Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích và đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
1. Di tích lịch sử văn hóa
Từ thế kỷ XIII, thành phố Hưng Yên xưa đã là một thương cảng Phố Hiến sầm uất. Thế kỉ XV trở đi, những tàu buôn của Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Anh, Pháp, Indonexia… đã từng cập bến Phố Hiến. Nhưng vì sông Hồng ngày càng tiến ra biển, Phố Hiến nhường dần vị trí thương cảng cho Hải Phòng và lưu lại cho mình những giá trị văn hoá lâu đời. Thành phố Hưng Yên ngày nay còn gìn giữ được một quần thể kiến trúc cổ gồm 128 di tích lịch sử, 100 bia kí và nhiều đền chùa. Đặc biệt phải kể đến quần thể di tích Phố Hiến với mật độ di tích dày đặc, theo thống kê của bảo tàng tỉnh Hưng Yên, trong phạm vi chiều dài 5km, chiều rộng 1km được xác định từ Đằng Châu (phường Lam Sơn ) đến Lễ Châu (phường Hồng Châu) thì Phố Hiến cổ còn lưu giữ khoảng 60 di tích lịch sử văn hoá các loại. trong số hơn 60 di tích đó có nhiều di tích có gía trị cao về lịch sử, kiến trúc mỹ thuật, tín ngưỡng, có khả năng hấo dẫn du khách như chùa Chuông, đền Mẫu, đền Trần, đền Thiên Hậu, chùa Hiến, Văn Miếu, đình Hiến, Đông Đô Quảng Hội,…(có tới 17 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia).
Trong khoá luận này em sẽ đi sâu nghiên cứu giá trị nổi bật của một số di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia đó.
Chùa Chuông
“Hưng Yên tỉnh nhất thống chí” của Trịnh Như Tấu có ghi: “Chùa Chuông – Phố Hiến đẹp danh lam” có nghĩa: chỉ Chùa Chuông ở Phố Hiến là đẹp nhất. Chùa đẹp không phải bởi cảnh quan và tên gọi mà còn đẹp hơn bởi
- Chùa Chuông nằm trong quần thể di tích đô thị cổ Phổ Hiến một thời nổi danh “thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”
- Kim Chung Phật tích thiên niên ký
- Thạch bích linh truyền vạn cổ lưu
- (Chuông vàng dấu Phật còn ghi mãi
Đá xanh linh nghiệm toả muôn hương) Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan: chùa Chuông toạ lạc ở phía nam thôn Nhân Dục, phường Hiến Nam, thành phố Hưng yên. Ngôi chùa nằm ở cửa ngõ khu dân cư thành phố, khi đến thăm quan thành phố, điểm dừng chân đầu tiên của du khách sẽ là chùa Chuông. Chùa Chuông có tên tự là Kim Chung tự, tên Nôm là Chùa Chuông và tên thường gọi là chùa Chuông vàng.
Chùa nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi, dù du khách đến thăm quan thành phố bằng đường bộ hay đường thuỷ cũng có thể dễ dàng đến thăm ngôi chùa này. Chùa cách bến cảng sông Hồng gần 1km, và cách bến xe Hưng Yên 500m.
Lịch sử hình thanh và phát triển: lịch sử của chùa gắn với truyền thuyết xưa, có một năm “đại hồng thuỷ”, nước lụt mênh mông, có một qủa chuông trên bè gỗ trôi dạt về đây, chỉ có dân làng địa phương mới vớt được chuông và đã đem về chùa. Tiếng chuông mỗi lần đánh lên ngân vang xa hàng vạn dặm, tương truyền là quả chuông vàng trời phật ban tặng nên đã đặt tên chùa là “chùa Chuông Vàng”. Theo tài liệu nghiên cứu và theo văn bia tại chùa, chùa được xây dựng vào thế kỉ XV, đến năm 1702 chùa đã trùng tu thượng điện và đắp thượng. Như vậy, kiến trúc hiện nay của chùa là từ thời Hậu Lê đầu thế kỉ XVIII.
Quy mô, kiểu cách, các giá trị kiến trúc, mỹ thuật: Chùa chuông có kết cấu kiểu “Nội công ngoại quốc”, bao gồm các hạng mục: Tiền đường, Thượng điện, Nhà tổ, Nhà mẫu và 2 dãy hành lang. Mặt tiền chùa quay hướng Nam, đó là hướng của “Bát Nhã” và “Trí Tuệ”. Chùa được bố trí cân xứng trên một trục trải dài từ cổng Tam quan đến Nhà tổ. qua cổng Tam quan là tới ba nhịp cầu đá xanh, và một ao nhỏ (mắt rồng) trồng rất nhiều súng, mùa hè là mùa những bông súng tím biếc nở và cũng là thời điểm 2 cây nhãn bên ao nở rộ những chùm hoa như những mâm xôi trắng mang mùi hương dịu ngọt. Bắc ngang qua ao là một cây cầu được xây dựng 2012. Tiếp đến là con đường độc đạo được lát đá xanh dẫn thẳng đến nhà tiền đường, theo quan niệm nhà Phật, đường này gọi là “Nhất chính đạo”, con đường chân chính duy nhất dẫn dắt con người thoát khỏi bể khổ.
Giá trị cổ vật: Chùa hiện nay còn một số hiện vật quý như 2 đôi nghê đá thời Lê được chạm khắc công phu; 1 khánh đá dài 1,5m chạm lưỡng long chầu nguyệt; 1 bia dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711); 2 chuông (1 chuông cao 1,15m, đường kính 0,6m và 1 chuông cao 1,05m với đường kính là 0,45m); và đặc biệt là 18 pho tượng cổ “Thập bát La Hán” được tạo tác theo một tư thế ngồi cao 1,2m với những vẻ mặt khác nhau, nét độc đáo của Thập bát La Hán không phải chỉ ở sự khéo léo trong cách tạo và tô tượng mà còn ở cảm xúc nội tâm được biểu hiện qua khuôn mặt “mỗi người một vẻ mặt con người”; 1 bia đá ghi chép lại quá trình đô thị hoá của Phố Hiến xưa, bia đá cao 1.65m, rộng 1,10m đươc tạo tác vào năm Tân Mão niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711) triều Lê, trên bia trang trí hình rồng chầu mặt trời, có vòng xoáy kiểu âm dương, diềm bia chạm nhánh lá, dây hoa, hoa sen, mây dải mảnh, bia đặt trên bệ gạch xây..và hơn thế nữa chính chùa Chuông là một di tích có giá trị cả hai mặt lịch sử và kiến trúc nghệ thuật. Những tinh hoa của di tích cần tiếp túc nghiên cứu làm sáng tỏ hơn để bổ sung cho lịch sử của địa phương và lịch sử dân tộc, đặc biệt là thời kì cách mạng, nhiều cán bộ của xứ uỷ hiện còn sống, các đồng chí từng hoạt động tại di tích đều khẳng định vai trò quan trọng đó. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Những pho tượng nghệ thuật như: hệ thống tượng ở toà Tam Bảo, Thập bát La Hán…sẽ giúp ta rất nhiều trong việc nghiên cứu kế thừa tinh hoa nghệ thuật tạc tượng của dân tộc . hiện vật trong chùa như: tấm bia đá (1711), cây hương đá…là nguồn tư liệu vô cùng phong phú quý giá giúp chúng ta hình dung về sự phát triển thịnh vượng của đô thị cổ phố hiến trong suốt 2 thế kỉ XVI – XVII đóng góp quan trọng trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học.
Đối tượng thờ: Chùa Chuông thờ Phật Adi Đà, Quan Âm Nam Hải, Văn Phù bồ tát, Phổ Hiền Bồ Tát.
Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích:Nhìn chung, ngôi chùa qua hai lần trùng tu lớn nên hệ thống khu nhà và tượng đã được phục hồi như trạng thái ban đầu. toàn bộ khu kiến trúc di tích hiện nay khác chắc chắn và hoàn chỉnh, bên cạnh gác chuông, gác khánh, nhà tằn đường mới được khánh thành (8/2003). Ngôi chùa đã được một vị đại đức cùng các Phật tử xung quanh vùng tự nguyện đến quét dọn, lau chùi cho di tích. Vào những ngày rằm, mồng một, ngày Phật Đản, đều tổ chức hương hoa, thu hút rất đông thập phương đến cúng lễ.
Giá trị được xếp hạng: Năm 1992, Chùa Chuông đã được bộ Văn Hoá thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.
Đền Mẫu Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan: nằm trên đường Bãi Sậy, phường Quang Trung, thành phố HY. Đền có tên tự là Hoa Giang Linh Từ, tên Nôm là đền Mẫu, đền Mậu Dương, đền Bà Hoa Giang, và tên thường gọi là đền Mẫu. đền gần với đền Trần trên một trục đường, rất thuận lợi cho du khách đi bộ trong thành phố để thăm quan quần thể di tích thuộc Phố Hiến cổ.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, đền Mẫu được xây dựng vào năm Tường Hưng thứ nhất thời Thiệu Bảo (1279) trên một diện tích rộng 2875m2.
Lịch sử hình thành và phát triển: qua sử sách, thần tích, sắc phong của đền Mẫu thì vào thế kỉ 13 đế quốc Nguyên Mông tiến hành xâm lược nhiều nước Châu Âu, Châu Á. Trước sức mạnh của quân giặc, triều đình nhà Tống không tránh khỏi thất bại. Trong lúc lâm nguy Hoàng tộc nhà Tống phải bỏ chạy ra bãi biển Nhai Sơn để tránh nạn, trên đường chạy ra bãi biển thì bị hoành phạm nhà Nguyên đuổi sát. Dương Quý Phi cùng các cung tần mỹ nữ đã nhảy xuống biển tự vẫn để giữ trọn khí tiết của mình. Theo truyền ngôn xác của Dương Quý Phi trôi dạt vào vùng Xích Đằng, nhân dân địa xư vớt chôn cất chu đáo – cầu đảo “linh ứng” và lập đền thờ. Từ đó người đến tụ tập mỗi ngày một đông thành một xóm và lấy tên là Hoa Dương. Đền được sửa sang rộng rãi và ngày một khang trang. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Quy mô, kiểu cách, các giá tri kiến trúc, mỹ thuật: Nghi mong của Đền được xây dựng khá đẹp, kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, cửa xây vòm cuốn, có một cửa chính và hai cửa phụ. Trên vòm cuốn có bức đại tự ghi kiểu chữ Triện: “Dương Thiên Hậu – Tống Triều” và bức chữ Hán: “Thiên Hạ mẫu nghi” (Người mẹ sáng suốt trong thiên hạ). Qua nghi môn là sân đền, giữa sân có cây cổ thụ. Theo truyền thuyết, cây có tuổi gần bảy tram năm được kết hợp bởi ba cây sanh, đa, si quấn quýt lấy nhau tạo thế chân kiềng vững chắc bao trùm toàn bộ ngôi đền. Khu nội tự của đền được xây kiểu chữ Quốc gồm: Đại bái, trung từ, hậu cung và hai dãy giải vũ. Tòa đại bái với 3 gian, kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái; các đao mái uốn cong mềm mại kiểu rồng chầu, phượng mớm, lợp ngói vẩy rồng, chính diện đắp lưỡng long chầu nguyệt. Kiến trúc đại bái thượng giá chiêng chồng, chính diện đắp lưỡng long chầu nguyệt. Kiến trúc đại bái thượng giá chiêng chồng rường con nhị, hạ kẻ bảy; các con chồng, đấu sen, trụ chốn chạm bong kênh hình cá hóa rồng, các bẩy chạm hình đầu rồng. hai bên đại bái là điện Lưu Ly và cung Quảng Hàn. Trung từ gồm 3 gian, kiến trúc kiểu chồng rường đấu sen, lộng lẫy với hệ thống câu đối, hoành phi, đồ tế tự, kiệu long đình, kiệu bát cống…sơn son thếp vàng rực rỡ. Nối với trung từ là 5 gian hậu cung, kiến trúc kiểu chồng rường con nhị, các bức cốn chạm bong kênh hoa lá mềm mại. Dưới ánh sáng mờ ảo của đèn nến, khói hương nhè nhẹ lan tỏa không gian tĩnh lặng nơi cung cấm như thấy được sự linh thiêng huyền bí chốn thâm cung.
