Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách nội địa tại điểm đến du lịch tỉnh An Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 Tổng quan về tỉnh An Giang
4.1.1 Giới thiệu chung về An Giang
An Giang là một tỉnh thuộc Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, một trong những địa phương có nhịp độ phát triển kinh tế cao nhất, và là một điểm sáng về phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế của cả vùng. Với sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế, trong đó có du lịch, dịch vụ đã có những bước phát triển mạnh trong thời gian qua.
Với thế mạnh của An Giang như cụm du lịch núi Sam – miếu Bà Chúa Xứ, di tích Ba Chúc, khu du lịch sinh thái Trà Sư, hồ Thoại Sơn, khu tưởng niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng …du lịch An Giang trong những năm qua cũng đã có những bước phát triển khá ổn định và đạt hiệu quả cao. Cùng với khu vực đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương khác trong cả nước, An Giang ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch hơn, thu nhập xã hội từ du lịch cũng ngày càng tăng lên rõ rệt và vị trí của ngành du lịch ngày càng được khẳng định trong cơ cấu nền kinh tế Tỉnh nhà. Tuy nhiên, tỷ trọng thị trường khách quốc tế và giá trị thu nhập từ hoạt động du lịch của An Giang chưa thực sự cao. Hạn chế này xuất phát từ thực tế những khó khăn về điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và đặc biệt là chất lượng dịch vụ, tính đa dạng và chất lượng sản phẩm du lịch chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của tỉnh.
Quyết định 492/2009/TT ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là một quyết định quan trọng, khẳng định vị trí của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng của cả nước.Thực hiện quyết định này, sự hợp tác phát triển du lịch giữa 4 địa phương An Giang, Cà Mau, Cần Thơ và Kiên Giang đã chính thức được hình thành. Đây là những yếu tố thuận lợi cho phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng kinh tế trọng điểm cũng như của An Giang.
Để ngày càng đưa hoạt động xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch đi vào chiều sâu, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 08/07/2013 cho phép thành lập Trung tâm Xúc tiến Du lịch An Giang. Theo đó, Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh An Giang là đơn vị sự nghiệp công lập có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng để hoạt động theo quy định của pháp luật.(Nguồn: Sở VH- TT- DL tỉnh An Giang, 2013).
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
4.1.2 Tổng quan về An Giang
4.1.2.1 Vị trí địa lý Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
An Giang là một tỉnh của đông bằng sông Cửu Long có diện tích 3536 Km2. Phía Đông và bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía tây bắc giáp Campuchia, phía đông nam giáp thành phố Cần Thơ. An Giang là một tỉnh lớn đứng hàng thứ tư ở miền Tây Nam Bộ của Việt Nam và một phần đất của tỉnh An Giang nằm trong tứ giác Long Xuyên. Tỉnh An Giang là một trong sáu tỉnh được thành lập từ nhà Nguyễn dưới triều vua Minh Mạng. Khi Pháp đô hộ Việt Nam thì tỉnh An Giang bị xóa bỏ sau đó được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tái lập từ năm 1956 và giữ cho đến ngày nay.
4.1.2.2 Khí hậu
An Giang nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và có hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa nắng. Vì nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên nhiệt độ trung bình vào khoảng 27 độ C và độ ẩm từ 75- 80%, lượng mưa trung bình khoảng 1.130 mm. Với điều kiện khí hậu, địa lý này thì An Giang thích hợp cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và du lịch.
4.1.2.3 Dân cư
Tính đến năm 2011 dân số là 2.2 triệu người.Ngoài dân tộc Kinh ra còn có ba dân tộc chính. Trong đó dân tộc thiểu số có 114.632 người chiếm 5,17%.
Dân tộc Khmer: với 86.592 người chiếm 75,54% dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% dân số toàn tỉnh sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên số còn lại sống rải rác các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn… và hầu hết những người này theo Phật giáo Nam tông. Những người Khmer này có mối quan hệ rộng rãi với người Khmer ở các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở bên Campuchia. Nguồn thu nhập của những người này chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và làm thuê…
Dân tộc Chăm: với 13.722 người, chiếm gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Phú Tân, Châu Phú và Châu Thành. Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ hồi giáo các nước Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia. Nguồn thu nhập chính của họ sống bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống.
Dân tộc Hoa:14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh. Họ sống tập trung ở thành phố, thị xã, thị trấn, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới. Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian. Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác. (Nguồn: Sở VH- TT- DL tỉnh An Giang, 2011).
4.1.2.4 Kinh tế Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Theo Trần Tiến Hiệp- Văn phòng tỉnh ủy An Giang (2012) Kinh tế duy trì tăng trưởng hợp lý GDP cả năm của tỉnh đạt 8,45%, kim ngạch xuất khẩu đạt 850 triệu USD, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 31.422 tỷ đồng, thu ngân sách Nhà nước đạt 5.012 tỷ đồng (tăng 4,7%)…Thành tựu nổi bật về kinh tế là sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện cả về năng suất, chất lượng và hiệu quả. Quy hoạch và sản xuất nông nghiệp ngày càng theo hướng tập trung, gắn với thị trường, hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên đầu tư. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề ở nông thôn đặc biệt được quan tâm đã có bước tăng trưởng rõ rệt, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động. (Nguồn: Sở VH- TT- DL tỉnh An Giang, 2012).
4.1.2.5 Văn hóa
Với vị trí địa lý nằm bên bờ sông Hậu nên An Giang có nét đặc trưng của miền sông nước như chợ nổi trên sông và nhiều thắng cảnh khác. Bên cạnh đó thành phố Châu Đốc là thành phố biên giới, giáp ranh với Campuchia nên có nhiều nét đặc trưng của sự giao thoa văn hóa của các dân tộc vùng biên giới hai nước. Mặc khác Châu Đốc có nhiều khác biệt về văn hóa giũa các dân tộc Chăm, Hoa và Khmer hiện đang sống chan hòa trong cộng đồng dân cư. Đã tạo ra sự đặc trưng của vùng đất này về sự đa dạng văn hóa, càng làm tăng lên sự hấp dẫn cho du khách.
4.1.2.6 Xã hội
Quyết định 474/QD-TT ngày 14 tháng 04 năm 2009 thành phố Long Xuyên là đô thị loại II thuộc tỉnh An Giang và quyết đinh 449/NQ-TT ngày 15 tháng 4 năm 2015 về việc công nhận thành phố Châu Đốc là đô thị loại II thuộc tỉnh An Giang và là tỉnh đầu tiên của đồng bằng sông Cửu Long có hai thành phố trực thuộc tỉnh đó là thành phố Long Xuyên và thành phố Châu Đốc.
Do vị trí địa lý và văn hóa nên hiện nay các cơ quan hành chính và các ban ngành đoàn thể của tỉnh An Giang được đặt tại thành phố Long Xuyên. (Nguồn: Sở VH- TT- DL tỉnh An Giang, 2015).
4.2 Tiềm năng phát triển du lịch ở tỉnh An Giang
4.2.1 Tiềm năng phát triển du lịch
Với vị trí địa lý thuận lợi An Giang là vùng đất giàu tiềm năng với các giá trị về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, có thế mạnh về khí hậu, giao thông, đất đai…Với dự án cầu Vàm Cống sẽ hoàn thành trong thời gian tới thì An Giang sẽ có nhiều thuận lợi để phát triển, bên cạnh sự đa dạng về bản sắc văn hóa dân tộc, các lễ hội hấp dẫn, các điểm du lịch tâm linh, đặc sản hấp dẫn du khách, chính sách đầu tư hấp dẫn, an toàn, an ninh ở địa phương… tất cả sẽ góp phần đưa du lịch An Giang phát triển nhanh chóng trong thời gian tới.
4.2.2 Tài nguyên tự nhiên du lịch Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Với vị trí địa lý vùng biên giới nên An Giang có nhiều núi non hùng vĩ, đây làm một trong những nét đặc trưng của du lịch An Giang so sánh với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nét đặc trưng này thể hiện qua dãy núi Thất Sơn và hệ thống rừng tràm đã tạo nên nhiều thắng cảnh nổi tiếng ở An Giang như khu du lịch Núi Cấm, cụm du lịch núi Sam… với hệ thống sông ngòi, du lịch sông kết hợp với du lịch sinh thái như rừng tràm Trà Sư, du lịch mùa nước nổi… đã tạo nên tiềm năng to lớn để phát triển du lịch ở An Giang điển hinh như:
4.2.2.1 Khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư
Từ thành phố Châu Đốc, rẽ trái khoảng 17 km đến thị trấn Nhà Bàng thuộc huyện Tịnh Biên. Từ đây, đi theo đường tỉnh lộ 948 đến Km số 6, du khách tiếp tục rẽ trái đi theo một con đường nhỏ dài khoảng gần 4km là đến rừng tràm Trà Sư. Với diện tích 850 ha, rừng tràm Trà Sư phủ đầy một màu xanh của đám bèo tây giăng kín mặt nước tạo nên một cảm giác thanh bình và lãng mạn. Rừng Trà Sư là nơi trú ngụ của 70 loài chim trong đó có 2 loài chim quý hiếm đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam và có 11 loài thú ở đây. Ngoài ra, rừng Trà Sư còn có 10 loài cá xuất hiện quanh năm và 13 loài chỉ xuất hiện vào mùa lũ. Không chỉ phong phú về động vật, Trà Sư còn là nơi tụ họp của 140 loài thực vật.
4.2.2.2 Khu du lịch núi Cấm
Núi Cấm còn được gọi là núi Ông Cấm có tên chữ là Thiên Cấm Sơn (nghĩa là ngọn núi đẹp) nằm trong khu tam giác Tịnh Biên- Nhà Bàng- Tri Tôn thuộc cụm núi Thất Sơn , địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Đây là ngọn núi cao và hùng vĩ nhất trong cụm núi Thất Sơn ( cao 716m) . Núi Cấm mang vẻ hoang sơ kỳ bí và là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, lý tưởng nhờ vào địa thế cũng như thổ nhưỡng mà thiên nhiên ban tặng cho An Giang. Ở chùa phật Lớn, ngôi chùa nằm trong không gian tĩnh mịch bên những gốc bồ đề cổ thụ mà không ai biết có tự bao giờ ước chừng hơn thế kỷ. Gần đó là tượng Phật Di Lạc trắng toát cao 34m là tượng Phật Di Lạc lớn nhất Việt Nam và Châu Á với tư thế ngồi và đang mĩm cười nhìn du khách, (Vietbook 5/2013 ).
