Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: một số giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng trong giai đoạn 2021-2025 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, ngành du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thu hút đầu tư; tạo nhiều việc làm; xóa đói giảm nghèo; nâng cao dân trí; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc; xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam năng động, thân thiện và hòa bình.

Du lịch Hải Phòng cũng vậy, cùng với kinh tế cảng biển, du lịch đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế của thành phố và trong đó không thể không kể đến du lịch biển. Sự đa dạng của địa hình ven biển Đồ Sơn và đảo Cát Bà đã tạo ra những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc như rừng quốc gia Cát Bà, các bãi biển đẹp cùng nhiều di tích văn hoá lịch sử và các lễ hội đặc biệt có giá trị to lớn đối với phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Hải Phòng nói riêng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, xung đột chính trị, tôn giáo, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, cạnh tranh thu hút khách giữa các nước trong khu vực ngày càng gay gắt đã tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngành du lịch.

Đối với riêng ngành du lịch biển Hải Phòng, mặc dù được đánh giá là có rất nhiều tiềm năng, nhưng trên thực tế, du lịch biển thành phố thời gian qua vẫn chưa phát huy được tối đa lợi thế sẵn có, trình độ khai thác tài nguyên du lịch biển còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm du lịch biển chưa cao, còn ở trình độ thấp, thiếu tính hệ thống, chưa chuyên nghiệp, chưa tập trung,…

Lâu nay hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch thường được đánh giá dựa trên lượng du khách gia tăng, mà chưa chú ý đánh giá đúng mức việc tăng chất lượng dịch vụ – yếu tố quan trọng nhất giúp ngành du lịch phát triển bền vững và đạt được doanh thu cao. Thực trạng cho thấy chất lượng dịch vụ du lịch biển trên địa bàn thành phố Hải Phòng còn nhiều bất cập, dẫn đến số lượng khách du lịch tăng trưởng hàng năm thấp, mức độ hài lòng của du khách chưa cao. Điều này ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển ngành du lịch thành phố trong tương lai.

Để khai thác, phát huy hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên du lịch của biển đảo Hải Phòng, tận dụng cơ hội thuận lợi trong nước và quốc tế, tạo bước phát triển đột phá cho ngành du lịch biển thành phố trong thời gian tới, việc tiến hành nghiên cứu thực trạng chất lượng dịch vụ du lịch biển Hải Phòng để đưa ra “Một số giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng trong giai đoạn 2021-2025” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa trong thực tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Ngành Du Lịch

2, Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Tìm hiểu và đánh giá được tiềm năng của du lịch biển Hải Phòng. Phân tích thực trạng chất lượng hoạt động du lịch biển tại Hải Phòng trong giai đoạn 2016-2020, những mặt đã làm được và những mặt còn hạn chế. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng du lịch biển tại Hải Phòng, để nó xứng đáng với lợi thế và tiềm năng vốn có.

3, Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tương nghiên cứu: là những vấn đề lý luận về du lịch biển, chất lượng dịch vụ du lịch biển, thực trạng dịch vụ du lịch biển tại thành phố Hải Phòng

Phạm vi nghiên cứu: trong phạm vi thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2020 (chủ yếu ở 2 khu du lịch Cát Bà và Đồ Sơn)

4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của đề tài đặt ra và giải quyết các luận điểm của mình, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

  • Phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu, so sánh
  • Phương pháp khảo sát thực địa
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Đề tài cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu thu thập tài liệu và chọn lọc nhiều nguồn tư liệu tham khảo khác nhau khi tìm kiếm các thông tin cần thiết như: các bài báo trên tạp chí, báo internet, các bài luận văn và các đề tài nghiên cứu có liên quan…

5, Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, khóa luận được cấu trúc thành 3 chương như sau:

  • Chương I: Cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch biển và cơ sở của việc nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch biển
  • Chương II: Thực trạng chất lượng du lịch biển tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2020
  • Chương III: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021-2025

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH BIỂN VÀ CƠ SỞ CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DU LỊCH BIỂN

1.1.TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH, DU LỊCH BIỂN, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

1.1.1. Khái niệm du lịch và các loại hình du lịch

1.1.1.1. Du lịch

Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm du lịch cũng không giống nhau.

Luật Du lịch Việt Nam 2005 đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

Dưới góc độ kinh tế, theo khoa du lịch trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, ăn uống, lưu trú, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đưa lại lợi ích kinh tế,chính trị xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp.”

Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách: Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế – xã hội của loài người đến một giai đoạn phát triển nhất định. chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ cuả khoa học – công nghệ, phương tiện giao thông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghĩ ngơi, tham quan du lịch cuả con người. Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn để cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hoá cao. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Xét từ góc độ các quốc sách phát triển du lịch: Dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch để hoạch định chiến lược phát triển du lịch, định hướng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. lựa chọn các sản phẩm du lịch độc đáo và đặc trưng từ nguốn nguyên liệu trên, đồng thời xác định phương hướng qui hoạch xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật và cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch tương ứng.

Xét từ góc độ sản phẩm du lịch: sản phẩm đặc trưng cuả du lịch là các chương trình du lịch, nội dung chủ yếu cuả nó là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hoá và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất – kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển.

Xét từ góc độ thị trường du lịch: Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thị du lịch là tìm kiếm thị trường du lịch, tìm kiếm nhu cầu cuả du khách để “ mua chương trình du lịch”.