Kiến trúc các tòa đại bái, tiền tế, trung từ, thượng điện thượng giá chiêng chồng rường con nhị, hạ kẻ bảy, các con chồng, đấu, đầu dư, kẻ, bẩy đều được chạm bong, chạm lộng với các đề tài long, ly, quy, phượng, hoa lá cách điệu, điêu khắc rất đa dạng với từng họa tiết kết hợp với sự hài hòa cảnh quan thiên nhiên, tạo nên sự uy nghiêm trang nhã mà lại gần gũi với cuộc sống con người. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Giá trị cổ vật: hiện tại ở đền Mẫu còn một số cổ vật quý như nhang án thờ cao 1,2m dài 1,5m rộng 0,9m, phía ngoài có bát hương đá cao 40cm, đường kính 25cm. nhang án chạm kênh bảy lưỡng long chầu nguyệt, đá hoa ở giữa, hai đầu chạm con long mã trên cùng 4 góc là 4 con rồng chầu. Trên có bày trí hai cây đàn gỗ, một tượng Phật bà Quan Âm trong lồng kính. Hai bên nhang án đặt hai hạc gỗ ngậm ngọc giảng thuyết pháp cho con người hiểu vể đạo Phật, đưa conn người về với thế giới thần linh. Một bát hương sứ cao 40cm, đường kính 22cm, hai mâm bồng, một mũ cánh chuồn, sau là cỗ bài vị, hai bên đặt hai lọ lục bình cao 1,4m. Hai bộ bát bửu 2 tàn 2 tán cao 3m, hai cỗ long đình rộng 0,95m cao 2,5m, hai mặt kiểu chạm đầu hổ phù dữ tợn quanh bốn hướng, trên là hệ thống hoa lá cuốn thư, toàn thân chạm con rồng cuốn xung quanh có hệ thống lèo lưỡng long chầu nguyệt trên có mái vòm, 4 góc là 4 đầu rồng, tầng trên cùng đặt một lá bùa. Một tượng mẫu ngự đầu đội mũ kim khôi, mặc áo choàng có từ thế kỉ XVIII.
Một cỗ kiệu bát cống đòn ngang dài 2,15m, đòn dọc dài 2,45m chạm hình rồng quay đầu đi trước. Kiệu gồm 4 then đòn cong, tám đầu khiêng, hai thanh đòn ngang, hai thanh đòn dọc, các đòn được gắn với nhau các khóa đồng, bệ rộng 1,22m toàn kiệu cao 1,5m, phần trên rộng 0,95m trên là mái vòm cuốn. Kiệu được chạm bong, chạm nổi các hình hổ phù lưỡng long chầu nguyệt, đề tài hoa lá cách điệu, phía ngoài kiệu đặt một bát hương sứ một đỉnh đồng, hai con hạc đồng nhỏ, hai cây nến đồng nhỏ. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Một cỗ kiệu võng(phụng kiệu), có 8 đòn khiêng, hai đòn ngang và hai đòn dọc dài 3,7m, đòn ngang dài 1,8m. Kiệu cao 1,85m, các đòn này chạm rồng đầu mỏ phượng, bên trên có mái vòm che ở trong có một võng đào trải một bức gấm, trên đặt một cái gối ở chính trung từ giữa là bức y môn, hai bên là hai tàn hai tán cao 2m đường kính 1m.
Đối tượng thờ: Đền Mẫu thờ bà Dương Quý Phi (vợ vua Tống), Phật Bà Quan Âm, Tứ Phủ ( thiên phủ (miền trời), nhạc phủ (miền rừng núi), Thủy phủ (miền sông nước), Địa phủ (miền đất).
Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích: Qua thời gian ngồi đền được tu sửa nhiều lần và xây dựng thêm hoàn chỉnh như ngày nay gồm 30 gian là vào năm Thành Thái thứ 8 (1896). Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 chính quyền địa phương không quan tâm đến di tích nên di tích đã bị dột nát, các hạng mục công trình bị xuống cấp. Từ năm 1997 tái lập tỉnh Hưng Yên, di tích được đầu tư, nằm trong dự án di tích Phố Hiến nên các tòa từ hậu cung đến đại bái đều được phục hồi, sửa chữa hoàn mỹ, phục vụ quý khách tham quan thăm viếng.
Giá trị được xếp hạng: từ năm 1990 di tích được xếp hạng cấp quốc gia.
Đền Trần Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan: đền nằm ở trung tâm thành phố Hưng Yên, cạnh hồ Bán Nguyệt, giữa phố Bãi Sậy, phường Quang Trung. Đền Trần nằm ở trung tâm nên đường đi đến rất thuận tiện, dễ dàng bằng mọi phương tiện oto, xe máy, đi bộ. Đền được xây dựng trên khu đất có diện tích là 469,2m2, mặt tiền quay hướng tây nam, nhìn ra đường phố Bãi Sậy và bên kia là hồ Bán Nguyệt.
Lịch sử hình thành và phát triển: Theo bia kí viết ngày 12 tháng 7 mùa thu năm Kỷ Tỵ (1869) do cử nhân khoa Tân Dậu (1861) và Hà Tránh Nghiêm, chuyên ngục trại Bái Soan thì đền Trần được xây dựng năm Tự Đức thứ 16 (1863) đến mùa Hạ năm Tự Đức thứ 22 (1869) thì hoàn thành, do hội Yên Hòa, gồm các quan văn, quan võ trong tỉnh, các quan lại hòa lý địa phương và nhiều nhà buôn giàu có đứng ra hung công xây dựng. đến năm Thành Thái thứ 5 (1903) thì tu sửa lớn. Năm 1998 tu sửa lớn cả 3 cung: tiền tế, trung từ và hậu cung, lát nền, thay cánh cửa và bổ sung thêm nhiều đồ tế tự.
Quy mô, kiểu cách, các giá trị kiến trúc, mỹ thuật: Đền có kiến trúc kiểu chữ Tam gồm: Tiền tế, trung từ và hậu cung. Từ ngoài vào là cổng nghi môn xây kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, cửa vòm cuốn, trên cổ diêm ghi 4 chữ : “Kiếm Khí Đẩu Quang” (tinh thần yêu nước tỏa sáng); phía dưới cửa cuốn đề : “Trần Đại Vương từ” (Đền Trần Đại Vương). Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Tòa đại bái gồm 5 gian, kết cấu kiến trúc kiểu vì chồng rường giá chiêng, các con rường được chạm hình đầu rồng cách điệu, gian giữa treo bức đại tự “Thân hiền tại vọng” (Ngưỡng vọng người hiền tài). Nối tiếp đại bái là 5 gian trung từ, kiến trúc vì kèo quá giang đơn giản, bào trơn đóng bén, không có hoa văn. Phía tiếp giáp với hậu cung treo bức đại tự: “Công đức như Thiên” (Công đức của thánh rộng lớn như trời). Giáp với trung từ là ba gian hậu cung, thờ Trần Hưng Đạo và toàn bộ gia thất của ông.
Đền Trần – thành phố Hưng Yên đã tu sửa vào thời Nguyễn, nhưng cũng cho ta thấy nhiều nét độc đáo: Ngôi đền cao, cột nhỏ thanh thoát, các phần mái hiên,đại bái, trung từ, hậu cung được nối liền với nhau có các hệ thống thoát nước, mái tôn đổ nước sang hai bên. Đặc biệt phần hiên cũng được xây dựng thành 2 mái, vừa là hiên đồng thời còn thay vị trí giải vũ, rất thích hợp với vị trí chật hẹp ở thành phố. Đây là nét độc đáo trong nghệ thuật kiến trúc độc đáo của ông cha cần được nghiên cứu và kế thừa.
Giá trị cổ vật : hiện tại, đều còn khá nhiều cổ vật quý, một cỗ long đình cao 2,5m , rộng 0,85m sơn son thếp vàng, chạm hổ phù, bắt chỉ soi hoa văn chữ chiện, hai đầu hai con long mã chầu vào, 4 góc 4 con rồng chầu, trên cùng chạy 4 mặt chấn song con tiện, 4 góc đao guột cong hình rồng. Một nhang án cao 1,1m dài 1,4m rộng 0,8m chạm long mã chầu hổ phù, trên có hai con phượng chầu vào, 4 góc là 4 con thao thiết, là con vật thần linh từ con hổ phù mà ra. Trên hương án đặt một bát hương đồng cao 50cm đường kính 35cm chạm lưỡng long chầu nguyệt, vân mây, hai bên là hai lọ lục bình cao 50cm. Hai bên nhang án đặt hai hạc đồng cao 1,5m mỏ cò, đuôi cò, thân chim, thân cao ngự trên lưng rùa, hạc ngậm ngọc giảng thuyết pháp, cạnh đôi hạc còn có hai con cá chép vàng bằng gốm sứ trên mình có ghi 4 chữ Hán nổi “Tài nguyên cuồn cuộn”. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Trong điện thờ tượng Trần Hưng Đạo là một nhang án dài 1,8m cao 1,1m rộng 0.9m sơn son thếp vàng, chạm lưỡng long chầu nguyệt, long mã chầu phượng hóa long, xung quanh trang trí hoa lá. Trên có đặt một bát hương đồng cao 60cm, đường kính 38cm, hai cây nến gỗ, một bát hương sứ (thời Nguyễn), một bát hương sứ miệng loe (thời Nguyễn), một đỉnh đồng và hai pho tượng quan văn, quan võ cao 0,75cm, tượng đứng chân phải bước lên chếch 30 độ mắt nhìn phía trước, tay cầm thanh long đao với tư thế tiên phong nơi trận mạc, hai bên nhang án đặt hai lọ lục bình cao 1,4m với hoa văn đề tài sông núi.
Tiếp giáp giữa hậu cung và trung từ được đặt một sập chân quỳ dạ cá sơn son thếp vàng dài 1,8m rộng 1,05m cao 0,85m, 4 mặt sập thờ đầu chạm bong lưỡng long chầu hổ phù, 4 chân quỳ chạm hình đầu rồng, mỏ diều hâu xung quanh chạm hoa lá cách điệu, 4 góc là 4 con thao thiết. trên sập thờ đặt một bát hương miệng loe cao 15cm đườg kính 25cm, hai lọ lục bình lục lăng, một mâm bồng gỗ và hai lọ hoa sứ. Bên ạnh sập là hai lọ lục bình to gốm sứ Trung Quốc cao 1,55m. Mỗi bàn thờ dều có bài trí một bát hương vại, một đỉnh đồng, hai cây nến gỗ, hai lọ lục bình, một mâm bồng gỗ(riêng ban thờ vương phụ, mẫu phụ còn có ba nậm rượu gốm sứ thời Nguyễn cao 25cm, đường kính 10cm).
Đối tượng thờ: đền thờ Trần Hưng Đạo và toàn bộ gia thất của công.
Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích: Theo nhân dân địa phương cho biết, thì diện tích ngôi đền rộng lớn hơn diện tích hiện tại rất nhiều, nhưng do trước đây không có ban quản lý di tích, chính quyền địa phương không đứng ra quản lý, nên đã để cho một số hộ dân tự động lấn chiếm hai bên phải đền và đã xây dựng công trình nhà ở, bếp thậm chí còn làm nhà hang ăn sáng, không có lối ra phía sau. Phần mái không có lối thoát nước, ảnh hưởng đến việc bảo tồn di tích cũng như hoạt động tín ngưỡng của nhân dân và khách thập phương. Năm 1993 đã xây một bức tường rào chạy thẳng từ đại bái ra đến nghe môn để tách rời hộ dân ra khỏi di tích. Song di tích vẫn không có lối thoát nước và đi lại về phía sau, nên càng ảnh hưởng đến việc bảo vệ di tích cũng như sinh hoạt lễ bái của nhân dân và khách thập phương. Phần nội thất của ngồi đền khá tốt, cột kèo còn khá chắc chắn, đồ tế tự nhiều
Giá trị được xếp hạng: từ năm 1992 di tích được xếp hạng cấp Quốc Gia.
Đền Thiên Hậu Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan: Đền nằm ở phố Trưng Trắc, phường Quang Trung, trung tâm thành phố Hưng Yên. Đền Thiên Hậu – tên đặt nhằm ca ngợi Thánh Mẫu. Đền nằm ở vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách bến xe thành phố 1km, có thể đi đến bằng mọi phương tiện giao thông. Đền Thiên Hậu được xâu dựng trên khu đất có diện tích 1250m2, do người Phúc Kiến xây dựng theo kiến trúc Phúc Kiến.
Lịch sử hình thành và phát triển: Người dân Phúc Kiến đi đến đâu lập đền thờ Thiên Hậu ở đó vì bà là người có long nhân từ cứu giúp nhân dân tai qua diệt trừ quỷ ác gian tà, bảo vệ cuộc sống yên vui cho dân lành. Khi người Phúc Kiến di dân đến Phố Hiến thế kỉ XVI – XVII đã lập đền thờ ở Đông Đô Quảng Hội, và Thiên Hậu phố Bắc Hòa (nay là phố Trưng Trắc, phường Lê Lợi, thành phố Hưng Yên). Cho đến nay không chỉ những người dân Hoa kiều ở thành phố Hưng Yên mà ngay cả những người dân bản địa đã coi đền Thiên Hậu là chốn linh thiêng thường lưu tới dâng hương, vãn cảnh.