Để dần phát triển khu du lịch núi Cấm thành một khu du lịch với đầy đủ các chức năng như viếng chùa, thưởng ngoạn, giải trí thư giãn và ẩm thực… Công trình cụ thể nhất là hệ thống cáp treo Núi Cấm được khởi công vào cuối 2013 và sau hai năm đã được hoàn thành đưa vào phục vụ khách du lịch từ dịp Tết năm 2015. Hệ thống cáp treo này là cáp treo đầu tiên tại đồng bằng sông Cửu Long, được đầu tư xây dựng bài bản và hiện đại. Chính sự đầu tư đúng mức này đã đưa khu du lịch núi Cấm lên một tầm cao mới trong tổng thể du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung.
4.3 Phân tích kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
4.3.1 Phân tích thống kê mô tả:
4.3.1.1 Giới tính
Bảng 4.1 Giới tính
Theo khảo sát có khoảng 47.6% là Nữ giới và 52.4% là Nam giới tham gia khảo sát. Điều này cho thấy không có sự khác biệt về giới tính khi quyết định đi du lịch và cũng có nghĩa các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng không bị tác động hoặc chi phối bởi giới tính. Nếu có chăng thì điều này không đáng kể. Qua đó cho thấy nhu cầu đi du lịch của cả hai giới tính Nam và Nữ có thể xem là ngang nhau thể hiện rõ sự bình đẳng giới trong xã hội ở Việt Nam trong mọi mặt từ tự chủ về kinh tế, tự chủ về công việc, về thời gian..
4.3.1.2 Độ tuổi
Bảng 4.2 Độ tuổi
Thông qua bảng kết quả cho thấy có sự chênh lệch khá lớn về độ tuổi từ 20 đến 40 khi quyết định đi du lịch tại An Giang. Điều này cho thấy du lịch tại An giang đang thu hút tất cả các độ tuổi và các yếu tố tác động đến sự hài lòng của du khách cần phải cân nhắc và xem xét sao cho phù hợp với tất cả các độ tuổi, nghĩa là những yếu tố này cần phải phát triển toàn diện để phục vụ cho toàn thể khách du lịch tiềm năng. Tuy nhiên, độ tuổi từ 31-40 chiếm 40.4% cho thấy những du khách này trong độ tuổi này có công việc ổn định và có khả năng sắp xếp thời gian để tham gia du lịch. Đồng thời, độ tuổi trên 40 chỉ chiếm 27.2% cho thấy An Giang vẫn đang thu hút được đối tượng ở độ tuổi đã có nguồn tài chính ổn định này. Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm đến hai đối tượng trên vì họ chiếm tới 67.6% tổng lượng khách tới An Giang. Ngoài ra độ tuổi từ 20-25 và từ 26-30 lần lượt chiếm 13.6% và 18.8% ( chiếm 32.4%) cho thấy hai nhóm tuổi này cũng có nhu cầu đi du lịch. Điều này, giúp cho các nhà quản lý có chính sách phù hợp để thu hút khách du lịch với đa dạng lứa tuổi khi đến với An Giang.
4.3.1.3 Thu nhập
Bảng 4.3 Thu nhập Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Thông qua kết quả nghiên cứu, đối tượng khách du lịch có thu nhập trên 20 triệu là đối tượng đi du lịch nhiều nhất (chiếm 32%). Thông thường, đối tượng này sẽ có những đòi hỏi khắc khe hơn những đối tượng còn lại vì họ là người có thu nhập cao hơn và sẵn sàng bỏ chi phí cao hơn để có những trải nghiệm dịch vụ tốt. An Giang đang thu hút được số lượng lớn đối tượng này nên cần phải đầu tư phát triển mạnh các yếu tố đang khảo sát nhằm thu hút đối tượng tiềm năng này. Bên cạnh đó, cũng cần có các dịch vụ giá hợp lý để thu hút lượng khách có thu nhập khá từ 16 triệu đến 20 triệu (chiếm 28.8%). Mặt khác, cần có những dịch vụ có những chi phí vừa phải để đáp ứng phần đông các đối tượng có thu nhập tương đối từ 11 triệu đến 15 triệu (chiếm 20.7%) và thu nhập dưới 10 triệu (chiếm 18.4%). Điều này sẽ giúp cho An Giang đáp ứng được các nhu cầu từ thấp đến cao của du khách khi đến nơi đây.
4.3.1.4 Học vấn
Bảng 4.4 Học vấn
Qua khảo sát, cho thấy gần đây những người đã tốt nghiệp đại học (chiếm 31.7%) thường có nhu cầu đi du lịch nhiều hơn những người khác. Những người này thích trải nghiệm cuộc sống hơn các nhóm người khác. Bên cạnh đó, lượng du khách có trình độ học vấn cao đẳng cũng chiếm tỷ trọng tương đối khá (23.6%), cho thấy lượng khách đi du lịch ngày càng được học hành, đào tạo bài bản hơn trước (tổng hai nhóm khách này chiếm 55.3% lượng khách đến An Giang). Hai nhóm khách khác chiếm 19.1% cho những người tốt nghiệp phổ thông trung học và 19.7% cho người tốt nghiệp trung cấp. Cả hai nhóm khách này chiếm 38.8% lượng khách. Ngoài ra, An Giang cũng có một số lượng khách có trình độ học vấn cao (trên đại học) đến tham quan, nghĩ dưỡng, nghiên cứu… với 5.8% lượng du khách. Điều này, chứng tỏ An Giang có lượng du khách đến nơi đây có trình độ học vấn đa dạng từ thấp đến cao. Qua đó, Tỉnh cần có chính sách đào tạo nguồn nhân lực tốt hơn, năng động hơn, chuyên nghiệp hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
4.3.2 Kiểm định độ tin cậy cronbach’s Alpha
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Conbach’s Alpha cơ sở vật chất kỹ thuật
Theo kết quả kiểm định thang đo từ SPSS 20.0, thì hệ số tin cậy Cronbach Alpha cho cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch là Alpha = 0.814. Hệ số alpha này lớn hơn 0.60 nên thang đo này đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, nên tất cả các biến này đều phù hợp và đạt độ tin cậy.
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định Conbach’s Alpha của cơ sở lưu trú
Theo kết quả kiểm định thang đo từ SPSS 20.0, thì hệ số tin cậy Cronbach Alpha cho cơ sở lưu trú là Alpha = 0.819. Hệ số alpha này lớn hơn 0.60 nên thang đo này đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, nên tất cả các biến này đều phù hợp và đạt độ tin cậy. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Conbach’s Alpha của dịch vụ vận chuyển du lịch
Theo kết quả kiểm định thang đo từ SPSS 20.0, thì hệ số tin cậy Cronbach Alpha cho dịch vụ vận chuyển du lịch là Alpha = 0.769. Hệ số alpha này lớn hơn 0.60 nên thang đo này đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, nên tất cả các biến này đều phù hợp và đạt độ tin cậy.
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định Conbach’s Alpha của an ninh trật tự, an toàn trong du lịch
Theo kết quả kiểm định thang đo từ SPSS 20.0, thì hệ số tin cậy Cronbach Alpha cho an ninh trật tư, an toàn trong du lịch là Alpha = 0.821. Hệ số alpha này lớn hơn 0.60 nên thang đo này đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, nên tất cả các biến này đều phù hợp và đạt độ tin cậy.
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Conbach’s Alpha của hướng dẫn viên du lịch
Theo kết quả kiểm định thang đo từ SPSS 20.0, thì hệ số tin cậy Cronbach Alpha cho an ninh trật tư, an toàn trong du lịch là Alpha = 0.780. Hệ số alpha này lớn hơn 0.60 nên thang đo này đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, nên tất cả các biến này đều phù hợp và đạt độ tin cậy.
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Conbach’s Alpha của giá cả các loại dịch vụ
Theo kết quả kiểm định thang đo từ SPSS 20.0, thì hệ số tin cậy Cronbach Alpha cho an ninh trật tư, an toàn trong du lịch là Alpha = 0.883. Hệ số alpha này lớn hơn 0.60 nên thang đo này đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, nên tất cả các biến này đều phù hợp và đạt độ tin cậy.
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định Conbach’s Alpha sự hài lòng của du khách
Theo kết quả kiểm định thang đo từ SPSS 20.0, thì hệ số tin cậy Cronbach Alpha cho an ninh trật tư, an toàn trong du lịch là Alpha = 0.840. Hệ số alpha này lớn hơn 0.60 nên thang đo này đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, nên tất cả các biến này đều phù hợp và đạt độ tin cậy.
Nhận xét: Thông qua kết quả của SPSS qua bảng Item-Total Statistics chúng ta thấy rằng hệ số Cronbach Alpha của tất cả các thành phần thang đo các yếu tố tác động đến sự hài lòng của du khách nội địa đối với chất lượng dịch vụ du lịch tỉnh An Giang đều đạt chuẩn Cronbach Alpha > 0.60, đồng thời tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều đạt yêu cầu và có độ tin cậy khá cao Corrected Item-Total Correlation > 0.30 và không có biến nào bị loại. Cho nên, các biến đo lường của các thành phần này đều được sử dụng để tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA tiếp theo.
4.3.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
4.3.3.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các nhân tố lần 1
Kết quả phân tích EFA lần đầu cho thấy 28 biến quan sát được gom thành 6 nhân tố, với hệ số mức độ phù hợp của mô hình phân tích nhân tố KMO= 0.873 > 0.5 nên phân tích nhân tố hoàn toàn phù hợp, đáng tin cậy và hệ số Sig.(Bartlett’s Test of Sphericity)=0.000 (sig.<0.05) chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.
Bảng 4.12 Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần lần 1
Kết quả cho ta thấy, các nhân tố đều có giá trị Eigenvalues >1. Phương sai trích là 62.479% > 50% là đạt yêu cầu. Với phương pháp rút trích Principal Components Annalysis và phép xoay Varimax. Có 6 nhân tố được rút trích ra từ biến quan sát. Điều này cho thấy 6 nhân tố rút trích ra thể hiện được khả năng giải thích được 62.479% sự thay đổi của biến phụ thuộc trong tổng thể (xem phần phụ lục 3).
Bảng 4.13 Ma Trận xoay nhân tố lần 1
Như vậy, thang đo được chấp nhận và được chia thành 6 nhóm (6 cột theo hàng dọc) có một biến của thành phần thang đo có trọng số (Factor loading) nhỏ hơn 0.50 là HDDL4 sẽ bị loại ở lần phân tích lần 1 (Bảng 4.13).
Do HDDL4 bị loại nên cần phân tích yếu tố khám phá lần 2.
4.3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các nhân tố lần 2
Kết quả phân tích EFA lần hai cho thấy 27 biến quan sát được gom thành 6 nhân tố, với hệ số mức độ phù hợp của mô hình phân tích nhân tố KMO= 0.873 > 0.5 nên phân tích nhân tố hoàn toàn phù hợp, đáng tin cậy và hệ số Sig.(Bartlett’s Test of Sphericity)=0.000 (sig.<0.05) chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.