1.1.1.2. Các loại hình du lịch

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường và trên cơ sở của tài nguyên du lịch có khả năng khai thác và các điều kiện phát triển du lịch, người ta thường kết hợp các yếu tố này với nhau để xác định các loại hình du lịch. Mục đích của việc xác định các loại hình du lịch nhằm vào việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia, của địa phương và định hướng chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp du lịch. Mỗi một loại hình du lịch có một thị trường khác nhau và có những đòi hỏi về quy trình, cách thức tổ chức, con người phục vụ, trang thiết bị và chất lượng phục vụ khác nhau.Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động du lịch có sự đan xen giữa các loại hình du lịch trong quá trình phục vụ khách du lịch.

Việc phân loại các loại hình du lịch căn cứ vào những tiêu thức cơ bản sau:

Căn cứ vào phạm vi địa lý lãnh thổ

Cùng với sự phát triển kinh tế và quan hệ ngoại giao giữa các nước, nhu cầu đi du lịch của khách không chỉ trong phạm vi quốc gia mà phát triển vượt ra ngoài biên giới của quốc gia. Căn cứ vào phạm vi địa lý lãnh thổ, có thể chia ra làm ba loại hình du lịch sau: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

  • Du lịch nội địa: Du lịch nội địa là khách du lịch thực hiện chuyến đi du lịch trong phạm vi quốc gia của mình.
  • Du lịch quốc tế chủ động hay còn gọi là xuất khẩu dịch vụ: Là việc đón khách du lịch nước ngoài đến tham quan và du lịch.
  • Du lịch quốc tế thụ động hay còn gọi là nhập khẩu dịch vụ: là việc đưa công dân của Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Phát triển loại hình du lịch này với mục đích tạo cho con người được mở rộng tầm nhìn, giao lưu với các dân tộc khác nhau, mở rộng các mối quan hệ kinh tế, học hỏi kinh nghiệm để áp dụng vào đất nước..v.v. Bên cạnh đó, khi ra nước ngoài khách tiêu thụ một số lượng lớn hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài, vì vậy người ta gọi loại hình du lịch này là nhập khẩu dịch vụ.

Căn cứ vào mục đích của chuyến đi du lịch

Con người đi du lịch với nhiều mục đích khác nhau, nhưng trong đó có mục đích chính của chuyến đi. Căn cứ vào tiêu thức này có thể phân ra một số loại hình du lịch sau:

  • Du lịch tham quan văn hoá-lịch sử. Đây là một loại hình du lịch mang tính phổ biến nhất và là cốt lõi của các chương trình du lịch. Con người khi đi du lịch với những mục đích khác nhau, nhưng cái cốt lõi vẫn là tìm hiểu truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, nếp sống của cộng đồng dân cư nơi họ đến du lịch. Vì thế, việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn và xã hội ở đây để phục vụ khách du lịch( trong đó cả khách du lịch nội địa lẫn khách du lịch quốc tế) đóng một vai trò quyết định. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.
  • Du lịch nghỉ dưỡng. Du lịch được coi như một phương tiện nhằm tái hồi sức lao động của con người sau những tháng, năm lao động vất vả. Loại hình du lịch này có từ rất lâu, đặc biệt khi du lịch chưa trở thành hiện tượng xã hội phổ biến mà chỉ giành cho tầng lớp giàu có và giai cấp thống trị. Ngày nay, loại hình du lịch nghỉ dưỡng đã thu hút đông đảo các tầng lớp dân cư tham gia. Đông đảo nhất là những người lao động có thu nhập tương đối cao, những người sống
  • thành phố chịu nhiều áp lực của tiếng ồn, ô nhiễm môi trường do khói và bụi, những người già có tiền tích luỹ sau nhiều năm làm việc hoặc có con thành đạt trợ cấp cho đi du lịch nghỉ dưỡng.

Loại hình du lịch nghỉ dưỡng được phân ra theo tiêu thức địa lý như sau:

Du lịch nghỉ dưỡng ven biển và đảo: Biển và đảo không chỉ có khí hậu trong lành, bơi trong nước biển trong xanh có tác dụng chữa bệnh tốt, ngoài ra còn thường kèm theo các loại hình du lịch đa dạng như : lặn biển, lướt ván, bơi thuyền..v.v.

Du lịch nghỉ dưỡng ở vùng núi: đặc biệt phù hợp với khách du lịch là những người có tuổi. Vùng núi có khí hậu trong lành, không gian yên tĩnh, cảnh quan đẹp đẽ giúp cho con người mau chóng hồi phục sức khoẻ.

Du lịch nghỉ dưỡng ở vùng nước khoáng: Vùng có nước khoáng không chỉ là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng mà còn là nơi du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng thông qua việc ngâm mình trong nước khoáng, uống nước khoáng để điều trị nhiều loại bệnh.

Du lịch công vụ: là loại hình du lịch của những người đi công tác, dự các cuộc hội nghị, hội thảo, tham dò đầu tư, thương mại và kết hợp với mục đích du lịch. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Du lịch thăm thân nhân: đây là loại hình du lịch phát triển mạnh mẽ trong điều kiện thế giới rộng mở, con người có thể đi làm việc và định cư ở bất cứ nơi nào trên trái đất, họ mong muốn trở về quê hương để thăm người thân kết hợp với du lịch.