Quy mô, kiểu cách, các giá trị kiến trúc, mỹ thuật: Khu nội tự xây kiểu chữ đinh gồm nhà thiêu hương và hậu cung. Nhà thiêu hương dựng chồng diêm 2 tầng 8 mái, mái lợp ngói ống, đường bờ nóc trang trí đức Phật ngồi trên tòa sen, xung quanh người qua lại. Ngoài ra, ở đây còn trang trí các loại hoa dây, bát mã quần phi, cảnh bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Hậu cung gồm 3 gian, kiến trúc kiểu “chồng rường cánh”, trên các đầu dư chạm hình cá chép. Gian hậu cung ngoài thờ Lâm Tức Mặc còn thờ cha mẹ, anh em ruột của Bà và các dòng họ người Hoa đã có công dựng đền.
Giá trị cổ vật: Đền Thiên Hậu hiện còn lưu giữ đươc nhiêu cổ vật giá trị: cỗ kiệu “thượng thiên thánh mẫu” có phù điêu chạm trổ, các vị tiên nữ trên trời xuống đón Bà về trời, phương đình, long kỷ, giá nhạc, các đồ thờ tự, các pho tượng, khám thờ, nhang án…được chạm trổ công phu rất đẹp. Đền có hai tấm phù điêu đá dài 0,95m, rộng 0,5m; một lư hương đá cao 1,6m, đường kính 1,3m; một phương đình bằng gỗ có kích thước 4,5m x 3m…Ngoài ra còn có các bức đại tự lớn sơn son thếp vàng, nhiều bia đá, cuốn thư, các câu đối gỗ đều được gia công cầu kỳ. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Đối tượng thờ: đền Thiên Hậu thờ Thánh Mẫu (tức Lâm tức Mặc), và Tứ Phủ (Thiên phủ (miền trời), Nhạc phủ (miền rừng núi), Thủy phủ(miền sông nước), Địa phủ(miền đất)).
Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích: thời gian và mưa nắng đã làm cho di tích xuống cấp phần nào, nhà tiền sảnh và tòa thiêu hương, một số gỗ bị mối mọt, ngói bị nứt dột. Hiện chính quyền địa phương đã phối hợp với ban quản lý di tích để trùng tu, sửa chữa những chỗ hư hỏng của di tích.
Giá trị được xếp hạng: Ngày 2 tháng 12 năm 1992, Bộ Văn Hóa thông tin đã xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc Gia.
Đền Thiên Hậu là nguồn tư liệu quan trọng giúp cho các nhà nghiên cứu và khách tham quan tìm hiểu thêm về Phố Hiến xưa.
Đông Đô Quảng Hội
Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan: Đông Đô Quảng Hội nằm trên đường Phố Hiến, phường Hồng Châu, thành phố Hưng Yên. Toàn bộ Đông Đô Quảng Hội được xây dưng với tổng diện tích là 517,6m2. Từ ngã ba chùa Chuông đi dọc đường Bãi Sậy khoảng 1,5 km đến Dốc Đá sau đó rẽ trái khoảng 250m là đến Đông Đô Quảng Hội. Di tích nằm trong quần thể di tích Phố Hiến của thành phố Hưng Yên. Về phía đông bắc cách 200m là đình chùa Hiến, đi tiếp theo đường Bãi Sậy 1km là đền Mẫu, tiếp đến là đền Trần.
Lịch sử hình thành và phát triển: Đông Đô Quảng Hội được xây dựng năm 1590, có kiến trúc kiểu chữ Tam. Toàn bộ nguyên vật liệu để xây dựng và đồ tế khí được vận chuyển từ 3 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến (Trung Quốc) sang bằng đường biển, được 14 dòng họ ở Trung Hoa cùng người dân Phố Hiến dựng lên. Năm 1975, tòa nhà này đã được các dòng họ Hoàng, Tiết, Ôn và nhân dân địa phương đã tiến hành phục dựng lại (do trước đó đã bị đổ nát) theo phong cách kiến trúc cổ Trung Quốc. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Quy mô, kiểu cách, các giá trị kiến trúc, mỹ thuật: Đông Đô Quảng Hội kiến trúc kiểu chữ Tam, gồm các hạng mục như: Tiền tế, trung từ và hậu cung. Toàn bộ nguyên vật liệu để xây dựng và đồ tế khí được vận chuyển từ 3 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến (Trung Quốc) sang bằng đường biển, được 14 dòng họ ở Trung Hoa cùng người dân Phố Hiến dựng lên. Công trình đầu tiên là Nghi môn, được lợp bằng ngói vẩy cá, kiến trúc vì kèo kiểu giá chiêng, kê trên các đấu kê hình đài lá và hình vành khuyên. Cánh cửa nghi môn chắc chắn, phía trên có bức đại tự ghi “Đông Đô Quảng Hội”. Khu chính tiền tế, trung từ mới được phục dựng lại trên nền móng của công trình cũ, kết cấu kiến trúc các bộ vì của 2 tòa này làm kiểu chồng rường giá chiêng, hoa văn chạm trổ theo phong cách Trung Hoa cổ. Hậu cung gồm 3 gian, kết cấu các bộ vì kèo kiểu chồng rường, giá chiêng, con nhị nâng đỡ vì kèo là hệ thống cột cái được kê trên các chân tảng đá thắt cổ bồng. Hệ thống cửa hậu cung làm kiểu bức bàn con quay, ván bưng đươc chạm trổ tùng, điểu, hươu, nai…đố cửa chạm nổi phượng vũ, mã phi, bên trên chạm lộng phúc, lộc, chim, thú…thể hiện ước vọng cầu lộc, cầu phúc của nhân dân. Khu chính nội tự có kiến trúc kiểu chữ Nhị (=), gồm đại bái và hậu cung. Tòa đại bái với 3 gian, vì kèo kết cấu kiểu chồng rường, giá chiêng, con nhị, hệ thống cột được kê trên các chân tảng bằng đá lớn, 2 bộ vì hồi được đặt trên lưng con lân gỗ trong tư thế nhìn ra ngoài.
Giá trị cổ vật: Hội quán có 2 hương án, một bằng đá cao 1,45m, rộng 1,6m và một bằng gỗ cao 1,41m, rộng 1,76m. Một khám thờ được sơn son thếp vàng đặt 3 pho tượng Tam thánh ngoài lồng kính, xung quanh khám được trang trí hoa lá hướng dương, cửa khám thể hiện đề tài long mã. Giant rung tâm có một khám thờ cao 2m, rộng 2,4m, được sơn son thếp vàng, bên trong đặt 3 pho tượng (1 tượng Thánh Mẫu, và 2 tượng người hầu), Mẫu ngự trên ngai, tay vịn đầu rồng, vẻ mặt phúc hậu, đoan trang. Ngoài ra còn có: 7 bức đại tự sơn son thếp vàng; 1 giá võng sơn son thếp vàng; 3 hương án; 2 bát hương loe sứ Trung Quốc rộng 25 cm, cao 30 cm; 1 bát hương sứ quả lựu 3 chân thời Càn Long; 1 nậm rượu thời Lê; 4 bát hương sứ thời Nguyễn; 1 đỉnh thiếc; 1 lư hương thiếc cao 60 cm; 4 bia đá;…
Đối tượng thờ: Đông Đô Quảng Hội là nơi hội họp của các thương nhân nước ngoài, chủ yếu là người Hoa, đồng thời đó cũng là nơi thờ tam thánh: Thần Thái Y (thần làm nghề thuốc); Thần Hoa Quang (dạy dân làm các nghề thủ công); Thần Nông (dạy dân làm ruộng, trồng trọt, chăn nuôi). Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích: Hiện nay trải qua bao thời gian dài nên di tích không tránh khỏi hư hại, 6 gian hội quán dùng làm nơi tụ họp nay không còn nữa. Sân vườn đang được quy hoạch và trùng tu trong thời gian tới.
Giá trị được xếp hạng: Từ năm 2001 di tích được xếp hạng cấp Quốc Gia. Sự phát triển của Đông Đô Quảng Hội liên quan đến sự hình thành và phát triển của Phố Hiến. Khảo sát tại di tích em thấy được những giá trị lịch sử về một vùng đất đã một thời phát triển rực rỡ và hiểu được đời sống kinh tế văn hóa và tín ngưỡng của nhân dân thời kỳ đó. Ngoài ra ta còn thấy được sự giao lưu kinh tế, văn hóa của Phố Hiến với nhiều Quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hà Lan…
Văn Miếu
Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan: Văn Miếu ở thôn Xích Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên. Văn Miếu xưa được gọi là “Văn Miếu Trấn Đằng Châu” nay gọi là “Văn Miếu Xích Đằng”. Các công trình Văn Miếu trải rộng trên một diện tích hơn 6000m2. Từ bến xe Hưng Yên đi xuôi xuống đường chùa Chuông khoảng 400m là đến đường Phạm Bạch Hổ, đi tiếp khoảng 300m rẽ trái đến Văn Miếu Xích Đằng. Một khung tường xây bằng những viên gạch cỡ lớn dưới cành lá xum xuê của những cây cổ thụ cùng với những chậu cây cảnh tạo nên một cảnh sắc uy nghi, cổ kính cho khu di tích. Đặc biệt ở tầng hai Nghi môn có xây sân và hành lang để làm nơi hóng mát và vịnh thơ.
Lịch sử hình thành và phát triển: Thể kỷ 17, để chấn hung lại nền Nho học, triều đình đã cho thành lập nhiều trường học bên ngoài trường Quốc Tử Giám. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
trấn Sơn Nam (gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và một phần đất của Hà Nội và Hưng Yên) văn miếu Sơn Nam (văn miếu Xích Đằng khi đó) được xây dựng vừa làm nơi để thờ tự các bậc hiền nho, vừa là nơi tổ chức các kỳ thi của trấn. Sử sách còn ghi: Văn miếu Xích Đằng đã có lần là trường thi của khoa thi Hương, hoặc là nơi sát hạch học trò để đi thi Hương. Nhà bác học Lê Quý Đôn, đã dự kỳ thi hương ở Hưng Yên hồi ấy”. Sau nhiều biến chuyển trong việc chia tách lại địa lý và đơn vị hành chính các trấn dưới các triều: Hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn, văn miếu Xích Đằng trở thành văn miếu của Trấn Sơn Nam và sau này là của tỉnh Hưng Yên.
Đến nay, được sự quan tâm của tỉnh uy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và các ngành trong tỉnh kể từ khi tái lập tỉnh (1997), di tích Văn Miếu đã qua hai lần trùng tu lớn. Lần trùng tu gần đây nhất (2002) toàn bộ khu di tích đã cơ bản hoản chỉnh, các hàng cột kèo được sơn son thếp vàng hoành tráng, lộng lẫy, tượng Khổng Tử và Chu Văn An bằng đồng mới được dâng hiến (2003) với kích cỡ khá lớn (tượng Khổng Tử cao: 1,1m nặng 1,1 tấn; tượng Chu Văn An cao 1,8m nặng 2,5 tấn). Cùng với đó là hệ thống tường rào được xây bao kín xung quanh và hàng cây cảnh được bố trí khắp khuôn viên đã nâng giá trị đặc biệt của di tích trong quần thể di tích Phố Hiến.
Nét nổi bật của Văn Miếu là nơi dạy học và là địa điểm thi cử để chọn người tài ra làm quan phục vụ cho chế độ nhà nước phong kiến đương thời. Qua bao tháng năm lịch sử dưới thời phong kiến tại Văn Miếu đã mở bao khoa thi, vì địa điểm này các bậc sỹ tử ở các phủ, huyện trong tỉnh có dịp hội tụ về để học và thi tuyển. Qua các đợt thi cử đó Văn Miếu đã ghi nhận biết bao các vị danh nhân đỗ đạt khoa tiến sỹ. Tên tuổi các danh nhân đó đã được khắc ghi trên bia đá còn lưu lại tới ngày nay. Văn Miếu đươc xây dựng đánh dấu môt bước phát triển cao của nền giáo dục phong kiến ở Hưng Yên. Sau này cũng tại nơi đây đã diễn ra các sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Quy mô, kiểu cách, các giá trị kiến trúc, mỹ thuật: Văn Miếu có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam, bao gồm: Tiền tế, Trung từ và hậu cung. Hệ thống mái của các tòa được làm liên hoàn kiểu “trùng thiềm điệp ốc”. Mặt tiền Văn miếu quay hướng Nam, cổng Nghi môn được xây dựng đồ sộ, bề thế, mang dáng dấp cổng Văn miếu Hà Nội. Phía trong cổng có sân rộng, ở giữa sân là đường thập đạo, hai bên sân có lầu chuông và lầu khánh cùng 2 dãy tả vu, hữu vu. Khu nội tự gồm: Tiền tế, Trung từ và Hậu cung, kiến trúc giống nhau, được làm theo kiểu vì kèo trụ trốn. Toàn bộ khu nội tự Văn miếu tỏa sáng bởi hệ thống đại tự, câu đối, cửa võng và hệ thống kèo cột đều được sơn thếp phủ hoàn kim rất đẹp.