Bảng 4.14 Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần lần 2
Kết quả cho ta thấy, các nhân tố đều có giá trị Eigenvalues >1. Phương sai trích là 63.601% > 50% là đạt yêu cầu. Với phương pháp rút trích Principal Components Annalysis và phép xoay Varimax. Có 6 nhân tố được rút trích ra từ biến quan sát. Điều này cho thấy 6 nhân tố rút trích ra thể hiện được khả năng giải thích được 63.601% sự thay đổi của biến phụ thuộc trong tổng thể (xem phần phụ lục3).
Bảng 4.15 Ma Trận xoay nhân tố lần 2 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Như vậy, sau khi loại 1 biến quan sát HDDL4 ta còn 27 biến quan sát có hệ số tải nhân số (Factor loading) lớn hơn 0.50. Các nhân tố này sẽ không bị loại trong phân tích EFA (Xem phần phụ lục). Dựa vào bảng phân tích nhân tố EFA, ta thấy so với mô hình nghiên cứu đề xuất, các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách nội địa tại điểm đến du lịch tỉnh An Giang cũng vẫn chia thành 6 nhân tố, kết quả tóm tắt như sau:
Nhân tố 1: Được trích lại thành 5 biến quan sát gồm GCDV1, GCDV2, GCDV3, GCDV4, GCDV5. So với mô hình nghiên cứu đề xuất, thành phần các biến quan sát vẫn không đổi nên vẫn giữ tên nhóm nhân tố là giá cả các loại dịch vụ và các giá trị hệ số tải nhân tố (Factor Loading) đều thỏa điều kiện, thỏa mãn để đưa vào phân tích hồi quy.
Nhân tố 2: Được trích lại thành 5 biến quan sát gồm ANTT1, ANTT2, ANTT3, ANTT4, ANTT5. So với mô hình nghiên cứu đề xuất, thành phần các biến quan sát không có sự thay đổi. Nên vẫn giữ tên nhóm nhân tố là an ninh trật tự, an toàn trong du lịch và các giá trị hệ số tải nhân tố (Factor Loading) đều thỏa điều kiện, thỏa mãn để đưa vào phân tích hồi quy.
Nhân tố 3: Được trích lại thành 5 biến quan sát gồm CSVC1, CSVC2, CSVC3, CSVC4, CSVC5. So với mô hình nghiên cứu đề xuất, thành phần các biến quan sát vẫn không đổi nên vẫn giữ tên nhóm nhân tố là cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và các giá trị hệ số tải nhân tố (Factor Loading) đều thỏa điều kiện, thỏa mãn để đưa vào phân tích hồi quy.
Nhân tố 4: Được trích lại thành 4 biến quan sát gồm HDDL1, HDDL2, HDDL3, HDDL5. So với mô hình nghiên cứu đề xuất, thành phần các biến quan sát có thay đổi nhưng thay đổi không đáng kể. Nên vẫn giữ tên nhóm nhân tố là hướng dẫn viên du lịch và các giá trị hệ số tải nhân tố (Factor Loading) đều thỏa điều kiện, thỏa mãn để đưa vào phân tích hồi quy.
Nhân tố 5: Được trích lại thành 4 biến quan sát gồm CSLT1, CSLT2, CSLT3, CSLT5. So với mô hình nghiên cứu đề xuất, thành phần các biến quan sát vẫn không đổi nên vẫn giữ tên nhóm nhân tố là cơ sở lưu trú và các giá trị hệ số tải nhân tố (Factor Loading) đều thỏa điều kiện, thỏa mãn để đưa vào phân tích hồi quy.
Nhân tố 6: Được trích lại thành 4 biến quan sát gồm PTVC1, PTVC2, PTVC3, PTVC5. So với mô hình nghiên cứu đề xuất, thành phần các biến quan sát vẫn không đổi nên vẫn giữ tên nhóm nhân tố là dịch vụ vận chuyển du lịch và các giá trị hệ số tải nhân tố (Factor Loading) đều thỏa điều kiện, thỏa mãn để đưa vào phân tích hồi quy.
Kết luận: Sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA thì mô hình khảo sát không có sự thay đổi, tuy nhiên có 1 biến quan sát (HDDL4) bị loại do có hệ số tải nhân tố <0.5. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
4.3.3.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho sự hài lòng của du khách
Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy 3 biến quan sát được gom thành 1 nhân tố, với hệ số mức độ phù hợp của mô hình phân tích nhân tố KMO=0.726>0.5 nên phân tích nhân tố hoàn toàn phù hợp, đáng tin cậy và Sig.(Bartlett’s Test of Sphericity) = 0.000 (sig.<0.05) chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau tổng thể.
Kết quả cho thấy, tất cả các biến số có hệ số tải nhân tố (Factor Loading) > 0.5 cho nên không có biến nào bị loại.
Bảng 4.16 Bảng kết quả phân tích nhân tố EFA cho biến phụ thuộc
Kết luận: sau khi phân tích yếu tố khám phá EFA, biến HDDL4 (trong hướng dẫn viên du lịch –HDDL) bị loại do có hệ số tải nhân tố <0.5 và các biến khác không thay đổi. Như vậy mô hình còn 27 biến quan sát cho biến độc lập. Do chỉ có một (1) biến quan sát có sự thay đổi nên mô hình không bị ảnh hưởng và mô hình khảo sát vẫn được giữ nguyên như mô hình đề xuất ban đầu.
4.3.4 Phân tích hồi quy
Từ kết quả phân tích nhân tố EFA mô hình được gom lại thành 6 nhóm nhân tố độc lập với 27 biến quan sát và một nhóm phụ thuộc với 3 biến quan sát.
Gọi biến độc lập gồm 6 biến: “Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch”, “Cơ sở lưu trú”, “Dịch vụ vận chuyển du lịch”, “An ninh trật tự, an toàn trong du lịch”, “Hướng dẫn viên du lịch”, “Giá cả các loại dịch vụ”.
Gọi biến phụ thuộc: “Mức độ hài lòng của du khách nội địa” Để phân tích hồi quy, tác giả gọi:
- Nhân tố 1: CSVC là cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (là trung bình của các biến CSVC1, CSVC2, CSVC3, CSVC4, CSVC5).
- Nhân tố 2: CSLT là cơ sở lưu trú (là trung bình của các biến CSLT1, CSLT2, CSLT3, CSLT5).
- Nhân tố 3: PTVC là dịch vụ vận chuyển du lịch (là trung bình của các biến PTVC1, PTVC2, PTVC3, PTVC5).
- Nhân tố 4: ANTT là an ninh trật tự, an toàn trong du lịch (là trung bình của các biến ANTT1, ANTT2, ANTT3, ANTT4, ANTT5).
- Nhân tố 5: HDDL là hướng dẫn viên du lịch (là trung bình của các biến HDDL1, HDDL2, HDDL3, HDDL5).
- Nhân tố 6: GCDV là giá cả các loại dịch vụ (là trung bình của các biến GCDV1, GCDV2, GCDV3, GCDV4, GCDV5).
Gọi MDHL là mức độ hài lòng của khách nội địa (là trung bình của các biến MDHL1. MDHL2, MDHL3).
- Ta thấy mối quan hệ giữa biến phụ thuộc mức độ hài lòng của du khách và 6 biến độc lập được thể hiện trong phương trình hồi quy có dạng sau: Y= a0 +a 1X1 + a 2X2 + a 3X3 + a 4X4 + a 5X5 + a 6X6
- Hay MDHL= a0 +a 1* Cơ sở vật chất kỹ thuật + a 2* Cơ sở lưu trú + a 3 * Dịch vụ vận chuyển du lịch + a 4* An ninh trật tự, an toàn trong du lịch + a 5* Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
- Hướng dẫn viên du lịch + a 6* Giá cả các loại dịch vụ
4.3.4.1 Kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
Nghiên cứu thực hiện chạy hồi quy tuyến tính đa biến với phương pháp đưa vào một lượt (phương pháp Enter).
Bảng 4.17 Tóm tắt mô hình
Model Summary (tóm tắt mô hình) cho ta thấy:
- Hệ số tương quan R (0.741) đã được chứng minh là hàm không giảm theo số biến độc lập được đưa vào mô hình (6 biến). + R2 = 0.549 đã thể hiện thực tế của mô hình.
- R2 điều chỉnh từ R2 được sử dụng để phản ánh sát hơn mức độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến (0,540) vì nó không phụ thuộc vào độ lệch phóng đại của R2. + Như vậy, với R2 điều chỉnh là 0,540 cho thấy sự tương thích của mô hình với biến quan sát là rất lớn và biến phụ thuộc sự hài lòng của du khách gần như hoàn toàn được giải thích bởi 6 biến độc lập trong mô hình.
Theo như kết quả bảng ANOVA, ta thấy giá trị của Sig.= 0.00 < 0.05 ta có thể kết luận phương trình hồi quy được đưa ra là phù hợp với cả mẫu và tổng thể nghiên cứu.( Xem phần phụ lục 3).
4.3.4.2 Phân tích hồi quy
Từ bảng tóm tắt mô hình (model summary), ta thấy có 6 biến tác động được đưa vào mô hình phân tích hồi quy, các biến đều có quan hệ tuyến tính với biến mức độ hài lòng có các sig. 5%. Hệ số beta chuẩn hóa của các biến đều >0 chứng tỏ các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5, H6 đều đúng, các biến “Cơ sở vật chất kỹ thuật, Cơ sở lưu trú, Dịch vụ vận chuyển, An ninh trật tự, an toàn, Giá cả dịch vụ” đều tác động đến “Mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa”. Tuy nhiên, hệ số Beta chuẩn hóa của biến hướng dẫn viên du lịch (-0.026) < 0 nên bác bỏ giả thuyết H5. Điều này chứng tỏ biến “Hướng dẫn viên du lịch” không ảnh hưởng đến “Mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa”. Điều này có thể giải thích được là những thông tin về địa điểm du lịch tại An Giang đều được cập nhật trên trang mạng hay được ghi ở bảng thông tin tại các địa điểm tham quan du lịch, nơi du khách có thể đọc hay tìm hiểu. Mặt khác, các nhân viên phục vụ tại các khu du lịch, điểm tham quan đều ân cần giải thích nếu du khách có câu hỏi hay chưa hiểu bất cứ vấn đề gì liên quan đến nơi đó. Ngoài ra, các địa điểm tham quan du lịch ở An Giang không rộng lớn lắm nên du khách thường tự tổ chức đi du lịch theo nhóm, gia đình đến các nơi họ đã biết để vui chơi, hay tham quan như các đền, miếu, chùa…mà ít tham gia vào các chương trình du lịch của công ty du lịch hay đoàn lớn có hướng dẫn viên du lịch. Với xu hướng mới trong du lịch hiện nay của giới trẻ là đi du lịch “phượt” nghĩa là tự tổ chức đi du lịch theo nhóm, tự sắp xếp chương trình, tự đặt phòng… trong hành trình của nhóm. Nên hướng dẫn viên du lịch là không cần thiết đối với nhóm du lịch này. Loại hình đi du lịch “phượt” này thường là có chi phí cho du lịch rất hạn chế nên phương châm tiết kiệm tối đa chi phí thường được áp dụng khi đi du lịch” bụi”. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Bảng 4.18 Thông số thống kê trong mô hình hồi quy bằng phương pháp Enter
Từ bảng phân tích hồi quy, ta thấy mối quan hệ giữa biến phụ thuộc mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa và 5 biến độc lập được thể hiện trong phương trình hồi quy sau.
