Holding
Khác với mô hình theo cấu trúc nhất nguyên và tập trung quyền lực, mô hình theo cấu trúc Holding không có sự kiểm soát tập trung mà hoạt động theo kiểu phân quyền giữa các bộ phận trong tập đoàn. Cơ cấu tổ chức của tập đoàn theo cấu trúc Holding bao gồm một Văn phòng và các công ty thành viên. Văn phòng chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động điều phối chung cả tập đoàn mà không thực hiện việc kiểm soát trực tiếp các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên. Trong khi đó, các công ty thành viên hoạt động tương đối độc lập.
Dạng phổ biến nhất của mô hình này là theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Theo đó, công ty mẹ và các công ty con đều là những pháp nhân độc lập, có tài sản và bộ máy quản lý riêng, có quyền tự chủ khá cao về hoạt động kinh doanh và tài chính. Do vậy, các giao dịch trong nội bộ tập đoàn trở thành như những giao dịch bên ngoài, giao dịch thị trường. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con chủ yếu là mối quan hệ vốn, theo đó, công ty mẹ sở hữu một phần hay toàn bộ vốn của công ty con.
(3) Mô hình theo cấu trúc hỗn hợp Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Mô hình này phối hợp giữa hai cấu trúc: cấu trúc nhất nguyên và tập trung quyền lực với cấu trúc Holding. Trong đó, cơ cấu tổ chức bao gồm 3 cấp:
Cấp thứ nhất là cơ quan đầu não của tập đoàn, là cấp cao nhất chịu trách nhiệm quản lý chung về ba vấn đề cốt tử: một là, xây dựng và thông qua các chiến lược (như chiến lược đầu tư, gia nhập hay rút khỏi thị trường, định hướng kế hoạch dài hạn, kế hoạch hàng năm,…); hai là, quyết định các chính sách chung và điều hành các giao dịch bên trong của tập đoàn; ba là, tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, giám sát, đánh giá các cán bộ cao cấp của tập đoàn.
Cấp thứ hai là các ban chức năng có nhiệm vụ giúp cơ quan đầu não xây dựng chiến lược, điều hành các giao dịch nội bộ và giám sát các công ty con. Nhờ đó, đảm bảo trật tự trong tập đoàn cũng như giúp cho quá trình ra quyết định mang tính khoa học hơn, hiệu quả hơn, giảm thiểu rủi ro. Các ban chức năng bao gồm ban kế hoạch, tài chính, nhân sự, kiểm toán, pháp chế,…hoặc các ban quản lý theo sản phẩm, nhãn hàng, khu vực địa lý,…
Cấp thứ ba là các công ty con độc lập, thực hiện hoạt động sản xuất-kinh doanh theo chiến lược và kế hoạch chung mà tập đoàn đã xác định.
3.2. Theo cấu trúc sở hữu
(1) Mô hình sở hữu giản đơn
Trong mô hình này, công ty mẹ đầu tư chi phối các công ty cấp 2 (công ty con), đến lượt các công ty cấp 2 tiếp tục đầu tư chi phối các công ty cấp 3 (công ty cháu). Công ty cấp trên chi phối về tài chính thông qua việc nắm giữ phần vốn góp của công ty cấp dưới một cách trực tiếp.
Trên thực tế, mô hình đơn giản, thuần tuý này ít tồn tại. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
(2) Mô hình sở hữu chéo
Việc sở hữu chéo có thể diễn ra theo 2 hình thức: giữa các công ty thành viên đồng cấp đầu tư và kiểm soát lẫn nhau; hoặc công ty mẹ trực tiếp đầu tư và chi phối các công ty cháu.
Trong cấu trúc sở hữu chéo giữa các công ty đồng cấp, các công ty này phải đủ mạnh về vốn để đầu tư lẫn nhau nhằm tăng cường mối liên kết tài chính chặt chẽ trong tập đoàn và tránh được sự thôn tính của các thành phần ngoài tập đoàn. Các chaebol của Hàn Quốc hầu hết đều có cơ cấu sở hữu chéo này như Samsung, Huyndai, LG,…;ở Mỹ như General Motor, General Electric,…
Một dạng sở hữu chéo khác là công ty mẹ đầu tư vốn vào các công ty cháu, nhằm kiểm soát một số lĩnh vực nào đó có tầm quan trọng đặc biệt hoặc do yêu cầu về vốn khi công ty cháu gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất-kinh doanh của mình.
(3) Mô hình sở hữu hỗn hợp
Mô hình sở hữu hỗn hợp là dạng kết hợp của hình thức sở hữu giản đơn và 2 hình thức sở hữu chéo.
Do có cấu trúc sở hữu đan xen nhiều cấp nên đây là mô hình phức tạp nhất về mặt sở hữu, song lại được áp dụng rất phổ biến trên thế giới hiện nay. Cùng với sự phát triển cao độ của thị trường tài chính và cạnh tranh toàn cầu, các tập đoàn phải có hệ thống tài chính vững mạnh và các mối liên hệ nội bộ chặt chẽ để hạn chế sự thôn tính.
3.3. Theo loại hình liên kết Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
(1) Mô hình liên kết ngang là chủ yếu
Tập đoàn kinh tế theo mô hình liên kết ngang bao gồm các doanh nghiệp trong cùng một ngành, thường là các đối thủ cạnh tranh của nhau trước đó, nhưng trước sức ép cạnh tranh gay gắt của thị trường, các doanh nghiệp độc lập này buộc phải liên kết với nhau để cùng hoạt động sản xuất-kinh doanh, tăng sức cạnh tranh chung.
Công ty mẹ thực hiện chức năng quản lý, điều phối và định hướng chung cho cả tập đoàn, đồng thời trực tiếp kinh doanh những khâu thuộc liên kết chính của tập đoàn, và tiến hành những hoạt động đòi hỏi vốn lớn như: đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo cán bộ quản lý và đội ngũ nhân viên, trang bị và quản lý trang thiết bị và công nghệ hiện đại của cả tập đoàn… Các công ty con có thể được phân công sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh hoặc được phân công chuyên môn hoá và phối hợp hoạt động với nhau.
(2) Mô hình liên kết dọc là chủ yếu
Tập đoàn kinh tế theo mô hình liên kết dọc bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ về công nghệ, quy trình sản xuất,…(cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất) tạo thành một liên hợp sản xuất, kinh doanh và thương mại hoàn chỉnh. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Không những vậy, khi tập đoàn càng lớn mạnh, sẽ dần mở rộng hoạt động đầu tư sang lĩnh vực tài chính-ngân hàng, nhằm tăng cường sức mạnh tài chính, giữ vững vị thế doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh và nguy cơ bị thôn tính.
Về hoạt động chủ chốt của các công ty trong tập đoàn, công ty mẹ cũng thực hiện chức năng quản lý, điều phối chung, đồng thời nắm giữ các bộ phận then chốt trong dây chuyền công nghệ và thị trường. Các công ty con hoạt động chuyên môn hoá và phối hợp với nhau theo đặc thù công nghệ.
(3) Mô hình liên kết hỗn hợp đa ngành, đa lĩnh vực
Tập đoàn kinh tế có cấu trúc liên kết hỗn hợp bao gồm những doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực có quan hệ hoặc không có quan hệ về công nghệ, quy trình sản xuất,…nhưng có mối quan hệ tài chính chặt chẽ. Công ty mẹ không nhất thiết trực tiếp thực hiện sản xuất- kinh doanh mà chủ yếu làm nhiệm vụ đầu tư, kinh doanh vốn cho các công ty khác trong tập đoàn và hưởng lợi nhuận trên phần vồn góp của mình vào các công ty con.
4. Công ty mẹ- công ty con Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Tập đoàn kinh tế được ví như một “đoàn tàu” luôn cần có một “đầu tàu” – công ty mẹ – có đủ khả năng lái đoàn tàu kéo theo các “toa tàu” – các công ty con – theo đúng lộ trình đã được định sẵn. Do đó, công ty mẹ – công ty con là khái niệm cơ bản gắn liền với tập đoàn kinh tế nói chung và tập đoàn tài chính – ngân hàng nói riêng.
4.1. Công ty mẹ
Công ty mẹ là một doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, được thừa nhận có năng lực đủ mạnh về một hoặc một số yêu cầu nhất định để kiểm soát và chi phối các công ty khác trong tập đoàn theo những nguyên tắc và phương thức nhất định. Công ty mẹ tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các công ty con với nhau và giữa các công ty con với chính nó thông qua hoạt động như bảo lãnh nợ và hoạt động thương mại nội bộ. Mục đích đầu tư của công ty mẹ vào các công ty con là hưởng phần lợi nhuận trên vốn góp.
Trong các tập đoàn kinh tế lớn, công ty mẹ có vị trí đặc biệt quan trọng. Đó phải là công ty có khả năng chi phối được hoạt động kinh doanh của các công ty con. Công ty mẹ chỉ thực sự là “đầu tàu” bền vững khi nó hơn hẳn các công ty khác trong tập đoàn về một hay một số điều kiện quan trọng có liên quan đến hoạt động kinh doanh như về vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ, thương hiệu. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Điều quan trọng hơn cả là việc chi phối của công ty mẹ đối với các công ty con hoàn toàn không thông qua các quyết định hành chính. Công ty mẹ thường chi phối các công ty khác theo những thế mạnh khác nhau. Công ty mẹ có thể kiểm soát công ty con này theo tỷ lệ vốn góp, đồng thời có thể chi phối một hoặc một số công ty khác theo công nghệ, thị trường hoặc thương hiệu. Mục đích cao nhất là đem lại lợi ích cho tất cả các thành viên trong tập đoàn.
Công ty mẹ sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần của các công ty khác trong tập đoàn. Theo tính chất và phạm vi hoạt động, trong mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ được chia làm 2 loại:
Công ty mẹ nắm vốn thuần tuý (pure holding company – PHC): hoạt động kinh doanh chính của PHC là đầu tư vốn vào các công ty khác. Trách nhiệm chủ yếu của các nhà quản lý cấp cao ở PHC là ra quyết định chiến lược phát triển tổng thể của cả tập đoàn.
Công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh (operating holding company – OHC): OHC bên cạnh việc đầu tư vốn vào các công ty con, còn tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nhà quản lý cấp cao của OHC không chỉ tập trung vào việc ra các quyết định điều hành kinh doanh của công ty mình, mà còn ra quyết định mang tính chiến lược của tập đoàn. Đây là mô hình công ty mẹ – công ty con thường gặp ở nhiều quốc gia.
Tổng hợp từ những tài liệu về mô hình này, có thể rút ra 3 nhiệm vụ chính của công ty mẹ:
- Đề ra các chiến lược, định hướng phát triển tổng thể của cả tập đoàn.
- Phân bổ nguồn lực của các công ty con thông qua hoạt động tài chính như: mua bán chứng khoán, cơ cấu lại tài sản,…
- Sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư, góp vốn, liên doanh, liên kết với các công ty ngoài tập đoàn hình thành các công ty con, công ty liên doanh, liên kết mới.
4.2. Công ty con Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Các công ty con là các doanh nghiệp độc lập được thành lập hợp pháp, có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của mình, tự nguyện chịu sự chi phối và kiểm soát của một công ty mẹ theo những nguyên tắc và phương thức nhất định. Mỗi công ty con được phép thành lập các công ty khác, hoặc tham gia góp vốn của mình vào công ty khác sau khi được phép của công ty mẹ.
Tuỳ theo mức độ chi phối của công ty mẹ đối với công ty con, có thể phân loại công ty con thành:
Công ty con phụ thuộc toàn phần: công ty mẹ sở hữu 100% vốn của công ty con. Công ty con dạng này được thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên do công ty mẹ làm chủ sở hữu, có tư cách pháp nhân độc lập.
Công ty con phụ thuộc từng phần: công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối hoặc không đầu tư vốn vào công ty con mà chỉ chi phối, kiểm soát công ty con qua công nghệ, thị trường hoặc thương hiệu. Hình thức pháp lý của công ty con phụ thuộc từng phần khá đa dạng: công ty cổ phần do công ty mẹ nắm cổ phần chi phối, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty liên doanh do công ty mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối, công ty liên kết.
Công ty mẹ và các công ty con là những pháp nhân độc lập nên mối quan hệ giữa chúng thường là quan hệ thị trường. Mọi quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con được thực hiện theo hợp đồng kinh tế.
Ở nước ta, mô hình công ty mẹ – công ty con được quy định trong Nghị định 153/2021/NĐ-CP ngày 9/8/2021 của Chính phủ về chuyển đổi các Tổng công ty Nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Theo đó, “là hình thức liên kết và chi phối lẫn nhau bằng đầu tư, góp vốn, bí quyết công nghệ, thị trường hoặc thương hiệu giữa các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó có một công ty Nhà nước giữ quyền chi phối các doanh nghiệp thành viên khác (gọi tắt là công ty mẹ) và các doanh nghiệp thành viên khác bị công ty mẹ chi phối (gọi tắt là công ty con) hoặc có một phần vốn góp không chi phối của công ty mẹ (gọi tắt là công ty liên kết)” (Điều 18 Khoản 1).
II: TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Nền kinh tế thế giới trong hai thập kỷ qua đã chứng kiến sự chuyển dịch từ xu hướng ngân hàng quốc tế sang ngân hàng toàn cầu. Hoạt động ngân hàng quốc tế là hoạt động ngân hàng xuyên biên giới thể hiện qua việc huy động vốn trong nước để cho vay nước ngoài. Ngày nay, các ngân hàng toàn cầu thâm nhập vào thị trường nước ngoài thông qua việc thiết lập các chi nhánh và ngân hàng con để thu hút vốn và cung cấp tín dụng tại nước đó, như cho vay tiêu dùng, nhận thế chấp, cho vay doanh nghiệp,…và thâm nhập thị trường vốn. Từ nhu cầu khách quan trong kinh doanh, hình thành nên những tập đoàn tài chính – ngân hàng khổng lồ trên thế giới, phải kể đến Citigroup (Mỹ), Deutsche Bank (Đức), HSBC Holdings Plc (Anh),… Tuy nhiên, tập đoàn tài chính – ngân hàng vẫn còn là một cụm từ khá mới mẻ ở Việt Nam.
1. Khái niệm tập đoàn tài chính – ngân hàng
Từ những kiến thức về tập đoàn kinh tế và công ty mẹ – công ty con, phần nào đã giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan ban đầu về tập đoàn tài chính – ngân hàng. Sở dĩ như vậy là vì tập đoàn tài chính – ngân hàng chính là một tập đoàn kinh tế mà lĩnh vực kinh doanh là dịch vụ tài chính ngân hàng, hoạt động chủ yếu theo mô hình công ty mẹ – công ty con.
Tập đoàn tài chính thường do một ngân hàng cỡ lớn đứng đầu, với doanh thu của tập đoàn phần lớn xuất phát từ doanh thu hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Với vai trò quan trọng của ngân hàng trong một tập đoàn tài chính như thế, nên tập đoàn tài chính thường đồng nghĩa với tập đoàn tài chính – ngân hàng. Như vậy, trong khoá luận, người viết dùng xen kẽ hai cách gọi này mà không làm thay đổi ý nghĩa của nó. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Định nghĩa về tập đoàn tài chính – ngân hàng cũng như về tập đoàn kinh tế chưa có sự thống nhất trên phạm vi thế giới, do có sự khác nhau về điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội, nhu cầu khách hàng, các qui định của pháp luật giữa các nước.
- Ở các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU)
Tập đoàn tài chính được gọi là “financial conglomerate” (conglomérat financier). Theo chỉ thị 2019/87/EC, để được gọi cái tên đó, liên kết phải thoả mãn 3 điều kiện:
- Có ít nhất một công ty thực hiện các hoạt động về ngân hàng hoặc chứng khoán và ít nhất một công ty triển khai hoạt động về bảo hiểm.
- Công ty thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm là hạt nhân của tập đoàn, củ thể là tỷ lệ tổng tài sản thuộc lĩnh vực tài chính trong bảng cân đối của tập đoàn phải lớn hơn 40%.
- Trong mỗi lĩnh vực tài chính (ngân hàng/ chứng khoán và bảo hiểm), tỷ lệ trung bình về tài sản của nó so với tổng tài sản trong tập đoàn phải lớn hơn 10%, hoặc tổng tài sản của công ty nhỏ nhất kinh doanh trong lĩnh vực tài chính phải lớn hơn 6 tỷ euro. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Còn ở Mỹ, tập đoàn tài chính được gọi là công ty sở hữu tài chính (financial holding company). Theo quy định của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (GLB Act) được thông qua năm 1999, ngân hàng nắm vốn (ngân hàng mẹ) mà được phép cung cấp các dịch vụ đa dạng như một tập đoàn tài chính cần hội đủ điều kiện về vốn. Tất cả các công ty con phải được quản lý tốt và thoả mãn điều kiện về an toàn vốn: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 10%, tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 6% và đòn cân nợ (vốn cấp 1/ tổng tài sản) ít nhất 5%. Ngoài ra, công ty nắm giữ vốn này hay công ty mẹ trong tập đoàn tài chính không nhất thiết phải cung cấp các dịch vụ tài chính mà chức năng chính của nó là ra các quyết định chiến lược, sau đó quản trị và điều hành mọi hoạt động chung của các công ty con theo định hướng chiến lược ấy.
Tại diễn đàn hợp tác (Joint forum) năm 2018, các nhà kinh tế đến từ nhiều quốc gia đã đưa ra định nghĩa về tập đoàn tài chính như sau: tập đoàn tài chính là “bất kỳ một tổ hợp các công ty được quản lý chung, mà hoạt động kinh doanh được ưu tiên là cung cấp dịch vụ tài chính hay ưu tiên thuộc ít nhất hai lĩnh vực trong ba lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm)”.