Du lịch chữa bệnh: trước đây, loại hình du lịch này chủ yếu phát triển tại những nơi có nguồn nước khoáng, vùng núi và vùng ven biển với mục tiêu khai thác các tài nguyên thiên nhiên ( đất, nước, không khí, cỏ cây thiên nhiên,..v.v) phục vụ việc điều dưỡng và chữa bệnh cho con người. Ngày nay, bằng y học hiện đại, nhiều nước đã phát triển du lịch chữa bệnh như một loại hình du lịch cơ bản để thu hút khách từ mọi điểm dân cư trên thế giới đến du lịch và chữa bệnh.

Du lịch thể thao: gồm hai nhóm, đó là du lịch thể thao giành cho các vận động viên thi đấu và khách du lịch đi xem các sự kiện thi đấu thể thao.

Du lịch tôn giáo: Tín ngưỡng, tôn giáo đã hình thành và tồn tại hàng ngàn năm, cuộc sống của một bộ phận dân cư dựa vào các thần linh, chúa trời. Con người ngoài đời sông vật chất còn có đời sống tinh thần trong đó có vấn đề tâm linh. Một bộ phận dân cư đã hình thành các tôn giáo: thiên chúa giao, đạo tin lành, phật giáo, cao đài hoà hảo, cơ đốc giáo, đạo hồi…Các tín đồ đạo giáo hình thành nhu cầu tín ngưỡng được bộc lộ rõ nét trong các cuộc hành hương đến nơi có ý nghĩa tâm linh. Xuất phát từ nhu cầu trên, loại hình du lịch tôn giáo đã hình thành, tồn tại lâu đời và phổ biến ở các quốc gia.

Du lịch giải trí: Giải trí là hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người sau những ngày lao động mệt mỏi nhằm nghỉ dưỡng phục hồi thể lực và tinh thần. Để thoả mãn nhu cầu của con người, đã hình thành một ngành công nghiệp giải trí phục vụ con người bao gồm: các nhà hát biểu diễn các loại hình nghệ thuật, các rạp chiếu phim, các vũ trường, các casino( trung tâm đánh bạc), các cuộc cá cược cho đua ngựa, các công viên chuyên đề ..v.v.

Du lịch mạo hiểm: Đây là loại hình du lịch giành cho những người yêu thích mạo hiểm để chứng tổ lòng cam đảm và ý chí kiên cường, như: trèo núi cao, vượt thác, vượt sóng đại dương,.. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững. Khách du lịch lựa chọn loại hình du lịch này nhằm thưởng thức phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ và trở về với đời sống tự nhiên hoang dã. Đây là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường, có tác dụng khuyến khích mọi tầng lớp xã hội bảo vệ môi trường và văn hoá, bảo đảm mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng ở địa phương.

Căn cứ việc sử dụng các phương tiện vận chuyển khách du lịch.

Khi đi du lịch khách du lịch phải sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác nhau không chỉ từ nơi ở thường xuyên của khách tới điểm đến du lịch mà còn vận chuyển trong điểm đến du lịch. Trên cơ sở đó, người ta thường đưa ra hai loại tiêu chí để xác định loại hình du lịch, đó là:

  • Căn cứ việc sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch tới điểm đến du lịch.

Du lịch bằng hàng không: Đây là loại hình du lịch mà phần lớn khách du lịch sử dụng. Với việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sản xuất các phương tiện vận chuyển hàng không, ngày nay con người có thể đi đến khắp mọi nơi trên trái đất. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Du lịch bằng đường bộ: Khi hệ thống đường bộ phát triển không chỉ nối liền các địa phương trong một quốc gia mà còn nối liền với các quốc gia khác, du lịch bằng đường bộ sẽ thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ. Không chỉ các phương tiện vận chuyển khách du lịch bằng xe ô tô loại lớn, mà khách có thể tự lái xe đưa gia đình và người thân đi du lịch trong nước và nước ngoài

Du lịch bằng đường sắt: Ngày nay, các phương tiện vận tải đường sắt được hiện đại hoá với tiện nghi sang trọng, tốc độ nhanh và an toàn đang cạnh tranh nguồn khách du lịch với các hãng hàng không.

Du lịch bằng tầu biển: Thông thường một chương trình du lịch thường kéo dài hàng tháng và đi qua nhiều nước có cảng biển, họ đỗ lại và lên bờ tham quan.

Du lịch bằng tầu thuỷ: Loại hình du lịch này chủ yếu phát triển ở những vùng có nhiều sông và với những con sông chảy qua nhiều quốc gia. Khách du lịch đi trên du thuyền này đi tham quan các quốc gia có dòng sông đi qua. Loại hình du lịch bằng đường thuỷ này rất phát triển khi kết hợp với loại hình du lịch tham quan văn hoá-lịch sử

1.1.2. Dịch vụ du lịch, chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ du lịch Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

1.1.2.1. Dịch vụ du lịch

Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng ở dạng phi vật chất. Dịch vụ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các quốc gia trên thế giới hiện nay có xu hướng tăng dần tỷ trọng của các ngành dịch vụ trong phát triển kinh tế.

Khái niệm dịch vụ du lịch theo Luật Du lịch được Quốc hội ban hành năm 2005:

Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”.

Có thể tóm lược các đặc điểm của sản phẩm dịch vụ du lịch trong các đặc điểm vô hình, không thể lưu kho cất trữ, tính cao cấp, tính tổng hợp, có sự trực tiếp tham gia của người tiêu dùng, phụ thuộc vào cơ sở vật chất kỹ thuật.