- Y= a0 +a 1X1 + a 2X2 + a 3X3 + a 4X4 + a 6X6
- MDHL= a 1* Cơ sở vật chất kỹ thuật + a 2* Cơ sở lưu trú + a 3 * Dịch vụ vận chuyển du lịch + a 4* An ninh trật tự, an toàn trong du lịch + a 6* Giá cả các loại dịch vụ
Giá trị hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến độc lập trong mô hình đều rất nhỏ, có giá trị từ 1.320 – 1.767 của các nhân tố đều nhỏ hơn 10, chứng tỏ mô hình hồi quy không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến và các biến trong mô hình được chấp nhận.
Từ thông số thống kê trong mô hình hồi quy, phương trình hồi quy tuyến tính đa biến cuả các nhân tố quyết định đến sự hài lòng của du khách nội địa tại An Giang như sau:
- Y=0.095* X1 + 0.173X2 + 0.145X3 + 0.164X4 + 0.401X6
- Với X1 , X2 , X3 , X4 , X6 lần lượt là CSVC, CSLT, PTVC, ANTT, GCDV Hay Mức độ hài lòng của du khách = 0.095* Cơ sở vật chất lỹ thuật du lịch + 0.173* Cơ sở lưu trú + 0.145* Dịch vụ vận chuyển du lịch + 0.164* An ninh trật tự, an toàn trong du lịch + 0.401 * Giá cả các loại dịch vụ
Như vậy cả 5 nhân tố: cơ sở vật chất lỹ thuật, cơ sở lưu trú, dịch vụ vận chuyển du lịch, an ninh trật tự, an toàn, giá cả các loại dịch vụ đều có ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách nội địa tại An Giang. Tức là khi CSVC, CSLT, PTVC, ANTT, GCDV càng cao thì du khách càng hài lòng khi đến du lịch tại An Giang. Trong 5 nhân tố thì có 1 nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng của du khách là GCDV (do chỉ số Sig. nhỏ =0.000) và nhân tố GCDV là quan trọng nhất trong mô hình hồi quy, thứ tự tiếp theo lần lượt là ANTT, CSLT, PTVC và CSVC. Như vậy, giả thuyết H1, H2, H3, H4, H6 cho mô hình nghiên cứu lý thuyết chính thức được chấp nhận.
Nhóm GCDV có hệ số Beta chuẩn hóa cao nhất (0.401) tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của du khách nội địa nên cần có chính sách kiểm soát giá tốt để thu hút du khách ngày càng nhiều hơn. Qua đó, cho thấy giá cả các dịch vụ tác động ngược chiều với mức độ hai lòng của du khách. Giá càng cao thì mức độ hài lòng sẽ càng giảm. Ngược lại, giá giảm thì mức độ hài lòng tăng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Nhóm CSLT có hệ số Beta chuẩn hóa cao thứ 2 (0.173) tác động mạnh thứ 2 đến sự hài lòng của du khách nên cần có các dịch vụ phòng, cảnh quang tốt, nhân viên phục vụ nhiệt tình để nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi của du khách. Qua đó, các doanh nghiệp kinh doanh hay Tỉnh cần có một kế hoạch đầu tư các cơ sở lưu trú mới nhiều hơn và nâng cấp các cơ sở lưu trú hiện có để đáp ứng nhu cầu cũng như làm tăng sự hài lòng của du khách nhằm thu hút khách du lịch đến An Giang ngày càng nhiều.
Nhóm ANTT có hệ số Beta chuẩn hóa cao thứ 3 (0.164) tác động mạnh thứ 3 đến sự hài lòng của khách nội địa nên cần đảm bảo an ninh tốt tại địa phương nhằm giúp du khách có cảm giác an toàn khi đi du lịch tại An Giang.
Nhóm PTVC có hệ số Beta chuẩn hóa cao thứ 4 (0.145) tác động mạnh thứ 4 đến sự hài lòng của khách nội địa nên cần chú ý đến việc đầu tư các phương tiện vận chuyển hiện đại hơn bên cạnh đó cũng cần quan tâm đến phát triển các phương tiện vận chuyển công cộng nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu của du khách.
Nhóm CSVC có hệ số Beta chuẩn hóa thứ 5 (0.095) tác động yếu nhất đến sự hài lòng của khách nội địa nhưng cũng cần chú trọng đến các công trình hạ tầng như đường xá đi lại, hạ tầng thông tin liên lạc… nhằm đảm bảo nhu cầu của du khách.
Nhóm HDDL có hệ số Beta chuẩn hóa âm (-0.026) và có hệ số Sig (0.560) > 0.05 nên nhóm HDDL sẽ không ảnh hướng đến mức độ hài lòng của du khách nội địa.
4.3.5 Phân tích phương sai ANOVA
Các giả thuyết đưa ra để kiểm định
- Giả thuyết A1: không có sự khác biệt về sự hài lòng của du khách nội địa giữa các nhóm khách có giới tính khác nhau.
- Giả thuyết A2: không có sự khác biệt về sự hài lòng của du khách nội địa giữa các nhóm khách có học vấn khác nhau.
- Giả thuyết A3: Không có sự khác biệt về sự hài lòng của du khách nội địa giữa các nhóm khách có độ tuổi khác nhau.
- Giả thuyết A4: không có sự khách biệt về sự hài lòng của du khách nội địa giữa các nhóm khách có thu nhập khác nhau.
Kiểm định giả thuyết với mức ý nghĩa 5% (độ tin cậy 95%)
4.3.5.1 Kiểm định giả thuyết A1
Kiểm định Levence cho thấy sig. = 0.042 < 0.05 nên giả thuyết phương sai của mức độ hài lòng là khác nhau giữa các nhóm du khách có giới tính khác nhau ở độ tin cậy 95%. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Lúc này, không thể sử dụng bảng ANOVA mà sẽ đi vào kiểm định Welch.
Kết quả thống kê Welch, ta thấy mức ý nghĩa Sig. = 0.559 (> 0.05). Nên chấp nhận giả thuyết và kết luận rằng không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê về mức độ hài lòng giữa các nhóm du khách có giới tính khác nhau.
4.3.5.2 Kiểm định giả thuyết A2
Kiểm định Levence cho thấy sig. = 0.565 > 0.05 nên chấp nhận giả thuyết phương sai của mức độ hài lòng là bằng nhau giữa các nhóm du khách có trình độ học vấn khác nhau ở độ tin cậy 95%.
Do vậy, bảng ANOVA sẽ được sử dụng. Kết quả Sig. = 0.520 > 0.05 nên chấp nhận giả thuyết ở độ tin cậy 95% có nghĩa là không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê về mức độ hài lòng là bằng nhau giữa các nhóm du khách có trình độ học vấn khác nhau.
4.3.5.3 Kiểm định giả thuyết A3
Kiểm định Levence cho thấy sig. = 0.051 > 0.05 nên chấp nhận giả thuyết phương sai của mức độ hài lòng là bằng nhau giữa các nhóm du khách có độ tuổi khác nhau ở độ tin cậy 95%.
Do vậy, bảng ANOVA sẽ được sử dụng. Kết quả Sig. = 0.004 < 0.05 Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ hài lòng của những du khách thuộc các nhóm tuổi khác nhau. ở độ tin cậy 95%.
4.3.5.4 Kiểm định giả thuyết A4
Kiểm định Levence cho thấy sig. = 0.073 > 0.05 nên chấp nhận giả thuyết phương sai của mức độ hài lòng là bằng nhau giữa các nhóm du khách có mức thu nhập khác nhau ở độ tin cậy 95%.
Do vậy, bảng ANOVA sẽ được sử dụng. Kết quả Sig. = 0.500 > 0.05 nên chấp nhận giả thuyết ở độ tin cậy 95% có nghĩa là không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê về mức độ hài lòng là bằng nhau giữa các nhóm du khách có thu nhập khác nhau.
4.4 Thực trạng các yếu tố tại An Giang
Trong thời gian qua du lịch An Giang đã giặt hái được nhiều thành tựu. Lượng khách đến An Giang năm sau cao hơn năm trước qua đó tái khẳng định tiềm năng du lịch của An Giang còn rất nhiều. Theo đó, lượng khách đến An Giang năm 2016 khoảng 6,5 triệu lượt khách. Dự kiến trong năm 2017 sẽ đón 6,8 triệu lượt khách du lịch. (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang 2016).
Bảng 4.20 Khách nội địa và quốc tế đến An Giang giai đoạn 2012-2016
4.4.1 Thực trạng về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của An Giang ngày càng phát triển. Các tuyến giao thông đang được xây dựng và mở rộng và cụ thể là cầu Vàm Cống sẽ thay thế cho phà Vàm Cống trong những tháng cuối năm 2017. Việc này, sẽ giúp cho giao thông đường bộ được thông suốt và rút ngắn thời gian chờ đợi phà. Điều này, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho nền kinh tế của tỉnh An Giang. So với các tỉnh lân cận của An Giang như Đồng Tháp, Cần Thơ, Bạc Liêu…thì Tỉnh An Giang có nhiều yếu tố thuận lợi hơn do có hai thành phố được xếp chuẩn đô thị loại II của vùng ĐBSCL và có nền kinh tế tăng trưởng qua từng năm (Nguồn: Kỹ yếu hội thảo khoa học An Giang, 2017).
- Mặt Mạnh
Hạ tầng viễn thông tại An Giang hiện nay: Phát triển khá nhanh và đồng bộ, công nghệ thông tin là một trong những yếu tố kỹ thuật có ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế của tất các quốc gia. Chính vì yếu tố quan trọng này mà An Giang đã đầu tư, hoàn thiện hạ tầng viễn thông phục vụ cho kinh tế của Tỉnh trong đó có ngành du lịch. Hệ thống truyền thông được nâng cấp, đường truyền internet đã được đảm bảo thông tin thông suốt, nhanh chóng và an toàn giúp nâng cao hiệu quả trong phục vụ nhu cầu của du khách. Ngoài ra, chính sự nâng cấp hạ tầng viễn thông đã giúp cho sức cạnh tranh du lịch của An Giang được nâng lên. Với việc thành phố Châu Đốc triển khai thí điểm phủ song wifi miễn phí tại 3 điểm: Công viên tượng đài cá Basa, công viên chùa Bồ Đề và khu du lịch Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam đã tạo ra nhiều thuận lợi cho du khách. Năm 2015, sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang đã kết họp với chi nhánh Viettel An Giang đã triển khai dịch vụ Tourist.one để quản lý thông tin của du khách, tạo ra các tiện ích tra cứu như đặt vé trực tuyến, chăm sóc khách hàng…( Nguồn: Nguyễn Văn Giác- Kỹ yếu Hội thảo khoa học An Giang, 2017).