Giá trị cổ vật: “Văn Miếu kim chung” (chuông vàng Văn Miếu) được đúc năm Gia Long thứ 3 (1804) thân cao 1,5m , đường kính 90 cm; “Ngọc khánh Văn Miếu” (khánh đá Văn Miếu) dài 1,9m, cao 0,95m, dày 0,15m; ở cổng Tam quan còn có hai con sấu đá. Và cổ vật quý bậc nhất ở đây là 9 tấm bia đá có kích cỡ khác nhau, đây là tư liệu văn tự gốc quý giá. Toàn bộ trán và diềm bia được chạm khắc hoa văn phong phú với các chủ đề rồng, kỳ lân, lưỡng long chầu nguyệt tinh xảo, uyển chuyển, tỉ mỉ đến từng chi tiết. 8 tấm bia được dựng vào năm 1888 và tấm bia cuối cùng được dựng năm 1943, ghi danh tên tuổi, quê quán, chức vụ 161 vị đỗ đại khoa trong tổng số 228 vị đỗ đại khoa của tỉnh nhà. Bia lớn có kích thước 1,35m x 0,86m, bia nhỏ có kích thước 1,15m x 0,78m. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra còn phải kể đến hai pho tượng đồng cỡ lớn. tượng thầy Chu Văn An ngồi trên ghế thờ được đặt ở tòa trung từ, có mắt nhìn xa xa, phục trang bình dị, áo ít nếp, ảnh hưởng của phong cách thời Trần. Tượng đức Khổng Tử ở gian hậu cung, với tư thế ngồi và cách để tay biểu hiện của lưỡng nghi, tứ tượng theo tính chất dịch học của Nho giáo. Bàn tay phải úp xuống nắm lấy bàn tay trái ngửa ra hiện thân như một vị thần cầu no đủ, hạnh phúc.
Đối tượng thờ: Văn Miếu được xây lên để thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết nho giáo. Cùng thờ với Khổng Tử là Chu Văn An.
Thự trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích: Văn Miếu cũng là nơi đặt trụ sở của Ban quản lý di tích tỉnh Hưng Yên nên rất được chú trọng bảo vệ. Các hiện vật trong di tích được giữ gìn và bảo quản tốt, hàng ngày đều có người kiểm tra, lau dọn.
Giá trị được xếp hạng: Năm 1992, Văn Miếu Hưng Yên được bộ Văn hóa – thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Từ điển Địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam của Nguyễn Như Ý và Nguyễn Thành Chương ghi rõ: văn miếu Xích Đằng là một trong 6 văn miếu còn tồn tại cho đến ngày nay của đất nước, là một trong ba văn miếu lâu đời nhất ( đứng sau văn miếu Quốc Tử Giám – Hà Nội và văn miếu Mao Điền – Hải Dương) còn tồn tại.
Tự nhiên và kinh tế – xã hội là những yếu tố để phát triển và nuôi dưỡng những giá trị văn hóa. Do vậy, phần lớn các di tích lịch sử văn hóa có giá trị ở thành phố Hưng Yên đều được tạo dựng và trùng tu lớn vào thời kỳ Phố Hiến thịnh vượng ( thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII). Các di tích này lại phân bố tập trung thuận lợi cho việc tổ chức các loại hình du lịch văn hóa.
Các di tích lịch sử văn hóa trên đều nằm trong quần thể di tích Phố Hiến xưa đã đang và sẽ được trùng tu, bảo quản, khai thác tốt để phục vụ phát triển du lịch của thành phố trong hiện tại và tương lai góp phần vào xây dựng kinh tế – xã hội của thành phố Hưng Yên, xứng đáng với địa danh Phố Hiến một thời hung thịnh.
2 Lễ hội truyền thống Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Thành phố Hưng Yên có nhiều lễ hội phản ảnh khá rõ nét con người, truyền thống, phong tục mà thông qua đó để tạ ơn trời đất, thần nước và cầu mong có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tạ ơn những người có công đức, tưởng nhớ tới các vị anh hung.
Hiện nay, thành phố Hưng Yên có 65 lễ hội truyền thống, các lễ hội này được tổ chức trong khoảng thời gian từ rằm tháng giêng đến hết tháng năm âm lịch. Mỗi lễ hội đều có bản sắc riêng gắn với tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân bản địa. có một số lễ hội được tổ chức hai hoặc lần trong năm, lần một là đầu năm, lần hai, lần ba trong khoảng tháng bảy đến tháng chín âm lịch.
Tuy quy mô các lễ hội của thành phố Hưng Yên không lớn nhưng đã thu hút được lượng du khách đáng kể hàng năm về dâng hương, đặc biệt ngoài người dân địa phương thì có rất nhiều du khách thập phương ( chiếm khoảng 47% theo thống kê của phòng Văn hóa thông ti thành phố Hưng Yên). Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Lễ hội Đền Tân La
Lịch sử phát triển của lễ hội và của các nhân vật được tôn thờ: Bát Nàn tướng quân tên thật là Vũ Thị Thục, con ông Vũ Công Chất, hào trưởng trang Phượng Lâu. Nghe tiếng Thục nương xinh đẹp, giỏi võ nghệ, Thái thú Giao Chỉ lúc đó là Tô Định đã ép ông Vũ Công Chất gả Thục Nương cho hắn. Ông Chất và Thục Nương không đồng ý vì đã nhận trầu cau của người khác, Tô Định liền tìm cách hại gia đình và tìm cách bắt Thục Nương. Bà đã bỏ trốn sang vùng Tân La chiêu mộ binh mã chống lại. Khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra, Thục Nương đã xin gia nhập nghĩa quân của Hai Bà và được phong là Bát Nàn tướng quân. Khi Hai Bà Trưng tự vẫn, Thục Nương rút về vùng Tân La. Tại đây bà đã chiến đấu ngoan cường và hi sinh anh dũng vào năm 43. Để tưởng nhớ công ơn của Bát Nàn tướng quân, nhân dân vùng Tân La đã lập đền thờ bà tại đây.
Thời gian diễn ra lễ hội: Xưa kia, lễ hội đền Tân La thường kéo dài từ đầu tháng đến cuối tháng 3 âm lịch. Xưa kia, lễ hội đền Tân La thường kéo dài từ đầu tháng đến cuối tháng 3 âm lịch. Ngày nay, lễ hội được tổ chức đơn giản hơn, thời gian hội diễn ra ngắn hơn, lễ hội được tổ chức vào các ngày 15, 16, 17 tháng 3 âm lịch, nhưng vẫn bảo đảm nội dung và quy trình của lễ hội cổ truyền. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Quy mô của lễ hội: lễ hội mang tính chất địa phương, thu hút rất đông khách dâng hương nhưng chủ yếu vẫn là người dân thành phố Hưng Yên, người dân các vùng lân cận và một số người dân địa phương xa quê
Những giá trị văn hóa và phong tục, tập quán: Nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, đền Tân La có một vị trí địa lý quan trọng, là di tích cửa ngõ dẫn vào các điểm di tích trong long Phố Hiến. Lễ hội không chỉ có giá trị về mặt văn hóa và phong tục tập quán với người dân địa phương, mà còn là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử to lớn về thời đại Hai Bà Trưng, tuy thời đại đó ngắn ngủi nhưng có ý nghĩa vô cùng to lớn với đất nước ta, nó đã chấm dứt thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc của nước ta, cổ vũ phong trào yêu nước của dân tộc ta cho đến muôn đời sau.
Trong lễ hội có tổ chức rước nước từ sông Hồng về đền, ngoài ra còn có các trò chơi dân gian như: cờ tướng, kéo co, chọi gà, biểu diễn văn nghệ… thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Cụ thể :
- Ngày 1: Tổ chức hát sân đình, hát quan họ, đón du khách thập phương về dâng hương. Đọc tiểu sử của nữ tướng Vũ Thị Thục và dâng hương. Sau lễ là tổ chức các trò chơi dân gian.
- Ngày 2: Tiếp đón du khách đến lễ, tổ chức múa sanh tiền, cờ kiếm, chơi cờ tướng và một số trò chơi dân gian khác.
- Ngày 3: Kết thúc lễ hội.
Giá trị với hoạt động du lịch: Hàng năm, lễ hội thu hút hơn 4.200 lượt khách thập phương, đem lại nguồn thu trên 500 triệu cho ngành du lịch của thành phố Lễ hội cũng góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh Hưng Yên với du khách thập phương, là một kênh quảng cáo rất hiệu quả của du lịch thành phố Hưng Yên
Thực trạng của việc tổ chức và khai thác lễ hội: lễ hội là một hoạt động văn hóa thu hút được một lượng người lớn tham gia tập trung trong thời gian ngắn tại khoảng không gian hẹp nên việc quản lý để không xảy ra những hiện tượng tiêu cực là hết sức khó khăn. Và để quản lý tốt an ninh trong mùa lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan; tăng cường thanh tra, kiểm tra giám sát các hoạt động tổ chức lễ hội; tại nơi thờ tự, phải có hướng dẫn cụ thể việc đặt hòm công đức, không để xảy ra tình trạng đặt tiền giọt dầu, dắt tiền vào tay tượng phật gây phản cảm, thiếu mỹ quan.
Lễ hội Đền Mây Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Lịch sử phát triển của lễ hội và của các nhân vật được tôn thờ: đền mây thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ – một vị tướng tài ba ở thế kỉ X dưới thời Ngô Quyền. Ông đã cùng Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.
Theo “ Đại Nam nhất thống chí”, Phạm Bạch Hổ sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (910), thân phụ là Phạm Lệnh Công người lộ Nam Sách Giang (nay là Kim Thành – Hải Dương). Lệnh Công có tiệm buôn lớn ở Đằng Châu – Kim Động – Hưng Yên (nay là Xích Đằng – Lam Sơn – Hưng Yên). Tương truyền mẹ ông nằm mộng thấy Sơn Tinh và Hổ trắng mà có mang nên đã đặt tên ông là Bạch Hổ. Lớn lên Bạch Hổ có thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ như hổ, thông minh hơn người, văn võ song toàn. Phạm Bạch Hổ từng làm hào trưởng đất Đằng Châu, là tướng tài của Dương Đình Nghệ. Năm Tân Mão 931, ông giúp chủ tướng đánh đuổi Lý Tiến, thứ sử Giao Châu; đánh bại Trần Báo do Đường Minh Tông cử sang cứu viện, rồi xưng tiết đô sứ. Khi Kiều Công Tiễn, một nha tướng của Dương Đình Nghệ giết chết chủ tướng, đoạt chức rồi cầu cứu quân Nam Hán xâm lược nước ta. Phạm Bạch Hổ đã phối hợp với Ngô Quyền đem quân tiêu diệt Kiều Công Tiễn và đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938). Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha cướp ngôi vua, Phạm Bạch Hổ cùng Đỗ Cảnh Thạc lật đổ Dương Tam Kha đưa Ngô Xương Văn, con của Ngô Quyền lên ngôi, thời kỳ này được gọi là Hậu Ngô Vương. Năm 965, Hậu Ngô Vương mất, các hào kiệt trong nước nổi lên cát cứ từng vùng. Phạm Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu và là một trong mười hai sứ quân thời đó. Năm 968 Van Thắng Vương – Đinh Bộ Lĩnh được sứ quân Trần Lãm giao toàn bộ binh quyền, đã dẹp “Loạn 12 sứ quân”. Phạm Bạch Hổ đem quân quy thuận được phong là thân vệ Đại tướng quân. Ngày 16 tháng 11 năm Nhâm Thân (972), Phạm Bạch Hổ mất tại quê nhà, thọ 62 tuổi. Vua Lê Hoàn đã sắc cho nhân dân lập đền thờ, các triều đại phong kiến đều phong tặng ông là: Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
“Khai thiên hộ quốc tối linh thần”.
Thời gian diễn ra lễ hội: Hàng năm, lễ hội đền Mây được tổ chức hai lần, ngày 10/1 là kỷ niệm ngày sinh và 16/11 là ngày mất của Phạm Bạch Hổ.
Quy mô của lễ hội: Lễ hội mang tính chất địa phương, phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng của người dân địa phương. Ngoài việc phục vụ tín ngưỡng của người dân địa phương, hàng năm lễ hội còn đón rất nhiều du khách thập phương tới tham quan và dâng hương.
Những giá trị văn hóa và phong tục, tập quán: Lễ hội thường được diễn ra trong ngày với hai phần rõ rệt, sáng là phần lễ, chiều tổ chức hội. Sáng: tổ chức rước nước , đón du khách thập phương về dâng hương. Đọc tiểu sử của tướng quân Phạm Bạch Hổ và dâng hương. Diễn lại các tích liên quan đến tướng quân Phạm Bạch Hồ. Chiều: Sau lễ là tổ chức các trò chơi dân gian: đấu vật, múa lân, hát trống quân, múa rối nước, đánh cờ…kết thúc lễ hội.