1.1.2.2. Chất lượng dịch vụ Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Chất lượng hàng hóa là một khái niệm xuất hiện từ lâu và là cơ sở để hình thành khái niệm chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên việc đánh giá chất lượng của những sản phẩm dịch vụ khó khăn hơn nhiều so với đánh giá chất lượng hàng hóa hữu hình. Sự khó khăn và phức tạp này bắt nguồn từ các đặc trưng khác biệt của dịch vụ , đó là: tính vô hình, tính không thể phân chia, tính có khả năng biến đổi và tính dễ phân hủy. Chất lượng dịch vụ được hiểu là kết quả của sự so sánh của khách hàng, được tạo ra giữa sự mong đợi của họ về dịch vụ đó và sự cảm nhận của họ khi sử dụng dịch vụ đó. Như vậy, khái niệm chất lượng dịch vụ trong lý thuyết dịch vụ là chất lượng cảm nhận được của khách hàng. Nó bắt nguồn từ việc so sánh những kỳ vọng của khách hàng trước khi sử dụng dịch vụ với những gì khách hàng cảm nhận được sau khi tiêu dùng dịch vụ. Khi cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ đạt được kỳ vọng của họ thì coi như doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có chất lượng hoàn hảo. Sự kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ có sự khác biệt với sự cảm nhận của họ về chất lượng dịch vụ đó. Khi khách hàng cảm thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng mà họ kỳ vọng với chất lượng mà họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ, thì chất lượng của dịch vụ coi như hoàn hảo. Sự kỳ vọng của khách hàng và sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ đó phụ thuộc vào sự so sánh, bao gồm:

  • Sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhận thức của doanh nghiệp về sự kỳ vọng này
  • Sự khác biệt xuất hiện khi doanh nghiệp dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của chất lượng dịch vụ.
  • Sự khác biệt xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định. Trong các ngành dịch vụ, sự tiếp xúc của nhân viên với khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng đối với cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ nhưng nhiều khi nhân viên của doanh nghiệp không thực hiện chính xác những qui trình, tiêu chí đã được đề ra. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.
  • Sự khác biệt xuất hiện khi có khoảng chênh lệch giữa sự chuyển giao dịch vụ và thông tin đến khách hàng. Điều đó có nghĩa là việc quảng cáo và giới thiệu dịch vụ đến khách hàng không giống những gì họ nhận được từ nhà cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, sự kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác, đó là sự tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, nhu cầu cá nhân và các kinh nghiệm của khách hàng đó.

1.1.2.3. Chất lượng dịch vụ du lịch

Chất lượng dịch vụ du lịch xuất phát từ chất lượng của những sản phẩm du lịch hữu hình và sản phẩm du lịch vô hình. Đó chính là kết quả của sự so sánh giữa mong đợi của khách du lịch về dịch vụ du lịch và cảm nhận của họ sau khi sử dụng dịch vụ du lịch đó.

Đặc điểm chất lượng dịch vụ du lịch

Chất lượng dịch vụ khó đo lường, đánh giá:

Đặc điểm này do tính chất không đồng nhất của dịch vụ du lịch tạo ra. Việc đặt ra các tiêu chuẩn đầu ra cho chất lượng dịch vụ là rất khó khăn, do đó nó cần phải gắn với những tiêu chuẩn của những yếu tố hữu hình trong kinh doanh du lịch.

Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào cảm nhận của khách hàng:

Như trên đã phân tích chất lượng dịch vụ là sự so sánh của khách hàng về những kỳ vọng của họ đối với dịch vụ trước khi tiêu dùng và cảm nhận của họ sau khi tiêu dùng dịch vụ. Một dịch vụ có chất lượng tốt khi khách hàng không thấy có sự khác biệt giữa kỳ vọng và sự cảm nhận. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Chất lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc vào chất lượng của điều kiện vật chất thực hiện dịch vụ. Để khắc phục tính vô hình của dịch vụ du lịch, để tạo cảm nhận tốt cho khách hàng đối với dịch vụ du lịch của mình, doanh nghiệp kinh doanh du lịch cần phải chú trọng đến điều kiện vật chất thực hiện dịch vụ, đó là các yếu tố hữu hình như: kiến trúc khuôn viên khu du lịch, các vật dụng bài trí trong khách sạn, trang thiết bị dụng cụ phục vụ trong nhà hàng, quần áo trang phục của nhân viên phục vụ… cần phải tương xứng với giá cả của dịch vụ đơn vị mình cung cấp và phù hợp với thu nhập của nhóm khách hàng mục tiêu. Những đơn vị kinh doanh du lịch sử dụng phương tiện vật chất kỹ thuật tốt, có thương hiệu, đắt giá thường gắn liền với cảm nhận về một dịch vụ cao cấp.