Hạ tầng đô thị tại An Giang: cảnh quan đô thị đã được quan tâm và chăm sóc, môi trường sạch đã được đầu tư để phục vụ khách du lịch. Hệ thống nhà vệ sinh đạt chuẩn cũng từng bước được đầu tư để phục vụ du khách. Trên địa bàn tỉnh có 14 khu, điểm du lịch đón và phục vụ khách, trong đó 8 khu, điểm đã được nâng cấp bổ sung trang thiết bị nhà vệ sinh theo tiêu chí, quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 02 điểm xây dựng mới hệ thống nhà vệ sinh. Các trung tâm mua sắm đã được đầu tư xây mới. Các sản phẩm dịch vụ phục vụ du lịch từng bước được quan tâm, đầu tư phát triển như cáp treo Núi Cấm, bãi giữ xe Núi Cấm, công viên văn hóa Núi Sam, bến tàu du lịch Tân Châu (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, 2016).
Hệ thống y tế, bệnh viện tại An Giang: Đã được Tỉnh đầu tư mở rộng, các trang thiết bị y tế đã được bổ sung, nâng cấp để phục vụ cho nhu cầu sức khỏe của nhân dân và du khách tốt hơn…( Nguồn: Nguyễn Văn Giác- Kỹ yếu Hội thảo khoa học An Giang, 2017).
So với các Tỉnh trong vùng Tứ giác Long Xuyên thì An Giang có nhiều điểm được thiên nhiên ưu đãi vừa có đồng bằng vừa có núi. Chính vì thế An Giang có đa dạng khí hậu ở nơi đây, bên cạnh đó cũng có đa dạng sinh thái mà các tỉnh lân cận không thể có được. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
- Những điểm chưa được
Bên cạnh các mặt mạnh mà An Giang có được thì vẫn tồn tại một số điểm yếu mà An Giang cần cải thiện như: hệ thống nhà vệ sinh công cộng và vệ sinh môi trường chưa được đông đảo người đân quan tâm, có ý thức giữ gìn, tình trạng xả rác bừa bãi còn nhiều, cảnh quan còn thiếu và yếu…Các công ty lữ hành có quy mô nhỏ và yếu, hoạt động chưa có tính chuyên nghiệp cao, hoạt động rời rạc, thiếu sự gắn kết giữa các doanh nghiệp với Hiệp hội Du lịch An Giang.
- Nguyên nhân
Nhìn chung, các địa phương đã có quan tâm thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, chỉ đạo của Tỉnh về công tác quản lý môi trường du lịch, an ninh trật tự, an toàn cho khách du lịch, quản lý chất lượng sản phẩm… nhưng chỉ mang tính hình thức, chưa thực sự đi vào chiều sâu. Cần quan tâm đến công tác quản lý tại các khu-điểm du lịch trọng tâm. Mặt khác chưa có sự phối hợp tốt giữa các đơn vị chức năng ở địa phương (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, 2016).
4.4.2 Thực trạng về cơ sở lưu trú
Hiện nay An Giang có trên 87 cơ sở lưu trú với hơn 3.000 buồng lưu trú, trong đó số buồn khách sạn đạt chuẩn từ 2 sao đến 4 sao chỉ đạt trên 2.000 buồng chiếm trên 50% (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang 2016). Qua đó, cho thấy sự đầu tư cho cơ sở lưu trú còn hạn chế về tốc độ lẫn số lượng của cơ quan nhà nước lẫn doanh nghiệp tư nhân hay vốn đầu tư nước ngoài.
Về khía cạnh kêu gọi đầu tư nước ngoài cho các khách sạn cao cấp (4 -5 sao) trong những năm qua chưa đạt hiệu quả (từ 2014 đến nay chưa có khách sạn 4- 5 sao nào được xây mới). Mặt khác, các khách sạn cấp thấp cũng chưa được nhà đầu tư quan tâm mặc dù mức độ tăng trưởng của ngành du lịch tại An Giang khá ấn tượng (bình quân 4-5% / năm).
- Mặt mạnh
Với mức tăng trưởng của ngành du lịch như vậy thì trong vài năm tới An Giang sẽ bị tình trạng cầu nhiều hơn cung. Điều này sẽ rất đáng quan tâm ngay từ bây giờ. Tỉnh cần có định hướng, kêu gọi đầu tư, khuyến khích đầu tư hay chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư mới vào lĩnh vực này sẽ giải quyết các vấn đề lưu trú trong những năm sắp tới.
Bảng 4.21 Cơ sở lưu trú tỉnh An Giang giai đoạn 2011 -2016
- Những điểm chưa được Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Năm 2016, An Giang đón 6,5 triệu lượt khách tham quan, du lịch, trong đó phục vụ gần 550 nghìn lượt khách lưu trú, chiếm khoảng 8% tổng lượt khách. Khả năng tiếp đón như vậy phù hợp với năng lực, công suất hoạt động hiện tại của các cơ sở lưu trú trên địa bàn Tỉnh. Đa phần là các cơ sở lưu trú có quy mô nhỏ, chưa đạt tiêu chuẩn và không có khách sạn 5 sao nên không thể đáp ứng nhu cầu lưu trú chất lượng cao của khách du lịch (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, 2016).
- Nguyên nhân
Do điều kiện khó khăn về kinh tế nên các doanh nghiệp đầu tư trong Tỉnh còn yếu về quy mô. Bên cạnh đó, việc xúc tiến thu hút vốn đầu tư của Tỉnh còn hạn chế chưa thu hút được các nhà đầu tư quốc tế có tiềm lực kinh tế, có kinh nghiệm trong lĩnh vực khách sạn, lưu trú. Mặt khác, do yếu tố địa lý nhiều sông nước nên đi lại có nhiều khó khăn nên chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn. Bài toán này đã được giải quyết bằng cầu Vàm Cống sẽ được thông xe trong năm 2017.
4.4.3 Thực trạng về dịch vụ vận chuyển du lịch
Hệ thống giao thông đường bộ cũng như đường thủy ngày càng được chú trọng hoàn thiện với nhiều mục tiêu. Về giao thông đường bộ thì Tỉnh đang đầu tư hoàn thiện các tuyến đường giao thông đến các khu, điểm du lịch như đường tránh quốc lộ 91 đoạn Châu Đốc – Tịnh Biên, đường tỉnh lộ 943 đi Thoại Sơn, đường tỉnh lộ 941 đi lộ Tẻ- Tri Tôn, xây dựng hai cầu đường tỉnh lộ 948 gồm cầu Bưng Tiền và cầu Tà Đé… tạo nên sự giao thông thông suốt và thuận tiện cho du khách. Bên cạnh đó cầu Vàm Cống sắp được đưa vào hoạt động sẽ giúp giao thông giữa An Giang, Đồng Tháp và thành phố Hồ Chí Minh được thông suốt. Về giao thông đường thủy thì Tỉnh cũng đang tiến hành nạo vét các kênh, sông tạo thuận lợi cho giao thông thủy. Mặt khác, các bến phà, đò được đầu tư ngày càng hiện đại, an toàn cho du khách. Cụ thể là cảng tại thành phố Châu Đốc (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, 2016).
- Mặt mạnh
Chính sự hoàn thiện giao thông thủy và bộ đã giúp cho An Giang có một hệ thống giao thông hoàn chỉnh và thuận tiện cho nhu cầu đi lại của nhân dân và khách du lịch. Qua đó, đã giúp An Giang phát triển kinh tế ổn định trong những năm qua.
- Những điểm chưa được
Hệ thống giao thông dù được đầu tư mở rộng nhưng do ngân sách còn hạn hẹp nên chưa đáp ứng được lưu lượng giao thông ngày càng tăng, nhất là mùa cao điểm, mùa lễ hội của Tỉnh.
Hệ thống giao thông công cộng còn hạn chế, còn thiếu, yếu, chưa đồng bộ, chưa thuận tiện cho du khách. Còn thiếu thông tin chỉ dẫn địa lý cho du khách không đi theo đoàn.
- Nguyên nhân
Nguyên nhân chính là do ngân sách còn hạn chế, mà nhu cầu nâng cấp đường tại địa phương khá nhiều, nên có sự đầu tư dàn trải, không tập trung.
4.4.4 Thực trạng về hướng dẫn viên du lịch Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Đã cấp mới và cấp đổi 40 thẻ hướng dẫn viên du lịch, trong đó cấp mới 15 thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế. Đến nay, tổng số đã cấp 198 thẻ hướng dẫn viên du lịch, trong đó có 56 thẻ HDV du lịch quốc tế; 17 Giấy chứng nhận Thuyết minh viên du lịch cho đội ngũ thuyết minh tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, 2016).
- Mặt mạnh
Thủ tướng đồng ý chủ trương chuyển Đại học An Giang từ trực thuộc UBND tỉnh An Giang thành thành viên của Đại học Quốc gia TP HCM. Qua đó, nguồn giảng viên từ Đại học Quốc gia có thể bổ sung, hỗ trợ trong công tác giảng dạy các sinh viên tại nơi đây. Thông qua đó, chất lượng của nguồn nhân lực sau khi tốt nghiệp được nâng lên.
- Những điểm chưa được
Hướng dẫn viên du lịch thể hiện tính chuyên nghiệp chưa cao. Trình độ ngoại ngữ của các HDVDL còn hạn chế và chưa đồng bộ. Các thuyết minh viên tại các điểm du lịch, các điểm văn hóa, làng nghề còn yếu và thiếu. Bên cạnh đó, nguồn lao động mới chưa được đào tạo tốt về số lượng lẫn chất lượng. Ngoài ra, do thiếu lực lượng HDVDL nhiều kinh nghiệm nên du khách không hiểu hết giá trị, các di sản văn hóa nơi đây. Điều này làm du khách không cảm nhận được sự hấp dẫn của các khu, điểm du lịch.
- Nguyên nhân
Do hệ thống đào tạo chưa đồng bộ, thiếu sự đầu tư của các trung tâm đào tạo nghề, thu nhập các nghề này chưa cao, chưa hấp dẫn với người lao động… Ngoài ra, du lịch mang tính mùa vụ nên khó duy trì được đội ngũ nhân viên ổn định và gắn bó với nghề.