Như vậy, từ những quan điểm trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về tập đoàn tài chính – ngân hàng như sau:
Tập đoàn tài chính – ngân hàng, trước hết là một tập đoàn kinh tế mà bao gồm hai hoặc nhiều định chế tài chính khác nhau hoạt động ở các lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm) được liên kết chặt chẽ với nhau để khai thác thế mạnh của nhau, cung cấp các dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng; đứng đầu là một ngân hàng cỡ lớn chi phối các công ty thành viên khác bằng mối quan hệ giữ cổ phần, cho vay vốn và điều phối nhân sự, quyết định những chiến lược và kế hoạch dài hạn của cả tập đoàn, nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, mở rộng lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và tăng cường khả năng cạnh tranh.
Tại Việt Nam, hiện chưa có một văn bản chính thức nào quy định về việc hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng. Tuy nhiên, với sự kiện thành lập tập đoàn tài chính Bảo hiểm Bảo Việt năm 2022 và Dự án cổ phần hoá các ngân hàng thương mại Nhà nước đã dẫn đến yêu cầu cần thiết phải có văn bản pháp lý điều chỉnh thống nhất sự thành lập và hoạt động của tập đoàn tài chính – ngân hàng. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
2. Tính tất yếu của việc hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng
Từ những năm cuối thế kỷ 20, xu hướng hình thành các tập đoàn tài chính đã diễn ra mạnh mẽ và lan rộng khắp thế giới. Các tổ chức tài chính lớn có xu hướng chuyển đổi mạnh từ một tổ chức tài chính hoạt động chuyên biệt sang mô hình hoạt động đa năng ở tất cả các lĩnh vực tài chính. Vậy sự chuyển đổi này xuất phát từ những nguyên nhân tất yếu nào hay nói cách khác, các tập đoàn tài chính – ngân hàng trên thế giới được hình thành trên những cơ sở và điều kiện chung nào? Theo những tài liệu tổng hợp được cho thấy có sáu nguyên nhân chủ yếu.
2.1. Thay đổi về nhu cầu tài chính
Xã hội càng phát triển, với sự bùng nổ công nghệ thông tin, nhu cầu của con người cũng trở nên đa dạng phức tạp hơn, nhất là nhu cầu của mỗi cá nhân, mỗi công ty về dịch vụ tài chính dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại. Dịch vụ e-banking ra đời đáp ứng yêu cầu đó. Ngân hàng không thể đơn độc cung cấp tốt dịch vụ này mà phải liên kết sức mạnh với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác.
Con người với xu hướng ưa chuộng những gói sản phẩm toàn diện, one-stop shopping. Khách hàng không chỉ tìm đến ngân hàng để gửi tiền, tín dụng, thanh toán mà còn muốn uỷ thác cho ngân hàng quản lý tài sản, tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư (đầu tư dự án, đầu tư chứng khoán,…), phát hành chứng khoán, mua bảo hiểm,… Ngân hàng chuyên biệt, với sự hạn chế về năng lực không thể cung cấp được các nhu cầu trọn gói này của khách hàng. Mô hình này đã trở nên lỗi thời, nhường chỗ cho mô hình ngân hàng đa năng (universal banking) phát triển. Mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng ra đời từ nhu cầu khách quan đó của thị trường.
2.2. Nỗ lực tìm kiếm nguồn thu nhập mới Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Để đối phó với việc suy giảm lợi nhuận từ những dịch vụ ngân hàng truyền thống, các ngân hàng trở nên năng động hơn trong việc đem đến cho khách hàng mục tiêu những tiện ích vượt trội. Khách hàng đạt được sự hài lòng tối đa khi được sử dụng trọn gói sản phẩm. Sự hài lòng quyết định tính sẵn sàng chi trả của người sử dụng dịch vụ, từ đó ngân hàng có thể gia tăng lợi nhuận. Nhưng để tối đa hoá sự thoả mãn của khách hàng thì ngân hàng với quy mô nhỏ không thể làm được, tất yếu phải hình thành mô hình lớn hơn, hoạt động chuyên nghiệp hơn.
Sự phát triển công nghệ thông tin đem lại các dịch vụ tài chính đa dạng với chi phí thấp, thúc đẩy các công ty hoạt động trong lĩnh vực viễn thông và thông tin tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính. Cạnh tranh về dịch vụ tài chính không chỉ tồn tại giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng truyền thống mà còn tồn tại giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính và công ty phi tài chính. Sự gia tăng về số lượng các đối thủ cạnh tranh là một nhân tố đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ tài chính cải thiện hoạt động quản lý, mở rộng năng lực hoạt động bằng cách liên kết với nhau, tạo sức mạnh tổng thể, hoặc thành lập các công ty con.
2.3. Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Có thể nói là chưa bao giờ quá trình toàn cầu hoá kinh tế, tự do hoá thương mại thế giới diễn ra mạnh mẽ như bây giờ. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan dần được dỡ bỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho dòng hàng hoá được di chuyển giữa các quốc gia ngày càng lớn, song song với nó là các luồng ngân lưu cũng gia tăng lưu lượng tương ứng. Các ngân hàng, vì thế phải tăng cường liên kết, liên doanh với các định chế tài chính nước ngoài để cung cấp tốt nhất các dịch vụ tài chính – ngân hàng, nhất là dịch vụ thanh toán quốc tế cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Cùng với quá trình tự do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư cũng trở nên sôi động. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài được mở rộng, các nhà cung cấp tài chính đang hướng đến các quốc gia có tiềm năng tăng trưởng mạnh, nhất là khi sự gia tăng cạnh tranh trong các thị trường cũ trở thành mối đe doạ làm giảm lợi nhuận. Các nhà cung cấp tài chính xâm nhập thị trường nước ngoài chủ yếu bằng hình thức mua lại và sáp nhập (M&A), bởi tận dụng được cơ sở vật chất mà có thể đáp ứng tốt thực tiễn kinh doanh của thị trường mục tiêu. Vì thế, mô hình ngân hàng toàn cầu cũng đang trở nên phổ biến.