Chất lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc vào người cung cấp dịch vụ du lịch Trong kinh doanh dịch vụ du lịch, nhân tố con người đặc biệt quan trọng. Chất lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của các nhân viên phục vụ trực tiếp. Khách hàng thường đánh giá nhân viên phục vụ qua những khía cạnh sau: thái độ phục vụ thể hiện qua sự nhanh nhẹn, chu đáo, nhiệt tình với khách…; kỹ năng phục vụ và kỹ năng giao tiếp thể hiện trong quá trình thực hiện công việc; kỹ năng xử lý tình huống và rất quan tâm đến trang phục và cách phục trang của nhân viên phục vụ. Hiện nay nhiều doanh nghiệp đã rất chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng tay nghề và kỹ năng phục vụ để đáp ứng nhu cầu ngày một cao hơn của khách hàng

Chất lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc vào quá trình cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp du lịch Quá trình cung cấp dịch vụ du lịch thường nhiều công đoạn. Tuy nhiên, đối với khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm du lịch, cái mà họ lưu giữ được chủ yếu ở dạng vô hình, đó là các trải nghiệm, là cảm giác hài lòng hay không hài lòng. Do đó, chất lượng và cách thức cung cấp từng công đoạn dịch vụ là rất quan trọng, và vai trò của các công đoạn đối với việc tạo ra cảm nhận của khách hàng đều quan trọng như nhau. Giả sử một nhóm khách tới ăn trưa tại một nhà hàng, các món ăn được nấu rất ngon, giá của thực đơn hợp lý, nhưng do quá đông khách nên nhân viên phục vụ không bưng món ăn ra kịp thời thậm chí khi thanh toán phải để khách phải chờ đợi lâu; nên vài người khách tỏ vẻ rất khó chịu khi ra về. Đây là một tình huống rất phổ biến và đã chứng minh rằng trong du lịch, để được đánh giá chất lượng phục vụ tốt thì tất cả các khâu trong quá trình cung cấp dịch vụ đều phải được thực hiện tốt

1.1.3 Du lịch biển và đặc điểm của du lịch biển Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

1.1.3.1 Khái niệm du lịch biển:

Du lịᴄh biển là loại hình du lịᴄh đượᴄ phát triển dựa trên những tiềm năng ᴠề biển, diễn ra trong ᴄáᴄ ᴠùng ᴄó tiềm năng ᴠề biển hướng tới thỏa mãn nhu ᴄầu ᴄủa ᴄon người ᴠề ᴠui ᴄhơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, nghiên ᴄứu…

1.1.3.2. Đặc điểm của du lịch biển

Tính vô hình (Intangibility):

Sản phẩm của dịch vụ du lịch là sự thực thi, khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi…trước khi mua.

Tính không đồng nhất (Herogeneity):

Với đặc tính này thường rất khó khăn để đạt tiêu chuẩn đầu ra của dịch vụ du lịch. Để có một dịch vụ tốt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như các khâu cung ứng dịch vụ, nhân viên cung ứng dịch vụ trong đó có cả sự tham gia của khách hàng.

  • Tính không có quyền sở hữu (Non-ownership): Khi bỏ tiền ra để được tiêu dùng dịch vụ, khách hàng chỉ được sử dụng dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định, mà không có quyền sở hữu chúng. Một phòng của khách sạn, một chỗ ngồi trên máy bay, một chỗ ngồi trong rạp hát có thể bán làm nhiều lần cho nhiều khách hàng khác nhau. Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa thông thường khác
  • Tính thời vụ của dịch vụ: Do dịch vụ du lịch có đặc tính này nên các nhà kinh doanh du lịch cần phải có kế hoạch chủ động cho các thời điểm cao điểm cũng như thấp điểm trong du lịch để thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch một cách hiệu quả nhất. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

1.1.4. Ý nghĩa kinh tế – xã hội của phát triển du lịch

1.1.4.1. Ý nghĩa kinh tế của phát triển du lịch

  • Ý nghĩa kinh tế của phát triển du lịch nội địa:

Về kinh tế, du lịch nội địa thực hiện việc tài phân chia nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, tái phân chia nguồn thu nhập giữa các vùng và địa phương trong nước. Khách có thu nhập cao tại các thành phố lớn và khu công nghiệp sẽ chi tiêu tại các vùng, các tỉnh phát triển du lịch.

  • Ý nghĩa kinh tế của phát triển du lịch quốc tế:

Tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất, khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Làm tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo.

1.1.4.2. Ý nghĩa xã hội – văn hóa của phát triển du lịch:

Về mặt xã hội, du lịch nội địa sẽ tạo ra nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp phục vụ du lịch và tạo ra sự giao lưu giữa người dân trong nước. Về văn hoá, đây là một phương tiện giáo dục truyền thống tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào với truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc đối với mọi công dân trong nước. Du lịch nội địa sẽ góp phần vào việc bảo tồn, duy tu và khôi phục các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, các loại hình nghệ thuật và làng nghề truyền thống. Đây là tiền đề cho việc phát triển du lịch quốc tế chủ động.

Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho hình ảnh của quốc gia.

Du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ quốc tế.

1.2. BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG KHU DU LỊCH BIỂN Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Theo quyết định số 4640/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch ban hành ngày 28/12/2016 về Bộ tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch, các tiêu chí đánh giá điểm đến là các Khu du lịch gồm 32 tiêu chí được chia thành sáu nhóm, bao gồm: Nhóm tiêu chí về tài nguyên du lịch, về sản phẩm và dịch vụ, về quản lý điểm đến, về cơ sở hạ tầng, về sự tham gia của cộng đồng địa phương, về sự hài lòng của khách du lịch, cụ thể như sau:

1.2.1. Nhóm tiêu chí về tài nguyên du lịch gồm các tiêu chí đánh giá cụ thể sau:

  • Sự đa dạng và độc đáo của tài nguyên
  • Sức chứa của điểm tài nguyên
  • Bảo vệ và tôn tạo tài nguyên

