Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa Luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Triển vọng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng và kinh nghiệm từ một số nước Châu Âu dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG ngân hàng thương mại VIỆT NAM

Ngành ngân hàng nước ta ra đời cách đây hơn 50 năm trong cơ chế kế hoạch hoá, chỉ giữ vai trò thứ yếu, hỗ trợ cho các ngành kinh tế khác và là công cụ để thực hiện các chính sách tiền tệ của Chính phủ.

Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1998 về tổ chức bộ máy ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là “khúc dạo đầu” cho việc hình thành ngân hàng 2 cấp – một mốc son trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo đó, ngân hàng nhà nước có chức năng quản lý hoạt động tiền tệ, tín dụng; các tổ chức tín dụng trực tiếp thực hiện các hoạt động huy động vốn, cung ứng tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác.

Ngày 2/12/1997, Quốc hội khoá X thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức tín dụng (hai Luật này lần lượt đã được sửa đổi bổ sung vào ngày 17/6/2020 và 15/6/2021), đã tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ nhất từ trước tới này cho hoạt động ngân hàng. Theo đó, hàng loạt các cơ chế, chính sách mới đã được ban hành, đảm bảo cho việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ đạt hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng kinh doanh theo cơ chế thị trường và theo thông lệ quốc tế. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Năm 2017, Chính phủ quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội, cùng với Quỹ Hỗ trợ Phát triển (sau này là Ngân hàng Phát triển Việt Nam), đã giúp tách chức năng cho vay chính sách ra khỏi ngân hàng thương mại nhà nước, nhờ đó, các ngân hàng thương mại này có điều kiện tập trung vào các hoạt động kinh doanh ngân hàng theo cơ chế thị trường.

Quyết định số 84/2021/QĐ-TTg ngày 13/5/2021 đã chọn 2 ngân hàng thương mại nhà nước thí điểm cổ phần hoá vào 2023 là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long. Vừa qua, ngày 26/9/2023 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, và ngân hàng này đã trở thành ngân hàng thương mại đầu tiên được cổ phần hóa.

Cho đến nay, nước ta đã thiết lập được hệ thống các tổ chức tín dụng khá lớn mạnh về quy mô và đa dạng về sở hữu, trong đó các ngân hàng thương mại giữ vai trò chủ chốt trong toàn hệ thống với 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 35 ngân hàng thương mại cổ phần trong đó có 31 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và 4 ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, bên cạnh là 1 Ngân hàng Phát triển Việt Nam, 1 Ngân hàng Chính sách Xã hội, 1 Quỹ tín dụng Trung Ương, 37 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 9 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính và 50 VPĐD ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Thuê Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Tài Chính Ngân Hàng

II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ngân hàng thương mại VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

1 Những thành tựu đạt được

1.1 Ngân hàng thương mại nhà nước

Nhìn chung, ở một mức độ nhất định, đã có một số dấu hiệu và đặc điểm cơ bản của tập đoàn tài chính – ngân hàng hội tụ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam, mà đặc biệt là ở các ngân hàng thương mại nhà nước. Đó là những dấu hiệu, đặc điểm liên quan đến năng lực tài chính, mạng lưới hoạt động và nhất là xu hướng mở rộng các hoạt động ra khỏi phạm vi kinh doanh của ngân hàng, để thực hiện các dịch vụ tài chính phi ngân hàng như chứng khoán, bảo hiểm.

Năng lực tài chính

Các ngân hàng thương mại Việt Nam có tổng tài sản tăng liên tục với tốc độ nhanh trong những năm gần đây, đồng thời các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục khẳng định vị thế chủ lực của mình trong toàn hệ thống. Cuối năm 2023, tổng tài sản của 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất đạt hơn 720 nghìn tỷ đồng (tương đương 47 tỷ USD), tăng 162% so với năm 2018.

Bảng 4: Tổng tài sản 4 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam giai đoạn 2018-2023

Vị trí hàng đầu của các ngân hàng thương mại nhà nước còn được thể hiện trên phương diện thị phần huy động và cho vay. Vào cuối năm 2023, dư nợ cho vay cũng như vốn huy động được của các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn chiếm khoảng 70% của toàn hệ thống ngân hàng, các ngân hàng thương mại cổ phần và các ngân hàng nước ngoài cùng chiếm khoảng trên dưới 10% thị phần. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Về hiệu quả hoạt động kinh doanh, 4 ngân hàng thương mại nhà nước vẫn dẫn đầu về hiệu quả hoạt động kinh doanh trên toàn hệ thống. Năm 2023, theo báo cáo tài chính của 4 ngân hàng thương mại nhà nước, lợi nhuận trước thuế cao nhất thuộc về Vietcombank với 3.894 tỷ đồng, thứ hai thuộc về Agribank 1.710 tỷ đồng, thứ ba là BIDV với 1.206 tỷ đồng, thứ tư là Incombank. Trong khi đó, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng thương mại cổ phần lớn và bậc trung tại thời điểm cuối năm 2023 là từ 100 đến tỷ đồng, trong đó cao nhất là ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu với mức lợi nhuận là tỷ đồng.

Trong năm 2022, các ngân hàng thương mại nhà nước đã được Nhà nước bổ sung thêm 12.500 tỷ đồng để tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng này. Trong năm 2023, Nhà nước cho phép mở thêm các đợt phát hành trái phiếu tăng vốn cho các ngân hàng thương mại nhà nước, điều đó cải thiện chỉ số an toàn vốn tiến gần tới thông lệ quốc tế (8%) như BIDV với 2 đợt phát hành trái phiếu dài hạn đạt tổng giá trị trái phiếu phát hành hơn 3.100 tỷ đồng, Agribank với 3000 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn. 9 tháng đầu năm 2023, 2 ngân hàng là Vietcombank và MHB tiếp tục có hệ số an toàn vốn đạt trên 8%, lần lượt là 8,5% và 9,02% và có thêm Incombank với CAR là 11%. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã cho phép thực hiện cổ phần hoá tất cả 5 ngân hàng thương mại nhà nước.

Những kết quả hoạt động kinh doanh khả quan này khiến cho ngân hàng thương mại nhà nước trở thành đối tượng có triển vọng nhất để xây dựng thành những tập đoàn tài chính – ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam.