Ngày nay, lễ hôi được tổ chức đơn giản hơn, mục đích là tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bài trừ những hủ tục lạc hậu xây dựng đời sống văn hóa mới. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Giá trị với hoạt động du lịch: năm 1992, bộ văn hóa thể thao đã công nhận đền Mây là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật. Để hòa nhập với sự phát triển của Phố Hiến – Hưng Yên, Đền Mây đang được quy hoạch, trùng tu, tôn tạo để bảo đảm phục vụ khách thạp phương và nhân dân trong vùng trong các ngày lễ hội. Đền Mây nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, là một trong những điểm đã và đang được chính quyền thành phố Hưng Yên đưa vào khai thác du lịch.
Thực trạng của việc tổ chức và khai thác lễ hội: Để quản lý tốt an ninh trong mùa lễ hội, ban quản lý đền Mây đã đưa ra một số giải pháp như: Rà soát kế hoạch tổ chức lễ hội, điều chỉnh nội dung, chương trình lễ hội phù hợp, phần lễ tổ chức tôn nghiêm, phần hội vui tươi lành mạnh. Dự báo lượng khách đến để chỉ đạo thực hiện phương pháp thích hợp, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn cho nhân dân, bảo vệ cảnh quan môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra tại nơi tổ chức lễ hội được tăng cường; lực lượng kiểm tra hoạt động lễ hội đã có biện pháp chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý vi phạm tại chỗ đối với các biểu hiện có mục đích trục lợi, ngăn chặn và loại bỏ những biểu hiện thu phí không đúng quy định, lừa gạt khách tham quan, hoạt động mê tín dị đoan, đánh bạc.
Lễ hội Đền Mẫu
Lịch sử phát triển của lễ hội và của các nhân vật được tôn thờ: đền Mẫu thờ bà Quý Phi họ Dương (vợ vua Tống), người đã tuẫn tiết để giữ long chung thủy với vua và trung thành với tổ quốc. Theo “Đại Nam nhất thống chí” và “Thần tích” thì bà là vợ vua Tống Đế Bính (Trung Quốc). Năm 1279, quân Nguyên Mông xâm lược nước Tống, trước sức mạnh của giặc, vua Tống cùng hoàng tộc xuống thuyền chạy về phương Nam tránh nạn. Tướng nhà Nguyên Mông là Trương Hoằng Phạm cho quân đuổi theo đến Nhai Sơn thì bắt được, vua Tống và một số phi tần không chịu khuất phục đã nhảy xuống biển tự tận. Dân chài cửa Càn Hải vùng Châu Hoan (Nghệ An) thấy bốn xác người phụ nữ, y phục như hậu phi, cung phi trôi trên mặt biển. Họ vớt được 3 xác đem chôn cất, còn xác thứ 4 trôi ngược dòng lên phía Bắc. Truyền rằng xác phụ nữ trôi ngược dòng đó ít ngày sau dạt vào cửa sông vùng Phố Hiến, được dân cư ở đây vớt lên, mai tang chu đáo và lập miếu thờ. Đời vua Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 2 (1294), thân chinh đi đánh Chiêm Thành,khi qua đây nằm mộng thấy thần nữ (chỉ Dương Quý Phi) đến xin âm phù giế giặc. Sau khi thắng trận trở về, nhớ tới công lao đó của Quý Phi, một mặt nhà vua cho tôn tạo lại đền, miếu, một mặt cho các bến bãi thu thuế thuyền buôn trích ra một phần cung cấp cho việc phụng thờ. Người dân đi biển đến đây lễ bái cầu xin thuận buồm xuôi gió…đều được như ý. Năm 1990, Đền Mẫu đã được Bộ Văn Hóa thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thật cấp Quốc gia.
Thời gian diễn ra lễ hội: Lễ hôi hàng năm được tổ chức từ ngày 10 đến 15 tháng 3 âm lịch.
Quy mô của lễ hội: lễ hội được tổ chức với quy mô lớn không chỉ thu hút người dân địa phương và các vùng lân cận, mà còn thu hút được một lượng lớn du khách từ các địa phương khác đến dâng hương (Theo thống kê của phòng Văn hóa thông tin thành phố, lượng du khách ngoại tỉnh đến dâng hương ở đền Mẫu hàng năm chiếm 45% lượng khách đến dâng hương khoảng 13.157 lượt khách). Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Những giá trị văn hóa và phong tục, tập quán: Lễ hội xưa được tổ chức rất linh đình, từ ngày 6/3 (Âm lịch) đã làm lễ chồng kiệu, ngày mồng 10 tổ chức rước kiệu quan thái giám họ Du từ Đình Hiến lên Đền Mẫu, ngày 11 lễ thỉnh kinh sau đó tổ chức rước nước, ngày 12 rước liềm (đi đầu là cờ, trống chiêng, long đình, bát bửu, lộ bộ, có đội múa lân, múa rồng. Đám rước đi một đoạn thì dừng lại để biểu diễn múa cờ. Bốn thanh nên cầm 4 cờ, múa theo nhịp trống, lúc nhanh, lúc chậm. Sau mỗi tiếng trống, người múa cờ “hứ” một tiếng to và dài (nên được gọi là trò “tùng hứ”)), ngày 13 là rước du (đám rước đi quanh phố, đi trong đám rước cũng như hôm rước liềm. Trong đám rước, rồng vàng uốn lượn từ đầu đến cuối đám rước, có múa “Con đi đánh bồng”. đám rước đi đến đâu hai bên đường người dân reo hò, cổ vũ rất nhộn, ngày 15 lễ rước kiệu thánh trả về Đình Hiến và làm lễ rỡ kiệu kết thúc lễ hội. Ngoài các lễ rước, hội đền Mẫu còn tổ chức các trò chơi dân gian như: thi đánh cờ, thi đấu tổ tôm điếm, chọi gà, hát chầu văn…
Ngày nay, lễ hội được tổ chức đơn giản hơn. Ngày 10 tháng 3 âm lịch rước nước, rước kiêu thánh từ Đình Hiến lên Đền Mẫu, ngày 12 tổ chức rước du vòng quanh thị xã và ngày 15 rước kiệu thánh trở về Đình Hiến. Ngoài ra còn tổ chức hát múa đón du khách thập phương. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Giá trị với hoạt động du lịch: Hàng năm, lễ hội đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến dâng hương, cầu phúc cầu lộc và lượng khách của năm sau thường tăng cao hơn năm trước (mỗi năm đón khoảng 13.571 lượt khách), đem lai nguồn thu khoảng gần 3 tỷ đồng mỗi năm cho thành phố. Theo thống kê của phòng Văn hóa thông tin thành phố hàng năm lượng du khách đến dâng hương ở đền Mẫu chiếm 75% lượng khách đến dâng hương ở các di tích thuộc thành phố.
Thực trạng của việc tổ chức và khai thác lễ hội: Ban quản lý di tích đền Mẫu nhận thấy đền là nơi linh thiêng với người dân địa phương, hàng năm thu hút một lượng lớn khách đến dâng hương, vãn cảnh nên rất chú trọng việc tổ chức lễ hội bài bản, an toàn cho du khách. Việc phân công các đội phụ trách tế lễ, rước nước, chọn phu kiệu, đội múa lân, đội cầm cờ, đội trống chiêng, long đình, bát bửu…rất được coi trọng vì phải đảm bảo là những người có tư cách đạo đức, khỏe mạnh, có trách nhiệm, và phải ăn chay, giữ mình thanh sạch trước khi diễn ra lễ hội nửa tháng. Địa phương cũng cắt cử người lo phần trang phục, đảm bảo trang phục phải sạch, đẹp, không rách, và đúng với từng vị trí trong khi tổ chức lễ hội. Ngoài ra còn có đội phụ trách sắm lễ dâng lên Thánh Mẫu, lễ phải đúng, đủ và đảm bảo.
Chính quyền địa phương, Ban tổ chức lễ hội cũng phối hợp với các lực lượng chức năng có phương án bảo đảm an ninh trật tự cho du khách, giải tỏa các lều quán bán hàng lấn chiếm đường đi, tăng cường các phương tiện, phương án phòng cháy, chữa cháy, đầu tư cơ sở vật chất, phân tuyến, nâng cấp đường giao thông, quy hoạch bến bãi giữ xe, các kiot bán hàng để phục vụ nhân dân tham gia lễ hội và có nhiểu biện pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên.
3 Nghệ thuật dân gian Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Cũng như nhiều miền quê Bắc Bộ khác, ở nhiều vùng thuộc tỉnh Hưng Yên còn lưu giữ được một số loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống độc đáo như: múa lân, múa rồng, múa tứ linh và những làn điệu dân ca có giá trị như: ca trù, trống quân, hát xẩm, hát chèo,…
Nghệ thuật hát ca trù
Hát ca trù hay hát ả đào là một bộ môn nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và học giả yêu thích.
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kì họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
Lịch sử hình thành và phát triển: Qua nghiên cứu một số di tích lịch sử và danh nhân văn hóa của tỉnh, nhận thấy ca trù ở Hưng Yên xuất hiện từ khá lâu và cũng có thời vàng son, điển hình là ở di tích đền Mẫu thôn Đào Đặng, xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên thờ danh nhân Đào Thị Huệ. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Nghệ nhân: Đào Nương tên thật là Đào Thị Huệ, quê làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, phủ Khoái Châu (nay là thôn Đào Đặng, xã Trung Nghĩa, thị xã Hưng Yên). Thủa ấy, con gái làng Đào Đặng xinh đẹp có tiếng, bà học thông biết rộng, hát hay múa giỏi, tiếng đồn hoa nhãn sắc nổi tiếng cả một vùng. Năm bà 18 tuổi, nhà Minh mượn có phù Trần diệt Hồ kéo quân sang xâm lược nước ta, chúng đóng quân ở khắp mọi nơi, vơ vét của cải, giết hại lương dân. Căm thù quân giặc sách nhiễu, tàn sát ức hiếp dân lành, bà bàn với dân làng tìm cách giết giặc. Nhờ có tài nghệ xuất sắc, lại khéo léo, nên quân giặc rất tin và nể bà, chúng thường qua lại quán của bà ăn uống, chè chén so say rồi lăn ra ngủ.
Hồi bấy giờ, Hưng Yên còn là vùng sình lầy, lau sậy um tùm, ruồi muỗi nhiều vô kể. Quân giặc không quen phong thổ thường sinh bệnh tật và chết vì muỗi độc. Vừa sợ lạnh, vừa vợ muỗi đốt chúng nảy ra sáng kiến làm những túi gai đêm đến chui vào ngủ, nhờ bà buộc lại, sáng hôm sau lại mở túi ra. Nhiều lần như vậy, Đào Nương nghĩ ra kế giết giặc. Đợi đến đêm khuya khi chúng đã ngủ say, bà cùng với dân làng khiêng từng bao tải ném xuống sông, nước cuốn trôi ra biển. Đêm nào cũng vậy, thấy quân số ngày càng hao hụt mà không biết vì cớ gì, chúng cho rằng đất nghịch không thể ở được, bèn kéo nhau đi nơi khác. Từ đó nhân dân trong vùng yên ổn làm ăn. Nhớ công ơn bà, dân làng lập đền thờ và đặt tên thôn ất là thôn Ả Đào. Bà được suy tôn là một trong những vị tổ nghệ thuật ca trù của nước ta. Dân làng tôn thờ bà, gọi bà là Thiên sinh Thánh Mẫu họ Đào hoặc ả Đào. Nghệ thuật ca hát của bà được dân làng truyền từ đời này sang đời khác với tên gọi hát Ả Đào.
Đất nước thanh bình, Lê Thái Tổ lên ngôi biết chuyên bèn phong bà làm chức phúc thần, cho sửa lại đền thờ và cấp ruộng cúng tế. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Giá trị về lời ca, âm vực: Hát nói là biến thể của song thất lục bát. Các nhà viết sách thời xưa cho rằng Hát nói là một hình thức biến đổi của thể ngâm Song thất lục bát: Trong hát nói có Mưỡu là những câu thơ lục bát, nhiều câu 7 chữ có vần bằng,vần trắc, có cước vận, yêu vận. Nhưng khi đã phát triển, Hát nói là một thể tài hỗn hợp gồm: thơ, phú, lục bát, song thất, tứ tự, nói lối…Trong lối hát ả đào có nhiều loại như: Dâng hương, giáo trống, gửi thư , thét nhạc thì hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.
Nghệ thuật biểu diễn, không gian biểu diễn: Một chầu hát cần có ba thành phần chính: Một nữ ca sĩ (gọi là “đào” hay “ca nương”) sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp; Một nhạc công nam giới (gọi là “kép”) chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát; Người thưởng ngoạn (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.
Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là “tức tịch,” nghĩa là “ngay ở chiếu”.
Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao. Những bài hát nói nổi tiếng phải kể đến: Cao Bá Quát với “Tự tình”, “Hơn nhau một chữ thì”, “Phận hồng nhan có mong manh”, “Nhân sinh thấm thoắt”…;Nguyễn Công Trứ với “Ngày tháng thanh nhàn”, “Kiếp nhân sinh”, “Chơi xuân kẻo hết xuân đi”, “Trần ai ai dễ biết ai”…; Dương Khuê với “Hồng hồng, tuyết tuyết “tức” Gặp đào Hồng đào Tuyết”. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra còn có những làn điệu cổ diển khác như “Tỳ bà hành” (bản diễn Nôm của Phan Huy Vịnh theo cổ bản của Bạch Cư Dị). Những điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát giai…cũng thuộc thể ca trù.
Thực trạng và khả năng khai thác bảo tồn du lịch: Hiện nay, nghệ thuật hát ảo đào ở Hưng Yên đã không còn như xưa, do những thăng trầm và thay đổi của cuộc sống, con người cũng đã thay đổi nhiều. Nhưng chính quyền thành phố và Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh đã lên kế hoạch phục hồi lại loại hình nghệ thuật này nhằm phục vụ du lịch. Trước hết là hát ở lễ hội, hiện nay là Đào Đặng còn có đền thờ và tượng Đào Nương. Hội đền tổ chức từ ngày mồng 1 đến gày mồng 6 tháng 2 âm lịch hàng năm. Sau đó có thể sẽ lập các đoàn nghệ thuật, không những là duy trì, gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, phục vụ du lịch mà còn là để truyền dạy lại cho con cháu đời sau biết yêu nghệ thuật hát ả đào
Nghệ thuật hát chèo
Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc. Chèo mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình. Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có đại diện tiêu biểu là Kinh kịch của Bắc kinh và sân khấu Nhật Bản là kịch nô thì đại diện tiêu biểu nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam là chèo. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Trong chèo, cái thiện luôn thắng cái ác, các sỹ tử tốt bụng, hiền lành, luôn đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng. Chèo luôn gắt với chất “trữ tình”, thể hiện những xúc cảm và tình cảm các nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tình bạn, tình thương. Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ, chuẩn hóa và rập khuôn. Tính cách của các nhân vật trong chèo thường không thay đổi với chính vai diễn đó. Những nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng. Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề v.v…Tuy nhiên, qua thời gian, một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thành một nhân vật có cá tính riêng. “Hề” là một vai diễn thường có trong các vở diễn chèo. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân đả kích những thói hư tật xấu của xã hội phong kiến hay kể cả vua quan, những người có quyền, có của trong làng xã. Có hai loại hề chính bao gồm : hề áo dài và hề áo ngắn.
Lịch sử hình thành và phát triển: Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn. Thế kỷ 18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19.
Nằm giữa đồng bằng Bắc Bộ, trên nền phù sa màu mỡ của châu thổ sông Hồng, Hưng Yên mang đậm những giá trị truyền thống của một vùng văn minh lúa nước, đồng thời còn là “cái nôi” của nghệ thuật chèo (theo báo Nhân Dân trong bài viết “Phát huy truyền thống chiếng chèo Đông” ra ngày 17/1/2012), một loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo, lâu đời của dân tộc. Cùng với chèo Hải Dương, Hải Phòng, chèo Hưng Yên đã góp phần định hình và tạo nên chiếng chèo Đông, một vùng chèo nổi tiếng trong bốn chiếng chèo chung quanh kinh thành Thăng Long xưa: chiếng chèo Đoài, chiếng chèo Bắc, chiếng chèo Nam. Nhà nghiên cứu chèo Hà Văn Cầu cho rằng nền nghệ thuật sân khấu, ca múa nhạc nước ta, trong đó có Hưng Yên, được hình thành từ rất sớm, đến đời Lý – Trần đã xuất hiện đội ngũ nghệ sĩ chuyên nghiệp có tài năng, trở thành chim đầu đàn của từng loại hình nghệ thuật biểu diễn. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Từ những chiếu chèo sân đình, nâng cao hơn là các phường chèo, rồi lớn nhất là đến các chiếng chèo (hay còn gọi một cách khác là vùng chèo) mang các đặc điểm đặc trưng của các làn điệu, hình thức diễn xướng dân ca vùng, miền. Chiếng chèo Đông xưa và chèo Hưng Yên là đất chèo gốc, “cái nôi” của các làn điệu chèo cổ, cho đến hôm nay vẫn còn đó nhiều chiếu chèo, phường chèo làng, xã truyền thống, đại diện cho một vùng phong cách.
Một số vở chèo tiêu biểu của chèo Hưng Yên như vở chèo Danh y vào Phủ chúa, vở chèo Hương Cúc, vở Tống Trân – Cúc Hoa, vở Lưu Bình Dương Lễ, Tấm Cám,…
Nghệ nhân: Xưa các các nghệ sĩ được dân gian suy tôn thành các “ tổ chèo”, “trùm chèo” như: Phạm Thị Trân, Đào Văn Só, Sái Ất.
Đào Văn Só ở Đằng Châu (nay thuộc thành phố Hưng Yên). Ông có nhiều học trò theo nghề ca hát, được các gánh Chèo đời sau tôn là một trong “Nhị vị Ông Làng” (hai vị Tổ nghề Chèo: Đào Văn Só (Hưng Yên) và Đặng Hồng Lân (Thái Bình).
Các loại nhạc cụ dùng để cùng biểu diễn: Chèo sử dụng tối thiểu hai loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt và đàn nhị. Ngoài ra, các nhạc công còn dùng sáo, trống, chum chọe. Bộ gõ nếu đấy đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la và mõ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Có câu nói “phi trống bất thành chèo” chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử dụng thêm các loại nhạc cụ khác để làm phong hú thêm phần đệm như đàn thập lục, đàn tam thập lục, đàn nguyệt và tiêu… Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Nghệ thuật biểu diễn, không gian biểu diễn: Đây là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là chính thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân gian đơn giản, những danh từ chèo sân đình, chiếu chèo cũng phát khởi từ đó.
Chèo không có cấu trú cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu Châu Âu mà các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở kịch kéo dài hay cắt ngắn tùy thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay đòi hỏi của khán giả. Số làn điệu chèo theo ước tính có khoảng trên 200.
Thực trạng và khả năng khai thác bảo tồn du lịch: Nhận thấy được giá trị của các loại hình nghệ thuật, thành phố Hưng Yên đã chú trọng đầu tư phát triển các loại hình nghệ thuật truyền thống của thành phố như: Chèo, hát ả đào và nhất là nghệ thuật chèo. Với việc xây dựng nhà hát chèo, thành phố cũng lập ra ba đoàn chèo cùng hoạt động. Đoàn chèo thường xuyên xây dựng các vở chèo mới đi phục vụ nhân dân các huyện, đồng thời tuyên truyền các chính sách mới của Đảng và Nhà nước, quảng cáo hình ảnh của thành phố Hưng Yên. Ngoài ra, còn có mục đích phục vụ du khách trên tàu thuyền du lịch trên sông Hồng, các tour tham quan thành phố nếu có yêu cầu.
Các giá trị văn hóa nghệ thuật là loại tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách, thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch tham quan giải trí, nghiên cứu. Việc bảo tồn, khôi phục phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật góp phần làm phong phú hấp dẫn thêm cho các loại tài nguyên du lịch khác và nhiều loại hình khác như: du lịch sông nước; du lịch văn hóa các dân tộc; du lịch tham quan; du lịch lễ hội.
4 Nghệ thuật ẩm thực Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Hưng Yên có những đặc sản nổi tiếng như: Nhãn lồng Phố Hiến, gà Đông Tảo(Đông tảo – Khoái Châu), sen Nễ Châu, tương bần(thị trấn Bần Yên Nhân), bún thang Thế Kỷ ( thành phố Hưng yên), bánh cuốn nóng làng Sài Thị ( Thuần Hưng – Khoái Châu), ếch om Phượng tường (Tiên Lữ), bánh dày làng Gàu (Cửu Cao – Văn Giang), chả gà Tiểu Quan (Phùng Hưng – Khoái Châu), rượu Trương Xá(Kim Động), rượu Lạc Đạo (Văn Lâm), chuột đồng (Nghĩa trụ – Văn Giang), Bánh cuốn (Mễ Sở-Văn Giang), cam Yên Mỹ (Yên Mỹ).
Ngoài ra còn phải kể đến các sản vật nông nghiệp truyền thông như: nếp cái hoa vàng, lúa gạo, bầu, bí, mướp và nhất là khoai lang Nhật Quang (xã Nhật Quang – Phù Cừ) nổi tiếng thơm ngon và có nguy cơ thất truyền do thoái hóa giống, mắm tép – Lệ Xá, giò bì Phố Xuôi, cá Mòi là một mó ăn không thể thiếu vào những ngày đông giá rét giáp Tết nguyên đán.
Xin nói cụ thể hơn về một số đặc sản riêng chỉ có ở thành phố Hưng Yên.
Nhãn Lồng
Trên lãnh thổ Việt Nam nhiều vùng có nhãn, song chỉ có ở Phố Hiến mới có thứ nhãn quả to và ngon nổi tiếng nhất, người ta quen gọi là nhãn lồng.
Nguồn gốc, xuất sứ: Về xứ nhãn tìm hiểu nghĩa gốc của tên gọi nhãn lồng, mỗi người giải thích một cách. Nhãn có nhiều loại được đặt tên theo tính chất và hương vị của quả. Nào là Nhãn cùi, Nhãn nước, Nhãn đường phèn, Nhãn gỗ (ăn khô), Nhãn thóc (quả nhỏ), Nhãn hôi hành (có mùi hành)…Nhưng chỉ có những quả nhãn to và ngon thường là nhãn cùi, nhãn đường phèn, mới được gọi là Nhãn lồng. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Nhãn, chữ Hán, nghĩa là mắt, như long nhãn nghĩa là mắt rồng. Như vậy là bắt đầu từ màu đen và kích cỡ của hạt hãn mà dân gian đặt cho cái giống cây ấy (ban đầu không có tên hoặc mang tên khác) là cây nhãn.
Thế còn chữ Lồng ? Một cách lý giải được nhiều người công nhận là căn cứ vào cái lồng bảo vệ chum nhãn. Những cây nhãn ngon, đẹp mã, phải chờ được nước mới thu hoạch nên loài dơi và chim chóc thường ăn trước, có khi sau vài đêm dơi “bốc” vãn cả cây nhãn. Cho nên chủ nhà phải đan những cái lồng (rọ) rồi đưa chum nhãn vào bên trong để bảo vệ. Cây nhãn Tiến (dùng để tiến vua) ở cửa chùa Hiến bây giờ nghe nói xưa kia người ta vẫn đan lồng để bảo vệ quả và canh giữ rất chu đáo.
Cây nhãn trước cửa chùa Hiến, được đặt bia mang tên là cây Nhãn Tổ, chính xác ra nên gọi là cây Nhãn Tiến. Đó là cây nhãn đường phèn có dáng chum đẹp, mã lụa, quả có cùi dày, hương vị thơm ngon đặc sắc nhất, vào mỗi mùa quả thường được chọn hái để dâng cúng Thành Hoàng và tiến vua. Thân cây chính đã già cỗi bị ruỗng, đổ, chỉ còn một cành nhánh được đắp vun gốc, chăm sóc phát triển thành một cây “hậu duệ”, hiện diện như một biểu tượng của giống nhãn đặc sản Phố Hiến – Hưng Yên. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Nghệ thuật sản xuất, giá trị sử dụng của sản phẩm: Trước dây nhãn Hưng Yên cũng là một cây ăn quả “cây nhà lá vườn” như bao cây trồng khác. Theo một số cụ cao tuổi kể lại rằng, trước đây nhãn thường trồng xen canh với các loại cây trồng khác trong vườn của nhiều hộ gia đình, trồng nhiều ở ven đường làm cây bóng mát, nhãn được trồng ở ven đê, trồng ở khuôn viên đình chùa, trường học và trong khuôn viên một số cơ quan. Trong thời kỳ chiến tranh, lương thực khó khăn, một số gia đình đã phá nhãn trồng cây màu. Trong thời kỳ đổi mới, khi điều kiện kinh tế khá hơn, nhu cầu thưởng thức các loại quả tươi ngon ngày càng cao, nhiều hộ gia đình đã cải tạo vườn tạp chuyển sang trồng nhãn. Theo thống kê của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, khi mới tái lập tỉnh (năm 1997), toàn tỉnh có khoảng 1.500 ha trồng nhãn, đến nay diện tích trồng nhãn đã tăng lên khoảng 5.500 ha. NHãn được trồng nhiều ở thành phố Hưng Yên và các huyện Tiên Lữ, Khoái Châu, Kim Động, Ân Thi…Nhãn ở Hưng Yên không chỉ bán quả tươi vào mùa vụ mà còn được chế biến làm long nhãn để có thể sử dụng quanh năm. Long nhãn là vị thuốc nam có tác dụng bồi dưỡng sức khỏe và an thần rất hiệu nghiệm. Vào mùa xuân hoa nhãn nở, cũng là dịp để những người nuôi ong được mùa mật thơm ngon nhờ hoa nhãn. Trong số những cây bóng mát ở thành phố Hưng Yên và một số huyện hiện nay, cây nhãn vẫn chiếm đa số.