1.2.2. Nhóm tiêu chí về sản phẩm và dịch vụ gồm các tiêu chí đánh giá cụ thể sau:

  • Cung cấp thông tin cho khách hàng
  • Chỉ dẫn thông tin trong toàn bộ khu du lịch
  • Thuyết minh
  • Trung tâm thông tin du lịch
  • Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ lưu trú của khách du lịch
  • Dịch vụ cung cấp cho khách trong các khu lưu trú
  • Hệ thống nhà hàng phục vụ khách du lịch
  • Dịch vụ ăn uống
  • Cơ sở phục vụ vui chơi giải trí
  • Dịch vụ vui chơi, giải trí
  • Các hoạt động trình diễn, biểu diễn nghệ thuật
  • Dịch vụ tham quan, nghỉ dưỡng, khám phá, tìm hiểu các giá trị về tự nhiên, văn hóa
  • Dịch vụ tổ chức sự kiện, hội nghị, hội thảo
  • Dịch vụ mua sắm Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

1.2.3. Nhóm tiêu chí về quản lý điểm đến gồm các tiêu chí đánh giá cụ thể sau:

  • Quản lý chung
  • Môi trường tự nhiên và vệ sinh chung
  • Xử lý rác thải
  • Hệ thống nhà vệ sinh công cộng
  • Môi trường xã hội
  • Tổ chức lực lượng an ninh, trật tự
  • Phương án đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật

1.2.4. Nhóm tiêu chí về cơ sở hạ tầng gồm các tiêu chí đánh giá cụ thể sau:

  • Hệ thống đường giao thông
  • Biển báo chỉ dẫn tiếp cận khu du lịch bằng đường bộ, đường thủy
  • Đường giao thông nội bộ
  • Hệ thống điện
  • Hệ thống cấp thoát nước

1.2.5. Nhóm tiêu chí về sự tham gia của cộng đồng địa phương Tỷ lệ lao động là người địa phương trong khu du lịch

1.2.6. Nhóm tiêu chí về sự hài lòng của khách du lịch + Sự hài lòng của khách du lịch

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BIỂN Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

1.3.1. Điều kiện tự nhiên:

Bao gồm các yếu tố về địa hình, vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn và thế giới động thực vật:

Vị trí địa lý: Khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách du lịch có ý nghĩa quan trọng với nước nhận khách du lịch. Nếu nước nhận khách ở xa điểm gửi khách, điều đó có ảnh hưởng đến khách trên ba khía cạnh chính. Thứ nhất, du khách phải chi thêm tiền cho việc đi lại vì khoảng cách xa. Thứ hai, du khách phải rút ngắn lại thời gian lưu lại ở nơi du lịch vì thời gian đi lại mất nhiều. Thứ ba, du khách phải hao tốn nhiều sức khỏe cho đi lại. Lẽ dĩ nhiên những bất lợi trên của khoảng cách thể hiện rất rõ nét đối với du khách đi du lịch bằng phương tiện ô tô, tàu hỏa và tàu thủy. Ngày nay ngành vận tải hàng không không ngừng được cải tiến và có xu hướng giảm giá, có thể sẽ khắc phục phần nào những bất lợi trên đối với khách du lịch và đối với nước xa nguồn khách du lịch. Trong một số trường hợp, khoảng cách xa từ nơi đón khách đến nơi gửi khách lại có sức hấp dẫn đối với một vài loại khách có khả năng thanh toán cao và có tính hiếu kỳ vì sự tương phản, khác lạ giữa điểm du lịch và điểm nguồn khách. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Địa hình: Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh ở nơi đó. Đối với du lịch, địa hình càng đa dạng, tương phản và độc đáo càng có sức hấp dẫn du khách. Khách du lịch thường ưa thích những nơi có nhiều đồi núi và đối với nhiều người, địa hình đồng bằng thường không hấp dẫn họ vì tính đơn điệu của nó. Trong các kiểu địa hình, kiểu địa hình karst ( núi và hang động ) và địa hình bờ nước là những tài nguyên du lịch rất có giá trị. Ngành du lịch thế giới đã đưa vào khai thác hàng nghìn hang động, thu hút khoảng 3% tổng số du khách toàn cầu. Ở nước ta, địa hình đá vôi phân bố rộng khắp từ vĩ tuyến 16 độ trở lên với nhiều hệ thống hang động có giá trị du lịch như Phong Nha, Hương Tích, Bích Động, Sơn Đoòng…Đặc biệt hơn là kiểu địa hình karst ngập nước nhiệt đới điển hình ở Vịnh Hạ Long, mà giá trị của nó đã góp phần làm cho địa danh này được ghi tên vào danh sách các di sản thiên nhiên thế giới.