4.4.5 Thực trạng về giá cả các loại dịch vụ
Kinh tế phát triển đời sống người dân ngày càng nâng cao. Chính vì thế nhu cầu đi du lịch cũng tăng đáng kể qua từng năm. Giá cả là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến quyết định đi du lịch của du khách. Vào các ngày lễ, lượng khách tăng đột biến nên giá các dịch vụ cũng tăng theo. Mặc dù vậy, lượng khách vẫn không giảm mà tăng đều qua từng năm. Doanh thu các dịch vụ không ngừng tăng trưởng.
Bảng 4.22 Giá chương trình du lịch tại An Giang của các công ty du lịch
Các cơ quan chức năng quản lý giá cả vào mùa cao điểm khá tốt nên tình trạng chặt chém du khách cũng được giảm thiểu đáng kể.
Ngoài ra, chính sách bình ổn giá của Tỉnh cũng phát huy được tác dụng khi giá đầu vào của thực phẩm được kiểm soát nên tình trạng năng giá cũng được hạn chế. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
- Những điểm chưa được
Vào các mùa lễ hội thì giá các mặt hàng bị nâng lên cao, thậm chí rất cao ở một số nơi do cán bộ quản lý còn mỏng, không thể quản lý hết trong mùa cao điểm.
Các hình thức xử phạt chưa chưa đủ mạnh mang tính răng đe nên một số người dân vì lợi nhuận mà tăng giá ảnh hưởng đến sự quyết định quay lại của du khách.
- Nguyên nhân
Chính do tính chất của ngành du lịch là mùa vụ, nên lượng khách không trải đều từng tháng mà tập trung vào mùa cao điểm. Chính vì thế, khó cân đối được lực lượng quản lý để giám sát, kiểm tra giá cả dịch vụ. Mặt khác, các cơ sở kinh doanh nắm bắt cơ hội để tăng doanh thu bù vào mùa thấp điểm.
- Bảng 4.23 Một số giá dịch vụ lưu trú trung bình tại An Giang
- Bảng 4.24 Một số giá dịch vụ vận chuyển trung bình từ Sài Gòn đi Châu Đốc
4.4.6 Thực trạng về an ninh trật tự, an toàn trong du lịch
Xu hướng đi du lịch hiện nay tai An Giang là thích đi lẻ, theo từng nhóm nhỏ hơn là đi theo đoàn, hay theo chương trình du lịch trọn gói. Điều này khiến cho việc quản lý khách càng khó khăn hơn. Việc phối hợp các lực lượng công an, lực lượng bảo vệ tại các khu, điểm tham quan du lịch, để giữ gìn trật tự an toàn tại điểm tham quan du lịch và giải quyết, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của khách du lịch đang được quan tâm.
Các cơ quan chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiên quyết xử lý các vi phạm trong lĩnh vực hoạt động du lịch. Giải quyết một cách triệt để tình trạng cò mồi, lôi kéo khách gây mất trật tự, mất an ninh, gây khó chịu đối với khách ở các khu, điểm du lịch, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và an toàn cho khách du lịch.
- Mặt mạnh
Dự thảo quyết định về việc ban hành Kế hoạch hành động số 09-Ctr/TU ngày 05/12/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang và Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch- An Giang. Ông Nguyễn Văn Liêm khẳng định “Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn phát triển theo hướng không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh”, và mới đây ngày 17 /05/2017 Ủy Ban nhân dân tỉnh An Giang đã tổ chức hội thảo khoa học về du lịch tỉnh An Giang và Kỹ yếu hội thảo “ Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch An Giang” đã tái khẳng định An Giang sẽ theo đuổi phát triển du lịch bền vững với khẩu hiệu” An toàn – thân thiện – chất lượng” Qua đó, xây dựng, qui định, chức năng nhiệm vụ của đơn vị giám sát thực hiện nhằm đảm bảo an toàn, trật tự của hoạt động du lịch, xử lý nghiêm việc gây mất an ninh trật tự, chèo kéo khách ( Nguồn: Bùi Việt Thành- Kỹ yếu Hội thảo khoa học An Giang, 2017). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
- Những điểm chưa được
Tệ nạn chèo kéo khách du lịch mùa cao điểm vẫn còn tồn tại, tệ nạn ăn xin, cướp giật, móc túi… tại các khu du lịch, điểm du lịch vẫn còn. Mặt khác, các hình thức mê tính dị đoan vẫn lén lút hoạt động gây mất trật tự vẫn còn diễn ra. Vào mùa cao điểm thì tình trạng kẹt xe kéo dài, tai nạn giao thông vẫn chưa giảm nhiều gây tổn thất cho người dân lẫn du khách.
- Nguyên nhân
Do lực lượng quản lý còn mỏng và lượng du khách quá đông trong mùa cao điểm nên không đảm bảo tốt hết mọi nơi. Ngoài ra, do ý thức người tham gia giao thông chưa cao dẫn đến tình trạng kẹt xe kéo dài ảnh hưởng đến tâm lý của du khách. Nạn nói thách vẫn còn xảy ra do lực lượng quản lý thị trường chưa thể bao quát hết trong mùa cao điểm.
Kết luận
Nội dung chương 4 là phân tích kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách nội địa tại điểm đến du lịch tỉnh An Giang.
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng đã xem xét các biến liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách. Đề tài nghiên cứu về các yếu tác động đến sự hài lòng của khách nội địa tại điểm đến du lịch tỉnh An Giang để kết luận giả thuyết nghiên cứu. Dữ liệu đã được thu thập qua 2 bước: khảo sát sơ bộ (n=50) và khảo sát chính thức (n=340) khách du lịch tại tỉnh An Giang. Các thang đo lường về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng được xây dựng trên cơ sở lý thuyết và được phát triển phù hợp với bối cảnh du lịch hiện nay của Tỉnh. Kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố EFA, kiểm định phương sai, kiểm định sự ảnh hưởng các yếu tố tác động đến sự hài lòng của du khách nội địa.
Kết quả phân tích cho thấy, các yếu tác động đến sự hài lòng của khách nội địa tại điểm đến du lịch tỉnh An Giang: (1) Sơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, (2) Cơ sở lưu trú, (3) Dịch vụ vận chuyển du lịch, (4) An ninh trật tự, an toàn trong du lịch, (5) Giá cả các loại dịch vụ. Năm (5) yếu tố này đóng góp tích cực vào sự hài lòng của du khách, được kiểm định và đáp ứng các yêu cầu về giá trị, độ tin cậy và sự phù hợp của mô hình với dữ liệu hiện có. Như vậy, khái niệm về sự hài lòng của du khách nội địa khi đi du lịch tại An Giang như nghiên cứu này được xác nhận.
Kết quả nghiên cứu này giúp cho các nhà lãnh đạo của ngành du lịch tỉnh An Giang cũng như các ban ngành đoàn thể, các doanh nghiệp du lịch đánh giá lại khả năng đáp ứng sự kỳ vọng của du khách nội địa, xác định những mặt làm được và chưa làm được mà quan trọng hơn là xác định những yếu tố cần cải thiện trong thời gian qua nhằm nâng cao hơn nữa sự hài lòng của du khách nội địa khi quyết định đi du lịch tại An Giang.
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
5.1 Kết luận chung
Cùng với sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trong môi trường du lịch như hiện nay, việc tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự hài lòng của du khách là việc làm cần thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do đó, việc nghiên cứu của đề tài giúp ích rất nhiều trong việc nâng cao quyết định lựa chọn khi đi du lịch tại An Giang của khách du lịch nội địa.
Về lý thuyết, kết quả nghiên cứu đã góp phần chứng minh sự phù hợp của mô hình lý thuyết về các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách du lịch nội địa tại điểm đến du lịch tỉnh An Giang, với 6 giả thuyết đưa ra được chấp nhận 5 giả thuyết, qua đó đem lại một ý nghĩa thiết thực cho các ngành du lịch địa phương cũng như định hướng phát triển ngành du lịch của An Giang.
Về mặt ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu này sẽ giúp cho nhà lãnh đạo có cái nhìn tổng thể và toàn diện hơn về nhu cầu của du khách và các yếu tố tác động đến du khách để cải thiện tốt hơn.
5.1.1 Định hướng phát triển du lịch của An Giang
Là vùng đất giàu tiềm năng và được thiên nhiên ban tặng nhiều thắng cảnh đẹp của vùng sông nước lẫn vùng cao nguyên như dãy núi Thất Sơn bên cạnh hệ thống sông ngòi, kênh rạch của dòng Mekong hùng vĩ. Tất cả các yếu tố này đã mang lại cho du lịch An Giang sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên cũng như da dạng văn hóa của các dân tộc cùng sinh sống chan hòa nơi đây như: Kinh, Hoa, Chăm, Khmer. Mặt khác, An Giang cũng có đa dạng về tính ngưỡng với nhiều tín đồ như: Phật giáo, Cao Đài, Thiên Chúa, Giáo, Tin Lành, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… với các cơ sở thờ tự như: Chùa, Thánh thất, Nhà thờ, Miếu, Miễu, Đền, Đình, Lăng, Nhà mồ, Thánh đường Hồi giáo…với 82 di tích được xếp hạng với 2 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 28 di tích cấp quốc gia và 52 di tích cấp Tỉnh. Chính vì thế An Giang rất có nhiều tiềm năng phát triển du lịch (Nguồn: Sở VH- TT- DL tỉnh An Giang, 2013).
Theo nghị quyết số 11 –NQ/TU ngày 18/11/2013 của Ban Chấp Hành Đảng bộ Tỉnh về Đẩy mạnh phát triển du lịch đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 cũng như định hướng đến năm 2030, An Giang có thể tập trung phát triển 4 loại hình du lịch.
- Du lịch tâm linh:
Với loại hình du lịch này thì chủ yếu tập trung tại Khu du lịch Núi Sam và Núi Cấm. Với việc tổ chức Lễ hội cấp quốc gia vía bà Chúa Xứ núi Sam với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng. Đồng thời, việc đưa vào sử dụng các công trình mang dấu ấn tâm linh như Công viên văn hóa tâm linh Núi Sam, Khu du lịch văn hóa tâm linh Bà Chúa Xứ hay cáp treo Núi Cấm… của hai nơi này đã thu hút một lượng lớn du khách đến với An Giang trong những năm qua.
- Du lịch tham quan nghĩ dưỡng: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Chủ yếu tập trung ở khu du lịch Núi Cấm và Khu du lịch lòng hồ Núi Sập. Hiện nay Tỉnh đang kêu gọi các nhà đầu tư vào hai nơi này để phấn đấu trở thành khu du lịch cấp quốc gia trong thời gian tới vì với lợi thế độ cao, khí hậu của nơi này có thể phát triển thành một “Đà Lạt” tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Đôi với Khu du lịch lòng hồ- Núi Sập: Tỉnh đã quy hoạch và phối hợp với Ban quản trị Thiền Phái Trúc Lâm xây dựng Thiền Phái Trúc Lâm Thoại Sơn tại Khu du lịch lòng hồ số 2. Bên cạnh đó Tỉnh cũng đang kêu gọi các nhà đầu tư vào các khu vui chơi giả trí để thu hút du khách từ các tỉnh thành lân cận.
- Du lịch sinh thái, sông nước:
Chủ yếu tập trung phát triển du lịch tại Khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư, Khu du lịch sinh thái Búng Bình Thiên và tuyến du lịch ba xã Cù Lao Giêng.
Khu du lịch sinh thái rừng tràm trà Sư: có kế hoạch bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và động vật hoang dã trong khu vực này. Các hoạt động du lịch nơi đây như ngắm chim, thú, bơi thuyền Kayak khám phá rừng theo sơ đồ tuyến, câu cá, tham quan nhà trưng bài động thực vật. Mặt khác, Tỉnh cũng đang mời gọi các nhà đầu tư có tiềm năng để nâng cao dịch vụ và bảo vệ môi trường thiên nhiên.
Khu du lịch Búng Bình Thiên: hoàn thiện hệ thống giao thông và cầu tàu phục vụ các hoạt động giải trí bơi thuyền, hình thành câu lạc bộ bơi thuyền truyền thống và các môn thể thao dưới nước hiện đại như mô tô nước, lướt ván… Bên cạnh đó, khôi phục lại các làng nghề thủ công của đồng bào dân tộc Chăm nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách.
Tuyến du lịch 3 xã Cù Lao Giêng (Tấn Mỹ, Bình Phước Xuân, Mỹ Hiệp):
hình thức homestay và du lịch miệt vườn đang được chú trọng ở nơi đây. Cầu tàu đón khách đã được xây dựng tại xã Tấn Mỹ. Hình thành nên chuỗi liên kết các di tích như nhà thờ Cù Lao Giêng, Dòng tu Chúa Quan Phòng, chùa Ông Đạo… đang thu hút một lượng lớn du khách đến nơi đây trong những năm qua.
- Du lịch tham quan các di tích lịch sử, văn hóa:
Chủ yếu tập trung tại hai khu di tích cấp quốc gia đặc biệt và cụm di tích lịch sử nhà mồ Ba Chúc – Dồi Tức Dụp – Căn cứ cách mạng Ô tà Sóc. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Di tích cấp quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng: kết hợp tham quan, nghiên cứu về cuộc đời, thân thế sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng với các loại hình du lịch sinh thái, văn hóa truyền thống như đờn ca tài tử… Mặt khác, Tỉnh đang kêu gọi cá nhà đầu tư để phát triển nơi đây thành điểm du lịch cấp quốc gia.
Di tích câp quốc gia đặc biệt khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo: kết hợp du lịch với tham quan, nghiên cứu các giá trị văn hóa của nền văn hóa Phù Nam. Hiện các quy hoạch tổng thể để bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di tích Óc Eo đã được tiến hành. Đây là một trong những di chỉ còn sót lại ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long về một nền văn hóa Phù Nam.
An Giang đã xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn và cũng đã định hướng phát triển du lịch ở tầm vĩ mô và vi mô. Đây là điều kiện tiên quyết để phấn đấu, xây dựng sản phẩm du lịch An Giang theo hướng đa dạng, hiện đại, phù hợp với tiềm năng và lợi thế của tỉnh. Đồng thời, Tỉnh cũng luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư, các doanh nghiệp để phát triển sản phẩm du lịch theo dịnh hướng đã đề ra và đưa du lịch An Giang lên tầm cao mới (Nguồn: Kỹ yếu hội thảo khoa học -Sở VH- TT- DL tỉnh An Giang, 2017).
5.1.2 Những thuận lợi
So với các tỉnh ở ĐBSCL thì An Giang là tỉnh có nhiều di tích lịch sử nhất và địa điểm tham quan du lịch đạt chuẩn quốc gia thu hút khá nhiều du khách đếm tham quan du lịch. Ngoài ra, do đặc thù vị trí địa lý, An Giang có nhiều cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và phong phú đa dạng địa hình như: đồng bằng, đồi, núi, sông, hồ, kênh rạch… Là một trong hai tỉnh ở ĐBSCL được thiên nhiên ban tặng cho những ngọn núi hùng vĩ với hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng, khi hậu tương đối mát mẻ quanh năm thích hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch.
Ngoài ra, An Giang có hệ thống giao thông đường thủy khá phong phú. Là Tỉnh đầu nguồn của sông Mê Kông khi vào Việt Nam nên rất thuận lợi trong phát triển giao thông thủy trong vùng và các quốc gia lân cận. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông bộ được đầu tư, nâng cấp khá hoàn chỉnh, trong tương lai gần giao thông sẽ thông suốt, liền mạch với Đồng Tháp khi cầu Vàm Cống đưa vào hoạt động.
Một yếu tố khá quan trọng khác là tỉnh An Giang đã xác định du lịch là nền kinh tế mũi nhọn. Chính vì yếu tố này đã thúc đẩy ngành du lịch phát triển, tăng trưởng ổn định trong thời gian qua và sẽ tăng trưởng trong những năm tiếp theo. Chính vì xác định du lịch là nền kinh tế mũi nhọn nên An Giang đã đầu tư, nâng cấp các di tích lịch sử, văn hóa…Các điểm du lịch này đạt chuẩn cấp cấp tỉnh và cấp quốc gia.
Với đặc điểm vùng đồng bằng, sông nước của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nên An Giang cũng như các tỉnh thành lân cận có khí hậu và thời tiết khá ổn định, ít bị bão hay thiên tai… ảnh hưởng đến môi trường, an ninh trật tự… nên người dân ở nơi đây rất chân thật, hiền hòa, hòa đồng với đa dân tộc sống chan hòa với nhau tọa nên nề văn hóa đa dạng nơi đây. Chính vì điều này nên An Giang có rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng từ địa phướng đến cấp quốc gia trong thời gian qua. Tỉnh đang từng bước xây dựng, tôn tạo, trùng tu một số di tích khác để tăng thêm số lượng các di tích này trong thời gian tới.
Bảng 5.1 Số lượng di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng phân theo đơn vị hành chính
5.1.3 Những hạn chế
Bên cạnh những mặt tích cực, những yếu tố thuận lợi thì An Giang còn tồn tại một số vấn đề cần phải khắc phục để ngành du lịch nói riêng và kinh tế An Giang phát triển nhanh và mạnh trong thời gian sắp tới.
Về vĩ mô
- Việc khai thác các điểm du lịch còn rời rạc, chưa có sự phối hợp hay sự liên kết các vùng kinh tế với nhau nhằm đa dạng hóa sản phẩm, tăng sức hút của địa phương, kéo dài thời gian lưu trú cuả du khách.
- Công tác quảng bá về du lịch trên nhiều phương tiện truyền thông còn hạn chế, chưa phát huy hiệu quả cao.
- Các hoạt động du lịch chủ yếu dựa vào tài nguyên du lịch có sẵn chưa có sản phẩm du lịch đặc thù có chất lượng cao để thu hút du khách. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
- Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp cần phải được đầu tư toàn diện và đồng bộ từ đường xá, khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan, nhân viên phục vụ, y tế… nhưng hiện nay do nguồn lực tài chính còn hạn hẹp nên sự đầu tư còn hạn chế chưa đồng bộ.
Về vi mô
- Môi trường bị ô nhiễm, các khu vệ sinh công cộng còn hạn chế và chưa được giữ gìn vệ sinh chung, tình trạng vứt rác bừa bãi còn khá phổ biến, ý thức giữ gìn vệ sinh chung trong cộng đồng chưa cao.
- Nhân viên ngành du lịch còn yếu về chuyên môn, thiếu về số lượng, ngoại ngữ còn hạn chế, điều này gây không ít khó khăn cho du khách.
- Các sản phẩm đặc trưng của vùng chưa được đầu tư mẫu mã, bao bì để có thể làm quà xuất khẩu, mang tính nhỏ lẻ, tự phát nhiều.
Chính vì một số hạn chế nêu trên mà số lượng du khách lưu trú lại An Giang chiếm khoảng 10% số lượng khách đến An Giang mặc dù lượng khách đến tăng đều qua từng năm (Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang – Kỹ yếu hội thảo khoa học An Giang, 2017).
5.2 Hàm ý
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở thời điểm hiện tại có 5 yếu tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách khi đi du lịch tại An Giang được xếp theo trình tự mức độ ảnh hưởng từ cao xuống thấp là: (1) Giá cả các loại dịch vụ (beta = 0.401), (2) Cơ sở lưu trú (beta = 0.173), (3) An ninh trật tự, an toàn trong du lịch (beta = 0.164), (4) Dịch vụ vận chuyển du lịch (beta = 0.145), (5) Cơ sở vật chất lỹ thuật du lịch (beta = 0.095).
5.2.1 Đối với giá cả các loại dịch vụ
Tác động mạnh nhất so với các nhân tố còn lại, tác động đến sự hài lòng của du khách nội địa vì có hệ số Beta = 0.401. Chính vì thế cần kiểm soát nghiêm ngặt các quy định về giá, tránh trường hợp tăng giá quá cao hoặc phá giá thị trường trong mùa cao điểm diễn ra tại các công ty du lịch, các cơ sở lưu trú, dịch vụ phục vụ du lịch. Giá cả cần hợp lý nhằm thỏa mãn và phục vụ du khách, điều này vừa phát triển tiềm năng du lịch của Tỉnh vừa tạo ra bộ mặt tích cực từ phía du khách. Thực hiện tốt vấn đề này thì du lịch An Giang mới có thể tạo được một ấn tượng đẹp và sâu sắc trong lòng du khách, tạo được sự hài lòng cho du khách mỗi khi đến với An Giang. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Về giá các chương trình du lịch tại các khu du lịch, Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang nên có những chỉ đạo về giá vé tại các khu du lịch tránh tình trạng có sự chênh lệch quá cao giữa các nơi này. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần đưa ra các chiến lược về giá cụ thể theo mùa du lịch khi các doanh nghiệp nhận định vào các tháng 7 đến tháng 11 là mùa ít khách nên cần điều chỉnh giảm giá để tăng lượng khách du lịch đến An Giang.
Về giá các hoạt động dịch vụ (trò chơi, thưởng thức văn nghệ, hoạt động khuyến mãi các đặc sản của địa phương…), doanh nghiệp nên có chiến lược giá cao cho những chương trình có sự khác biệt, độc đáo và chất lượng dịch vụ, tích hợp những dịch vụ đính kèm với những dịch vụ chính nhằm gia tăng giá trị sản phẩm.