Mạng lưới hoạt động rộng khắp nước Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Với thế mạnh về vốn sở hữu lớn nhất trong toàn hệ thống ngân hàng, các ngân hàng thương mại nhà nước không ngừng mở rộng mạng lưới hoạt động trải khắp nước với rất nhiều chi nhánh và phòng giao dịch phục vụ mọi loại hình kinh doanh của nền kinh tế, mọi tầng lớp dân cư từ người nông dân đến các doanh nhân thành đạt. Mạng lưới kinh doanh rộng là điểm mạnh lớn nhất của các ngân hàng nội địa so với các chi nhánh ngân hàng nhà nước, ngân hàng con 100% vốn nước ngoài sắp hiện diện tại Việt Nam.

Bảng 5: Mạng lưới hoạt động của 4 ngân hàng thương mại nhà nước

Đó là lợi thế của ngân hàng thương mại nhà nước trong việc xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng. Mà chính các chi nhánh ngân hàng là đơn vị trực tiếp giao dịch, cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. (Điều này được phân tích rõ trong phần I.Chương III)

Mở rộng cung ứng các dịch vụ phi ngân hàng

Các ngân hàng thương mại nhà nước thời gian qua đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng phạm vi hoạt động sang các lĩnh vực tài chính phi ngân hàng và do đó, trở thành nhóm ngân hàng Việt Nam có nhiều công ty con nhất, hoạt động trong nhiều lĩnh vực cả tài chính và phi tài chính.

Tính đến cuối năm 2023, tổng cộng 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất đã thành lập được 22 công ty con trong lĩnh vực tài chính phi ngân hàng (5 công ty chứng khoán, 4 công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, 6 công ty cho thuê tài chính, 4 công ty tài chính, 2 công ty bảo hiểm và 1 công ty tài chính hoạt động ở HongKong). Trong khi đó, 4 ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu là ACB, Sacombank, EAB và Southern Bank thì có tổng cộng 11 công ty con thuộc các lĩnh vực tài chính phi ngân hàng.

Việc mở rộng hoạt động sang các dịch vụ tài chính phi ngân hàng của các ngân hàng thương mại nhà nước cũng như của một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn nằm trong chiến lược phát triển của ngành ngân hàng, không những cung cấp trọn gói cho khách hàng, đồng thời góp phần tăng thu nhập của toàn ngân hàng.

Chiến lược bành trướng sự hiện diện của ngân hàng ở các lĩnh vực tài chính khác là một trong những tiền đề, phương án nhằm hình thành những tập đoàn tài chính – ngân hàng trong tương lai, mà đã được một số ngân hàng hàng đầu tính tới như BIDV, Vietcombank,…

1.2. Ngân hàng thương mại cổ phần Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Trong vài năm trở lại đây, các ngân hàng thương mại cổ phần đã có những thành tích tăng trưởng vượt bậc và được đánh giá là những chủ thể năng động nhất trên thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam. Sự tăng trưởng nóng này thúc đẩy quá trình xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng thông qua hình thức sáp nhập và mua lại, tự thiết lập các công ty con, được dự báo là sẽ bùng phát trong tương lai gần.

Vốn điều lệ không ngừng tăng trưởng

Cuộc chạy đua tăng vốn điều lệ được khởi động vào cuối năm 2020 và đến nửa đầu năm 2021 bắt đầu bùng phát với việc hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần đều tuyên bố tăng vốn điều lệ. Từ 2021 đến 2023, các ngân hàng thương mại cổ phần đã có tốc độ tăng vốn điều lệ rất nhanh, trong 5 ngân hàng thương mại cổ phần được khảo sát (ACB, Sacombank, EAB, VIB, Southern Bank). Southern Bank có tốc độ tăng cao nhất với 303% và thấp nhất là ACB với 130%. Thời điểm cuối năm 2023, Sacombank đứng đầu khối ngân hàng thương mại cổ phần về vốn điều lệ với 2.089 tỷ đồng.

Biểu 2: Vốn điều lệ các ngân hàng thương mại cổ phần giai đoạn 2021-2023

Tuy nhiên, Ngân hàng An Bình là ngân hàng có tốc độ tăng vốn điều lệ nhanh nhất trong năm 2023, khi mà vào đầu năm chỉ có 165 tỷ đồng đã tăng lên 1.132 tỷ đồng vào cuối năm 2023, đến tháng 9/2023, vốn điều lệ đã đạt 2.300 tỷ đồng. Vừa qua, sau đợt phát hành cổ phiếu, từ ngày 25/5/2023, vốn điều lệ của ACB đã tăng lên đạt mức 2.530 tỷ đồng, vượt qua Sacombank và trở thành ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Vốn điều lệ tăng lên, nhờ đó tính an toàn trong hoạt động của các ngân hàng cũng được nâng cao, thể hiện qua hệ số an toàn vốn ngày được tăng lên. Hầu như tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần đều đạt hoặc cao hơn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo thông lệ quốc tế (8%).

Việc tăng vốn còn là điều kiện tiên quyết để một ngân hàng mở rộng mạng lưới (thỏa mãn được yêu cầu về vốn, tăng thêm 20 tỷ đồng để mở một chi nhánh, theo Quyết định 888 của ngân hàng nhà nước năm 2023). Hơn nữa, cuộc đua tăng vốn điều lệ tại các ngân hàng thương mại cổ phần càng “nóng” lên sau khi Chính phủ ra Nghị định 141/2023/NĐ-CP quy định đến năm 2008, mức vốn điều lệ tối thiểu đối với các ngân hàng thương mại cổ phần là 1.000 tỷ đồng và đến năm 2010 sẽ là 3.000 tỷ đồng.

Vốn điều lệ không ngừng tăng lên thông qua phát hành cổ phiếu là một minh chứng cho thấy uy tín của ngân hàng đã tăng cao khi ngân hàng hoạt động ngày càng lành mạnh và có hiệu quả.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh và chất lượng tín dụng ngày càng cao

Các ngân hàng thương mại cổ phần đã đạt được kết quả kinh doanh hết sức khả quan, đặc biệt là 9 tháng đầu năm 2023, các ngân hàng có tốc độ bứt phá nhanh và mạnh về lợi nhuận, trong khi vẫn duy trì được mức nợ quá hạn dưới 1% tổng dư nợ. Ngân hàng Á Châu vẫn dẫn đầu khối ngân hàng thương mại cổ phần với lợi nhuận trước thuế 9 tháng 2023 là 1.470 tỷ đồng (gấp hơn 2,5 lần lợi nhuận của cả năm 2023, 687 tỷ đồng); tiếp theo là ngân hàng Sacombank với 1.006 tỷ đồng (năm 2023 là tỷ đồng); Techcombank 492 tỷ đồng; Eximbank 473 tỷ đồng (gấp gần 1,5 lần so với lợi nhuận trước thuế của cả năm ngoái). Eximbank là một trường hợp đáng ghi nhận, khi từ một ngân hàng bị đưa vào tầm kiểm soát đặc biệt của ngân hàng nhà nước cách đây 6 năm đã vươn lên đứng vào top các ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam. Các ngân hàng thương mại cổ phần bậc trung cũng có bước nhảy tương đối ấn tượng về lợi nhuận như VIB Bank với 310 tỷ đồng, SBC 254 tỷ đồng. Nhờ đó, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã đạt hệ số ROE từ 17%-18%, trong đó có một số ngân hàng đạt trên 30%.

Mặt khác, các ngân hàng thương mại cổ phần đã đạt được thành tích nổi bật trong việc đảm bảo an toàn và lành mạnh hơn chất lượng tín dụng. Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần từ cao nhất trong toàn hệ thống vào năm 2021 với 5,42% đã giảm mạnh trong năm 2022 xuống còn 2,15% và tiếp tục giảm vào cuối năm 2023 còn 1,96%, đặc biệt ngân hàng thương mại cổ phần Eximbank đạt được tiến bộ vượt bậc khi tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 0,85%. Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu của khối ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng liên doanh cũng như chi nhánh ngân hàng nước ngoài hầu như đều tăng trong giai đoạn vừa qua. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Bảng 6: Tình trạng nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023

Đa dạng hoá kênh phân phối và dịch vụ ngân hàng, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại.

Tiềm lực tài chính ngày càng mạnh đã giúp cho các ngân hàng thương mại cổ phần không ngừng đầu tư, mở rộng kênh phân phối sản phẩm đến khách hàng; đồng thời phát triển sản phẩm công nghệ hiện đại để gia tăng tiện ích cho người sử dụng.

Về các kênh phân phối truyền thống, các ngân hàng không ngừng tăng quy mô các chi nhánh và phòng giao dịch. Tốc độ phát triển mạng lưới của các ngân hàng thương mại cổ phần khá cao, với mức bình quân trên 35% trong 3 năm 2020-2023. Đến năm 2023, một số ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn đều có từ 60 – 100 chi nhánh và phòng giao dịch.

Hệ thống kênh phân phối ở các ngân hàng thương mại nước ta nói chung và các ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng đang được chuyển dần từ chủ yếu bằng kênh truyền thống là mạng lưới chi nhánh và điểm giao dịch ở hầu hết các tỉnh, thành, quận, huyện trên cả nước sang việc mở rộng và đầu tư nhiều hơn các kênh phân phối mới, như máy ATM, máy POS, giao dịch tận nhà và các kênh phân phối điện tử viễn thông như internet banking, mobile banking,… Các kênh phân phối từ đó tạo ra sản phẩm dịch vụ mới và đều dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại.

Đến cuối tháng 6/2023, cả nước có trên 20 ngân hàng thương mại phát hành thẻ nội địa, NHTM phát hành thẻ quốc tế; số lượng thẻ xấp xỉ 6,2 triệu thẻ; số lượng máy ATM trong toàn hệ thống là 2.200 máy, tổng số điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) đã lên tới 21.875 điểm tại các nhà hàng, siêu thị….. Ngân hàng Đông Á dẫn đầu khối ngân hàng thương mại cổ phần và Vietcombank dẫn đầu toàn ngành ngân hàng về dịch vụ thẻ. Dự kiến cuối năm 2008 sẽ hoàn tất việc kết nối toàn bộ hệ thống ATM của các liên minh thẻ trên toàn quốc. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Mặt khác, các ngân hàng đã có những nỗ lực bước đầu trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng thu phí bên cạnh các sản phẩm cho vay truyền thống thu lãi. Các dịch vụ thu phí đang được đẩy mạnh cung cấp là: thanh toán, bảo lãnh, ngân quỹ, đại lý,…Theo báo cáo của một số ngân hàng thương mại, thu nhập từ phí dịch vụ đã tăng lên với tốc độ khá, nhanh nhất là ACB, với mức thu trong năm 2023 là 148 tỷ đồng, tăng hơn 52,5% so với năm 2022, nhưng thu nhập cao nhất từ dịch vụ thu phí thuộc về ngân hàng Vietcombank với 548 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2022.

Biểu 4: Tốc độ tăng thu nhập từ phí dịch vụ của các ngân hàng qua 3 năm 2021-2023

Như vậy, các ngân hàng thương mại cổ phần đã có những bước tiến khá chắc chắn và đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt về vốn điều lệ không ngừng tăng trưởng nhanh là điều kiện tiền đề cho việc mở rộng mạng lưới hoạt động, đa dạng hoá sản phẩm, tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ hiện đại,…Hơn nữa, các ngân hàng thương mại cổ phần còn cải thiện được năng lực quản trị điều hành do có sự hỗ trợ nhiệt thành từ phía các đối tác nước ngoài. Các ngân hàng thương mại cổ phần đang từng bước tự hoàn thiện và phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, cũng như chuẩn bị những điều kiện tự thân ban đầu để xây dựng ngân hàng thành tập đoàn tài chính – ngân hàng cạnh tranh tốt không chỉ trên “sân nhà” mà còn ở phạm vi khu vực và thế giới trong tương lai.

1.3. Xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết đang được tăng cường Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Một là, làn sóng các ngân hàng nội địa và các tổ chức tài chính nước ngoài mua cổ phần, trở thành cổ đông chiến lược của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Tính đến nay có 2 ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam là Sacombank và ACB có các cổ đông là ngân hàng và tập đoàn tài chính nước ngoài nắm giữ 30% vốn cổ phần. ANZ của Australia chi ra 27 triệu USD để sở hữu 10% vốn cổ phần tại Sacombank, 20% của 2 đối tác nước ngoài khác là công ty tài chính quốc tế IFC thuộc WB và Dragon Financial Holdings của Anh. Standard Chartered Bank của Anh mua 8,56% cổ phần của ACB với số tiền chi ra 22 triệu USD, hơn 21% vốn cổ phần của đối tác nước ngoài còn lại thuộc về Connaught Investor (thuộc Jardine Mutheson Group) và IFC thuộc WB.

Bên cạnh đó OCBC của Singapore mua 10% vốn cổ phần của ngân hàng thương mại cổ phần ngoài quốc doanh (VP Bank) với số tiền chi ra 15,7 triệu USD. BNP Paris của Pháp mua 10% vốn cổ phần của ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông (OCB). Hongkong and Shanghai Banking Corporation (HSBC) chi ra 17,3 triệu USD để mua 10% vốn cổ phần của ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương (Techcombank). Các ngân hàng nước ngoài này cũng sẽ nâng tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần tại 3 ngân hàng thương mại cổ phần nói trên lên tới tỷ lệ 20% giới hạn tối đa cho một nhà đầu tư nước ngoài. Một số ngân hàng thương mại cổ phần khác như Eximbank, Nam Á, Đông Á cũng đang trong giai đoạn cuối đàm phán bán cổ phần cho ngân hàng nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Hiện nay, nhiều tập đoàn chứng khoán tài chính và ngân hàng nổi tiếng trên thế giới của Mỹ, Nhật Bản,… đang tìm kiếm cơ hội trở thành cổ đông lớn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Hoạt động góp vốn mua cổ phần hoặc tham gia sáng lập các ngân hàng nội địa khác cũng là mục tiêu của ngân hàng thương mại Việt Nam. ACB cũng vừa mới tham gia góp vốn trở thành một trong những cổ đông lớn của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín với vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng.

Làn sóng này đã và đang tạo cơ hội tốt cho các ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao tiềm lực tài chính, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, nâng cao khả năng quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển các dịch vụ ngân hàng mới (nhất là các dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao) thông qua các hỗ trợ kỹ thuật. Từ đó, các ngân hàng trở nên mạnh và vững hơn, có đủ năng lực hơn để giữ vai trò là ngân hàng mẹ. Thu hút đầu tư của các tổ chức tài chính hàng đầu thế giới là một bước đi chiến lược của các ngân hàng có tầm nhìn phát triển thành tập đoàn tài chính – ngân hàng.

Hai là, đẩy mạnh hợp tác thành lập ngân hàng liên doanh và công ty liên doanh

Hiện nay, ở Việt Nam có 6 Ngân hàng liên doanh giữa các ngân hàng thương mại của Việt Nam với nước ngoài, đó là Indovina Bank, Chohung Vina Bank, VID Public Bank, Vinasiam Bank, Ngân hàng liên doanh Lào – Việt và mới đây nhất là Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga. Có 3 công ty liên doanh cho thuê tài chính, 2 công ty liên doanh bảo hiểm giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam với nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Bên cạnh đó, Công ty quản lý quỹ và đầu tư chứng khoán (VFM) là liên doanh giữa Sacombank với Dargon Fund. Một quỹ đầu tư chứng khoán tương tự cũng đã được thành lập giữa một đối tác nước ngoài và Vietcombank. Một quỹ đầu tư liên doanh giữa Agribank với một đối tác của Mỹ cũng đã được thành lập.

Các công ty này góp phần tạo thành một hệ thống công ty con, liên doanh, liên kết xung quanh ngân hàng mẹ, hỗ trợ ngân hàng mẹ trong việc cung ứng trọn gói sản phẩm cho khách hàng. Như vậy, đã có những dấu hiệu tích cực đầu tiên chứng tỏ các ngân hàng thương mại Việt Nam nhận thức được tính tất yếu của tập đoàn tài chính – ngân hàng và cũng đã có những hành động củ thể để xây dựng ngân hàng mình theo mô hình tập đoàn.

Ba là, Các thỏa thuận hợp tác kinh doanh toàn diện

Có thể kể ra hợp tác giữa Agribank với ABBank, và SCB trên các lĩnh vực quan hệ thanh toán, vốn, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế, kinh doanh chứng khoán…; giữa Sacombank và một số ngân hàng với nhiều hạn mức giao dịch tương hỗ, hợp đồng tổng quát về tiền gửi, đẩy mạnh liên kết hợp tác với các ngân hàng để mở rộng các kênh phân phối dịch vụ, cung ứng nhiều tiện ích cho khách hàng. Và mới đây nhất là ký kết giữa Vietcombank với GiaDinhBank thực hiện chương trình tăng vốn, công nghệ, phát triển dịch vụ.

Hơn nữa, vào tháng 9 vừa qua, 3 ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam, gồm Sacombank, MB và Habubank đã ký thỏa thuận hợp tác kinh doanh toàn diện. Qua thỏa thuận này, các ngân hàng trên sẽ hợp tác với nhau triển khai dịch vụ cho khách hàng vay vốn theo hình thức đồng tài trợ hoặc ủy thác cho vay phù hợp với mức độ chấp nhận rủi ro của mỗi bên; nâng cao hạn mức tiền gửi lẫn nhau mà không cần tài sản đảm bảo lên tới 1.000 tỷ đồng, các bên sẽ cùng khai thác mạng lưới giao dịch của nhau để thực hiện liên kết chuyển tiền nhanh và thanh toán song phương, cũng như nghiên cứu kết nối hệ thống thanh toán thẻ……. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Bên cạnh liên kết, hợp tác giữa các ngân hàng với nhau, thời gian gần đây thị trường tài chính còn chứng kiến sự liên kết, hợp tác chiến lược và toàn diện giữa các ngân hàng với các tập đoàn kinh tế, các công ty lớn. Điển hình BIDV hợp tác với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Đóng tàu Việt Nam (Vinashin), FPT,…; Incombank ký hợp tác chiến lược toàn diện với FPT, Tập đoàn Công nghiệp than Việt Nam,…; VIB Bank ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện với Tổng công ty Bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI)…

Với thực tế hiện nay, có thể khẳng định rằng tính liên kết cùng phát triển giữa các ngân hàng nội, cũng như giữa ngân hàng với các tập đoàn kinh tế, công ty phi tài chính đang bắt đầu có quy mô lớn và sâu hơn, đó là những bước đi ban đầu của các ngân hàng Việt Nam trong nỗ lực phát triển thành tập đoàn tài chính – ngân hàng : “coi việc tăng cường tối đa sự hợp tác với các ngân hàng và các tổng công ty để phát triển quy mô và uy tín là tiền đề vững chắc cho mục tiêu trở thành tập đoàn tài chính – ngân hàng.

2. Những hạn chế và thách thức Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Để xây dựng thành công mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng có sức cạnh tranh, rất cần thiết phải nhận thức được những điểm yếu, những tồn tại so với ngân hàng quốc tế bên cạnh các điểm mạnh của hệ thống ngân hàng nước ta.

2.1. Sự hạn chế về năng lực tài chính

Năng lực tài chính của các ngân hàng Việt Nam còn yếu kém thể hiện thông qua các chỉ số vốn tự có, hệ số an toàn vốn, khả năng sinh lời, …. đã hạn chế sức cạnh tranh của các ngân hàng trước các tổ chức tài chính hàng đầu thế giới. Sự yếu kém về năng lực tài chính trong khối ngân hàng thương mại nhà nước là đáng báo động hơn so với khối ngân hàng thương mại cổ phần, bởi lẽ xét về tương quan giữa vốn với tài sản có rủi ro thì các ngân hàng khối cổ phần hơn hẳn các ngân hàng khối quốc doanh, mặc dù số vốn tự có của các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ hơn.

Vốn tự có của các ngân hàng thương mại đã được tăng lên đáng kể bởi những cuộc tăng vốn điều lệ nhưng vẫn còn rất nhỏ so với các ngân hàng và tập đoàn tài chính trong khu vực và trên thế giới. Trong khối ngân hàng thương mại nhà nước, năm 2023, lớn nhất là Agribank với số vốn là 6.617 tỷ đồng (khoảng 413 triệu USD) và nhỏ nhất là Vietcombank với vốn điều lệ là 4.357 tỷ đồng (xấp xỉ 272 triệu USD), chỉ bằng một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực. Còn phía các ngân hàng thương mại cổ phần, đến tháng 9/2023, ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất là ACB với 2.530 tỷ đồng (khoảng 158 triệu USD).

  • Phát biểu của Chủ tịch hội đồng quản trị Agribank Đỗ Tất Ngọc Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Thứ nhất, quy mô vốn ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của ngân hàng. Do đó, các ngân hàng thương mại trong nước với quy mô vốn nhỏ đã hạn chế rất nhiều khả năng mở rộng mạng lưới ra quốc tế, cũng như khả năng đầu tư phát triển công nghệ ngân hàng hiện đại, nhằm đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, mở rộng đối tượng khách hàng,…

Thứ hai, bởi quy mô vốn còn nhỏ, khả năng cung ứng vốn của ngân hàng cho nền kinh tế còn hạn chế. Tổng vốn tự có của 4 ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu khoảng 21.000 tỷ đồng, như vậy với điều kiện cho vay với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có theo quy định thì toàn bộ 4 ngân hàng thương mại nhà nước cũng chỉ cho vay hợp vốn cho một khách hàng tối đa khoảng 3.100 tỷ đồng – một số lượng quá ít cho các công trình trọng điểm của nền kinh tế.

Thứ ba, quy mô vốn nhỏ bé còn tạo ra rủi ro cao hơn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhất là khi tỷ lệ nợ xấu ở các ngân hàng quốc doanh vào năm 2023 còn ở mức khá cao là 4,8% tổng dư nợ. Do vậy, hệ số an toàn vốn của các ngân hàng quốc doanh nước ta thấp hơn hệ số an toàn vốn của nhiều ngân hàng trong khu vực Châu Á. Trong khi hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đều đã đặt mức an toàn vốn trên 8% thì cho đến nay 2 trong 4 ngân hàng thương mại nhà nước có tài sản lớn nhất hệ thống chưa đạt được mức chuẩn này.

Thứ tư, ngân hàng- một ngành được đánh giá là ngành kinh doanh niềm tin. Liệu khách hàng có tin tưởng, đặt niềm tin vào một ngân hàng mà có năng lực tài chính thấp hay không.

2.2. Dịch vụ ngân hàng còn nghèo nàn Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

So với trước đây, cả chất lượng và số lượng dịch vụ ngân hàng đã tăng lên nhưng còn rất thấp so với mặt bằng chung của khu vực và thế giới.

Hiện nay, Vietcombank là ngân hàng có số lượng sản phẩm lớn nhất, tiếp theo là ACB với hơn 200 sản phẩm. Tuy nhiên, với số lượng như vậy vẫn chưa đủ khả năng để cạnh tranh với ngân hàng nước ngoài (với trên 6000 nghiệp vụ kinh doanh) khi họ vào Việt Nam, cũng như chưa thể đáp ứng được nhu cầu đặc thù của khách hàng.

Các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn tập trung quá lớn vào việc cung cấp các sản phẩm ngân hàng truyền thống: huy động vốn dưới dạng tiền gửi (chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động) và cấp tín dụng (chiếm trên 80% tổng thu nhập). Điều này cũng chứng tỏ hoạt động ngân hàng Việt Nam chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn do tập trung quá nhiều vào hoạt động tín dụng, thay vì đa dạng hoá hoạt động để phân tán rủi ro.

Về chất lượng dịch vụ ngân hàng, những tiêu chuẩn chính để đánh giá là thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng nhanh chóng, an toàn, độ chính xác cao, thủ tục đơn giản và chi phí thấp, thì các ngân hàng Việt Nam đều thua kém ngân hàng nước ngoài. Tại các ngân hàng nước ngoài, khách hàng thường chỉ mất 3-5 phút là hoàn tất một giao dịch, nhưng tại các ngân hàng trong nước cũng với một dịch vụ như vậy, phải mất từ 8-10 phút, thậm chí là phút. Đây cũng là một nguyên nhân khiến cho khách hàng bắt đầu tìm đến các ngân hàng nước ngoài ngày một nhiều hơn. Theo kết quả điều tra của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, có 45% khách hàng sẽ chuyển sang vay vốn ngân hàng nước ngoài, 50% chọn dịch vụ ngân hàng nước ngoài, 50% chọn ngân hàng nước ngoài để gửi tiền. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Các ngân hàng trong nước chưa có sự liên kết chặt chẽ trong việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đặc biệt là các sản phẩm thẻ. Thẻ của ngân hàng nào chỉ thanh toán được trên hệ thống ATM và POS của ngân hàng đó, dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy làm”, gây không ít phiền hà cho khách hàng.

2.3. Nhân lực và cơ cấu tổ chức còn nhiều bất cập

Đây có thể được xem là một điểm yếu lớn nhất của ngân hàng Việt Nam hiện nay. Khắc phục được hạn chế này, ngân hàng đã nắm được chìa khóa để mở cánh cửa thành công của quá trình xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng. Vì vậy, rất cần thiết phải nhận dạng và gọi tên được những bất cập về nhân lực và cơ cấu tổ chức của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Hầu hết, các nhà quản trị của ngân hàng thương mại Việt Nam chưa được đào tạo nghề quản trị, mà chủ yếu thực hiện chức năng quản trị điều hành theo kinh nghiệm, nên tính chuyên nghiệp còn bất cập và cách quản trị chưa thực sự bài bản và khoa học. Trình độ quản lý kinh doanh và quản trị rủi ro còn non kém, cụ thể như: cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, năng lực thẩm định tín dụng yếu, hiện tượng tiêu cực trong cho vay còn phổ biến, hệ thống phân loại nợ chưa phù hợp, nguyên tắc kiểm tra kiểm soát thiếu chặt chẽ,… Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Hơn nữa, các ngân hàng chưa thực sự chú trọng vào các chính sách nhân sự nhằm thu hút và giữ người giỏi một cách hiệu quả. Bởi vì, hầu hết các ngân hàng chỉ nghĩ đến việc dùng tiền để giữ người và lấy người từ các ngân hàng khác. Đây là một sai lầm cơ bản. Vấn đề là ngân hàng phải có một chính sách nhân sự tốt để người lao động cảm thấy ngân hàng là ngôi nhà thứ hai. Như vậy, họ mới đặt trọn niềm tin, làm việc hằng say. Qua đó, niềm tin của nhân viên mới truyền đến khách hàng của ngân hàng.

Về cơ cấu tổ chức, đa số các ngân hàng thương mại Việt Nam có cơ cấu tổ chức theo mô hình truyền thống. Theo đó, việc phân định các phòng ban theo loại hình nghiệp vụ như: phòng tín dụng, phòng kinh doanh ngoại hối, phòng thanh toán quốc tế, phòng kế toán,…Trong khi đó, theo mô hình của các tập đoàn tài chính – ngân hàng trên thế giới, mô hình tổ chức được cấu trúc theo đối tượng khách hàng, nói cách khác là lấy khách hàng làm trung tâm phục vụ. Mô hình tổ chức phân loại phòng ban theo chức năng tỏ ra khá hiệu quả trong điều kiện quy mô hoạt động của các ngân hàng thương mại còn nhỏ bé. Song, trong tình hình hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam có quy mô hoạt động ngày càng rộng, khối lượng và tính chất công việc ngày càng phức tạp thì mô hình trên dần biểu hiện những điểm yếu và bất hợp lý như: chưa đem đến cho khách hàng sự hài lòng tối đa, vấn đề kiểm soát nội bộ chưa được chú trọng đúng mức, quản trị rủi ro còn nhiều bất cập, chưa hiệu quả,…

Theo ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ chiến lược phát triển Ngân hàng: “Hiện nay có nhiều tổng giám đốc các ngân hàng cũng không nắm được chính xác con số tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng mình – chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng, là chỉ tiêu thể hiện mức độ an toàn hay rủi ro tín dụng của ngân hàng. Điều này có nguy cơ rủi ro rất cao vì ngay cả chính ngân hàng mình mà cũng không thể kiểm soát nổi tình trạng nợ xấu tới mức nào và đã được cải thiện tới đâu”. Nguyên nhân của sự yếu kém này ngoài do trình độ quản lý hạn chế còn do các ngân hàng chưa thiết lập một hệ thống quản lý rủi ro, mà đảm bảo được cơ chế giám sát rủi ro độc lập, kiểm soát lẫn nhau nhằm cung cấp cho người trực tiếp chịu trách nhiệm quản trị rủi ro những thông tin cập nhật và đầy đủ nhất.

Nhìn chung, mô hình quản trị, điều hành của các ngân hàng thương mại nhà nước còn lạc hậu và có khoảng cách rất lớn so với hệ thống quốc tế. Hơn nữa, với cơ chế điều hành kiểu Tổng công ty thì các ngân hàng thương mại nhà nước sẽ không thể nào vượt ra khỏi những ràng buộc với những cơ chế và chính sách Nhà nước để phát triển được. Để xây dựng thành công mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng, các ngân hàng thương mại, nhất là các ngân hàng thương mại nhà nước tất yếu phải thay đổi mô hình tổ chức, dần khắc phục những bất cập này.

III: TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC XÂY DỰNG TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Như đã phân tích ở chương 1, việc hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng là xu thế chung và không thể tránh khỏi trong thời kỳ phát triển cao của dịch vụ tài chính ở nhiều nước trên thế giới. Việt Nam trong vị thế là một thành viên mới của tổ chức thương mại thế giới càng không thể đứng ngoài xu thế khách quan ấy. Quá trình tập đoàn hóa các định chế tài chính, nhất là các ngân hàng thương mại nhà nước nói riêng càng trở nên cấp thiết do năm nguyên nhân chính sau đây:

Thứ nhất: giúp gia tăng mức độ đóng góp của khu vực tài chính cho nền kinh tế: Tập đoàn tài chính ngân hàng xuất hiện với doanh thu và lợi nhuận lớn sẽ góp phần chủ yếu làm gia tăng tỷ trọng khu vực tài chính trong GDP một quốc gia. Các quốc gia phát triển thuộc nhóm OECD có tỷ trọng khu vực tài chính trong GDP khá cao (15 – 25%). Riêng ở Trung Quốc tỷ trọng này trong những năm gần đây là 20%. Còn Việt Nam, ngành Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ 1,81% GDP. Ngành tài chính có vai trò đặc biệt quan trong đối với nền kinh tế, nhất là đối với những nước chưa có kênh phân phối vốn hiệu quả như Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Sở dĩ như vậy là vì trong nền kinh tế, nếu hệ thống tài chính được vận hành tốt sẽ dẫn đến sự dịch chuyển hiệu quả của luồng vốn tiết kiệm vào đầu tư, đảm bảo khai thác hiệu quả các nguồn lực nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất có thể. Để trở thành một nước công nghiệp hóa, các định chế tài chính phải có quy mô tương xứng mới đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Thứ hai: làm đối trọng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài: trước thực tế từ ngày 1/4/2023, các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài chính thức được phép thành lập tại Việt Nam và được đối xử bình đẳng như các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước, hệ thống tài chính của nước ta đứng trước thách thức lớn chưa từng có của áp lực cạnh tranh gay gắt với các tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới. Các ngân hàng nước ngoài được thành lập ở Việt Nam này chủ yếu do các tập đoàn tài chính lớn thành lập nên có nhiều lợi thế về quy mô lớn, trình độ quản lý tốt, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và trình độ cao, cung cấp sản phẩm đa dạng và nhất là những sản phẩm dịch vụ mới, giá dịch vụ thấp hơn, v.v.. sẽ là những đối thủ cạnh tranh “nặng ký” với các ngân hàng Việt Nam. Do vậy, để giải quyết bài toán về vốn, cơ cấu và tổ chức và tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh tài chính, các ngân hàng thương mại tất yếu phải xây dựng lộ trình xây dựng thành lập các tập đoàn tài chính – ngân hàng, nhằm từng bước trở thành đối trọng cạnh tranh ngang bằng với các tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới.

Thứ ba, đáp ứng nhu cầu được cung cấp trọn gói dịch vụ tài chính ngân hàng cho khách hàng cả cá nhân và tổ chức. Trong báo cáo cập nhập kinh tế Việt Nam mới được Citigroup công bố, Việt Nam sẽ có thể duy trì mức độ tăng trưởng 8% trong vòng 5 năm tới. Điều này nói lên tiềm năng về một nền kinh tế đang phát triển và mở ra cơ hội ngày càng tăng cao thu nhập cho người dân. Khi đó, nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ trọn gói sẽ tăng lên, nhất là khi dân số Việt Nam hiện đang là dân số trẻ, độ tuổi trung bình là 22, khả năng hấp thu những yếu tố hiện đại cao, trong đó việc sử dụng các dịch vụ tại ngân hàng như một địa chỉ quen thuộc. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Thứ tư, xu hướng sáp nhập và mua lại nhằm tận dụng những lợi thế, khắc phục các hạn chế, yếu kém của nhau. Thay vì giằng xé những thị phần nhỏ bé của nhau, các định chế tài chính nhỏ lẻ liên kết lại, giúp đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, hình thành nên những tổ chức tài chính lớn với sức cạnh tranh cao hơn.

Như vậy, việc xây dựng tập đoàn tài chính – ngân hàng là một xu thế tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập tài chính Việt Nam với thế giới, không chỉ nhằm bảo vệ sự an toàn cho bản thân các tổ chức tài chính, nhất là các ngân hàng thương mại, trước sự xâm nhập từ bên ngoài mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế.

IV: BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU ÂU

1. Quá trình hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Châu Âu

Dưới sự lãnh đạo chung của ngân hàng Trung ương Châu Âu, từ giữa những năm 1970 trong xu thế phát triển của ngành ngân hàng trên toàn cầu, hệ thống ngân hàng thương mại Châu Âu cũng phát triển đáng kể, cạnh tranh tốt với các ngân hàng nước ngoài mạnh.

Từ những năm 1989, các quốc gia thành viên EU đồng loạt giảm bớt các quy định, cho phép những ngân hàng đa năng (universal banking) không những được cung cấp các dịch vụ về ngân hàng, chứng khoán như trước đây mà còn được sở hữu các công ty bảo hiểm. Năm 2019 là mốc lịch sử quan trọng với sự ra đời của chỉ thị 2019/87/EC về tập đoàn tài chính bao gồm ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Với môi trường pháp lý cởi mở hơn đã tạo điều kiện cho tập đoàn tài chính – ngân hàng ra đời và hoạt động hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Sau những nới lỏng các quy định trong hoạt động tài chính, đã có sự tăng lên đáng kể về vốn và quy mô của các ngân hàng thương mại Châu Âu nhờ các vụ mua lại và sáp nhập.

Bảng 7: Những vụ sáp nhập lớn của Châu Âu

Mọi hoạt động mở rộng kinh doanh, sáp nhập và hợp nhất của các ngân hàng, công ty bảo hiểm ở Châu Âu đều nhằm hướng tới mục đích là tăng vốn và năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng đa năng.

2. Một số tập đoàn tài chính – ngân hàng Châu Âu

Tập đoàn BNP – Paribas: được hình thành năm 2017, từ vụ mua lại toàn bộ cổ phần của ngân hàng Paribas của ngân hàng thương mại BNP. Tập đoàn này với 117.000 nhân viên, mở chi nhánh và công ty con trên khắp nước Pháp và 90 chi nhánh ở nước ngoài tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tất cả đều có chung một logo. Tập đoàn này kinh doanh chủ yếu trên 4 nhóm sản phẩm gồm: Dịch vụ doanh nghiệp, Đầu tư, Quản lý tài sản và dịch vụ bán lẻ. Các ngân hàng con cũng như các chi nhánh của ngân hàng thành viên đều quản trị kinh doanh theo các nhóm sản phẩm nói trên. Lãnh đạo tập đoàn này là Đại diện các quan chức cao cấp của các ngân hàng thành viên, chịu trách nhiệm đưa ra các quy chế, các chuẩn mực hoạt động và phương thức quản trị thống nhất cho toàn bộ các Ngân hàng thành viên.

Tập đoàn HSBC Holdings: Đến nay mới sau 8 năm thành lập HSBC Holdings đã là một trong những tập đoàn cung cấp các dịch vụ Tài chính – Ngân hàng hàng đầu thế giới với tổng tài sản là 1.276.778 triệu USD với vốn chủ sở hữu là 67.259 triệu USD. Tập đoàn này sở hữu 9.500 văn phòng với 260.000 nhân viên, có mặt tại 76 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tập đoàn HSBC hoạt động tại 5 khu vực là Châu Âu, Hồng Kông, các nước khác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bao gồm cả khu vực Trung Đông, Châu Phi, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Các công ty thành viên chính của HSBC Holdings: Công ty xuất phát là: HSBC Bank Plc; Các công ty thành viên khác là HSBC North America Holdings Inc; HSBC Finance (Netherlands); HSBC Investment Bank Holdings plc; HSBC Insurance Holdings Limited; HSBC Latin America Holdings (UK) Limited và Group Financiero HSBC, v.v.. Dưới các công ty con là các công ty cháu. Các công ty con hay cháu có thể là sở hữu hoàn toàn hay theo tỷ lệ vốn liên kết của Ngân hàng sáng lập HSBC Holdings. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Tập đoàn Dresdner – Allanz ra đời năm 2017 từ cuộc hợp nhất giữa ngân hàng thương mại Dresdner và Công ty bảo hiểm Allanz trong nội bộ nước Đức. Hai Định chế Tài chính Ngân hàng và phi Ngân hàng hợp nhất với nhau thành một liên minh tài chính – ngân hàng hỗn hợp nhằm củng cố địa vị tài lực và đặc biệt là để tận dụng tối đa lợi thế của các bên: Công ty bảo hiểm Allanz phát huy được tối đa nguồn lợi thu được từ việc mở rộng thị trường và sử dụng hệ thống bán lẻ trông qua các nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng, còn Ngân hàng Dresdner thì tập trung được nguồn lực khổng lồ vào việc kinh doanh trong lĩnh vực đàu tư tài sản tài chính. Tập đoàn mới này do Ngân hàng Dresdner đóng vai trò sáng lập và chi phối. Tập đoàn này sau khi ra đời đã hoàn toàn có đủ điều kiện và thực lực để một mặt tự phòng vệ, một mặt vươn ra thị trường tài chính thế giới với tư cách là một tập đoàn tài chính xuyên quốc gia mang quốc tịch Đức.

Tháng 2/2023 tại Châu Âu, tập đoàn UnitCredit Group của Italya đã được một Ngân hàng thương mại lớn thứ 2 của Đức – Hypo Vereisbank Bank of Australia (HVB) sáp nhập vào, và trở thành một tập đoàn toàn cầu, kinh doanh nhóm sản phẩm chính gồm: dịch vụ bán lẻ; dịch vụ quản lý tài sản, dịch vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ, tài trợ bất động sản thương mại và ngân hàng đầu tư. Tập đoàn “lãnh đạo” bằng các “nguyên tắc vàng” (Gold principles) – Theo đó: mỗi Ngân hàng thành viên là một pháp nhân độc lập và được hoạt động theo cấu trúc sản phẩm, cấu trúc tổ chức cũng như phương thức quản trị hoàn toàn giống nhau. Mỗi ngân hàng được chia thành 5 bộ phận (lĩnh vực) kinh doanh theo 5 nhóm sản phẩm như đã nêu ở trên, đồng thời trong mỗi bộ phận này đều có cấu trúc tổ chức theo 5 nhóm chức năng độc lập tương đối khác nhau gồm: Tiếp thị, Kiểm soát, Marketting, sản phẩm dịch vụ và tổ chức nhân sự. Tất cả các ngân hàng thành viên hoạt động theo cùng một kiểu cấu trúc tổ chức và lĩnh vực hoạt động. Hội đồng quản lý tập đoàn bao gồm các quan chức cấp cao của các ngân hàng thành viên, vẫn hưởng lương chính từ các Ngân hàng thành viên và một phần phụ cấp với tư cách là thành viên kiêm nhiệm trong ban lãnh đạo của tập đoàn do các ngân hàng thành viên đóng góp.

3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Qua nghiên cứu quá trình hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng ở Châu Âu mà một số mô hình mang quốc tịch Châu Âu, chúng ta có thể có được những bài học quý báu cho Việt Nam trong quá trình xây dựng những tập đoàn tài chính – ngân hàng từ các ngân hàng thương mại.

Thứ nhất, từ thực tiễn của Châu Âu, với chỉ thị thống nhất 2019/87/EC đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho tập đoàn tài chính – ngân hàng ra đời và hoạt động hiệu quả. Do vậy, muốn xây dựng những tập đoàn tài chính – ngân hàng thành công ở Việt Nam cần có một môi trường pháp lý phù hợp, đủ thông thoáng để các tập đoàn được thiết lập và phát triển nhanh và cũng đủ chặt chẽ để các tập đoàn này phát triển bền vững, an toàn.

Thứ hai, những tập đoàn lớn mạnh, đa năng, đa lĩnh vực ở Châu Âu đều là kết quả của những cuộc sáp nhập, hợp nhất hay tự thiết lập các công ty con độc lập với công ty mẹ. Do đó, sáp nhập, hợp nhất hay tự thiết lập công ty con trong quá trình tập đoàn hóa là một xu thế khách quan. Nhưng những động thái này tất yếu không được tiến hành một cách tùy tiện mà phải tuân thủ một số quy tắc nhất định

  • Bên bị sáp nhập không thể tự cứu mình trước ngưỡng cửa suy thoái hoặc phá sản.

Tất cả các bên sáp nhập hay được thiết lập thành các công ty con độc lập trong tập đoàn đều tìm thấy lợi ích lớn hơn trong một không gian thị trường lớn hơn. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

Lợi thế của mọi cuộc sáp nhập luôn thuộc về bên có quyền chi phối. Vì vậy, một ngân hàng thương mại không nên chỉ mua cổ phần của một định chế tài chính khác ở tỷ lệ quá nhỏ để chấp nhận vị thế không có vai trò gì trong Hội đồng quản trị và càng không nên mua cổ phiếu ưu đãi để đóng vai trò là người hưởng cổ tức thuần túy.

Thứ ba, các tập đoàn tài chính Châu Âu như BNP – Paribas, UnitCredit Group,… đều là mô hình ngân hàng đa năng. Theo đó, tập đoàn không có tư cách pháp nhân, các công ty thành viên đều là các pháp nhân độc lập. Cơ quan đầu não của tập đoàn là các quan chức cấp cao của các công ty thành viên và hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm. Mô hình này đã tồn tại những hạn chế tương đối so với các mô hình khác. Do vậy, Việt Nam cần lựa chọn một mô hình: ngân hàng đa năng (universal banking), quan hệ công ty mẹ – con (parent – subsidiary relationship) hay công ty sở hữu tài chính (financial holding company) phù hợp với thực tế đất nước và định hướng phát triển của từng ngân hàng.

Thứ tư, cần xây dựng ngân hàng mẹ thành hạt nhân mạnh của tập đoàn, với mô hình tổ chức hoạt động đảm bảo vai trò quản trị điều hành hiệu quả, quản trị tốt rủi ro và hướng tới: khách hàng là trọng tâm phục vụ như một số tập đoàn tài chính – ngân hàng Châu Âu đã làm được. Khóa luận: Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp xây dựng mô hình tập đoàn tài chính NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537