Khí hậu: Những nơi có khí hậu ôn hòa thường được du khách ưa thích. Nhiều cuộc thăm dò đã cho kết quả là khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm hoặc quá nóng, quá khô. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho sự phát triển của du lịch. Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Ví dụ du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp không mưa, nắng nhiều nhưng không gắt, nước vừa phải.Số ngày mua phải tương đối ít vào thời vụ du lịch biển. Điều đó có nghĩa là địa điểm , vùng hoặc đất nước du lịch cần có mùa du lịch tương đối khô. Mỗi một ngày mưa đối với du khách là một ngày hao phí cho mục đích của chuyến đi du lịch và như vậy làm giảm hiệu quả của chuyến đi nghỉ biển. Khách du lịch thường chuộng những nơi có nhiều ánh nắng mặt trời, do vậy họ đổ đến những nước phía Nam có khí hậu điều hòa và có biển. Những nơi có số giờ nắng trung bình trong ngày cao thường được ưa thích và có sức hút hơn đối với du khách. Điều này giải thích sức hấp dẫn của các bờ biển Đại Tây Dương của Tây Ban Nha, vùng bờ Địa Trung Hải của Pháp, Italia, Tunisia…Nhiệt độ cao khiến con người có cảm giác khó chịu. Nhiệt độ không khí phải ở mức cho phép khách du lịch được phơi mình ở ngoài trời nắng là nhiệt độ thích hợp. Nhiệt độ nước biển từ 20 độ C đến độ C được coi là thích hợp nhất với hoạt động du lịch tắm biển. Nếu nhiệt độ nước biển dưới 20 và trên 30 độ C là không thích hợp. Trong các yếu tố của khí hậu, nhiệt độ và độ ẩm có liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng chính đến cảm giác của con người. Qua quan trắc và nghiên cứu, người ta đã rút ra được mối quan hệ giữa điều kiện của khí hậu ( chủ yếu là độ ẩm và nhiệt độ ) với cảm giác hay sức chịu đựng của con người. Các nhà khoa học đã xác lập được một số chỉ tiêu gọi là chỉ tiêu sinh khí hậu để đánh giá mức độ thuận lợi về mặt khí hậu đối với hoạt động du lịch ở các nơi. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Thủy văn: Nước là một yếu tố không thể thiếu được để duy trì sự sống của con người. Gương nước rộng lớn không những tạo ra một bầu không khí trong lành mà còn có tác dụng rất lớn đối với sức khỏe của con người. Ngoài tác dụng để tắm ngâm thông thường, gương nước còn là một phương thuốc khá hiệu nghiệm chữa trị các bệnh stress. Đứng trước một gương nước mênh mông, lòng người ta trở nên thanh thản hơn, dễ chịu hơn, những sức ép cuộc sống căng thẳng dường như tan biến. chính vì vậy không ít nơi trên thế giới mọc lên những khu du lịch nghỉ dưỡng ven hồ ven biển, thu hút một lượng khá lớn du khách từ mọi miền đất nước. trong tài nguyên nước, các nguồn nước khoáng là tiền đề không thể thiếu được đối với việc phát triển du lịch chữa bệnh. Tính chất chữa bệnh của các nguồn nước khoáng đã được phát hiện từ thời Đế chế La Mã. Ngày nay các nguồn nước khoáng đóng vai trò quyết định cho sự phát triển của du lịch chữa bệnh. Theo các nhà địa chất thủy văn Việt Nam, ở nước ta có trên 400 điểm nước khoáng có giá trị du lịch như Kim Bôi, Quang Hanh, Hội Vân…

Thế giới động, thực vật: Thế giới động, thực vật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch chủ yếu nhờ sự đa dạng và tính đặc hữu. Con người thường phấn đấu để cuộc sống của mình ngày càng đầy đủ về tiện nghi. Để đạt được mục đính ấy, họ đã làm cho cuộc sống của mình ngày càng xa rời thiên nhiên. Trong khi đó với tư cách là một thành tạo của thiên nhiên, con người lại muốn quay trở lại gần thiên nhiên. Do vậy bên cạnh các loại hình du lịch văn hóa, du lịch về với thiên nhiên đang trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến. Như vậy thế giới động, thực vật hoang dã đang ngày càng hấp dẫn nhiều du khách.

1.3.2. Điều kiện kinh tế – xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

1.3.2.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tác dụng trước hết làm ra đời hoạt động du lịch, rồi sau đó đẩy nó phát triển với tốc độ nhanh hơn.

1.3.2.2. Dân cư và lao động, trình độ dân trí:

Cộng đồng dân cư có vai trò to lớn trong bảo tồn tài nguyên, môi trường và văn hóa địa phương đảm bảo việc khai thác có hiệu quả các giá trị tài nguyên du lịch biển. phục vụ các mục tiêu phát triển lâu dài.

Sự sẵn sàng đón tiếp du khách của cộng đồng dân cư cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển hoạt động du lịch tại địa phương.

Trình độ dân trí của cộng đồng dân cư ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch ở các khía cạnh về thái độ thực hiện dịch vụ, văn hóa giao tiếp, ứng xử, tính chuyên nghiệp, đạo đức và thẩm mỹ của mỗi dịch vụ du lịch mà họ cung cấp cho khách hàng.

1.3.2.3. Cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

  • Cơ sở hạ tầng xã hội: được xem là những yếu tố đảm bảo điều kiện chung cho việc phát triển du lịch. Cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch.
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác tiềm năng du lịch, tạo ra sản phẩm dịch vụ, hàng hóa cung cấp và thỏa mãn nhu cầu của du khách. Bao gồm hệ thống khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển,… Trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là điều kiện, đồng thời cũng là sự thể hiện trình độ phát triển du lịch của một đất nước.

1.3.2.4 Các tài nguyên du lịch nhân văn: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Các tài nguyên có giá trị lịch sử có sức hút đặc biệt đối với du khách có trình độ cao, ham hiểu biết. Hầu hết các nước đều có tài nguyên có giá trị lịch sử nhưng ở mỗi nước, tài nguyên du lịch nhân văn ấy có sức hấp dẫn khác nhau đối với khách du lịch. Thông thường chúng thu hút những khách nội địa có hiểu biết sâu về lịch sử dân tộc mình.

Các tài nguyên có giá trị văn hóa cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan nghiên cứu. trong số các tài nguyên này phải kể đến các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố lớn có triển lãm nghệ thuật và điêu khắc, các trung tâm thường xuyên tổ chức hội diễn âm nhạc, biểu diễn sân khấu, liên hoan phim, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, triển lãm các loại hình nghệ thuật…Các tài nguyên có giá trị văn hóa không chỉ thu hút khách du lịch với mục đích tham quan nghiên cứu mà còn thu hút đa số khách đi du lịch với các mục đích khác, ở lĩnh vực khác và từ nơi khác đến. hầu hết tất cả các khách du lịch ở trình độ văn hóa trung bình đều có thể thưởng thức các giá trị văn hóa của đất nước đến thăm. Do vậy tất cả các thành phố có các giá trị văn hóa hoặc tổ chức những hoạt động văn hóa đều được nhiều khách tới thăm và đều trở thành những trung tâm du lịch văn hóa nổi tiếng.

Các thành tựu kinh tế của đất nước hoặc vùng cũng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với phần lớn khách du lịch. Khách du lịch hay so sánh những thành tựu đạt được của nền kinh tế quốc dân của nước đến thăm với những năm trước đó, hoặc với kinh tế nước mình. Để tuyên truyền cho những thành tựu kinh tế của đất nước hay của vùng, nhiều cuộc trưng bày triển lãm, hội chợ thường được tổ chức. Rất nhiều thành phố đã trở thành trung tâm cho các cuộc triển lãm.

1.3.3. Tình hình chính trị và các điều kiện an toàn đối với du khách: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Các nhân tố chính trị là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong nước và quốc tế. Một môi trường chính trị bất ổn sẽ không thể mang lại cho khách du lịch niềm tin về một chuyến du lịch an toàn và do đó, việc quyết định du lịch tới một đất nước không có nền chính trị ổn định sẽ là một quyết định mạo hiểm cần cân nhắc.

1.3.4. Chính sách của Nhà nước:

Chính sách của Nhà nước là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành du lịch thể hiện ở việc thu hút đầu tư cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phát triển. Tùy theo từng giai đoạn lịch sử và điều kiện an ninh, chính trị, y tế của quốc gia, vùng, địa phương, Nhà nước sẽ có những chính sách mở rộng hoặc giới hạn các điều kiện về du lịch đối với các điểm du lịch, các cơ sở lưu trú, các khách du lịch… do đó, chính sách của Nhà nước về du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển du lịch của từng vùng, địa phương.

1.4. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.4.1. Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý

Du lịch không phải “ hàng hóa cho không” mà phải được tính vào chi phí đầu vào của sản phẩm du lịch. Do đó, cần có nguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát và ngăn chặn sự xuống cấp của môi trường. Muốn vậy cần:

Ngăn chặn sự phá hoại của các nguồn tài nguyên tự nhiên, các giá trị văn hóa lịch sử, truyền thống của dân tộc.

Phát triển và thực thi các chính sách môi trường hợp lý trong mọi lĩnh vực của du lịch.

Đưa nguyên tắc phòng ngừa vào tất cả các hoạt động và phát mới.

Bảo vệ và ủng hộ việc thừa hưởng các di sản văn hóa và lịch sử của dân tộc, cũng như tôn trọng các quyền lợi của người dân địa phương trong việc khai thác các tài nguyên du lịch.

Duy trì trong giới hạn, sức chứa đã được xác định.

1.4.2. Hạn chế sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần vào sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung. Để thực hiện tốt nguyên tắc trên đây, hoạt động du lịch cần:

Quản lý tốt để đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm nhất tài nguyên, có giải pháp nhằm ngăn chặn tiêu thụ quá mức tài nguyên.

Khuyến khích việc sử dụng công nghệ mới nhằm giảm mức tiêu thụ tài nguyên và hạn chế chất thải.

1.4.3. Phát triển gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng.

Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hóa, về xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch. Vì vậy muốn phát triển du lịch thì không thể tách rời việc bảo tồn đa dạng của các tài nguyên du lịch.

1.4.4. Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng rất cao, vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợp với các quy hoạch ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội nói chung phạm vi quốc gia, vùng địa phương. Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, giữ gìn môi trường.

Vấn đề phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường đang trở thành vấn đề cấp bách và là xu hướng tất yếu của ngành du lịch trên toàn thế giới. Trên cơ sở những quan điểm về du lịch, bản chất du lịch và xu thế phát triển du lịch gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường, chúng ta có thể áp dụng vào việc nghiên cứu phát triển du lịch biển Hải Phòng.

TIỂU KẾT CHƯƠNG I: Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch – đặc biệt là du lịch biển là một nhiệm vụ quan trọng để phát triển ngành du lịch Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đảm bảo hài hoà giữa phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch nói riêng trong tình hình hội nhập và phát triển. Việc xác định đặc điểm các loại hình du lịch, du lịch biển, phân tích sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đề xuất các tiêu chí đánh giá chất lượng du lịch biển là những cơ sở quan trọng và cần thiết, làm tiền đề cho việc đánh giá đúng thực trạng du lịch biển Hải Phòng trong chương II, và là căn cứ để đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng trong chương III.

Chương I đã đề cập tới cơ sơ lý luận về du lịch biển, chất lượng dịch vụ du lịch, bộ tiêu chí đánh giá chất lượng du lịch biển, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển, và các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững. Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng.

XEM THÊM NỘI DUNG TẠI ĐÂY:

>>> Khóa luận: Định hướng chất lượng du lịch biển tại Hải Phòng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] >>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537