Như vậy, xu hướng toàn cầu hoá là nguyên nhân khiến cho ngân hàng mở rộng phạm vi, mạng lưới hoạt động. Để quản lý hiệu quả hoạt động của ngân hàng với quy mô lớn mang tầm quốc tế thì mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng ra đời là một tất yếu khách quan.
2.4. Lợi thế cạnh tranh từ thương hiệu Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Ngân hàng được xem là một ngành kinh doanh niềm tin. Khi ngân hàng giành được niềm tin của khách hàng, điều đó đồng nghĩa với việc khẳng định được thương hiệu của mình, và vì vậy, sẽ có được lợi thế cạnh tranh từ thương hiệu.
Ngân hàng, nhờ lợi thế cạnh tranh về uy tín thương hiệu sẽ tiến hành thâm nhập vào thị trường dịch vụ tài chính khác như bảo hiểm, chứng khoán bằng cách thiết lập các công ty con, công ty liên doanh, liên kết. Các công ty thường sử dụng tên, logo và hoạt động dưới thương hiệu của ngân hàng mẹ. Khi đó, hình ảnh của các công ty thành viên này đã được đảm bảo bởi uy tín của ngân hàng mẹ, vì thế dễ dàng tiếp cận khách hàng, thâm nhập thị trường thành công hơn, đặc biệt là thị trường hiện tại của ngân hàng. Như vậy, tập đoàn tài chính – ngân hàng đã được hình thành từ nhu cầu thực tiễn hoạt động đó.
2.5. Sự nới lỏng các quy định trong lĩnh vực tài chính
Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, sự nới lỏng dần các quy định trong lĩnh vực tài chính của các cơ quan có thẩm quyền đã tạo nền tảng cho sự ra đời và phát triển của các tập đoàn tài chính. Việc giảm các quy định chi tiết trong luật pháp về tài chính của các nước không chỉ giúp cho quá trình hội nhập về tài chính phát huy tác dụng, giúp các tổ chức này tự chủ và linh hoạt hơn trong hoạt động kinh doanh của mình. Các quy định được nới lỏng còn tạo ra một môi trường có lợi cho việc hợp nhất các nhà cung cấp dịch vụ tài chính, từ đó đa dạng hoá hoạt động kinh doanh.
Về phía các cơ quan kiểm soát thị trường dịch vụ tài chính, nhờ có sự cải tiến trong công nghệ quản trị rủi ro và đặc biệt là công khai tài chính của các tổ chức kinh doanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự giám sát và kiểm soát hiệu quả mà không cần áp đặt các quy định, luật lệ quá chi tiết và hà khắc. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Chẳng hạn, tại Mỹ, Đạo luật Glass-Steagall năm 1933 cấm các ngân hàng và công ty chứng khoán tham gia vào lĩnh vực kinh doanh của nhau và Đạo luật Bank Holding company năm 1956 hạn chế sự sáp nhập giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm. Nhưng đến năm 1999, Đạo luật Gramm-Leach-Bliley đã dỡ bỏ những quy định của hai đạo luật trên, tạo điều kiện cho sự sáp nhập giữa các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và các định chế tài chính khác.
Năm 1993, Nhật Bản lần đầu tiên cho phép các ngân hàng và công ty chứng khoán được tham gia vào lĩnh vực của nhau bằng cách thành lập các công ty con. Còn ở Châu Âu, việc nới lỏng các quy định diễn ra từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, và đến năm 2019, Liên minh châu Âu EU đã chính thức ban hành một Chỉ thị thống nhất về tập đoàn tài chính bao gồm ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm (Chỉ thị 2019/87/EC).
2.6. Sự cải tiến về công nghệ thông tin
Cuộc cách mạng công nghệ thông tin bùng nổ từ những năm 1980 là một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ cho xu hướng hình thành tập đoàn tài chính trên thế giới. Ảnh hưởng của nhân tố này được thể hiện ở các khía cạnh:
Một là, công nghệ thông tin phát triển tạo ra những cơ hội kinh doanh mới với những sản phẩm tài chính ứng dụng kỹ thuật hiện đại, như dịch vụ ngân hàng trực tuyến (online banking), dịch vụ ngân hàng tại nhà (home banking), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (phone banking),…không những chỉ do ngân hàng cung cấp mà còn do các công ty phi tài chính, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực này. Khách hàng khi sử dụng những dịch vụ mới dựa trên nền tảng công nghệ cao sẽ tiết kiệm được chi phí hơn và tiện lợi hơn so với dịch vụ truyền thống. Do đó mở ra một thị trường bán lẻ béo bở cho các ngân hàng và các nhà cung cấp khác. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Hai là, những tiến bộ trong xử lý dữ liệu và truyền thông đã làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và chi phí quản lý trong ngân hàng. Chi phí thấp hơn giúp các nhà cung cấp dịch vụ tài chính mở rộng hơn nữa ranh giới hoạt động hiện tại sang các thị trường tiềm năng khác. Điều này đã đưa đến giải pháp về việc lựa chọn một cấu trúc tổ chức hoạt động mới – cấu trúc tổ chức của một tập đoàn tài chính có quy mô lớn hơn, hiệu quả hơn.
Ba là, sự phát triển công nghệ thông tin cung cấp cho các nhà quản trị các kỹ thuật quản lý rủi ro tinh vi và hiệu quả hơn, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong ngành tài chính – lĩnh vực được xem là kinh doanh rủi ro. Chu trình quản lý rủi ro là một chu kỳ khép kín gồm bốn giai đoạn: xác định rủi ro, định lượng rủi ro, quản lý rủi ro, kiểm soát rủi ro. Những kỹ thuật này giúp các tổ chức tài chính không những đánh giá, quản trị được chính mình mà còn đánh giá được các tổ chức khác, phục vụ cho mục tiêu sáp nhập, mua lại.
3. Điều kiện hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng
Về mặt kinh tế vĩ mô: một môi trường kinh tế phát triển ổn định, có sức cạnh tranh cao trên nền tảng hệ thống pháp luật đồng bộ hoàn chỉnh là điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế nói chung và tập đoàn tài chính – ngân hàng nói riêng.
Thu nhập người dân tăng lên, cuộc sống được cải thiện cùng với sự phát triển mở rộng sản xuất, kinh doanh của các chủ thể khác trong nền kinh tế khiến cho nhu cầu thị trường cũng trở nên đa dạng, phức tạp hơn, trọn gói hơn. Trước nhu cầu không ngừng tăng lên đó của thị trường, trước sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt, ngân hàng muốn tồn tại và phát triển ổn định, phải tăng cường mở rộng quy mô bằng cách thiết lập thêm các công ty con hoặc liên kết với các tổ chức kinh tế khác.
Do đó, sự kết hợp nhằm tạo ra một tập đoàn tài chính kinh doanh hiệu quả cần dựa trên nguyên tắc tự nguyện, mà không thể dùng biện pháp hành chính, mệnh lệnh từ Nhà nước. Sự can thiệp của Nhà nước chỉ là điều kiện cần để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển các tập đoàn. Nhà nước chỉ nên can thiệp bằng việc xây dựng hệ thống các quy định rõ ràng về điều kiện chung để một tổ chức tài chính phát triển lên tập đoàn; về cơ chế, chính sách thúc đẩy đầu tư, liên kết giữa các định chế…
Bên cạnh đó, đối với các ngân hàng mà tự nhận thấy mình có khả năng phát triển lên thành tập đoàn thì bản thân, trước hết phải đáp ứng được các điều kiện bên trong tập đoàn: tình hình tài chính tốt, đủ năng lực về vốn, năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro,…Ngân hàng cần có chiến lược kinh doanh rõ ràng, trong đó xác định sản phẩm cốt lõi, đa dạng hoá các loại hình sản phẩm phù hợp với trình độ công nghệ tiên tiến… Chỉ khi công ty mẹ mạnh về vốn, công nghệ, khả năng quản lý nhân lực và thị trường tốt, từ đó mới có thể thiết lập các công ty con và liên kết được với các công ty thành viên khác.
4. Đặc điểm tập đoàn tài chính – ngân hàng Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
4.1. Sáp nhập và mua lại (M&A), hợp nhất – phương thức chủ yếu để hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng
Sáp nhập và hợp nhất có thể nói là phương thức nhanh nhất để một ngân hàng có đủ năng lực vươn ra hoạt động đa năng và hướng tới toàn cầu, để các tập đoàn không ngừng tăng cường sức mạnh và mở rộng quy mô cả về vốn và về mặt địa lý. Các tổ chức tài chính với những lợi thế riêng đã liên kết với nhau nhằm tận dụng sức mạnh của nhau, phục vụ cho mục tiêu tăng năng lực cạnh tranh và thu lợi nhuận cao nhất có thể. Ngân hàng lớn thứ 3 của Mỹ JPMorgan Chase là kết quả sáp nhập giữa 550 ngân hàng và các định chế tài chính khác. Năm 2023, thương vụ mua sáp nhập lớn nhất trong lịch sử sẽ thuộc về hai đại gia: ngân hàng Châu Âu Barclays Plc của Anh và ABN Amro của Hà Lan với giá trị giao dịch 89,7 tỷ USD. (Phụ lục 1: Top các thương vụ M&A lớn nhất thế giới đến 4/2023).
Ngoài ra, tập đoàn tài chính còn được hình thành theo phương thức tăng trưởng truyền thống. Theo đó, xuất phát từ một ngân hàng thương mại đáp ứng được các điều kiện: quy mô vốn lớn, mạng lưới kinh doanh rộng khắp, khả năng quản trị điều hành hiệu quả, tiềm lực công nghệ cao,…có thể tự mình xây dựng và phát triển thành tập đoàn tài chính. Với hướng đi này, ngân hàng sẽ thành lập các công ty con trực thuộc với chức năng hoạt động khác nhau, nhằm cung cấp cho khách hàng các dịch vụ đa dạng và hỗ trợ hoạt động cho ngân hàng mẹ trong việc đưa ra gói sản phẩm toàn diện,…Tuy nhiên, phương thức này thường được áp dụng trong giai đoạn phát triển ban đầu của tập đoàn. Sau khi đạt đến một trình độ phát triển nhất định, các tập đoàn dạng này cũng sẽ tiến hành phương thức sáp nhập và hợp nhất với các định chế khác nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong một thị trường tài chính phát triển toàn cầu.
4.2. Cấu trúc tổ chức phức tạp Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Tập đoàn kinh tế nói chung và tập đoàn tài chính – ngân hàng nói riêng có cơ cấu tổ chức rất đa dạng, bao gồm nhiều tầng nấc, nhiều mô hình khác nhau. Theo Bank of Japan (2022), tập đoàn tài chính – ngân hàng có thể được tổ chức theo 3 mô hình:
- Mô hình ngân hàng đa năng (universal banking)
- Mô hình công ty mẹ – con (parent – subsidiary relationship)
- Mô hình công ty sở hữu tài chính (financial holding company)
Trong mỗi mô hình có một cấu trúc tổ chức khác nhau. Khác nhau giữa các cấu trúc tổ chức chủ yếu về quyền chi phối của cổ đông công ty đứng đầu với các công ty con, quyền điều hành của ban quản trị công ty đứng đầu trong mọi hoạt động của các công ty con. Mối quan hệ vốn giữa công ty đứng đầu với các công ty thành viên khác và giữa các công ty thành viên khác với nhau tác động lớn đến mức độ lây truyền rủi ro cũng như tính an toàn của một đơn vị trong tập đoàn đến các đơn vị còn lại.
Tuy nhiên, cả 3 mô hình đều có điểm chung lớn nhất, đó là vai trò hạt nhân của ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì ngân hàng có những đặc trưng lợi thế hơn hẳn các công ty khác về các mặt: chức năng hoạt động ngân hàng đảm bảo tốt hơn cho quá trình quản trị tài chính, quy mô và phạm vi hoạt động rộng hơn trong lĩnh vực tài chính và mức độ quan hệ với các chủ thể trên thị trường, đội ngũ cán bộ mang tính chuyên nghiệp hơn,… Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Vì vậy, hiện nay, các tập đoàn tài chính – ngân hàng chủ yếu do các ngân hàng cỡ lớn đứng đầu. Vị thế của ngân hàng này trước hết biểu hiện ở biểu tượng (logo) của tập đoàn và ở khả năng chi phối hướng phát triển của các công ty con trong tập đoàn. Các ngân hàng lớn thường là những chủ thể chủ động mua các tổ chức tài chính khác. Sau quá trình sáp nhập, công ty bị sáp nhập chấm dứt sự tồn tại, tên và logo sẽ được thay thế bằng tên và logo của tập đoàn (thực chất là của ngân hàng nhận sáp nhập).
Trong 2 mô hình: mô hình quan hệ công ty mẹ – công ty con và mô hình công ty sở hữu tài chính, quyền quản lý cả tập đoàn thuộc về công ty đứng đầu thông qua mối quan hệ về vốn. Công ty mẹ trong mô hình công ty sở hữu tài chính không nhất thiết phải tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh riêng nào đó mà tập trung vào quản lý chung các vấn đề của cả tập đoàn. Việc quản lý tập trung trong mô hình công ty sở hữu tài chính mang lại hiệu quả cao hơn nên hiện nay, mô hình này được sử dụng phổ biến trên thế giới.
Tất cả các bộ phận trong tập đoàn được quản trị thống nhất và tập trung theo ngành dọc, bao gồm: Hội đồng quản trị, Hội đồng điều hành, Uỷ ban kiểm toán, Uỷ ban quản lý rủi ro và các uỷ ban khác. Hội đồng quản trị tập đoàn chỉ kiểm soát về mặt tài chính, chiến lược đầu tư thông qua các đòn bẩy kinh tế. Các công ty thành viên hoàn toàn chủ động trong việc quyết định hoạt động kinh doanh của mình. Các công ty thành viên có ban quản trị và ban giám đốc riêng để lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động riêng của công ty đó theo định hướng và chiến lược chung của cả tập đoàn. Các thành viên trong Hội đồng quản trị và các uỷ ban chức năng hoạt động theo tôn chỉ và mục đích chung đã được các bên thống nhất từ trước và đa số theo cơ chế kiêm nhiệm. Chính nhờ mô hình chặt chẽ và rõ ràng như vậy, do đó, dù có cơ cấu phức tạp đến đâu và dù có thay đổi nào (sáp nhập, hợp nhất, chia, tách), tập đoàn vẫn duy trì hoạt động ổn định và giữ chân được khách hàng.
4.3. Quy mô lớn
Các tập đoàn tài chính – ngân hàng có quy mô rất lớn về vốn, tổng tài sản và mạng lưới hoạt động cả trong nước và nhiều quốc gia trên thế giới. Với quy mô vốn lớn và tài sản khổng lồ, các tập đoàn tài chính luôn khẳng định được uy tín và vị thế của mình trên thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của tập đoàn trước các đối thủ cạnh tranh.
Trong một tập đoàn tài chính – ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu và tiềm lực tài chính đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo cho tập đoàn phát triển lâu dài. Nguồn vốn của công ty mẹ phải đủ mạnh để:
- Thứ nhất, cung cấp và phân bổ vốn cho các công ty con trong tập đoàn
- Thứ hai, đủ khả năng đầu tư cho các chương trình và dự án phát triển sản phẩm mới, tăng cường trang thiết bị và công nghệ hiện đại. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
- Thứ ba, cho phép mở rộng trụ sở, các chi nhánh và văn phòng nhằm bắt kịp với sự phát triển của thị trường, mở rộng địa bàn phục vụ, đa dạng các đối tượng khách hàng.
Quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của tập đoàn tài chính – ngân hàng rất lớn, và chiếm tỷ lệ đáng kể trong GDP.
Bảng 1 : Quy mô của một số ngân hàng lớn trên thế giới
Quy mô về tổng tài sản của các tập đoàn tài chính – ngân hàng không ngừng tăng mạnh, đạt được những con số khổng lồ.
Bảng 2 : Quy mô tập đoàn tài chính trong 100 tập đoàn kinh tế lớn nhất thế giới theo giá trị tài sản (tháng 3/2023)
Trong 100 tập đoàn kinh tế lớn nhất thế giới về tổng tài sản tháng 3/2023, đã có đến 88 tập đoàn tài chính, chiếm gần 95% tổng tài sản của cả 100 tập đoàn. Hơn thế nữa, trong số 100 tập đoàn này, có 21 tập đoàn có giá trị tài sản lên tới hơn 1000 tỷ USD, điều đặc biệt là tất cả 21 tập đoàn này đều thuộc khu vực tài chính và có tổng giá trị tài sản chiếm gần 50% giá trị tài sản của 100 tập đoàn lớn nhất. Điều đó đã cho thấy sự lớn mạnh chưa từng thấy của lĩnh vực tài chính – ngân hàng trong nền kinh tế toàn cầu.
Tổng tài sản của 10 tập đoàn tài chính – ngân hàng lớn nhất thế giới tăng liên tục cùng với sự đổi ngôi của những gã khổng lồ trong hệ thống các tập đoàn tài chính thế giới qua các năm 1985, 1995 và đầu năm 2023. Năm 1985, đó là thời đại của Citicorp với 167 tỷ USD, 10 năm sau Duetsche Bank dẫn đầu với 503 tỷ USD và gần đây, vào tháng 3/2023, vị trí cao nhất thuộc về tập đoàn tài chính Barclays với 1.949 tỷ USD. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Bảng 3: Tổng tài sản của Top 10 tập đoàn tài chính – ngân hàng lớn nhất thế giới
4.4. Dịch vụ tài chính đa dạng
Bên cạnh các dịch vụ ngân hàng cốt lõi, tập đoàn tài chính – ngân hàng còn cung cấp một danh sách rất rộng các dịch vụ tài chính khác như: chứng khoán, quản lý tài sản, tài trợ tài chính tiêu dùng, bảo hiểm,… Các dịch vụ tài chính phi ngân hàng này do các công ty con của tập đoàn cung cấp, có liên quan chặt chẽ tới hoạt động ngân hàng và mang lại lợi ích chung cho tập đoàn như: cải thiện khả năng cung cấp và hạ giá thành dịch vụ.
Hơn thế nữa, các hoạt động và dịch vụ tài chính đang chuyển từ phương thức truyền thống là tập trung vào sản phẩm (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán) sang phương thức tập trung vào khách hàng, “không phải cung cấp cái mình có mà cung cấp cái khách hàng cần”. Với phương thức này, sản phẩm của tập đoàn tài chính được phân chia theo đối tượng khách hàng: cá nhân và doanh nghiệp nhỏ (bán lẻ), các công ty lớn (bán buôn) và cá nhân giàu có. Khách hàng có nhu cầu ngày càng tăng, đặc biệt là xu hướng về những dịch vụ tài chính trọn gói.
Trong các đối tượng khách hàng trên, tập trung vào phục vụ khối khách hàng cá nhân đang là xu hướng kinh doanh mới của các tập đoàn tài chính – ngân hàng. Một trong những nguyên nhân chính là do sự tiến bộ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, giúp ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ hàm lượng công nghệ cao đáp ứng nhu cầu đòi hỏi về tính tiện dụng và tiết kiệm cho khách hàng cá nhân: như dịch vụ ngân hàng trực tuyến (online banking), ngân hàng qua điện thoại (phone banking),…
Ngoài ra, sự lớn mạnh không ngừng của thị trường vốn đã tạo ra sự dịch chuyển các khách hàng doanh nghiệp lớn sang thị trường chứng khoán, đó là mảnh đất màu mỡ cho các công ty chứng khoán – công ty con của tập đoàn khai thác, trong việc cung ứng các dịch vụ liên quan tới chứng khoán như môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành,…..
Có thể tóm tắt hệ thống các dịch vụ mà một tập đoàn tài chính – ngân hàng điển hình cung cấp cho khách hàng của mình:
Dịch vụ tài chính đa dạng không chỉ xuất phát từ nhu cầu ngày càng cao của mạng lưới khách hàng rộng lớn, mà còn từ nhu cầu của chính ngân hàng về mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và phân tán rủi ro về dòng tiền và nguồn thu nhập. Khi ngân hàng thực hiện việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình sang các lĩnh vực hoạt động tài chính khác, tạo ra tính đa dạng hoá sản phẩm. Theo đó, tập đoàn có dòng tiền mới khác dòng tiền hiện tại. Dòng tiền và nguồn thu nhập được đa dạng hoá giúp tăng tính ổn định và có khả năng chống lại những biến động lớn trong môi trường cạnh tranh gay gắt.
5. Vai trò của tập đoàn tài chính – ngân hàng đối với nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng
Tập đoàn tài chính là một thành phần không thể thiếu, là đặc trưng cơ bản ở những nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển. Nếu như ở những nước công nghiệp phát triển, tập đoàn tài chính đã hình thành từ cuối thế kỷ và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay, thì ở các nước mới công nghiệp hoá, loại hình kinh tế này đang dần khẳng định vai trò quan trọng.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế tài chính sâu sắc, ở những nền kinh tế mới nổi, xây dựng tập đoàn tài chính là giải pháp để bảo vệ ngành tài chính trong nước, cạnh tranh với các tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới, có mạng lưới hoạt động rộng khắp. Hơn nữa, trong những điều kiện cụ thể, dưới sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước, định hướng chiến lược đúng đắn, các tập đoàn tài chính ở các thị trường mới còn có thể vươn ra khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Tập đoàn hoá các tổ chức tài chính sẽ giúp tăng cường sức mạnh kinh tế và tăng khả năng cạnh tranh của từng công ty thành viên trong tập đoàn. Việc hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng cho phép phát huy lợi thế kinh tế theo quy mô, khai thác triệt để sức mạnh thương hiệu. Các công ty thành viên trong tập đoàn sẽ có những mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện hoạt động kinh doanh theo phương hướng và chiến lược thống nhất nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Ngoài ra, sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau và cùng chia sẻ các nguồn lực giữa các tổ chức tài chính thành viên không những giúp tăng cường sức mạnh mà còn tận dụng tổng lực của tập đoàn, nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
Hình thành tập đoàn tài chính là một đòi hỏi thực tế khách quan của sự hạn chế về vốn của các công ty cá biệt thông qua cơ chế tập trung và phân phối vốn. Vốn của tập đoàn được huy động từ các công ty thành viên, từ đó tập trung đầu tư vào các dự án lớn và hiệu quả nhất của tập đoàn. Khi một công ty con nào đó trong tập đoàn gặp khó khăn về vốn, sẽ nhận được sự trợ giúp từ việc phân phối nguồn vốn của công ty mẹ hoặc từ các công ty con khác có tiềm lực tài chính mạnh. Nhờ vậy, các thành viên trong tập đoàn tài chính liên kết với nhau chặt chẽ hơn và phát huy tối đa hiệu quả nguồn vốn.
Hình thành tập đoàn tài chính còn là giải pháp hữu hiệu, tích cực đẩy nhanh việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới vào hoạt động của các công ty thành viên, mà nếu như đứng một mình, các công ty riêng biệt sẽ khó có khả năng thực hiện được.
Cuối cùng, việc hình thành tập đoàn còn có ý nghĩa tăng cường hiệu quả quản lý, đồng thời kết hợp được giữa ưu thế của sự chuyên môn hoá trong từng thực thể thành viên với các hoạt động kinh doanh đa dạng trên quy mô tập đoàn.
Tựu chung, các tập đoàn tài chính – ngân hàng là một phần không thể thiếu, và có vai trò ý nghĩa quan trọng trong toàn hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung ở mỗi một quốc gia. Việc hình thành và phát triển tập đoàn tài chính – ngân hàng lớn mạnh luôn là mục tiêu chiến lược của các định chế tài chính, nhất là các ngân hàng nhằm tăng sức mạnh nội lực, nâng cao sức cạnh tranh, để sống sót và phát triển trong một thị trường tài chính đầy biến động. Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Khóa luận: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng ở VN […]