Mặt khác, cần liên doanh, liên kết với các Tỉnh, Thành phố khác để có chính sách giá ổn định, điều tiết giá các dịch vụ không bị biến động và mùa cao điểm. Vì giá dịch vụ tác động trực tiếp và mạnh nhất đến du khách. Chính vì thế, Tỉnh cũng cần có các chính sách thuế ưu đãi cho các doanh nghiệp, công ty… để các doanh nghiệp này giữ mức giá phù hợp trong năm.
Ngoài các yếu tố về giá, các doanh nghiệp cũng phải nhận định về sự quan trọng của kỳ vọng về dịch vụ tương xứng với chi phí bỏ ra mà du khách cảm nhận.
Giá cả tuy rất quan trọng nhưng chưa phải là yếu tố quyết định duy nhất ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm du lịch, du khách sẵn sàng bỏ ra chi phí cao để thỏa mãn nhu cầu du lịch của bản thân nhưng với kỳ vọng về dịch vụ trước và sau khi đến khu du lịch không có sự chênh lệch lớn. Khi kỳ vọng của du khách được đáp ứng thì du khách sẽ cảm thấy hài lòng, việc thu hút du khách sẽ trở nên dễ dàng hơn. Chính vì sự quan trọng của yếu tố này mà các doanh nghiệp cần phải đưa ra một mức giá hợp lý cho từng hoạt động song song đó cần phải cải thiện, nâng cao các dịch vụ cho từng hoạt động làm cho du khách cảm nhận mức kỳ vọng có thể lớn hơn hoặc ít nhất là bằng khoản chi phí bỏ ra.
Bên cạnh đó, Tỉnh cũng cần có biệt pháp chế tài, xử phạt các doanh nghiệp phá giá, nâng giá, chặt chém… du khách vào mùa cao điểm trong năm để gữ vững giá thị trường nhằm thu hút, lôi kéo du khách đến với An Giang.
5.2.2 Đối với cơ sở lưu trú
Tác động mạnh thứ hai so với các nhân tố còn lại, tác động đến sự hài lòng của du khách nội địa vì có hệ số Beta = 0.173. Qua đó, cần xây dựng cơ sở lưu trú đầy đủ tiện nghi và đa dạng hóa các loại hình lưu trú như resort, khách sạn, motel, hotel, homestay…để đáp ứng nhu cầu của du khách khi đến du lịch tại An Giang. Mặt khác, Tỉnh cần kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm lực kinh tế và kinh nghiệm trong lĩnh vực lưu trú để đầu tự tại An Giang. Vì hiện nay cơ sở lưu trú tại An Giang chưa thật sự có nhiều khách sạn 4 và 5 sao để đáp ứng nhu cầu cao của dòng du khách có nguồn thu nhập cao. Đây là yếu tố khá quan trọng đối với du khách khi đi tham quan, nghỉ dưỡng. Điều này sẽ góp phần làm tăng sự hài lòng của du khách khi đến nghỉ lại cơ sở lưu trú. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Tỉnh cũng như sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cần có định hướng phát triển, quy hoạch tổng thể về du lịch và công bố rộng rãi đến mọi người dân, nhà đầu tư… để thu hút nguồn lực từ mọi tầng lớp trong xã hội để các cơ sở lưu trú phát triển nhanh về số lượng và mạnh về chất lượng.
5.2.3 Đối với an ninh trật tự, an toàn trong du lịch
Tác động mạnh thứ ba so với các nhân tố còn lại, tác động đến sự hài lòng của du khách nội địa vì có hệ số Beta = 0.164. Đây cũng là điều cần được quan tâm vì an ninh và an toàn là điều mà mọi người luôn quan tâm đến vì nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và sự an toàn của mỗi con người. Các băng nhóm tội phạm cần được triệt phá, nạn cướp giật, móc túi, chèo kéo du khách cần được đẩy lùi. Từng bước nâng cao cảm giác an toàn cho du khách mỗi khi nghĩ đến An Giang.
Khi đi du lịch đến một địa điểm mới thì du khách rất chú trọng đến điều kiện an ninh. Điều này đảm bảo cho một chuyến đi vui vẻ, thoải mái. Đối với du lịch An Giang, du khách nội địa hài lòng về điều kiện an ninh, an toàn tại các điểm du lịch. Thực tế, tại An Giang rất ít có hiện tượng ăn xin, cướp giật, chèo kèo tranh giành khách giữa những người bán hàng rong tại các điểm du lịch. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít du khách chưa hài lòng về các điều kiện an toàn giao thông. Các con đường nhỏ hẹp trong khi vẫn còn hiện tượng người dân phơi lúa dưới lòng đường. Điều này rất dễ gây ra tai nạn giao thông và cần có biện pháp khắc phục. Cũng cần chú ý đến an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo hợp vệ sinh.
5.2.4 Đối với dịch vụ vận chuyển du lịch
Dịch vụ vận chuyển du lịch phục vụ du khách ở An Giang cần phải đa dạng về hình thức, kiểu dáng và kích cỡ cũng như chất lượng phải được nâng cao. Phải trang bị các thiết bị tiện nghi và cần đảm bảo an toàn cho du khách. Chẳng hạn như đối với phương tiên giao thông đường thủy thì cần phải có nhiều loại hình vận chuyển như tàu, thuyền, cano… để đáp ứng nhu cầu của du khách. Bên cạnh đó, cần phải trang bị áo phao cho du khách để đảm bảo an toàn trong giao thông thủy. Các tài công, các nhân viên của tàu, thuyền cần được trang bị kiến thức về du lịch để đáp ứng nhu cầu hướng dẫn, thuyết minh… cho du khách, có như vậy thì du khách mới cảm thấy thích và mức độ hài lòng sẽ tăng cao.
5.2.5 Đối với cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được đánh giá là một trong những yếu tố tác động đến sự hài lòng của du khách khi đến du lịch tại tỉnh An Giang. Vì vậy, đây là một yếu tố quan trọng cần được cải thiện và nâng cao chất lượng, góp phần thu hút du khách. Cụ thể cần quan tâm đến các yếu tố: việc phân bổ hệ thống nhà hàng quán ăn, các địa điểm vui chơi giải trí, hệ thống giao thông … Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Hệ thống nhà hàng quán ăn còn phân bổ rất thưa thớt, du khách ít có sự lựa chọn trong việc sử dụng dịch vụ. Vì vậy, các công ty du lịch cũng như các doanh nghiệp nên mở thêm nhiều quán ăn đồng thời phân bổ đều, tạo sự thuận tiện và có nhiều lựa chọn hơn để thỏa mãn kịp thời như cầu của du khách.
Bên cạnh đó, An Giang hầu như rất ít các khu vui chơi, các công ty du lịch và UBND Tỉnh cần phải đầu tư mở rộng khu vui chơi giải trí, đồng thời đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch thu hút khách hàng.
Hệ thống giao thông tại tỉnh An Giang nói chung và các khu du lịch nói riêng chưa nâng cấp đủ xứng tầm với tiềm năng sẵn có của mình. Giao thông thuận lợi tác động mạnh mẽ đến thu hút khách du lịch cũng như phát triển kinh tế địa phương. Hệ thống giao thông vẫn còn chưa được chú trọng đầu tư: các tuyến đường còn hạn hẹp, xuống cấp, vẫn chưa có sự liên kết nhất quán giữa đường thủy và đường bộ tại các khu du lịch trọng điểm của Tỉnh nhà, đây là một rào cản lớn với việc phát triển du lịch tại tỉnh An Giang. Vì vậy, Tỉnh và các doanh nghiệp kinh doanh cần đầu tư và nâng cấp mở rộng các tuyến đường trọng yếu, huyết mạch của tỉnh An Giang. Bên cạnh đó, tỉnh An Giang có rất nhiều sông ngòi kênh rạch, là một lợi thế lớn để phát triển du lịch đường sông, đường thủy nội địa nên các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng tàu, thuyền phục vụ chuyên chở du khách. Điều đó góp phần thuận lợi cho du khách trong việc đi lại và góp phần thu hút nhiều lượt khách đến với An Giang nhiều hơn.
Tỉnh An Giang và các Công ty kinh doanh loại hình dịch vụ du lịch cần phân tích đánh giá thực trạng tiềm năng và năng lực của mình mà có những chính sách nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp nhất để tăng sự thu hút khách du lịch đến với An Giang.
5.3 Hạn chế của nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
Thứ nhất, đề tài đã thực hiện phỏng vấn các du khách từ nhiều vùng, miền khác nhau nhưng vì nguồn lực của tác giả hạn chế và không có khả năng biết được tổng thể du khách nội địa tại An Giang nên việc lấy mẫu được thực hiện theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, do đó có thể khả năng đại diện cho tổng thể là hạn chế.
Thứ hai, có nhiều thuộc tính được thiết kế đo lường sự hài lòng của du khách nên khiến du khách phải suy nghĩ lâu trước khi trả lời bảng câu hỏi. Trong quá trình triển khai phỏng vấn, tác giả nhận thấy rằng một số du khách rất có trách nhiệm đối với việc trả lời nhưng cũng có một số du khách chưa thực sự quan tâm, điều này ảnh hưởng không ít đến chất lượng dữ liệu và vì thế kết quả phần nào còn hạn chế.
Thứ ba, do nguồn lực hạn chế và việc liên lạc với các du khách 2 lần là rất khó khăn vì nó đòi hỏi rất nhiều sự cộng tác và hỗ trợ từ các nhà điều hành du lịch cũng như du khách. Vì vậy, Cuộc nghiên cứu này chỉ khảo sát du khách nội địa tại thời điểm họ đang trong chuyến đi du lịch của mình ở An Giang thay vì việc phải khảo sát du khách nội địa hai lần: đầu tiên, trước khi họ đến An Giang du lịch, lần thứ 2 là sau kỳ nghỉ.
5.4 Định hướng nghiên cứu trong tương lai
Kiến nghị cho nghiên cứu tiếp theo là nên mở rộng phạm vi nghiên cứu, bên cạnh phương thức lấy mẫu trong nghiên cứu là cách lấy mẫu thuận tiện nên thay bằng phương thức chọn mẫu theo xác suất để đảm bảo tính khái quát cao hơn. Mặt khác, nên khảo sát du khách nội địa hai lần: đầu tiên, trước khi họ đi đến An Giang du lịch, lần thứ 2 là sau khi họ đi du lịch ở An Giang. Cuối cùng, trong nghiên cứu cũng bỏ qua các mối quan hệ nội tại giữa các yếu tố thành phần tác động đến sự hài lòng của du khách. Có thể còn có nhiều yếu tố tác động đến sự hài lòng của du khách mà nghiên cứu bỏ qua. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Sự hài lòng của khách nội địa tại điểm du lịch An Giang

Pingback: Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến sự hài lòng của du khách