Giá trị với hoạt động du lịch: Nhãn là cây cho quả theo mùa, vì vậy việc đưa nhãn vào khai thác du lịch cũng phụ thuộc theo mùa nhãn. Nhưng bên cạnh đó các sản phẩm từ cây nhãn như mật ong nhãn, quả nhãn, và long nhãn lại có giá trị cao về kinh tế. Bởi vậy, khi đưa cây nhãn vào tour du lịch ngoài tour thăm các vườn nhãn khi vào mùa (mùa hoa, mùa thu hoạch quả từ tháng 3 đến hết tháng 7 âm lịch ) còn có thể khai thác kết hợp với tour du lịch mua sắm đặc sản từ nhãn. Đây cũng là một kênh quảng bá cho du lịch thành phố vừa hiệu quả, vừa đem lại nguồn lợi cao.
Chè sen long nhãn Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
“Tháng sáu buôn nhãn bán trăm”
Đó là câu ca dao quen thuộc của người phố Hiến. Hưng Yên nổi danh khắp nước cũng nhờ nhãn. Nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng mô tả: “Mỗi lần bỏ vào miệng thì tận trong răng lưỡi đã này ra vị thơm tựa như nước thánh trời cho. Cùi nhãn trong như hổ phách, hạt nhỏ, nước ngọt mát và thơm lạ lùng”. Ở thành phố HƯng Yên nhãn được trồng nhiều ở ven đê từ Đằng Châu đến cửa sông Luộc.
Nghệ thuật sản xuất, giá trị sử dụng của sản phẩm: Mùa quả chín vào tháng sáu âm lịch. Một túm nhãn khoảng trăm quả, kèm thêm vài cành lá tươi đặt trên ban thờ, thắp nén hương khấn ông bà tổ tiên về chứng giám đã trở thành nét đẹp văn hóa của người Phố Hiến. Nhãn Hưng Yên có nhiều loại. Loại phơi khô để ngâm rượu, làm nhân bánh thì dùng nhãn nước. Loại nấu chè sen người ta dùng nhãn đường phèn hoặc nhãn hoa nhài, nhãn này cùi dày, có vân, nước ngọt mát, có hương thoảng như hoa nhài. Hạt sen nấu chè người ta chọn loại bở tơi, ở những đầm có đặc điểm thổ ngơi như sen An Cầu, sen Dốc Suối. Phải biết phân loại sen bách diệp với sen quỳ, vì hai loại này tương tự như nhau. Không phải người địa phương thì cũng dễ lầm lắm…
Làm chè hạt sen cần sự khéo léo thực sự. Bắt đầu từ khâu lựa chọn nguyên liệu đến cách tách long nhãn. Người làm tỉ mẩn, khéo léo dùng con dao nhọn tách long nhãn sao cho cùi nhãn không bị rách, nát. Như thế nó mới có thể ôm trọn lấy hạt sen, để hạt sen nằm e ấp trong cùi nhãn, quện hương vào nhau. Nước chè thường được nấu riêng bằng đường hoa mai thơm dịu với nước mưa. Những hạt sen ninh nhừ, được lồng vào cùi nhãn, rồi thả vào bát sứ Giang Tây xinh nhỏ, bát chè trong như hô phách điểm loáng thoáng nhân sen nhãn. Khi ăn mới rót nước chè vào, qua lớp nước trong ta nhìn rõ được hạt sen, cùi nhãn…Chè hạt sen long nhãn là món để ăn chơi, cần sự thong dong để cảm nhận cái hương vị ngọt ngào cao quý ngưng đọng trong hương vị của nhãn, của sen. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Giá trị với hoạt động du lịch: vào những ngày hè nóng nực đây là một món ăn không dễ bỏ qua vì tính giải khát, giải nhiệt cao, rất tốt cho cơ thể. Hiểu được điều này nên rất nhiều cơ sở kinh doanh quanh các điểm du lịch của thành phố đã mở điểm bán chè sen long nhãn nhằm thu hút khách du lịch, vừa bổ, vừa là đặc sản. Chính từ những điểm kinh doanh này đã tạo nên những nét đặc trưng rất riêng của thành phố Hưng Yên, bổ sung vào danh mục những đặc sản hấp dẫn của thành phố.
Mật ong nhãn
Nghệ thuật sản xuất, giá trị sử dụng của sản phẩm: Khi tiết trời chuyển mình từ xuân sang hè, từ se lạnh sang oi ả cũng là lúc những con đường ở thành phố Hưng Yên rộn ràng hoa nhãn. Những chùm hoa nhãn trắng vàng như những mâm xôi đơm đầy, mùi hương dịu nhẹ lan tỏa khắp không gian, từng đàn ong mật rập rờn lượn quanh những chùm hoa hứa hẹn những giọt mật vàng ươm, thơm mát. Ong có thể chế biến mật từ rất nhiều loại hoa, nhưng mật nhãn là thứ mật ngon, quý và tốt nhất. Hoa nhãn không nở quanh năm mà chỉ có khi vào hè, đặc biệt không phải hè nào hoa nhãn cũng nợ rộ mà phải là mùa hè ít mưa, nhiều nắng. Khi một tuần liền không có mưa và hoa nhãn nở nhiều là lúc chất lượng mật tốt nhất, bởi vì mật ong sẽ đặc quánh, nguyên chất không mang theo hơi nước của khí trời ẩm ướt có mưa. Thêm nữa khi hoa nở nhiều người nuôi ong không phải cho ong ăn thêm đường, khi đó mật ong là nguyên chất mật hoa. Hiện nay, người ta lấy mật bằng cách cho sáp ong vào máy và quay, như thế sẽ nhanh hơn và được nhiều khay sáp cùng lúc.
Giá trị với hoạt động du lịch: Ở thành phố Hưng Yên có một số điểm nuôi ong nhiều, nổi tiếng và uy tín như quanh khu Văn miếu Xích Đằng và ven đê Phố Hiến. Không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, thu hút khách du lịch ngày một đông mà còn đem lại nguồn thu cho du lịch thành phố hàng năm.
Bún thang lươn Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Nghệ thuật sản xuất, giá trị sử dụng của sản phẩm: Bún thang là món ăn đặc biệt ưa thích của người Phố Hiến. Người Hưng Yên xa xứ mỗi khi về thăm quê hương thường tìm lại quán bún thang ở gốc Sanh, phía gần cuối thành phố. Thành phần chính của thang có loại làm bằng lươn, có loại làm bằng thịt gà. Nhưng bún thang lươn ngon hơn, chế biến công phu hơn và cũng đích thực bún thang hơn! Lươn được làm sạch hết lớp nhầy ở bên ngoài và lớp óng ánh ở bên trong con lươn. Làm xong, có người thui qua lửa, có người thì không thui. Nhưng thui rồi mới mổ để lươn không bị mất máu, bao giờ cũng ngon hơn. Lươn luộc gỡ lấy thịt tẩm nghệ rồi xào lên, còn xương đem giã lọc lấy nước. Xưa kia nước dùng phải được ninh với xương lợn, xương gà, cả cua đồng, tôm he và sá sung, không thiếu thứ nào, váng hớt đi chỉ còn lại nước trong, thơm ngậy. Bí quyết làm bún thang ngon là mọi thứ nguyên liệu đều chế biến vừa đủ độ chín tới, liều lượng cân đối, không non tay cũng không già lửa…
Bún trong bát thang phải là bún Vân Tiêu, loại bún rối, sợi bún nhỏ, trắng và dòn. Trên nền bún trắng có giò lụa, trứng tráng thái chỉ, thịt lươn xào vàng thêm ít thịt ba chỉ thái nhỏ, rau răm rắc lên trên, nhìn bát bún như là một tác phẩm nghệ thuật đầy màu sắc. Chưa đủ, còn cần thêm thìa mắm tôm canh trước khi rưới nước dùng và sau cùng là nhỏ vào tí chút hương cà cuống…lúc ấy, bát bún được đặt mời quý khách với đủ màu sắc và hương vị đặc biệt của bún thang…một buổi sáng mùa thu, nhấp một ly rượu, ăn một bát bún thang gốc Sanh, ăn xong đứng dậy, bước đi bỗng trở lên chậm chạp vì sự lắng đọng, rạo rực, xao xuyến…
Giá trị với hoạt động du lịch: Một món ăn không chỉ có giá trị cao về dinh dưỡng ma đã góp phần tạo nên thương hiệu cho du lịch thành phố với món đặc sản không thể tìm thấy ở bất kỳ đâu ngoài gốc Sanh thành phố Hưng Yên.
Nhà văn Lê Lựu đã nói: “Bún thang lươn là một nỗi nhớ của người con thành phố Hưng Yên mỗi khi xa quê”.
5 Làng nghề truyền thống
Theo số liệu điều tra của Cục thống kê, hiện nay toàn tỉnh Hưng Yên có khoảng 62 làng nghề hoạt động ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau, thu hút và giải quyết việc làm cho trên 19.800 lao động. Từ năm 2014 đến nay làng nghề và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 12,5%. Giá trị sản xuất của các làng nghề chiếm tỉ trọng trên 30% trong tổng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp: năm 2001 đạt 204 tỷ đồng, năm 2002 đạt 230 tỷ đồng, năm 2010 đạt 278 tỷ đồng, hiện tại con số đó còn hơn nữa. Chỉ riêng thành phố Hưng Yên đã có 14 làng nghề truyền thống: làng nghề mây tre đan, làng nghề làm mộc, làng nghề đan cót, làng nghề làm bún, làng nghề làm thảm ngô, làng nghề làm mộc, làng nghề làm đậu phụ, làng nghề làm kẹo bột, làng nghề dệt lụa vải, làng nghề làm bánh trung thu, làng nghề chài lưới, làng nghề làm bánh đa, bánh cuốn. Các làng nghề này đa phần được hình thành từ thế kỷ XVI trở lại đây, từ khi Phố Hiến còn hưng thịnh, sự giao lưu buôn bán, giao lưu văn hóa giữa thành phố Hưng Yên và các địa phương khác còn rất nhộn nhịp. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Hiện nay, các làng nghề này vẫn rất phát triển, tuy nhiên đi cùng với sự phát triển đó là sự ô nhiễm môi trường thường thấy ở các làng nghề, điều này gây khó khăn lớn cho việc đưa vào khai thác du lịch. Việc tiêu thụ hàng hóa ở các làng nghề này cũng được chính quyền địa phương coi trọng, điển hình để giúp người dân có thể thuận tiện hơn trong việc bán sản phẩm, chính quyền thành phố đã quyết định tổ chức “Các Lễ hội văn hóa dân gian Phố Hiến” hàng năm. Lễ hội không chỉ nhằm khôi phục lại những nét văn hóa dân gian Phố Hiến” hàng năm.
Nghề chế biến long nhãn Hồng Nam
Lịch sử phát triển,quy mô của làng nghề : Làng thuộc xã Hồng Nam, thành phố Hưng Yên với hơn 180 hộ gia đình làm nghề chế biến long nhãn. Làng nghề được hình thành từ thế kỉ XVII khi nhãn lồng đã trở thành một đặc sản của Phố Hiến. Thời vụ thu hoạch nhãn thường chỉ kéo dài 35 đến 50 ngày, đây chỉ là thời kì bận rộn nhất của nghề làm long nhãn. Thời điểm này, Hồng Nam thu hút khoảng 1.200 lao động, phần đông là người của làng, song cũng có người ở các xã lân cận, có cả bà con ở thành phố Hưng Yên. Nghề làm long nhãn có ở nhiều nơi trong tỉnh, nhưng tập trung lớn nhất ở xã Hồng Nam thành phố Hưng Yên, Hồng Nam có hơn 180 hộ sản xuất long nhãn.
Nghệ thuật sản xuất và lựa chọn nguyên liệu :Cứ mỗi khi mùa nhãn bắt đầu người dân xã Hồng Nam lại bận rộn gấp bội ngày thường. Muốn long nhãn được thơm ngon, phải chọn những trái nhãn thật tươi, cùi dày và ngọt, thường là nhãn Hương Chi, nhãn cùi và nhãn đường phèn. Nhãn sau khi được chọn lựa sẽ được tách cùi ra khỏi hạt bằng bút xoáy(vật kim loại có đầu nhọn nhưa bút máy). Việc xoáy long đòi hỏi phải thật khéo léo và tỉ mỉ long khỏi bị rách. Long xoáy xong được xếp cẩn thận vào phên lưới rồi cho vào lò sấy. Long sấy sau 24h mang ra giở đều đến khi cùi nhãn se lại, đượm vàng là đã thành công. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Gía trị thẩm mỹ và sử dụng của sản phẩm : Ngoài công dụng làm thực phẩm long nhãn còn là 1 vị thuốc dùng để bồi bổ, chữa các bệnh hay quên, thần kinh kém, hay hoảng hốt, thần kinh suy nhược.khó ngủ. Long nhãn khô là 1 sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao rất tốt, đặc biệt cho trẻ trong quá trình sinh trưởng và phát triển, Ngoài ra, long nhãn khô còn là loại thức ăn ngọt hấp dẫn mà không gây béo phì bởi vị ngọt tự nhiên cảu trái cây, không phải ngọt đường gây tác hại xấu cho sức khỏe.
Theo Đông y, long nhãn có tác dụng làm tinh thần trở nên minh mẫn, khỏe mạnh, là thực phẩm hỗ trợ cho dạ dày và đường ruột. Long nhãn sấy khô được chế biến cầu kì rất tốt cho sức khỏe, ngoài việc là món ăn nhâm nhi ngon miệng mà còn có thể sử dụng để chế biến nhiều món ăn thơm ngon và bổ dưỡng. Theo kinh nghiệm lâm sàng của Đông y, long nhãn là vị thuốc bổ huyết, ích tâm, kiện tỳ, ích trí. Đem so sánh với táo tàu thì tác dụng chữa bệnh tỳ của long nhãn còn tốt hơn. Nó vừa bổ khí vừa bổ huyết, có hiệu quả điều trị chứng mất ngủ do suy nghĩ, lo lắng quá nhiều, tâm trạng bứt rứt, hồi hộp. Hạn nhãn tán thành bột gọi là lệ châu, dùng để cầm máu khi bị thương,làm giảm đau, chóng lành da, không để lại sẹo. Vỏ nhãn nghiền thành bột để chữa bỏng…
Long nhãn có thể dùng để nấu cùng thịt gà để làm thành món gà hầm long nhãn chữa mất ngủ,an thần,chè sâm,chè long nhãn táo đỏ… cung cấp nhiều dưỡng chất. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Việc tiêu thú sản phẩm, mức thu nhập và đời sống của người dân từ việc sản xuất : Hưng Yên là mỗi tỉnh có đặc sản nhãn lồng nổi tiếng, hang năm sản lượng thu hoạch đạt khoảng 25.000 tấn nhãn quả tươi. Hiện nay nhãn được tiêu thụ cho người tiêu dùng ăn, đóng hộp hoặc chế biến thành long nhãn. Long nhãn được tiêu thụ phần lớn ở thị trường Trung Quốc, Hồng Kông qua các chợ biên giới. Người xã Hồng Nam không chỉ chế biến long nhãn ở Hưng Yên làm còn thổ chức thu mua rồi chế biến tại Mộc Châu. Sơn La và ở phía Nam. Vì vậy Hồng Kông xuất hiện tỷ phú từ nghề làm long nhãn. Hiện nay chế biến long nhãn đều bằng phương pháp thủ công.
Sản lượng thành phẩm long nhãn mỗi năm vào khoảng 200 tấn,doanh thu bán ra của Hồng Nam đạt hơn 20 tỷ đồng,thu nhập cảu người làm công đạt 1.500.000 – 2.000.000/tháng. Với mỗi kg long nhãn loại 1 người dân nơi đây có thể thu lại từ 150.000-170.000.loại 2 từ 120.0000-140.000. Năm 2011 với sản lượng đạt toàn xã ước tính hơn 1.000 tấn quả,xã Hồng Nam đã thu trên 30 tỷ đồng.Trong đó,xa có khoảng trên 20 hộ trồng nhãn với diện tích lớn từ 1 đến 2 mẫu và cho thu nhập từ 200-400 triệu đồng từ nhãn quả.
Cơ chế, chính sách cho phát triển làng nghề : 26/7/2011 được sự giúp đỡ của chính quyền thành phố Hưng Yên và tỉnh Hưng Yên, hợp tác xã nhãn lồng Hồng Nam được thành lập với mục tiêu nhằm quảng bá thương hiệu nhãn lồng Hưng Yên và nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp với tiêu chí : Nâng cao chất lượng, ổn định năng suất. Đồng đều các sản phẩm màu săc, hương vị sản xuất theo hướng nông nghiệp sạch gắn liền với vệ sinh an toàn thực phẩm. Tạo một nền nông nghiệp bền vững với đặc điểm xây dựng vùng cây đặc sản Hưng Yên. Được sự hỗ trợ về kĩ thuật và tư vấn chuyên môn của tổ chức kĩ thuật Đức-gọi tắt là GTZ. Hỗ trợ về chính sách và cơ chế của viện chính sách chiến lược nội bộ nông nghiệp(JPSAPD). Giám sát kĩ thuật, sản xuất, bảo quản, bao gói bởi sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Hưng Yên.
Đầu tư bảo vệ,phát huy giá trị văn hóa vào đời sống kinh tế-xã hội và du lịch : Tuy thời gian làm long nhãn không dài nhưng sản phẩm làm ra có thể tiêu thụ quanh năm,bởi vậy khi đưa vào khai thác du lịch có thể kết hợp với việc tham quan vườn nhãn,các làng nghề khác và làng nghề Hồng Nam sẽ là nơi mua sắm cảu du khách khi đến tham quan.
Làng nghề hương xạ Cao Thôn Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Sản xuất hương xạ là nghề truyền thống ở Cao Thôn.
Lịch sử phát triển,quy mô làng nghề : Cao Thôn nằm ở vị trí cửa ngõ của thành phố Hưng Yên. Với lịch sử hang tram năm,nghề làm hương xạ ở Cao Thôn thực sự rất phát triển. Hưng Yên có 1 số làng chuyên làm hương, nay chỉ còn 2 nơi duy trì nghề này: Thôn Hạ-xã Trai Trang-Huyện Yên Mỹ chuyên làm hương đen nhưng nay quy mô bị thu hẹp do không có thị trường ;Thôn Cao xã Bảo Khê thành phố Hưng Yên.
Hương xạ Cao Thôn nổi tiếng xưa nay được mọi miền ưa chuộng và đã được các đại lý lớn xuất khẩu sang 1 nước láng giềng. Trải qua bao nhiêu năm, nén hương xạ Cao Thôn đã có được những sản phẩm chất mà ít làng hương nào bì kịp, từ mùi thơm cho đến độ bắt lửa lẫn hình thức. Hương Cao Thôn có mùi thơm đặc trưng, nhẹ mà thanh, không sực nức nhưng lại phảng phất rất lâu. Cả làng có 120/190 hộ làm hương. Công việc không nặng nhọc nên có thể tận dụng được hết nguồn lao động trong làng, từ người già đến tẻ nhỏ đều có thể làm được. Hiện nay Cao Thôn có khoảng 300 lao động làm hương.
Nghệ thuật sản xuất, lực chọn nguyên liệu: công nghệ sản xuất hương đơn giản,dụng cụ có thể tự tạo hoặc mua sắm không tốn kém,nguyên liệu đều láy từ thảo mộc, vốn sản xuất không đòi hỏi cao làm thế nhưng không phải ai cũng có duyên với nghè này.
Nguyên liệu chủ yếu để làm hương là dây keo được mua từ Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hóa … và cả trong miền Nam. Dây keo được nghiền thành bột, sau đó trộn lẫn với với các loại thảo mộc như : xuyên đại hoàng, xuyên quy, trắc bách diệp, hoàng đàn, tùng bạch chỉ, đinh hương, mỏ quạ. Tùy từng thợ mà cho ra các loại hương với mùi thơm khác nhau do cách pha chế của mỗi người mỗi khác. Hầu hết các công đoạn từ pha chế thuốc,se,nén đều phải tiến hành bằng phương pháp thủ công.Nén hương làm xong được phơi trên giàn, nắng gió sẽ làm hương khô, màu sắc đẹp mà giữ nguyên mùi thơm.
Gía trị thẫm mĩ và sử dụng của sản phẩm: Dù ai đi ngược về xuôi nhưng ngày Tết đều hướng lên bàn thờ tổ tiên với một nén nhang tưởng nhớ. Nến nhang trong tín ngưỡng văn háo Việt không biết từ bao giờ đã trở thành linh khí kết nối dương gian với thần linh và tổ tiên, những người đã khuất. Bởi vậy nghè làm cao hương không chỉ là nghề kinh tế mà đó còn có ý nghĩa lớn lao trong truyền thống uống nươc nhớ nguồn của nhân dân ta. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Cao Thôn sản xuất nhiều loại hương như : hương máy, xào vòng, quấn…. Mỡi loại hương đều có đặc điểm sản xuất và hương thơm khác nhau…
Việc tiêu thụ sản phẩm,mức thu nhập và đời sống của người dân từ việc sản xuất: sản lượng hương xạ đạt xấp xỉ 10 triệu nắm doanh thu từ 3,5-4 tỷ đồng/năm. Đến thời vụ làm hương, vào hai tháng giáp Tết nguyên đán, người Cao Thôn còn đổ ra các thành phố thị xã làm hương bán tại chỗ để giảm bớt chi phí vận chuyển, tuy vậy sản lượng hương sản xuất tại địa phương vẫn là chính. Sản xuất hương ở Cao Thôn hầu hết theo quy mô hộ gia đình, thu nhập bình quân đạt 1.350.000-2.000.000 đồng/người/tháng. Làng nghề này vẫn có triển vong giữ được nghề và ổn định phát triển.
Cơ chế, chính sách cho phát triển làng nghề: Mới đây, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên đã về nghiên cứu, xây dựng logo riêng cho làng nghề nhằm từng bước quảng bá, xây dựng thương hiệu.
Thực trạng đầu tư bảo vệ bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa vào đời sống kinh tế-xã hội và du lịch: Nghề làm hương không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà còn rất than thiện với môi trường. Nhiều năm nay, người thợ vẫn lưu giữ được những bí quyết truyền thống để đảm bảo cho chất lượng hương ngày càng tốt mà không phải sử dụng bất cứ chất hóa học nào. Từ xưa đến nay những loại cây thuốc bắc như quế chi hoàng đàn, hồi…vẫn là nguyên liệu để làm ra sản phẩm hương truyền thống.
Với vị trí cửa ngõ , sản phẩm chất lượng cao, người dân hiếu khách, làng nghề hương xạ Cao Thôn thực sự rất có tiềm năng để phát triển du lịch. Nhận thấy tiêm năng này nên chính quyền thành phố đặc biệt chú trọn đến việc quy hoạch phát triển làng nghề định hướng đưa vào khai thác du lịch cùng với quần thể di tích phố Hiến.
Sở Văn háo thể thao và du lịch xác định,du lịch Phố Hiến sẽ không chỉ dừng lại việc tham quan di tích mua sắm ở chợ phố Hiến mà còn kết hợp tham quan làng nghề, mua sắm làng nghề tạo điều kiện cho làng nghề tiêu thụ sản phẩm tại chỗ, việc này sẽ mang lại nguồn thu lớn. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
Tài nguyên du lịch nhân văn cảu thành phố Hưng Yên rất phong phú, có tiềm năng lớn cho phát triển du lịch, tuy nhiên bên cạnh việc khai thác cũng cần phải bảo vệ tôn tạo các tài nguyên đó để khai thác lâu dài bền vững.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 của khóa luận đi sâu vào đánh giá nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên. Từ những phân tích này có thể đánh giá sơ bộ về khả năng phát triển du lịch của thành phố Hưng Yên. Thành phố Hưng Yên có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn rất phong phú và đa dạng. Đây là điều kiện tốt cho các danh nghiệp khi kinh doanh dịch vụ du lịch khai thác tốt để phát triển du lịch của thành phố.
Tuy nhiên du lich thành phố cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức như: nhiều di tích xã bị xuống cấp, đất đai bị lấn chiếm, ô nhiễm… về việc đầu tư phát triển du lịch, quản lý và bảo vệ tài nguyên còn yếu, hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Mặt khác công tác xúc tiến, quảng bá du lịch còn chưa được coi trọng, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn đơn điệu nên chưa thu hút khách ở lại lưu trú dài ngày.
Để tạo nên những điểm nhấn phát triển thương mại dịch vụ, lưu giữ, phát huy những bản sắc của thành phố vốn hưng thịnh, yên bình, các cấp, ngành của tỉnh đang chung tay đầu tư tôn tạo các tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên để phục vụ hiệu quả hơn các hoạt động du lịch. Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp khai thác tài nguyên du lịch tại Hưng Yên

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Khóa luận: Thực trạng du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên […]