Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Tổng quan chung tình hình hoạt động du lịch tỉnh An Giang

2.1.1. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang

Trong những năm qua, ngành du lịch tỉnh An Giang đã có những bước tiến đáng kể trong các hoạt động thu hút đầu tư, nâng cấp cải tạo hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, thu hút nhiều thành phần kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài địa bàn tham gia đầu tư du lịch. Với định hướng phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong tương lai. Qua các năm, ngành du lịch đã có những hoạt động đáng kể tạo điểm nhấn quan trọng để tỉnh đưa vào tổ chức các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với các hoạt động quảng bá và phát triển du lịch. Hầu hết các di tích lịch sử, văn hóa đều được trùng tu, tôn tạo; một số làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển; các khu du lịch; cơ sở lưu trú được thẩm định, cải tạo, xây dựng mới. Các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đang khai thác các tour, tuyến du lịch đến An Giang thông qua các loại hình du lịch chủ yếu như: du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch tham quan văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng,…từ nguồn tài nguyên sẵn có trên địa bàn như sông nước, miệt vườn, làng bè, vùng nông thôn, cảnh quan sinh thái hoang sơ,.. Các hoạt động xúc tiến đã thu hút được nhiều nguồn lực từ các thành phần kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho nguồn lao động tại địa phương.

Các dự án đầu tư phát triển hạ tầng đã phản ánh được phần nào sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương đến ngành du lịch. Để phát triển du lịch, tỉnh An Giang đã tập trung đầu tư xây dựng hệ thống cầu đường thông suốt đến các khu, điểm du lịch trong tỉnh như: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Đầu tư cải tạo tuyến đường từ cầu Nguyễn Trung Trực (Long Xuyên) đến thành phố Châu Đốc (Quốc lộ 1) mở rộng nâng cấp để đạt chuẩn đường cấp III đồng bằng. Tuyến đường cao tốc Sóc Trăng-Cần Thơ-Châu Đốc (An Giang) tuyến đường sẽ rút ngắn thời gian kết nối từ Long Xuyên đến Phnompenh qua quốc lộ 2 của Cambodia. Tỉnh lộ 943 mở rộng trên địa bàn huyện Thoại Sơn để đi Kiên Giang. Tuyến N1 kết nối Tân Châu-Châu Đốc,…

Dự án sân bay An Giang với diện tích 245 ha trên địa bàn huyện Châu Thành, với kinh phí hơn 5.000 tỷ đồng. Khi dự án sân bay hoàn thành sẽ là một trong những điều kiện không chỉ giúp hoạt động kinh tế xã hội An Giang phát triển mạnh mà còn là một trong những điều kiện thuận lợi quan trọng giúp tỉnh thu hút khách du lịch.

Dự án xây dựng nhà máy xử lý rác thải thành phố Long Xuyên với kinh phí 585 tỷ đồng. Khi đưa vào sử dụng nhà máy sẽ thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn thành phố và các huyện thị lân cận nhằm cải tạo, hạn chế vấn đề xả thải ra môi trường góp phần bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên.

Ngoài các dự án về cơ sở hạ tầng, phát triển mạng lưới giao thông. Các chính sách ưu đãi của tỉnh trực tiếp dành cho ngành du lịch bao gồm nhiều dự án lớn như: tranh thủ nguồn vốn vay ADB xây dựng cầu tàu du lịch tại Châu Đốc, xây dựng cửa khẩu liên hợp quốc tế đường thủy tại xã Vĩnh Xương, xây dựng khu du lịch sinh thái Búng Bình Thiên (An Phú) với diện tích 132,9 ha, kinh phí khoảng 600 tỷ đồng. Hoàn thành hệ thống cáp treo đầu tiên tại đồng bằng sông Cửu Long là công trình trọng điểm, tuyến cáp treo dài 3.400m, gồm 89 cabin, vận chuyển khoảng 2.000 lượt khách mỗi giờ. Đặc biệt là sự hỗ trợ của tổ chức Nông nghiệp Hà Lan (Agriterra) trong việc giúp nông dân làm du lịch nông thôn,..

Các dự án, chính sách ưu đãi của An Giang trong các năm qua đã phần nào phản ánh được sự quan tâm, chú trọng phát triển của tỉnh đối với ngành du lịch, xác định trọng tâm phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, giúp An Giang chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công trong thời gian tới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Lượng khách du lịch đến An Giang giai đoạn 2005-2014

Ngành du lịch của tỉnh An Giang trong những năm gần đây đã được các cấp ủy, chính quyền địa phương và các thành phần kinh tế quan tâm đầu tư phát triển, từng bước đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước.Sự đầu tư đã đạt được một số kết quả đáng kể thông qua sự gia tăng số lượng khách du lịch đến với tỉnh An Giang và sự tăng trưởng thể hiện rõ nét qua từng năm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến tỉnh An Giang giai đoạn 2005-2009

Từ bảng thống kê lượt khách đến tỉnh An Giang giai đoạn 2005-2009, có thể nhận thấy, lượt khách du lịch đến An Giang có sự thay đổi. Tuy nhiên không gây ra hiện tượng đột biến tăng, giảm lượt khách.Theo bảng số liệu tổng lượt khách đến An Giang từ năm 2005 đến năm 2009 tăng 23.13%, mức tăng trung bình năm đạt 5.82%. Trong đó, số lượt khách quốc tế đến tăng 24.76%, mức tăng trung bình năm đạt 6.19%. Số lượt khách nội địa tăng 23.15%, mức tăng trung bình năm đạt 5.78%. Trong năm 2007, lượt khách đến An Giang có sự giảm nhẹ so với cùng kì năm 2006 do sự ảnh hưởng khách quan của các yếu tố kinh tế xã hội trong nước, thời gian đầu của giai đoạn khủng hoảng nền kinh tế thế giới đã tác động đến hoạt động du lịch không chỉ riêng đối với tỉnh An Giang mà còn ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của Việt Nam nói chung. Tuy nhiên sự tăng trưởng ổn định của lượt khách đến An Giang đã phần nào thể hiện được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và các chính sách phát triển du lịch đã dần đạt được những kết quả bước đầu.

Cơ cấu khách du lịch đến An Giang phần lớn là khách du lịch nội địa từ các tỉnh thành lân cận trong cả nước. Lượt khách nội địa tăng nhanh quá các năm. Tuy nhiên, sự tăng trưởng khách quốc tế chiếm tỷ lệ cao hơn so với khách du lịch nội địa,nhưng khách quốc tế còn chiếm một tỉ lệ nhỏ trong cơ cấu khách. Chủ yếu đến từ các thị trường gửi khách lớn của Việt Nam như Mỹ, Anh, Pháp, Đài Loan, Hàn Quốc,..Điều này cho thấy thị phần khách của tỉnh An Giang luôn bị áp lực của các địa phương khác chia sẻ, du lịch của tỉnh cần có nhiều hơn nữa các biện pháp kích cầu thu hút khách du lịch, đẩy mạnh khai thác tính độc đáo, đặc thù để cạnh tranh thị phần từ địa phương khác trong vùng cũng như cả nước.

Bảng 2.2: Lượt khách du lịch đến tỉnh An Giang giai đoạn 2010-2014

Giai đoạn từ năm 2010 – 2014 tổng số lượt khách du lịch đến An Giang tăng nhanh. Mức tăng trưởng đạt 22.06%, mức tăng trung bình năm đạt 5.51%. Trong đó, khách du lịch quốc tế tăng 42.38%, mức tăng trung bình năm đạt 10.59%. Khách du lịch nội địa tăng 22.07%, mức tăng trung bình năm đạt 5.51%. Tuy nhiên so với giai đoạn 2005 – 2009, mức tăng trưởng du lịch của An Giang giai đoạn 2010-2014 đã giảm 1.07%. Sự suy giảm xuất phát từ các nguyên nhân như: hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao, vệ sinh môi trường trong các khu, điểm du lịch còn hạn chế. Trong thời gian tới, ngành du lịch An Giang cần có thêm nhiều biện pháp xúc tiến, quảng bá, hợp tác phát triển với các khu vực khác và cả nước trong việc thu hút khách du lịch bằng cách cung cấp các sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng, tạo dấu ấn cho du lịch An Giang trong lòng du khách.

2.2. Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tỉnh An Giang Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

2.2.1.Vị trí địa lý

An Giang là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long nằm ở phiá Tây Nam của Tổ quốc. Phía Bắc và Tây Bắc giáp Cambodia với 104 km chiều dài đường biên giới(theo Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam – Cambodia kí ngày 27.12.1985), Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang 69,789 km, Nam giáp Cần Thơ 44,734 km và Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 107,628 km. Tọa độ địa lý từ 10010’ đến 11o37’ vĩ độ Bắc và 104o47’ đến 105o35’ kinh độ Đông. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.406 km2, bằng 1,05% diện tích toàn quốc và bằng 8,71% diện tích toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (đứng thứ tư trong vùng), dân số khoảng 2.157.000 người, mật độ 612 người/km2.

An Giang là tỉnh nằm giữa 3 trung tâm kinh tế lớn: thành phố Hồ Chí Minh – thành phố Cần Thơ – thủ đô PhnomPenh (Cambodia), với khoảng cách lần lượt là 180 km, 60 km, 200 km. An Giang có cửa khẩu đường sông và đường bộ (cửa khẩu quốc gia). Trong đó trục đường bộ chính là quốc lộ 91 nối với quốc lộ 2 của Cambodia qua cửa khẩu Xuân Tô (huyện Tịnh Biên) và trục đường thuỷ quốc tế là sông Tiền và sông Hậu, bước đầu tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng trao đổi hàng hoá trực tiếp với nước bạn Cambodiavà các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long.

Vị trí địa lý thuận lợi là điều kiện quan trọng cho việc hình thành, phát triển du lịch tỉnh An Giang nói chung và loại hình du lịch nông thôn nói riêng. Yếu tố thuận lợi trong quá trình tiếp cận điểm đến, quá trình di chuyển giữa các khu điểm du lịch bằng nhiều loại hình phương tiện giao thông công cộng cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch An Giang. Bên cạnh đó, An Giang nằm giữa các đầu mối giao thông lớn, có cửa khẩu đường biên giới trải rộng là điều kiện định hướng thị trường khách quốc tế cho loại hình du lịch nông thôn tỉnh An Giang trong các giai đoạn phát triển.

2.2.2. Tiềm năng tự nhiên

2.2.2.1. Địa hình

Địa hình An Giang mang những đặc điểm nổi bật so với địa hình đồng bằng vùng Tây Nam Bộ khi có sự xen kẽ giữa đồng bằng châu thổ và đồi núi. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Đồi núi của An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân bổ theo vành đai cánh cung kéo dài 100 km ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Trong đó núi Cấm là núi lớn nhất có tới 6 đỉnh với độ cao từ 142m đến 705m, liên kết với các núi khác thành một mạch núi liên tục, trải dài 35km, rộng 17km với diện tích gần 600km2. Địa hình núi non với nhiều di tích, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, danh lam thắng cảnh tạo điều kiện thuận lợi cho An Giang phát triển các loại hình du lịch tâm linh, du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch tìm hiểu.

Địa hình đồng bằng là đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ sông Mekong. Về hình dạng, đồng bằng phù sa ở An Giang có 3 dạng chính và 1 dạng phụ: dạng cồn bãi (cù lao) có hình dạng như chiếc thuyền úp, ở giữa cao và thấp dần sang hai bên như cù lao Mỹ Hòa Hưng, cù lao Tiên, Phó Ba (Long Xuyên), Bà Hòa (Châu Thành), Bình Thủy, Khánh Hòa (Châu Phú), Vĩnh Trường (An Phú) của sông Hậu và cù lao Giêng (Chợ Mới), cù lao Tây, cù lao Ma, Cái Vừng, cồn Cỏ (Tân Châu) của sông Tiền. Từ bao đời nay xung quanh các cù lao dần hình thành các vùng nông thôn với hoạt động sản xuất nông nghiệp, làm vườn, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thả cá bè, đánh bắt thủy sản nước ngọt là hoạt động kinh tế chính. Đa dạng hoạt động canh tác tạo thuận lợi cho tỉnh phát triển được các loại hình du lịch miệt vườn, du lịch sông nước, tham quan các cù lao,…

An Giang có nhiều hình thái nông thôn, bao gồm nông thôn vùng núi, nông thôn vùng đồng bằng, nông thôn vùng sông nước…được tạo thành do sự đa dạng của địa hình. Nhiều loại hình nông thôn trong một phạm vi nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho sự đầu tư phát triển đa dạng dịch vụ cung cấp cho du khách, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch nông thôn.

2.2.2.2. Khí hậu

An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình khoảng 28oC, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm; độ ẩm trung bình 80 – 85% và có sự dao động theo chế độ mưa, theo mùa. Nói chung, các yếu tố của khí hậu tỉnh An Giang như chế độ bức xạ, nắng, nhiệt độ, độ ẩm, sức gió,… khá phù hợp với sự phát triển của loại hình du lịch nông thôn. Lượng bức xạ tương đối lớn, tổng lượng nhiệt bình quân trong năm là 10.0000C. Số giờ nắng ở An Giang dao động từ 100 đến 300 giờ nắng. Chế độ gió được đặc trưng bởi tác động luân phiên của hệ thống hoàn lưu gió mùa nên rất ổn định. Trong mùa khô thịnh hành gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết ít mưa, chỉ chiếm 10% lượng mưa của cả năm. Vào mùa mưa, gió mùa Tây Nam mang khối khí biển nhiệt đới và xích đạo, lượng ẩm dồi dào, mưa nhiều, chiếm 90% lượng mưa của cả năm, tập trung cao nhất vào các tháng 7, 8, 9, 10. Với đặc điểm nằm sâu trong đất liền nên An Giang ít chịu ảnh hưởng của gió bão. Đây là điều kiện cơ bản để phát triển nông nghiệp giúp cho An Giang là một trong những tỉnh sản xuất lúa gạo nhiều nhất đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy nhiên khí hậu nhiệt đới ẩm cao đòi hỏi các nhà du lịch, nhà kiến trúc lưu ý trong việc quy hoạch các vùng thể kiến trúc du lịch, đảm bảo yêu cầu thoáng mát, có cây xanh phù hợp. Căn cứ vào chỉ số sinh khí hậu đối với con người, các yếu tố khí hậu của An Giang cho thấy mức độ thích nghi và phù hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch tham quan, vui chơi, giải trí,…

2.2.2.3. Thủy văn Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Nguồn nước mặt và nước ngầm ở An Giang rất dồi dào. Sông Tiền và sông Hậu chảy song song từ Tây Bắc xuống Đông Nam trong địa phận của tỉnh dài gần 100 km, lưu lượng trung bình năm 13.800 m3/s. Bên cạnh đó có 280 tuyến sông rạch và kênh lớn, mật độ 0.72 km/km2. Song chế độ thủy văn của tỉnh phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mekong. Hàng năm bị ngập lụt từ tháng 8 đến tháng 11 gọi là “mùa nước nổi” nước dâng cao từ 1 – 3m, có năm lên đến 4,5m thời gian ngập lụt kéo dài từ 2 – 4 tháng. Hệ thống giao thông thủy, bộ rất thuận tiện. Giao thông chính của tỉnh là một phần của mạng lưới giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia và quốc tế, có cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và Vĩnh Xương. Đây là lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội nhập nền kinh tế An Giang với các tỉnh trong nước, ngoài nước, nhất là khu vực Đông Nam Á. Lợi thế về hệ thống nguồn nước nổi lớn từ ao, hồ, kênh, rạch, sông lớn tạo tiền đề cho An Giang phát triển các loại hình du lịch liên quan đến sông nước, miệt vườn, chợ nổi, làng bè, nhà trên sông,…

Cùng với cảnh núi rừng hoang sơ, An Giang còn là vùng đất của sông nước do hai nhánh sông Tiền và sông Hậu của sông Mekong chảy qua. An Giang có hơn 2.500 km đường thủy, đặc biệt ở những sông lớn bao quanh các cù lao như Mỹ Hòa Hưng – quê hương chủ tịch Tôn Đức Thắng, bên cạnh có những kênh rạch nổi tiếng như Vĩnh Tế, Thoại Ngọc Hầu ngày xưa và các kênh T4, T5, T6, … ngày nay đã tạo điều kiện cho du lịch sông nước An Giang phát triển.

An Giang có mùa nước nổi từ 2 – 4 tháng hàng năm. Tỉnh An Giang đã tác động nhiều chính sách để khai thác mùa nước nổi thông qua các mô hình sản xuất phong phú như nuôi cá, trồng ấu tạo tính đa dạng đặc thù của miền sông nước. Đây cũng là lợi thế lớn giúp đa dạng hoạt động du lịch nông thôn An Giang và giải quyết việc làm vào mùa nước nổi cho người dân trong vùng.

Nhìn chung, hệ thống thủy văn của tỉnh An Giang đã góp phần làm nên cảnh quan sông rạch phong phú. Vì vậy, trong phát triển ngành du lịch cần khai thác nét độc đáo của nền văn hóa sông nước đặc thù An Giang để góp phần vào việc duy trì và bảo tồn những bản sắc truyền thống của địa phương. Đây là một trong những phương thức tạo ra sản phẩm thay thế, tăng tính đa dạng của sản phẩm du lịch là một trong những cách giữ lại nét đặc thù của tỉnh, kết hợp với nét riêng biệt để thu hút du khách đến với du lịch An Giang.

2.2.2.4. Sinh vật Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

An Giang có diện tích rừng khá lớn gần 12.000 ha. Hệ sinh thái rừng đa dạng và phong phú bao gồm kiểu rừng khớp ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và các tỉnh Tây nguyên. Bên cạnh đó là luồng thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Ấn Độ – Mianmar xâm nhập vào vùng núi cao phía Tây của miền Bắc Việt Nam và tràn xuống phía Nam Việt Nam theo dọc sườn phía Tây của dãy Trường Sơn xuống cực Nam Trung Bộ phần đuôi của Nam Trường Sơn kéo dài đến vùng Bảy núi. Việt Nam có 8 ngành thực vật bậc cao thì vùng Bảy núi cũng đã có đại diện của 5 ngành, chiếm 62.5% (khảo sát 815 loài thực vật rừng ghi nhận được thì có 116 loài cây gỗ lớn, 149 loài cây gỗ nhỏ, 208 loài cây bụi, tiểu mộc, 105 loài dây leo, 178 loài cây dạng cỏ, 34 loài khuyết thực vật, 25 loài thực vật kí sinh, phụ sinh). Các cánh rừng tự nhiên ở các núi Phú Cường, núi Cấm, núi Cô Tô còn được bảo quản tốt tạo môi trường cho các loài động vật hoang dã về sinh sống như khỉ, heo rừng, chồn, thỏ, trăn và các loài chim,…Các khu rừng tràm đồng bằng ngoài chức năng phòng hộ cho nông nghiệp, còn là nơi trú ngụ và sinh sản lý tưởng cho các loài chim nước. Đặc biệt rừng tràm Trà Sư là nơi quy tụ 11 sinh cảnh thực vật rừng. Hệ thực vật nơi đây cũng rất phong phú và đa dạng với 140 loài, thuộc 52 họ và 102 chi; trong đó  có 22 loài cây gỗ, 25 loài cây bụi, 10 loài dây leo, 70 loài cỏ và 13 loài thủy sinh. Nếu xét theo tỉ lệ tổng số loài thực vật so với tổng diện tích khu vực điều tra thì khu vực này có tỷ tệ khá cao, đứng thứ hai khu bảo tồn thiên nhiên khu vực đồng bằng sông Cửu Long, sau Xẻo Quít của tỉnh Đồng Tháp. Trong nhiều năm qua, hệ thống rừng trên địa bàn tỉnh An Giang không bị cháy, không bị chặt phá và ít bị tác động bởi những hoạt động của con người. Chính vì vậy, nơi đây đã tập trung nhiều loài chim quý hiếm, cá, thuỷ sinh vật đặc trưng tìm đến khi lũ tràn về, chọn làm nơi cư trú thích hợp để sinh sản.

Khu hệ chim thì có thể nói là rất đa dạng và phong phú. Hiện nay, đây là nơi cư trú của 70 loài chim thuộc 13 bộ và 31 họ, trong đó nhiều nhất là bộ sẻ với 26 loài; đặc biệt có 2 loài chim quí hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam là cò Lạo Ấn Độ (Mycteria leucocephala) và Cổ rắn Điêng Điểng (Anhingamelanogaster).Trên những vùng hiện còn rừng, Trà Sư vẫn còn lưu giữ trên 62 loài chim nước, nhiều loài quí hiếm đang bị đe doạ trong vùng hay toàn cầu. Đó là Diệc lửa (A. purpurea) đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, Ròng rộc vàng (Ploceus hypoxanthus) cũng là loài gần bị đe dọa toàn cầu, phân bố rất ít điểm ở đồng bằng sông Cửu Long(như Tràm Chim, Trà Sư), loàiVạc Nycticorax nycticorax và Cốc đế nhỏ Phalacrocorax niger.

Ngoài ra, nơi đây còn là nơi di trú theo mùa của Sếu đầu đỏ (Sarus crane), được phát hiện từ những năm 1992, hay loài Bồ nông chân xám (Pelecanus philippensis) và loài sắp bị đe dọa toàn cầu là Giang sen (Mycteria leucocephala)nay vẫn tìm về hàng năm, với số lượng gần trăm con trong mùa nước rút.Ngoài chim muông, theo số liệu khảo sát bước đầu của một số nhà khoa học cho biết, về hệ động vật hoang dã đã tồn tại, nơi đây đã có đến 11 loài thú trong 6 họ và 4 bộ.Ngoài ra, còn có 20 loài bò sát và 5 loài ếch nhái, là những loài phổ biến cũng xuất hiện trong khu vực. Về loài cá thì có 23 loài, là những loài có giá trị kinh tế cao . Ngoài tác động của rừng đối với môi trường, làm thay đổi khí hậu trong vùng có lợi cho con người và thiên nhiên, rừng và hệ thống động, thực vật trong rừng còn mang lại giá trị to lớn trong hoạt động du lịch. Các hoạt động tham quan rừng, tìm hiểu sự đa dạng sinh thái trong rừng, cảnh quan thiên nhiên hoang sơ,…chắc chắn sẽ thu hút sự tham gia của số lượng đông khách du lịch yêu thiên nhiên, muốn tìm về môi trường tự nhiên.

2.2.3. Tiềm năng nhân văn Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Nếu tiềm năng tự nhiên làm tăng tính hấp dẫn cho các hoạt động khám phá tự nhiên thì tiềm năng nhân văn sẽ làm tăng tính hấp dẫn du khách tìm về cội nguồn văn hóa bản địa. Nguồn tài nguyên văn hóa gồm có thành phần văn hóa vật chất và phi vật chất mang lại những giá trị nhân văn nhất định và tạo nét đặc trưng cho sản phẩm du lịch. Các giá trị văn hóa thể hiện qua bề dày lịch sử của quá trình hình thành và phát triển các di tích, phong tục tập quán, … tất cả sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển các loại hình du lịch vì nó thể hiện giá trị của sự sáng tạo, phong phú và văn hóa được kết tinh lại tạo sức thu hút cao. Phân loại các tiềm năng nhân văn một cách cụ thể giúp cho du lịch An Giang có được sự định hướng phát triển trong việc quy hoạch nguồn tài nguyên, xác định thị trường khách trọng tâm cũng như có hướng bảo tồn, lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa một cách tốt nhất.

2.2.3.1. Di tích lịch sử, văn hóa

Tỉnh An Giang có 27 di tích lịch sử  – văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia và 48 di tích xếp hạng cấp tỉnh, tập trung:

  • Thành phố Long Xuyên

Khu lưu niệm Bác Tôn ở cù lao Mỹ Hòa Hưng, xã Mỹ Hòa Hưng, đình Mỹ Phước, đình Ông Bắc là những di tích kiến trúc nghệ thuật.

  • Thành phố Châu Đốc

Thuộc cụm di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh gồm: di tích lăng Thoại Ngọc Hầu, Miếu bà Chúa Xứ, di tích chùa Tây An, di tích chùa Hang, đình Châu Phú.

  • Huyện Tri Tôn

Là cụm di tích cách mạng nằm trong khu vực xã Ba Chúc gồm: Nhà mồ, chùa Tam Bửu, chùa Phi Lai, đồi Tức Dụp, chùa Xò Tón (chùa Khmer).

  • Huyện Phú Tân:

Gồm Chùa Giồng Thành ( Long Hưng Tự) là di tích lịch sử thuộc xã, Chùa Chăm là di tích khiến trúc nghệ thuật thuộc xã Phú Hiệp. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

  • Huyện Châu Phú:

Gồm Đền thờ Quản Cơ Trần Văn Thành là di tích lịch sử, xã Thạnh Mỹ Tây.

  • Huyện Chợ Mới:

Gồm Chùa Đạo Nằm xã Tấn Mỹ, Chùa Bà Lê ( tức Phước Hội tự) là di tích lịch sử thuộc xã Hội An, Cột Dây Thép là di tích lịch sử thuộc xã Long Điền A.

  • Huyện Thoại Sơn:

Gồm 2 bia đá tượng Phật 04 tay là di tích kiến trúc nghệ thuật, xã vọng Thê, Bia Thoại Sơn là di tích lịch sử thuộc thi trấn Núi Sập.

  • Huyện Tịnh Biên:

Có Hòa Thành Cổ Tự là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật ở xã Nhơn Hưng.

Bảng 2.3: Các di tích lịch sử – văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia

Phát triển du lịch là một trong những hướng đi mới của tỉnh. Vì vậy, những năm gần đây tỉnh đã và đang tập trung đầu tư khai thác phát triển các khu, điểm di tích lịch sử văn hóa như:

  • Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam

Miếu Bà Chúa Xứ ở khu danh thắng Núi Sam, tại chân núi Sam – thuộc xã Vĩnh Tế, thành phố Châu Đốc. Miếu được lập vào đầu thế kỷ XIV ( khoảng 1820- 1825), khi ấy còn làm bằng tre lá đơn sơ. Qua nhiều lần nâng cấp đến năm 1972 Miếu được xây dựng lại qui mô và tráng lệ theo kiểu hình khối tháp, có bốn tầng mái cong lợp ngói ống, tráng men xanh. Nghệ thuận chạm trổ rất tinh xảo. Toàn khu Miếu Bà là một công trình nghệ thuật tiêu biểu cho sự hài hòa của nền kiến trúc truyền thống, dân tộc và hiện đại.

Vì vậy, Miếu đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận và xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Đây là một lễ hội dân gian lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2001 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã chính thức công nhận lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam là lễ hội cấp quốc gia, trở thành một trong 15 lễ hội tiêu biểu của cả nước.

  • Bia Thoại Sơn

Bia Thoại Sơn là một di tích lịch sử do Thoại Ngọc Hầu xây dựng vào năm 1822. Năm 1817, Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ Vĩnh Thanh và chủ trương đào con kênh dẫn đến Rạch Giá, kênh dài hơn 30 Km, có một vị trí quan trọng trong việc giao thông vận tải và phát triển nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, kinh tế của nhân dân trong vùng. Ông được triều đình khen ngợi và cho lấy tên Ông đặt tên cho con kênh là Thoại Hà. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Để đánh dấu công trình trọng đại này, Thoại Ngọc Hầu đã soạn bài văn và cho khắc vào bia đá. Năm 1822, ông long trọng làm lễ dựng bia và khánh thành miếu thờ sơn thần tại triền Núi Sập. Bia có chiều cao 3 mét, ngang 1,2 mét, bề dày 0,2 mét, mặt bia chạm đúng 629 chữ. Bia Thoại Sơn đến nay vẫn còn ở vị trí ban đầu, nét chữ Hán trên mặt bia vẫn còn sắc nét. Đây là một trong ba công trình di tích lịch sử loại bia ký nổi tiếng ở Việt Nam dưới chế độ phong kiến còn lưu lại đến ngày nay.

  • Khu di chỉ Óc Eo

Đây là một địa danh được nhiều người trong và ngoài nước biết đến, là một khu di tích cổ rộng lớn gắn liền với vết tích vật chất của Vương quốc Phù Nam một quốc gia hùng mạnh ở vùng Đông Nam Á cách nay khoảng hai nghìn năm.

Ngoài khu vực được xem là “thành phố Óc Eo” có diện tích 4.500 ha còn có một số vùng ở miền Tây Nam Bộ như Đồng Tháp, Châu Đốc, Kiên Giang. Hiện nay, Khu di tích Óc Eo không những đón được rất nhiều nhà sưu tầm, khảo cổ đến nghiên cứu, tìm hiểu. Nơi này còn thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan các di vật, vết tích được phát hiện để biết thêm về một thời kỳ phát triển rực rỡ của vùng đất An Giang ngày xưa.

  • Đồi Tức Dụp

Tức Dụp thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, là ngọn đồi của dãy núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn). Tuy là một ngọn đồi nhỏ với chiều cao khoảng 300 mét, nhưng có địa hình hiểm trở với nhiều tảng đá dựng cheo leo, tạo thành những hang trên núi ăn luồng nhau như tổ ong. Nhờ đặc điểm ưu việt này Tức Dụp đã trở thành một căn cứ kháng chiến nổi tiếng trong thời kỳ chống Mỹ.

Suốt 128 ngày đêm, với một lực lượng hùng hậu máy bay, pháo binh, bộ binh nhưng kẻ địch vẫn không thể đánh thắng được. Để rồi Mỹ phải thảm bại và cái tên “Ngọn đồi 2 triệu đô la” là số tiền Mỹ đã bỏ ra để mua bom đạn trút xuống ngọn đồi. Đến đây du khách có thể tham quan những địa danh như hang C6, hang Quân y, hang thanh niên, Hội trường Tỉnh Ủy…Đồi Tức Dụp ngày nay là một khu tham quan. giải trí lý tưởng . Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

An Giang còn nhiều các di tích lịch sử, văn hóa có giá trị truyền thống được phân bố rải rác khắp tỉnh, là một trong những tiềm năng để bổ sung, khai thác làm phong phú hoạt động du lịch nông thôn tỉnh An Giang khi cung cấp thêm cho khách hoạt động tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị văn hóa lịch sử có tại địa phương.

2.2.3.2. Cư dân, dân tộc và các lễ hội sinh hoạt văn hóa cộng đồng

Cộng đồng dân cư sinh sống trên lãnh thổ An Giang, người Kinh chiếm đông nhất (94,30%), người Khmer (4,07%), người Hoa (1.009%) và người Chăm (0.65%). Mỗi dân tộc đều có những nét sinh hoạt văn hóa, lễ hội riêng của mình. Từ điều kiện lịch sử nên cơ cấu lễ hội tại tỉnh An Giang rất phong phú, ngành du lịch cần quan tâm tận dụng thế mạnh này để khai thác lễ hội các dân tộc nhằm phục vụ du lịch. Trong năm tỉnh An Giang có các lễ cách mạng là ngày Kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng vào ngày 14/8 hằng năm và 14 lễ hội dân gian được tổ chức. Trong đó, có một lễ hội thuộc cấp Bộ quản lí và 6 lễ hội thuộc cấp tỉnh quản lí. Đặc biệt, lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam hằng năm thu hút rất đông khách du lịch đến chiêm bái, tín ngưỡng. Người Chăm sống chủ yếu ở hai huyện Châu Phú, Phú Tân có các lễ hội: Romadol, lễ Hatgi (Roya Hadji),.. Người Khmer sống tập trung ở hai huyện Tịnh Biên, Tri Tôn thường tổ chức các lễ hội như: đua bò Bảy Núi, tết Cholchnamthmay, lễ dolta, lễ cúng trăng và hội đua ghe,..

Tại An Giang còn có các tôn giáo như: Phật, Cao đài, Công giáo, Hòa Hảo với nhiều lễ hội dành riêng cho các tôn giáo này tạo thêm nhiều nét chấm phá cho bức tranh lễ hội của tỉnh An Giang.Một số lễ hội tiêu biểu cụ thể như là:

  • Lễ hội của người Chăm

Người Chăm ở An Giang hầu hết là tín đồ Hồi giáo (Islam). Vì vậy, các lễ hội của người Chăm tiến hành theo Hồi lịch và được tổ chức hàng năm tại các Thánh đường ở mỗi địa phương. Lễ Ramadan là một trong những lễ hội lớn tập trung nhiều người dân tham gia.

Lễ Ramadan còn gọi là tháng thánh lễ bắt đầu từ ngày 1 tháng 9 đến ngày 30 tháng 9 Hồi lịch. Người Chăm gọi lễ này là “Pănơh” có nghĩa là “tháng nhịn ăn” hay “tháng ăn chay”.

  • Lễ Dolta và Hội đua bò của dân tộc Khmer

Lễ Dolta tức là lễ “cúng ông bà” của người Khmer nhằm mục đích cầu siêu cho người đã chết, lễ diễn ra từ ngày 29 tháng 8 âm lịch đến ngày 1 tháng 9 âm lịch. Trong dịp này, hội đua bò được tổ chức, đây là môn thể thao đậm đà bản sắc dân gian của đồng bào Khmet vùng Bảy núi. Tục đua bò đã có từ lâu đời. Cuộc đua thường tổ chức trên các ruộng lúa đã gặt, nước xâm xấp, gọi là “đua bò bừa”. Ngày xưa, ngày lễ Dolta trùng vào dịp xuống giống vụ lúa Thu Đông nên bà con nào trong phum, sóc có bò mang đến bừa cho thửa ruộng của ngôi chùa gọi là “bừa công quả”.

Về sau, hình thành tục đua bò được tổ chức tự phát ở nhiều nơi trong 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, thu hút cả chủ bò người Kinh tham gia. Đến năm 1992 chính quyền 2 huyện thống nhất tập hợp và tổ chức “lễ hội đua bò”. Hàng năm luân phiên tổ chức tại 2 trường đua thuộc xã Lương Phi (Tri Tôn) và Vĩnh Trung (Tịnh Biên) với quy mô lớn.

Bảng 2.4: Một số lễ hội trên địa bàn tỉnh An Giang Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Với tính phong phú của các lễ hội, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang cần có sự đầu tư vào chiều sâu trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian trong từng lễ hội thông qua nghiên cứu cẩn thận các giá trị thể hiện trong trang phục, các điệu múa dân gian, tập tục, nghi thức thờ cúng để có sự ghi chép cũng như thực hiện các nghi lễ một cách chuẩn xác.Đây không chỉ là khai thác để phát triển du lịch mà còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn, nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương, bảo tồn giá trị văn hóa của các lễ hội dân gian tỉnh An Giang.

2.2.3.3. Văn hóa ẩm thực

Ẩm thực có những nét rất riêng của An Giang khi có sự hòa hợp trong văn hóa ẩm thực của 4 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn. Du khách sẽ có dịp thưởng thức và khám phá những món ngon do chính bàn tay khéo léo của những người phụ nữ dân tộc Chăm với món Tung Lò Mò (xúc xích bò), món canh chua lá vang của đồng bào Khmer và những sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu nổi tiếng của vùng sông nước là con cá Ba Sa của người Kinh. Ngoài ra, còn những món ăn mang đậm nét miền sông nước Nam bộ, mang tính độc đáo, hương vị đặc sắc, đặc trưng của địa phương chế biến. Đặc biệt nhất là những món ăn chế biến từ cá nước ngọt như cá Ba Sa, cá Chẽm, cá Thác Lát, cá Linh, … với một số sản phẩm đặc thù của tỉnh và được nhiều du khách biết đến như mắm thái và khô cá lóc chế biến từ nguồn cá lóc tự nhiên, mắm linh được chế biến từ cá linh đánh bắt, đường thốt nốt; độc đáo nhất là mỗi khi đến mùa nước nổi, thiên nhiên cung cấp cho tỉnh lượng cá linh rất lớn, vào mùa này khách du lịch có thể đánh bắt cá linh để chế biến các thức ăn hấp dẫn, …Nói chung, các món ăn của tỉnh An Giang thật sự là độc đáo, hấp dẫn, mang đậm nét thiên nhiên, mộc mạc của miền sông nước.

2.2.3.4. Các làng nghề thủ công truyền thống

An Giang có nhiều làng nghề thủ công truyền thống sản xuất các sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của cư dân vùng sông nước từ việc tận dụng nguồn nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương. Có 34 làng nghề tiểu thủ công, trong có có 25 làng nghề được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận với 6.300 hộ tham gia, thu hút trên

18.600 lao động.An Giang quy tụ nhiều nghệ nhân và nhiều hộ gia đình tham gia sản xuất các mặt hàng thủ công. Các sản phẩm của làng nghề tập trung vào 5 nhóm: dệt, sản xuất tư liệu lao động, vật dụng sinh hoạt gia đình, mộc và đan lát. Hình thành những làng nghề nổi tiếng như: nghề mộc chạm trổ ở Chợ Thủ (Chợ Mới), nghề dệt lụa ở Tân Châu, nghề rèn ở Phú Mỹ (Phú Tân), nghề vẽ tranh trên kiếng ở Long Điền B (Chợ Mới). Đặc biệt nhất là làng nuôi cá bè với mô hình nhà nổi trên sông (Châu Đốc, Long Xuyên).

Bảng 2.5: Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống tỉnh An Giang

Ở những làng nghề các nghệ nhân tài giỏi đã liên tục đào tạo ra các thế hệ thợ tiếp nối, nhiều nghề có tính chất cha truyền con nối.Các nghệ nhân đã và đang tạo ra các sản phẩm truyền thống phục vụ cho xã hội và phát triển du lịch. Tuy nhiên, các sản phẩm thủ công hiện nay dần bị mai một bởi sự đa dạng các sản phẩm thay thế, nhu cầu tiêu dùng thay đổi, giá thành tạo ra sản phẩm cao, nguồn tiêu thụ không ổn định… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Do đó, để phát triển du lịch tỉnh cần khôi phục một số làng nghề truyền thống như: làng nghề dệt ở xã Đa Phước, Nhơn Hội, Vĩnh Trường và Quốc Thái (An Phú), hiện nay hầu như không còn do sản phẩm sản xuất bằng thủ công với công cụ thô sơ, giá thành cao không cạnh tranh được với các sản phẩm khác trên thị trường. Làng nghề đá thủ công núi Sập (Thoại Sơn) do việc chấm dứt khai thác đá đã dẫn đến ngưng hoạt động đối với các sản phẩm đá chẻ, đá xây dựng. Làng nghề nắn nồi đất, cà ràng của đồng bào Khmer ở huyện Tri Tôn có nhiều nét văn hóa đặc sắc. Ngoài ra, một số làng nghề thủ công đã hình thành chưa lâu, quy mô sản xuất nhỏ, sản lượng sản phẩm ít chủ yếu làm theo dạng kinh tế phụ, sản xuất những sản phẩm mang tính đặc trưng, mới lạ như tranh lá thốt nốt, đồ mỹ nghệ tre bông, tranh gỗ ghép, tranh lá cây, thắt lục bình, khô cá tra, … những sản phẩm này cần phải sắp xếp, đầu tư để phát triển thành làng nghề truyền thống đưa vào khai thác du lịch.Làng nghề và các sản phẩm thủ công sẽ là điểm nhấn ấn tượng thu hút du khách đến với du lịch nông thôn tỉnh An Giang.

2.2.3.5. Các loại hình nghệ thuật

An Giang là nơi quy tụ tinh hóa văn hóa độc đáo của 4 cộng đồng dân tộc: Kinh, Chăm, Hoa, Khmer. Với nhiều đặc trưng văn hóa truyền thống khác nhau hình thành bức tranh văn hóa nghệ thuật sinh động, nhiều màu sắc. Người Khmer có loại hình nghệ thuật đặc trưng như hát Dù Kê, múa trống, múa Chằng,.. Người Kinh nổi tiếng với Đờn ca tài tử đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể. Người Chăm có loại hình nghệ thuật dân ca Chăm và biểu diễn kèn Saranai, trống Pànà, Paranưng theo phong cách Hồi giáo. Người Hoa với nghệ thuật múa dù, múa quạt, múa lân sư rồng và hát Hồ Quảng. Sự đa dạng của các loại hình nghệ thuật truyền thống trên địa bàn tỉnh là một tiềm năng lớn để du lịch An Giang khai thác các hoạt động du lịch tạo sự đa dạng cho các sản phẩm du lịch cung cấp cho khách.

2.2.4. Tiềm năng về sản xuất nông nghiệp

Tỉnh An Giang có nhiều thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, tạo tiền đề khai thác phát triển du lịch nông nghiệp trong loại hình du lịch nông thôn. An Giang là một trong hai tỉnh có diện tích trồng lúa cao nhất đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, chiếm 14,9%  diện tích và 41,1% sản lượng lúa của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích các loại cây ăn quả ngày càng mở rộng, góp phần đa dạng hóa cơ cấu trồng trọt. Bên cạnh đó, An Giang còn là một trong các tỉnh dẫn đầu về sản lượng nuôi trồng thủy sản của vùng và cả nước. Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp ngày càng đa dạng, hộ gia đình và trang trại ngày càng được chú trọng phát triển. An Giang là tỉnh có số lượng trang trại lớn, trong đó chủ yếu là dạng trang trại cây trồng lâu năm và trang trại chăn nuôi thủy sản. Sự phát triển của các loại hình trang trại trong nông nghiệp đã thúc đẩy hiệu quả kinh tế sản xuất, đồng thời tạo ra tiền đề bước đầu cho việc xây dựng các tour du lịch tham quan, học hỏi kinh nghiệm sản xuất giữa nông dân các vùng trên cả nước.

Trên cơ sở khai thác thế mạnh về nông nghiệp, nhiều sản phẩm du lịch được tạo ra từ sản xuất nông nghiệp có sức thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Các loại hình du lịch sinh thái, các tour tham quan mô hình trang trại, miệt vườn, tham gia sản xuất nông nghiệp, đánh bắt cá, chài lưới trên sông,… đầu tư phát triển và ngày càng hấp dẫn du khách. Nhìn chung sự phát triển về nông nghiệp và thủy sản đã tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng các loại hình du lịch nông thôn đa dạng. Việc phát triển hoạt động nông nghiệp gắn liền với hoạt động du lịch có tác động to lớn trong việc phát huy thế mạnh, nâng cao thu nhập, đa dạng hóa cơ cấu sản xuất giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nông thôn, thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh phát triển trong thời gian tới.

2.3. Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tỉnh An Giang Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Loại hình du lịch nông thôn cũng chỉ mới được triển khai trên địa bàn tỉnh An Giang trong những năm gần đây, thực sự rất khó để đánh giá toàn diện ảnh hưởng, vai trò cũng như tầm quan trọng của loại hình du lịch này trong định hướng phát triển chung của ngành du lịch tỉnh. Ngoài ra loại hình du lịch cũng chưa thực sự được triển khai rộng rãi đến tất cả vùng nông thôn trên địa bàn mà chỉ mới bước đầu được triển khai tại một số điểm nông thôn điển hình. Do đó, để đánh giá được hiệu quả của loại hình du lịch nông thôn trong vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nông thôn, tạo thêm mô hình kinh doanh mới giúp người nông dân tăng thu nhập cho gia đình chỉ mới là khảo sát sơ bộ của học viên thông qua việc phát bảng hỏi, phỏng vấn các hộ gia đình, phát bảng hỏi tìm hiểu nhu cầu, sự hiểu biết của khách du lịch về loại hình du lịch nông thôn tỉnh An Giang. Kết quả khảo sát giúp ngành du lịch An Giang có được cái nhìn sơ bộ, đánh giá được bước đầu về hiệu quả, tính khả thi của loại hình du lịch nông thôn mang lại cho du lịch tỉnh nói riêng và cho các vùng nông thôn tiềm năng cả nước nói chung.

2.3.1. Quy trình phát triển của mô hình du lịch nông thôn tỉnh An Giang

2.3.1.1. Lập kế hoạch, khảo sát các địa phương tiềm năng

Để khai thác tiềm năng du lịch nông thôn tỉnh An Giang, giai đoạn 20072009, tổ chức Nông nghiệp Hà Lan (Agriterra) đã triển khai đầu tư dự án Phát triển du lịch nông thôn giai đoạn 1 tại 3 tỉnh Lào Cai, Tiền Giang và An Giang. Trên cơ sở đó, Hội nông dân tỉnh An Giang đã tiến hành khảo sát trên toàn địa bàn tỉnh An Giang, những địa phương, làng, xã tiềm năng có thể tiến hành hoạt động du lịch.

Bảng 2.6: Đặc trưng vùng nông thôn để phát triển loại hình du lịch nông thôn

Quá trình khảo sát, đánh giá tiềm năng du lịch đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia du lịch, chính quyền địa phương các cấp, doanh nghiệp du lịch trong quá trình nhận định các địa phương hội đủ điều kiện để tiến hành đầu tư hoạt động du lịch nông thôn. Từ kết quả khảo sát, Hội nông dân An Giang tiến hành phối hợp với chính quyền tại các vùng, mở các buổi hội thảo có sự tham gia của chính người dân địa phương, lấy ý kiến của cộng đồng về quá trình tổ chức triển khai hoạt động du lịch, cải tạo môi trường cảnh quan, thái độ của người dân khi có sự tham gia của khách du lịch đến địa phương,… Tiến hành lấy ý kiến của các hộ gia đình mong muốn tham gia kinh doanh du lịch và tiến hành các khóa tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho người dân tham gia. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

2.3.1.2. Mô hình cơ chế tổ chức của du lịch nông thôn An Giang

Nguyên tắc phát triển du lịch nông thôn An Giang đã nêu ra các mục tiêu: đảm bảo lợi ích của các bên tham gia (cộng đồng địa phương, chính quyền, các doanh nghiệp), phát triển bền vững, bảo tồn các giá trị tài nguyên của địa phương. Hội nông dân và Tổ chức Nông nghiệp Hà Lan đã bắt tay triển khai, xây dựng hệ thống cơ chế tổ chức quản lý chung cho mô hình du lịch nông thôn và do chính Hội nông dân An Giang chỉ đạo quản lý trong giai đoạn đầu hoạt động.

Cơ quan hành chính Cộng đồng, doanh nghiệp.

Cơ cấu tổ chức du lịch nông thôn tỉnh An Giang hiện nằm trong sự quản lí của Hội nông dân tỉnh An Giang. Là cơ quan chuyên trách các hoạt động nông nghiệp, tình hình kinh tế xã hội đời sống cộng đồng tại các làng, xã, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Hội nông dân tỉnh An Giang, là cơ quan chính quyền có tầm quyết định tư tưởng trong bộ máy hành chính và trong người dân ở các địa phương. Sự quản lý của Hội nông dân có thể thay mặt cộng đồng địa phương họp bàn các chính sách, kế hoạch, phương hướng phát triển du lịch với Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch,các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Bên cạnh đó cũng thay mặt cộng đồng góp ý những hạn chế, mong muốn của người dân khi tham gia vào hoạt động tại địa phương. Hội nông dân An Giang sẽ là cầu nối trực tiếp giữa các bên: cung cấp dịch vụ du lịch, khách du lịch và chính quyền địa phương trong thực tiễn kinh doanh để thay đổi, bổ sung các chính sách phù hợp nhằm đảm bảo lợi ích của các bên liên quan.

Tại các địa phương triển khai du lịch nông thôn tiến hành công khai họp đề cử ra các trưởng nhóm du lịch đại diện cho địa phương, là người tổ chức quản lý, xử lý các vấn đề phát sinh, đóng góp ý kiến, triển khai kinh doanh du lịch và liên hệ với ban quản lý dự án khi có vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động du lịch. Kết thúc giai đoạn hai của dự án, Hội nông dân đã đề xuất thành lập Trung tâm du lịch nông thôn lên UBND tỉnh An Giang. Nếu được cấp phép thành lập, trung tâm du lịch nông thôn sẽ là cơ quan chuyên trách, nhận định thành viên tổ chức, quy định chặt chẽ vai trò, nội quy tổ chức, làm rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan chức năng, thành viên trong tổ chức. Là nơi các thành viên trong tổ chức có thể chia sẻ với nhau các kiến thức kinh nghiệm thực tiễn để ngày càng hoàn thiện quy trình phục vụ khách. Bên cạnh đó, trung tâm có tiền thân từ Hội nông dân nên hình thức, cũng như cách thức tổ chức phù hợp với người dân. Khuyến khích người dân địa phương phát biểu đóng góp ý kiến.

2.3.1.3. Thiết kế các sản phẩm dịch vụ du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Các dịch vụ bao gồm homestay, nhà hàng nông gia, du thuyền trên sông, tham quan rừng tràm Trà Sư, săn cá bông lao,… thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế. Nối tiếp thành công của giai đoạn 1, Agriterra tiếp tục đầu tư dự án

Phát triển du lịch giai đoạn 2. Dự án được triển khai trong giai đoạn 3 năm, từ ngày 1-7-2011 đến 30-6-2014 với tổng ngân sách 676.400 Euro (với khoảng hơn 18,4 tỷ đồng), trong đó đóng góp của Agriterra là 328.000 Euro (khoảng 9 tỷ đồng). Mục tiêu của dự án là Xây dựng trung tâm du lịch nông thôn nằm trong Hội nông dân An Giang, góp phần thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch nông thôn của hội viên, đồng thời tăng thu nhập và tạo thêm việc làm cho nông dân trong vùng dự án. Hình thành một hệ thống tour du lịch nông thôn mang tính liên kết chặt chẽ giữa những điểm du lịch do nông dân với vai trò là điều phối của Trung tâm du lịch nông thôn; vừa nâng cao năng lực nông dân các điểm trong giới thiệu, quảng bá hình ảnh sông nước, con người An Giang với du khách trong và ngoài nước. Vừa giúp nông dân tăng thu nhập cho gia đình, thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng tiến bộ, bền vững.

Kết quả hoạt động bước đầu cho thấy, hoạt động của dự án phát triển du lịch nông thôn đạt hiệu quả cao, những tác động tích cực của chương trình đã tạo nên mô hình phát triển kinh tế – xã hội hữu ích, giúp nông dân có thêm mô hình kinh doanh mới. Thu nhập người dân tăng từ khi hoạt động du lịch nông thôn được đưa vào khai thác hoạt động. Đến nay, đã có 15/156 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh An Giang được chọn tham gia dự án gắn với các danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hóa.

Bảng 2.7. Các vùng được chọn phát triển loại hình du lịch nông thôn

Mỗi xã có từ 5 đến 10 hộ tham gia dự án, tổng số hộ tham gia hưởng lợi trực tiếp từ 75-100 hộ, chưa kể đến các hộ được hưởng lợi gián tiếp từ chương trình đào tạo, cùng tham gia các dịch vụ của dự án và bộ mặt nông thôn được thay đổi, phát triển của cộng đồng.

Việc đầu tư cho phát triển nông thôn, nông nghiệp được chú trọng trong tương lai. Nhiều dự án đầu tư cho phát triển du lịch nông thôn đã được quy hoạch: Dự án phát triển mạng lưới các điểm, tuyến du lịch sinh thái và nông thôn mới cù lao Mỹ Hòa Hưng với 9 điểm và 3 tuyến (2011-2020); đề án xây dựng điểm, tuyến du lịch đường sông An Giang (làng cá bè, cù lao, kênh đào,..). Việc phát triển loại hình du lịch nông thôn gắn với tín ngưỡng, lễ hội được đưa vào quy hoạch như một chương trình ưu tiên trọng điểm trong giai đoạn 2011-2020. Mặt khác, các chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển du lịch nông thôn được quan tâm. Ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, hiện nay tỉnh đang thu hút đầu tư khu vực ngoài nhà nước, xã hội hóa phát triển du lịch thông qua việc tổ chức các sự kiện xúc tiến đầu tư và chính sách ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng cho nhà đầu tư. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Du lịch nông thôn An Giang sau các giai đoạn chuẩn bị, đã hoàn chỉnh khả năng tiếp nhận khách du lịch tại các địa phương nông thôn. Các sản phẩm, dịch vụ du lịch bước đầu đã được đưa vào phục vụ số lượng khách trên quy mô nhỏ. Vừa thực hiện, vừa học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong quá trình phục vụ khách. Và bước đầu đã đạt được các kết quả khả quan.

2.3.1.4. Giám sát hoạt động du lịch nông thôn

Để du lịch nông thôn được tiến hành đúng tiến trình, hoạch định cần có sự giám sát, theo dõi của các bên liên quan trong hoạt động:

Giám sát của nhân viên trong trung tâm để điều chỉnh lại bảng giám sát các kết quả hoạt động của dự án theo ý kiến góp ý của các chuyên gia rút ra từ thực tiễn hoạt động ở các địa phương. Bên cạnh đó, Hội nông dân An Giang cũng cử 12 nhân viên giám sát các xã đã được đầu tư với các hộ đang tham gia hoạt động.

Giám sát bởi chính các hộ tham gia trong hoạt động du lịch. Tổ chức cho các hộ nông dân tham quan, trao đổi học tập kinh nghiệm trong hoạt động với các xã địa phương khác. Hoạt động tham quan các mô hình của địa phương bạn giúp hộ dân có thể học hỏi và kiểm tra các hoạt động lẫn nhau trong suốt quá trình tổ chức hoạt động du lịch.

Ngoài ra, thường xuyên tổ chức các cuộc họp tổng kết đánh giá theo định kì theo tháng và họp đột xuất để bàn giải pháp thực hiện, đẩy mạnh tiến độ dự án. Tổ chức sơ kết hằng năm để tổng kết các kết quả đạt được và đề ra các hướng phát triển tiếp theo của du lịch nông thôn. Làm việc đơn vị tư vấn để hoàn tất các báo cáo tư vấn về nâng cao năng lực trong điều hành tài chính dự án bao gồm: thiết lập, quản lý sổ sách, xây dựng quy chế chi tiêu dự án,.. Kí kết hợp đồng, làm việc với công ty kiểm toán CPA đánh giá về hiệu quả hoạt động của dự án.

2.3.2. Hiệu quả từ sự phát triển du lịch nông thôn ở An Giang

2.3.2.1. Hiệu quả hoạt động kinh doanh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Dựa trên cơ sở đánh giá tiềm năng du lịch nông thôn, tỉnh An Giang bước đầu đã thu hút các nhà đầu tư tiến hành triển khai hoạt động và đạt được những kết quả khả quan. Bước đầu tình hình hoạt động kinh doanh mang lại những hiệu quả đáng kể, giúp cho cộng đồng cư dân, chính quyền địa phương nhận thức được tiềm năng phát triển của loại hình du lịch, bổ sung thêm vào mô hình kinh doanh mới có hiệu quả cao, cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng vùng nông thôn trong thời gian tới.

Bảng 2.8: Kết quả kinh doanh du lịch nông thôn tỉnh An Giang giai đoạn 1

Thông qua bảng kết quả kinh doanh du lịch nông thôn tỉnh An Giang giai đoạn 1 thấy rằng: trong năm 2007 khi dự án mới được đưa vào nghiên cứu, thử nghiệm tại một số địa phương hầu như chưa nhận được sự quan tâm, tìm hiểu của khách du lịch. Trong thời gian này du lịch nông thôn được xem như là một loại hình du lịch mang tính chất hoàn toàn mới tại An Giang. Tuy nhiên, qua các năm tiếp theo của dự án, hoạt động du lịch bắt đầu thu hút được một số lượng khách tham gia, tìm hiểu. Kết quả bước đầu năm 2008 số lượt khách tham gia đạt 800 khách, đến năm 2010 lượt khách tham gia du lịch tăng gấp 3,75 lần. Doanh thu du lịch cũng tăng từ 80,6 triệu trong năm 2008 lên 308,97 triệu năm 2010, tăng gấp 3,83 lần. Kết quả kinh doanh đã mở ra cho các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang hướng đi mới trong việc tìm kiếm mô hình hoạt động kinh doanh mới ngoài các hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống.

Trong giai đoạn 2 hoạt động kinh doanh du lịch nông thôn tỉnh An Giang đã đạt được kết quả rất tốt khi lượt khách và doanh thu du lịch đều tăng một cách đáng kể. Tổng lượt khách tham gia năm 2011 là 5.000 lượt và đến năm 2014 thì số lượng khách đã tăng lên 42.848 lượt khách, tăng gấp 8,57 lần. Doanh thu cũng tăng từ 510,95 triệu đồng lên đến 4.370,06 triệu đồng, tăng gấp 8,55 lần.

Bảng 2.9: Kết quả kinh doanh du lịch nông thôn tỉnh An Giang giai đoạn 2

Bảng 2.10: Khảo sát mục đích du lịch của khách đến tỉnh An Giang

Từ kết quả điều tra khảo sát, nhận thấy mục đích du lịch đến An Giang của khách hiện nay vẫn tập trung lớn vào loại hình du lịch tham quan di tích, đền, chùa vốn là thế mạnh của ngành du lịch tỉnh chiếm tỷ lệ 22.6% trên tổng số khách điều tra. Tuy nhiên, từ kết quả có thể nhận thấy mục đích khách du lịch đến An Giang tham gia vào các hoạt động du lịch liên quan đến vùng nông thôn, tham quan các làng nghề, tìm hiểu đời sống nông thôn thông qua các hoạt động nông nghiệp cũng đã phát triển, dần thu hút sự quan tâm, tham gia của khách. Hiện nay, loại hình du lịch gắn kết các hoạt động tham quan, tìm hiểu, khám phá vùng nông thôn lần lượt chiếm tỷ lệ 17.4%, 10.7%, 10.2% . Khi các loại hình du lịch tham quan thuần túy dần bão hòa thì sự phát triển của loại hình du lịch mới như du lịch nông thôn sẽ thu hút được sự quan tâm của khách du lịch nếu được quy hoạch phát triển đúng hướng.Các kết quả đạt được mang đến cho nông thôn An Giang nói riêng và các vùng nông thôn tiềm năng trong nước nói chung hướng phát triển bền vững dựa trên các tài nguyên sẵn có của địa phương. Phát triển một mô hình kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế, bên cạnh vẫn duy trì được môi trường cảnh quan, đảm bảo sản lượng lương thực, hoa màu cho cả nước, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường nông thôn theo hướng bền vững.

2.3.2.2.Quá trình thay đổi bộ mặt xã hội vùng nông thôn Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao giúp tăng thêm thu nhập cho các hộ dân tham gia. Thu nhập bình quân của các hộ dân trong quá trình khảo sát cho thấy, kinh tế gia đình có sự gia tăng một cách đáng kể.Trước khi tham gia hoạt động du lịch, mức thu nhập trung bình của các hộ gia đình mỗi tháng dao động trong khoảng từ 2-4 triệu đồng/hộ, chiếm tỷ lệ 72.7% trong tổng số hộ được khảo sát. Từ khi tham gia kinh doanh các loại hình dịch vụ trong du lịch nông thôn theo hướng dẫn của các chuyên gia, Hội nông dân thì thu nhập của người dân đã tăng thêm trong khoảng từ 1-5 triệu đồng/tháng.Người dân cải thiện được đáng kể chất lượng cuộc sống mà hoạt động kinh doanh lại nhẹ nhàng và mang đến niềm vui, sự tự hào cho chính các hộ dân tham gia.

Biểu đồ 2.1:Nguồn thu nhập thêm từ hoạt động du lịch nông thôn

Nguồn thu từ hoạt động du lịch nông thôn mang lại chưa thật sự đáng kể. Tuy nhiên những kết quả ban đầu sẽ là nền tảng, cơ sở để người dân có những nhận thức tích cực khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh du lịch trong những lúc nông nhàn đến giai đoạn thực hiện song song hoạt động nông nghiệp và hoạt động du lịch như một trong những nguồn thu chính của gia đình.

Bên cạnh việc tạo thêm thu nhập thì loại hình du lịch nông thôn cũng giúp cải thiện, tạo bộ mặt mới cho các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang.Để phục vụ hoạt động đón tiếp, quảng bá, triển khai tham quan tìm hiểu địa phương. Dự án cũng đã dành ra một phần kinh phí để cải tạo xây dựng mới hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng du lịch cho các địa phương, vùng nông thôn có tiềm năng phát triển du lịch.

Bảng 2.11: Thực trạng đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch nông thôn An Giang

Hội nông dân tỉnh An Giang phát động các phong trào như: dọn dẹp cảnh quan môi trường địa phương, phát quan bụi rậm, thu gom rác thải, cải tạo hệ thống giao thông nông thôn quanh vùng, lắp đặt hệ thống đèn đường, xây dựng cổng chào, trang bị các thùng rác công cộng quanh các địa điểm tập trung khách, trong vùng.

Cải tạo hệ thống kênh rạch, bến bãi đỗ xe,..

Sự thay đổi theo chiều hướng tích cực đã được du khách đánh giá tốt trong quá trình khảo sát. Phần lớn du khách đánh giá tích cực vấn đề vệ sinh môi trường, môi trường an toàn, an ninh trong hoạt động du lịch đạt tỷ lệ chung là chấp nhận được và khá tốt.

Bộ mặt nông thôn dần được thay đổi theo hướng tích cực đã tạo được sự tin tưởng của cộng đồng địa phương về hiệu quả mang lại của dự án. Tạo sự quan tâm, tham gia ngày càng đông của người dân trong vùng. Bên cạnh đó, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa phương dần được người dân tham gia tích cực hơn. Qua hai giai đoạn, hiện trạng của 15 xã tham gia dự án đã thay đổi theo chiều hướng tốt, là bài học kinh nghiệm quý báu cho các xã, địa phương khác học hỏi trong quá trình triển khai hoạt động du lịch nông thôn tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

2.3.2.3. Đầu tư hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch nông thôn

  • Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch

Bảng 2.12: Số lượng cơ sở lưu trú tại các huyện/TP của An Giang

Qua bảng tổng hợp nhận thấy các cơ sở lưu trú chủ yếu phân bố ở hai thành phố là Long Xuyên và Châu Đốc. Các cơ sở đã được Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch thẩm định là 93 khách sạn với tổng số phòng là 2.563 và 4.151 giường. Các khách sạn được xếp hạng từ khách sạn đạt tiêu chuẩn đón khách du lịch đến khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao.

Tuy nhiên, bảng số liệu chỉ dừng lại ở việc thống kê các cơ sở đạt tiêu chuẩn, là một trong các hình thức lưu trú phổ biến của khách du lịch. Mà chưa đánh giá xếp hạng được các cơ sở, nhà nghỉ homestay tại các địa phương. Bất cập trong vấn đề thẩm định xếp hạng chất lượng gây ảnh hưởng lớn trong việc quảng bá, thu hút khách đến lưu trú tại địa phương.

Bảng 2.13: Số lượng nhà nghỉ homestay tại các huyện/Tp của An Giang

Theo số liệu thống kê được từ việc phát bảng hỏi khảo sát khách du lịch trong quá trình tham gia hoạt động du lịch nông thôn thì chỉ có 21,7% số khách được hỏi muốn chọn loại hình lưu trú tại nhà dân (homestay) trong quá trình du lịch, là kết quả thấp so với các loại hình lưu trú khác mà bảng hỏi nêu ra.

Bảng 2.14: Khảo sát loại hình lưu trú của khách du lịch

Kết quả khảo sát phù hợp với quá trình phỏng vấn nhanh khách du lịch tìm ra được các nguyên nhân chủ yếu: khách du lịch chưa có nhiều thông tin về loại hình dịch vụ lưu trú mới, hệ thống niêm yết giá chưa được công bố rộng rãi để du khách tham khảo, so sánh trong quá trình tìm thông tin điểm đến du lịch. Thời gian lưu lại của du khách không kéo dài do các chương trình hầu như là tour trong ngày. Các cơ sở homestay chủ yếu nằm tại các vùng hẻo lánh, dịch vụ về đêm hầu như không có, hạn chế các yếu tố phụ trợ trong hoạt động của khách. Bên cạnh đó, các nhà nghỉ homestay với sức chứa còn hạn chế chưa thể cùng lúc đón tiếp được các đoàn khách với số lượng đông, là một hạn chế chủ yếu của mô hình kinh doanh này. Ngoài ra còn nhiều các yếu tố nhỏ lẻ làm loại hình kinh doanh homestay chưa đạt được kết quả khả quan.

Trong giai đoạn 2 của dự án phát triển du lịch nông thôn, Hội nông dân đã khảo sát và hỗ trợ đầu tư một phần kinh phí bên cạnh số vốn của các hộ gia đình bỏ ra trong việc đầu tư nâng cấp, xây dựng mới, cải tạo môi trường sống xung quanh nhà để xây dựng mô hình kinh doanh homestay nhằm phục vụ khách du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Kinh phí được phân chia đều cho 25 hộ đăng kí tham gia cung cấp dịch vụ.

Bảng 2.15: Các hạng mục trang thiết bị đầu tư cho dịch vụ homestay

Hội nông dân và các chuyên gia đã nghiên cứu, khảo sát trong quá trình trang bị cho dịch vụ homestay. Các trang thiết bị phục vụ được đầu tư đầy đủ về số lượng, chất lượng, nhưng vẫn tạo được sự đồng bộ, tinh tế, phù hợp với thiết kế của từng ngôi nhà về kiểu dáng, màu sắc, chất liệu,… Các thiết bị được đặt từ các làng nghề mộc, chạm khắc gỗ trong tỉnh, thiết kế tạo mẫu riêng phù hợp cho từng ngôi nhà. Trong quá trình đầu tư, hệ thống nhà vệ sinh, nhà tắm dành cho khách đã được chú trọng xây dựng, cải tạo mới ở hầu hết toàn bộ 25 hộ tham gia. Nhà vệ sinh xây mới đạt tiêu chuẩn để phục vụ khách quốc tế, tạo sự thoải mái trong quá trình lưu trú của khách. Tổng kinh phí đầu tư cho hoạt động kinh doanh homestay là 1.267 triệu đồng. Bước đầu đã bổ sung vào loại hình du lịch nông thôn thêm một dịch vụ đặc trưng bên cạnh các nhà nghỉ, khách sạn tiêu chuẩn truyền thống.

Quá trình khảo sát bảng hỏi thu được kết quả có 16,9% hộ dân hiện đang tham gia vào hoạt động cung cấp dịch vụ homestay, đón tiếp chủ yếu là khách nước ngoài. Và số lượng hộ gia đình mong muốn được tham gia ngày càng tăng. Bên cạnh đó, ý kiến đóng góp của các công ty du lịch về tiềm năng phát triển của dịch vụ homestay là cao, chiếm tỷ lệ 14,3% trong tất cả các dạng tiềm năng khai thác. Khi nhận thức được điểm yếu của dịch vụ cung cấp từ việc tham khảo ý kiến du khách, cộng đồng địa phương, sẽ giúp khắc phục hạn chế tồn đọng của loại hình kinh doanh dịch vụhomestay,mang lại hiệu quả cao cho các hộ dân tham gia.

  • Thực trạng cơ sở dịch vụ ăn uống

Bên cạnh dịch vụ homestay, du lịch nông thôn An Giang tạo sự đa dạng thông qua việc xây dựng quán ăn sinh thái, nhà hàng nông gia chuyên chế biến các món ăn truyền thống của địa phương để phục vụ du khách. Cả hai giai đoạn của dự án có 27 hộ gia đình tham gia hoạt động phục vụ ăn uống kết hợp với tham quan vườn cây sinh thái.

Tổng kinh phí mà Hội nông dân cùng với các hộ gia đình đóng góp để trang bị các dụng cụ chế biến, trang trí món ăn phục vụ khách, sửa sang nhà ăn, nhà bếp là 906,363 triệu đồng. Ngoài việc đầu tư trang thiết bị, dự án cũng kết hợp với các cơ sở, trường dạy nghề trong và ngoài tỉnh An Giang mở các khóa tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm, cách bày trí các món ăn, quy trình chế biến món phù hợp và đạt tiêu chuẩn chất lượng, tổ chức hội thi tay nghề nấu nướng, chế biến sản vật địa phương, thiết kế bao bì, logo đóng gói sản phẩm, đăng ký thương hiệu, sản phẩm trí tuệ,…nhằm mục đích gia tăng giá trị cho các sản vật địa phương.Đặc biệt dự án phối hợp với các cơ sở đào tạo, hộ gia đình sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia, công ty du lịch, khách du lịch trong việc thống nhất thực đơn, đưa các món ăn truyền thống của địa phương vào giảng dạy chế biến. Quá trình này không chỉ giúp các hộ kinh doanh ăn uống dần hoàn thiện quy trình, chất lượng phục vụ khách mà còn giúp bảo tồn văn hóa ẩm thực địa phương, quảng bá các món ăn ngon cho khách du lịch.

Bảng 2.16: Đánh giá của KDL về các món ăn truyền thống (%)

Theo khảo sát thống kê được thì đa số khách du lịch thích thú với các món ăn truyền thống địa phương do chính tay người dân chế biến từ các sản phẩm hiện có trong vườn nhà. Hoạt động du khách tham gia thu hoạch sản vật trong vườn và đưa cho người dân chế biến là hoạt động thu hút nhiều du khách tham gia hơn cả.

  • Thực trạng loại hình kinh doanh vận chuyển khách du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Thực hiện phương châm đa dạng hóa dịch vụ trong du lịch nông thôn nhằm thu hút khách. Trong cả hai giai đoạn, dự án cũng đã chú trọng vấn đề hỗ trợ kinh phí cho các hộ dân mua các phương tiện vận chuyển để phục vụ quá trình tham quan của khách tại địa phương. Đầu tư cải tạo bến tàu, bãi đỗ xe tạo sự thuận tiện trong quá trình vận chuyển, đi lại tham quan của khách trong thời gian lưu trú tại địa phương.

Bảng 2.17: Các hạng mục đầu tư phương tiện vận chuyển của du lịch nông thôn tỉnh An Giang

Tổng kinh phí để trang bị cho 25 hộ tham gia hoạt động vận chuyển khách du lịch là 932,450 triệu đồng. Các phương tiện được nghiên cứu đầu tư phù hợp với địa hình của từng vùng nông thôn như: thuyền cho Mỹ Hòa Hưng với đặc trưng sông nước bao quanh, cảnh quan ven hai bờ sông phù hợp cho phương tiện chuyên chở bằng thuyền để khách tham quan, tạo sự thích thú cho du khách. Ở các phum, sóc của đồng bào Khmer, Chăm thì xe đạp, xe bò kéo, xe lôi sẽ là phương tiện được du khách ưa chuộng, phù hợp với địa hình đồi núi. Ngoài ra dự án cũng đã đầu tư cải tạo các bến thuyền du lịch, quy hoạch các bến bãi đỗ xe dành cho các loại xe khách có trọng tải lớn. Việc đỗ xe đúng nơi quy định hạn chế tình trạng ùn tắc do hệ thống giao thông địa phương chủ yếu là các con đường nhỏ, gây tâm lý khó chịu cho cư dân địa phương. Nhìn chung, các phương tiện vận chuyển trong giai đoạn này khá đa dạng, cung cấp cho du khách nhiều lựa chọn trong hoạt động di chuyển đến điểm tham quan, tạo thêm nhiều nguồn thu cho các hộ gia đình trong dự án.

2.3.2.4. Phát triển làng nghề phục vụ du lịch nông thôn

Các làng nghề thủ công truyền thống giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của địa phương nói chung và của hoạt động du lịch nói riêng. Trong cả hai giai đoạn thực hiện dự án đã đầu tư tổng kinh phí là 1.0388,197 triệu đồng giúp khôi phục 7 làng nghề truyền thống tại các địa phương điển hình như: làng nghề làm đường Thốt Nốt, làng nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Chăm, Khmer,..Ngoài thời gian sản xuất phục vụ khách du lịch tham quan, cư dân vẫn tiếp tục duy trì sản xuất làng nghề như một hoạt động kinh tế thêm giúp tạo thu nhập cho gia đình.

Quá trình phỏng vấn cộng đồng đang thực hiện làng nghề cũng như khách du lịch đều thu được các ý kiến, nhận xét, đóng góp về làng nghề là: Hoạt động sản xuất các sản phẩm truyền thống thực sự rất hấp dẫn đối với khách du lịch, khách thích thú tham quan, tìm hiểu quy trình sản xuất, làm ra các sản phẩm bằng phương pháp thủ công truyền thống vẫn còn được lưu truyền. Bên cạnh đó, du khách cũng rất hào hứng tập thực hiện một vài công đoạn trong quá trình thực hiện các sản phẩm và thử ngay tại xưởng các mặt hàng ẩm thực như đường Thốt Nốt, bánh phồng, bánh tráng,..Do vậy, có thể nhận thấy được, tiềm năng của các tour “Một ngày làm thợ thủ công”sẽ là chương trình có khả năng thu hút sự quan tâm, tham gia của khách du lịch đến tìm hiểu, tham quan, nghiên cứu làng nghề. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Song song đó, hoạt động du lịch đã giúp làng nghề truyền thống của An Giang tiếp tục được duy trì, các sản phẩm được xuất khẩu tại chỗ, tìm được thị trường trực tiếp, ổn định. Sự quảng bá sản phẩm thông qua khách du lịch đến địa phương ra các vùng lân cận hay quốc tế giúp vực dậy các làng nghề tưởng đã bị mai một. Khi thị trường tiêu thụ là vấn đề sống còn của sản phẩm, thì hoạt động du lịch đã góp phần giải được bài toán quan trọng giúp làng nghề tiếp tục được duy trì và phát triển trong tương lai.

2.3.2.5. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch

Nguồn nhân lực hoạt động du lịch nông thôn An Giang hiện nay vẫn chiếm phần lớn là nông dân, dân ngụ cư tại các vùng nông nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang. Các hoạt động kinh doanh lưu trú, ăn uống, vận chuyển, làng nghề, hoạt động biểu diễn các loại hình văn hóa nghệ thuật dân tộc trong du lịch đã góp phần tạo cơ hội việc làm cho 2.000 người dân nông thôn trong giai đoạn 2 của dự án,giúp gia tăng thu nhập cho người dân. Mục tiêu của dự án là xây dựng được mô hình kinh tế mới, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, tăng thu nhập cho cư dân vùng nông thôn. Dự án thu được kết quả đáng kể, nguồn việc làm cho lao động nữ tại nông thôn được gia tăng, cải tạo bộ mặt xã hội vùng nông thôn là một phản hồi tích cực để mô hình du lịch nông thôn tiếp tục được phát triển tại các địa phương tiềm năng khác trên cả nước.

Bảng 2.18: Các lớp tập huấn nhân lực cho du lịch nông thôn

Tuy nhiên trong thời gian tới, khi hoạt động du lịch phát triển hơn thì vấn đề cần quan tâm là cần phải nâng cao kiến thức, sự hiểu biết cho cộng đồng để có thể đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Do vậy, bên cạnh việc nâng cao kiến thức cho các hộ nông dân, thì hoạt động du lịch nông thôn cũng cần phải thu hút, tạo thêm việc làm nhằm thu hút nguồn nhân lực trẻ của địa phương tham gia. Giải quyết bài toán việc làm cho nguồn lao động trẻ tại nông thôn, song song việc giải quyết được vấn đề nguồn nhân lực có trình độ cao, tay nghề vững tạo sự phát triển bền vững cho loại hình du lịch nông thôn An Giang trong tương lai.

2.3.2.6. Đánh giá thực trạng khai thác các tour du lịch nông thôn

Tại các địa phương thực hiện mô hình homestay, các gia đình được đầu tư trang bị để đạt tiêu chuẩn phục vụ cho khách du lịch với sức chứa khoảng 5-7 khách ở mỗi hộ. Các hộ gia đình tham gia đều đã được khảo sát và tập huấn các khóa học nghiệp vụ về các quy trình đón tiếp khách du lịch. Nhà ở đón tiếp khách đều sạch sẽ, diện tích rộng, thoáng mát, hệ thống điện nước đầy đủ, người dân tính tình dễ mến, gần gũi, thân thiện, có những hiểu biết nhất định về lịch sử, nguồn gốc địa phương, các phong tục tập quán, truyền thống đặc trưng của gia đình, cộng đồng hoặc các làng nghề mà gia đình hiện đang tham gia sản xuất. Đặc biệt có yêu cầu riêng về khu vệ sinh của gia đình.

Các hoạt động mà du khách khi đến địa phương được khám phá, tìm hiểu trong cuộc sống của cộng đồng như: tham quan các công trình kiến trúc truyền thống của người dân vùng đồng bằng sông nước Nam bộ, thăm làng cổ, hoạt động sản xuất nông nghiệp, đánh bắt cá, cảnh quan vùng nông thôn, đền chùa, khu lưu niệm danh thắng,.. tham gia các lễ hội văn hóa của địa phương, tìm hiểu phong tục tập quán, các màn trình diễn nghệ thuật dân tộc. Bên cạnh đó du khách còn được tham gia các hoạt động sinh hoạt thường nhật các hộ dân, cùng nghe người dân kể về lịch sử, nguồn gốc địa phương, thưởng thức các món ăn đặc trưng chính gia chủ, tham gia các hoạt động nông nghiệp, cày cấy, thu hoạch các loại trái cây, hoa màu, đánh bắt các loài thủy sản trên sông,…Ngoài ra du khách còn có thể tự tham quan địa phương bằng các loại phương tiện sẵn có như xe lôi, xe đạp, thuyền,.. để cảm nhận được cuộc sống bình dị, hiền hòa tại các vùng quê. Kết quả phỏng vấn cho thấy khách du lịch đều rất thích các hoạt động này. Số lượng lớn khách tham gia vào loại hình du lịch này là kiều bào trở về thăm quê hương, học sinh, sinh viên từ các địa phương khác đến tham quan tìm hiểu cuộc sống của người dân, khách quốc tế muốn tìm hiểu, khám phá Việt Nam. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Các tuyến du lịch chính hiện đang được đưa vào khai thác trong loại hình du lịch nông thôn tỉnh An Giang bao gồm:

  • Tuyến du lịch Khu lưu niệm Bác Tôn – Châu Đốc – rừng tràm Trà Sư – Núi Cấm-Óc Eo.
  • Tuyến du lịch Khu lưu niệm Bác Tôn – Vàm Nao – núi Sam – Bà Chúa Xứ
  • Tuyến du lịch Cù lao Giêng – Phú Tân – làng Chăm Tân Châu
  • Tuyến Khu lưu niệm bác Tôn – Thoại Sơn – Tri Tôn – Tịnh Biên – Châu Đốc

Từ các tuyến du lịch, nhiều chương trình tour du lịch nông thôn đã được Hội nông dân phối hợp với các doanh nghiệp, công ty du lịch khai thác hoạt động phục vụ khách. Các chương trình du lịch đã mang đến cho khách nhiều trải nghiệm thú vị về vùng nông thôn, về cuộc sống làng quê, hoạt động canh tác nông nghiệp,…Sự thành công từ các chương trình du lịch đã phần nào khẳng định được tiềm năng du lịch nông thôn của An Giang.

2.3.2.7. Hoạt động quảng bá du lịch nông thôn

Du lịch nông thôn là loại hình du lịch mới được đưa vào khai thác trong thời gian ngắn. Do vậy,để thu hút sự chú ý của khách du lịch, tìm kiếm thị trường, đối tượng khách, các hoạt động tuyên truyền, quảng bá được Hội nông dân thực hiện thông qua nhiều kênh, nhiều phương tiện truyền thông.

Bảng 2.19: Hoạt động quảng bá du lịch nông thôn của An Giang

2.3.2.8. Nhận định chu kì phát triển du lịch nông thôn tỉnh An Giang

Qua nghiên cứu,khảo sát hoạt động du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang có thể nhận thấy:

Trong hai giai đoạn thực hiện dự án du lịch nông thôn tỉnh An Giang kéo dài từ năm 2007 đến năm 2014, số lượt khách du lịch đăng kí tham gia đã có sự gia tăng rõ rệt, khảo sát sự hiểu biết, mong muốn tham gia loại hình du lịch mới từ khách du lịch cũng có kết quả khá tốt. Chứng minh được tiềm năng phát triển của loại hình du lịch nông thôn trong thời gian tới.

Từ số lượng một vài hộ tham gia hoạt động kinh doanh du lịch ban đầu của dự án. Đến nay đã có 77 hộ dân tham gia trên 15 xã thực hiện mô hình. Hoạt động hiệu quả mang lại nguồn thu nhập ổn định, đã tạo sự chú ý, thu hút cộng đồng tham gia ngày càng nhiều.

Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật đặc trưng, phục vụ cho mô hình du lịch nông thôn bước đầu cũng đã được đầu tư cơ bản, tính toán phục vụ được một số lượng khách du lịch nhất định. Chính quyền địa phương cũng đã có sự tuyên truyền, quảng bá loại hình du lịch thông qua nhiều kênh, phương tiện truyền thông để thu hút sự chú ý của xã hội.

Đặc trưng rõ nét nhất là sự thay đổi bộ mặt đời sống xã hội tại các vùng nông thôn tham gia du lịch. Các địa phương được nâng cấp, đầu tư, xây dựng mới nhiều công trình dân sinh phục vụ cộng đồng bên cạnh mục đích phát triển du lịch. Ý thức của người dân dần được nâng cao thông qua hoạt động hướng dẫn, đón tiếp du khách. Sự tự hào về văn hóa, phong cảnh làng quê chính là yếu tố thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển một cách bền vững.

Từ thực trạng phát triển và quá trình khảo sát điều tra có thể xác định mô hình du lịch nông thôn của tỉnh An Giang đang trong “giai đoạn tham gia” của chu kì phát triển du lịch nông thôn.Xác định được giai đoạn phát triển của mô hình du lịch trong chu kì sẽ là cơ sở để các chuyên gia, chính quyền địa phương và các tổ chức hoạt động có những kế hoạch, định hướng xây dựng, đầu tư phát triển đúng hướng trong tương lai.

2.3.3. Chính sách phát triển du lịch nông thôn cho các bên liên quan Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

An Giang chủ trương phát triển du lịch là dựa trên tiềm năng lớn về nông thôn của tỉnh với mục đích hỗ trợ nông dân xây dựng mô hình kinh doanh, tạo thêm nguồn thu nhập. Tỉnh đã thông qua các chủ trương, chính sách, mục tiêu, quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch tại nông thôn.

Về chính sách: Phát triển du lịch gắn với bảo tồn tài nguyên môi trường; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa lịch sử và lợi ích cộng đồng cư dân địa phương. Tạo môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế, đặc biệt là cư dân vùng nông thôn cùng tham gia theo chủ trương xã hội hóa hoạt động du lịch; tạo ra sản phẩm du lịch nông thôn đa dạng, đặc sắc, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu du khách, góp phần đảm bảo môi trường an ninh xã hội và nâng cao đời sống cư dân vùng nông thôn.Nghiên cứu phát triển loại hình du lịch nông thôn theo định hướng phát triển du lịch An Giang phù hợp với chiến lược, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và Đề án phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng bền vững, chuyên nghiệp. Tập trung phát triển du lịch của tỉnh nói chung và loại hình du lịch nông thôn nói riêng trở thành ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, đưa An Giang trở thành trung tâm du lịch hấp dẫn của đồng bằng sông Cửu Long.

Về mục tiêu: Đề xuất với Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang thành lập Trung tâm du lịch nông thôn, nhằm định hướng, quản lý loại hình du lịch nông thôn phát triển thành một trong những nét đặc trưng của du lịch An Giang. Ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông du lịch, bến bãi vận chuyển, đón tiếp du khách. Đầu tư cơ sở vật chất cho các hộ gia đình tham gia loại hình du lịch homestay, vận chuyển du khách, dịch vụ ăn uống,.. theo nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh hoặc các dự án đầu tư.

Về quy hoạch: Quy hoạch, tôn tạo và bảo tồn các làng nghề truyền thống, các loại hình văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc. Hệ thống các khu du lịch sinh thái, cửa khẩu, vùng biên giới, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý rác thác môi trường, hệ thống nhà vệ sinh đạt chuẩn,..

Thống kê khảo sát thực hiện đối với cộng đồng địa phương và các công ty kinh doanh du lịch trên địa bàn nhận thấy chính quyền địa phương các cấp đã tạo điều kiện hỗ trợ cho đồng đồng địa phương về cơ chế chính sách, nguồn tài chính, hỗ trợ về hướng dẫn, tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kĩ năng nghiệp vụ, cơ sở vật chất kĩ thuật theo các tỷ lệ nhất định, tạo điều kiện bước đầu thuận lợi giúp người dân hoạt động kinh doanh đạt kết quả hơn. Trong hai giai đoạn hoạt động, dự án đã mở 37 lớp với 921 học viên (263 học viên nữ). Tổ chức 18 chuyến tham quan cho 387 nông dân học cách làm du lịch tại các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp,.. Cử 19 cán bộ dự án và 15 nông dân tham quan du lịch tại Đà Nẵng, Hội An, Sa Pa.

Bên cạnh sự hỗ trợ cộng đồng, chính quyền còn liên kết tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tiến hành khảo sát, bắt đầu đưa loại hình du lịch nông thôn vào kinh doanh thông qua việc hỗ trợ doanh nghiệp trong các hoạt động xúc tiến du lịch tại các hội chợ du lịch, tạo điều kiện, cơ chế chính sách thông thoáng giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với loại hình du lịch mới.

Sự phối, kết hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp kinh doanh du lịch và cư dân tham gia một cách hiệu quả trong vấn đề xúc tiến, cải thiện chất lượng dịch vụ, tìm kiếm nguồn khách ổn định, mang lại hiệu quả kinh doanh cũng như hướng phát triển bền vững cho loại hình du lịch nông thôn An Giang. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

2.4. Đánh giá về hoạt động phát triển du lịch nông thôn tại An Giang

Loại hình du lịch nông thôn chỉ mới bước đầu khai thác được một phần nhỏ tiềm năng du lịch vốn có của An Giang thông qua các hoạt động mang tính vui chơi giải trí đơn giản từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu hoạch nông sản, tham quan vườn cây ăn trái, đánh bắt cá, mò ốc,… vốn phổ biến, mang tính đại trà tương đồng hầu như có mặt khắp trong các hoạt động du lịch của vùng đồng bằng sông nước Nam bộ, chưa thể mang lại nét đặc sắc, thu hút khách du lịch đến với An Giang.

Các tour du lịch nông thôn mà Hội nông dân kết hợp với các công ty du lịch cung cấp hiện nay chủ yếu là các tour đi tham quan trong ngày hoặc chỉ là các tour du lịch ngắn, chưa có tour dài ngày. Thời gian tham quan tại các địa phương ngắn, hoạt động lưu trú tại các cơ sở du lịch, homestay của địa phương không thể phục vụ khách đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế nguồn thu từ hoạt động lưu trú vốn là một trong những nguồn thu chính trong du lịch. Các tour du lịch ngắn ngày còn hạn chế chi tiêu của du khách đối với các hoạt động ăn uống, vui chơi giải trí, tiêu dùng trong du lịch,…

Dịch vụ ăn uống cung cấp cho du khách còn phụ thuộc phần lớn vào thời gian lưu lại của khách tại địa phương. Hoạt động của các quán ăn sinh thái, nhà hàng nông gia chưa thực sự thu hút khách du lịch dù thực đơn các món ăn khá đa dạng, giá cả hợp lý theo đánh giá chung của khách du lịch. Hiện trạng này một phần do thời gian lưu trú ngắn, khách du lịch hầu như chỉ đến tham quan và về ngay trong ngày. Các món ăn đặc trưng của địa phương còn phụ thuộc vào tính mùa vụ của các sản vật chế biến, trong mùa khô thì các món ăn đặc trưng mùa nước nổi là không thể phục vụ được nếu khách có nhu cầu gọi món. Đây cũng là một trong những hạn chế còn tồn đọng của hoạt động kinh doanh ăn uống tại các địa phương khai thác loại hình du lịch nông thôn.

Các làng nghề truyền thống tại địa phương vẫn chưa được đưa vào khai thác du lịch một cách triệt để nhằm đạt được các mục tiêu đề ra như: mang lại hiệu quả quảng bá thương hiệu, duy trì hoạt động sản xuất làng nghề, tạo thu nhập cho cộng đồng địa phương,… Hiện nay chưa có tour du lịch riêng biệt khai thác, các làng nghề truyền thống,tham quan, tìm hiểu làng nghề chỉ mới là yếu tố phụ trong các chương trình du lịch nông thôn. Trong khi các giá trị văn hóa đặc trưng của sản phẩm, làng nghề, lịch sử, nét độc đáo, mới lạ trong quá trình sản xuất vốn là tiềm năng du lịch lớn của tỉnh. Khi An Giang có nhiều làng nghề và hiện còn nhiều làng nghề vẫn đang duy trì hoạt động sản xuất mặt hàng thủ công. Nhóm các mặt hàng thủ công dệt như làng nghề tơ lụa Tân Châu, dệt thổ cẩm Chăm, nghề sản xuất chiếu Uzu, thổ cẩm Khmer vẫn đang được duy trì nhưng hiệu quả kinh tế làng nghề chưa thực sự đáng kể khi còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình cạnh tranh với các mặt hàng vải dệt công nghiệp, giá thành rẻ, chất lượng tượng đối tốt và sản lượng nhiều. Riêng sản phẩm làng nghề thì còn hạn chế về số lượng, mẫu mã, giá thành đắt và chưa có nhiều ứng dụng phổ biến trong đời sống hằng ngày. Có hiện tượng dần mai một khi số lượng lao động tham gia sản xuất ngày càng giảm, sản lượng giảm và hoạt động sản xuất hiện nay chỉ mang tính chất cầm chừng.Không tìm được thị trường tiêu thụ cho các mặt hàng thủ công của địa phương.Nhóm các mặt hàng thủ công phục vụ cho sản xuất đánh bắt, nông nghiệp cũng có hiện tượng bị mai một, các nghề thủ công đóng xuồng ghe, lợp cua Mỹ Đức, lưỡi câu Mỹ Hòa. Các hoạt động sông nước, đánh bắt thủy sản không mang lại hiệu quả kinh tế cao, phụ thuộc phần lớn vào tính mùa vụ (mùa nước nổi) cũng là một trong các nguyên nhân góp phần làm mai một dần hoạt động sản xuất của làng nghề.Nhóm các mặt hàng thủ công gia dụng như mộc chạm khắc gỗ, đan lát, nghề sản xuất nhang trầm, nón lá,.. hiện vẫn còn được duy trì sản xuất do vẫn đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, hoạt động sản xuất vẫn tìm được thị trường tiêu thụ và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Nhìn chung, tiềm năng làng nghề du lịch cần có hướng nghiên cứu để khai thác hiệu quả hơn nhằm mang lại giá trị kinh tế, bảo tồn và phát huy các làng nghề thủ công truyền thống và làm đa dạng loại hình du lịch nông thôn An Giang trong thời gian tới.

Khi tìm hiểu về nguồn nhân lực để phục vụ cho loại hình du lịch nông thôn hiện nay nhận thấy chủ yếu vẫn là các hộ gia đình, nông dân tự hoạt động kinh doanh. Nhân lực phục vụ du lịch vẫn chưa được đào tạo chuyên môn, chuyên sâu về du lịch nói chung và loại hình du lịch nông thôn nói riêng mà chỉ mới qua các khóa đào tạo, tập huấn ngắn hạn về các nghiệp vụ chuyên môn, kĩ năng cần thiết để hoạt động du lịch. Đặc biệt khả năng giao tiếp ngôn ngữ nước ngoài của người dân làm du lịch còn gặp rất nhiều hạn chế trong quá trình phục vụ khách du lịch đến tham quan, lưu trú, dịch vụ ăn uống tại các hộ gia đình hoặc địa phương. Hiện nay, đón tiếp các đoàn khách quốc tế chủ yếu do các công ty du lịch trong và ngoài địa bàn phụ trách luôn có kèm theo hướng dẫn viên để thực hiện công tác hướng dẫn, phiên dịch cho khách quốc tế. Điều này làm hạn chế không nhỏ đến chất lượng phục vụ khách quốc tế trong vấn đề truyền tải lịch sử, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của gia đình, địa phương đến với du khách. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Thu nhập từ hoạt động du lịch mang lại cho người dân còn thấp, chưa thể trở thành hoạt động kinh tế mang lại thu nhập chính cho cộng đồng dân cư tham gia mà chỉ mới bước đầu thêm vào hoạt động kinh doanh mới, tạo thêm nguồn thu nhập phụ cho người dân trong thời gian rỗi của hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi. Hoạt động du lịch chưa thực sự được triển khai rộng rãi trong cộng đồng dân cư, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường chung, bảo vệ tài nguyên tự nhiên, các di tích lịch sử văn hóa, đền chùa xung quanh địa phương chưa tốt. Người dân tham gia các hoạt động du lịch nông thôn chưa thực sự chủ động trong việc tự kiếm nguồn khách ổn định cho gia đình, chưa chủ động trong hoạt động kinh doanh đón tiếp khách mà chủ yếu còn dựa vào nguồn khách do Hội nông dân tỉnh An Giang và các công ty du lịch hợp tác từ trước với các hộ gia đình liên hệ và đặt dịch vụ. Người dân chưa nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động quảng bá thương hiệu, tự tạo mối liên kết với các công ty kinh doanh du lịch.

Qua quá trình điều tra tìm hiểu, phân tích các yếu tố phát triển loại hình du lịch nông thôn, nhận thấy An Giang có những thế mạnh, cơ hội, điểm yếu cũng như thách thức trong hoạt động khai thác du lịch nông thôn

  • Điểm mạnh

Vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa trung tâm tam giác phát triển kinh tế của vùng là Tp.Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Phnompenh (Cambodia).

Tài nguyên tự nhiên đa dạng về địa hình, phong phú về chủng loại động thực vật, khí hậu, thủy văn,..ổn định, ít tác động của tính thời vụ. Tài nguyên nhân văn hấp dẫn, vẫn còn giữ được hầu như nguyên vẹn các giá trị văn hóa, lễ hội, làng nghề, tính đa dạng trong cộng đồng dân tộc.

Là vùng nông thôn với các hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng, chăn nuôi thủy sản nước ngọt là chủ yếu. Đặc trưng nông thôn còn khá nguyên vẹn trong đời sống sinh hoạt, sản xuất của cư dân địa phương.

Môi trường an ninh, an toàn và ổn định.

  • Điểm yếu

Du lịch nông thôn là loại hình du lịch mới trong cơ cấu chung của ngành du lịch tỉnh An Giang. Chưa có cơ chế, chính sách, văn bản pháp lý, hướng dẫn quy định cụ thể về phương thức hoạt động của du lịch nông thôn.

Nguồn nhân lực cho hoạt động còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.

Công tác xúc tiến về loại hình du lịch nông thôn còn chưa được Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Hội nông dân và các cấp chính quyền quan tâm, đầu tư đúng mức. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

Thiếu gắn kết giữa các địa phương nông thôn, giữa địa phương với doanh nghiệp.

  • Cơ hội

Xu thế hội nhập quốc tế, các chương trình kích cầu du lịch của Việt Nam nhằm thu hút khách quốc tế.

Các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, dự án phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong các giai đoạn phát triển

Sự quan tâm của chính quyền địa phương từ Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các sở ban ngành liên qua và chính quyền địa phương có tiềm năng du lịch.

  • Thách thức

Sự phát triển nhanh chóng dẫn đến môi trường cảnh quan bị phá vỡ, phát triển không bền vững.

Sự bất cập trong phân chia lợi ích giữa các hộ gia đình gây chia rẽ, cạnh tranh không lành mạnh giữa người dân với nhau, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp du lịch.

Xung đột văn hóa giữa cư dân bản địa và khách du lịch do sự khác biệt về văn hóa, môi trường, điều kiện sống,…

Đánh giá thực trạng hoạt động phát triển du lịch nông thôn An Giang theo ma trận SWOT

Tiểu kết chương 2

Trình bày các nghiên cứu một cách khái quát về hoạt động du lịch tỉnh An Giang trong giai đoạn từ năm 2005 – 2014, thực trạng phát triển du lịch nông thôn giai đoạn 2007- 2014 khi loại hình du lịch nông thôn được triển khai lần đầu tiên tại An Giang.

An Giang có nhiều tiềm năng thuận lợi để phát triển du lịch nông thôn. Luận văn tập trung khai thác, phân tích các yếu tố vị trí địa lý, các tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn và tập trung nhấn mạnh vào nguồn tài nguyên du lịch ở các vùng nông thôn khai thác trong tỉnh An Giang.

Luận văn nghiên cứu quy trình và phương pháp của mô hình du lịch nông thôn ở An Giang từ các bước lập kế hoạch khảo sát, xây dựng mô hình, thiết kế sản phẩm và quy trình giám sát hoạt động du lịch nông thôn. Hoạt động nghiên cứu giúp đánh giá được tiềm năng tại các địa phương tìm kiếm mô hình phát triển phù hợp với đặc điểm, không gian của từng làng xã và đảm bảo được chất lượng sản phẩm du lịch nông thôn. Tập trung đánh giá thực trạng phát triển của du lịch, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực, hoạt động tuyên truyền quảng bá và những hiệu quả du lịch nông thôn mang lại cho các địa phương ở An Giang.

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển du lịch nông thôn An Giang sẽ là cơ sở, nền tảng để luận văn đưa ra các định hướng, giải pháp chung và giải pháp riêng phù hợp với đặc điểm của từng địa phương để có sự phát triển đồng bộ, toàn diện và hiệu quả trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại tỉnh An Giang.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tỉnh An Giang

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *