Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến, Khánh Hoà dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp và sự tăng trưởng của ngành du lịch đã tác động lan tỏa đến nhiều ngành, lĩnh vực khác; tạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, cải thiện diện mạo đô thị và nông thôn; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc; đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị, tăng cường hiểu biết và nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Bên cạnh sự phát triển rất nhanh của “ngành công nghiệp không khói” thì ngành du lịch cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường tại các khu du lịch, các tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch ngày càng gia tăng. Điều đó đã trở thành mối lo ngại lớn của các nhà chức trách, của mọi người dân trên thế giới, thúc dục những người làm du lịch phải tìm hướng đi mới cho mình đó là phát triển du lịch một cách bền vững.

Việt Nam là một đất nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng với hệ thống cảnh quan thiên nhiên độc đáo, nhiều bãi biển đẹp, hang động kỳ bí, cùng với nhiều di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và lễ hội đặc sắc mang nhiều giá trị lịch sử văn hoá, tâm linh của dân tộc. Cùng với nguồn tiềm năng phong phú, trong những năm gần đây Việt Nam đã có nhiều chính sách, giải pháp thích hợp nhằm phát triển du lịch, đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Đặc biệt, hiện nay, du lịch biển đảo đã tạo được sự thu hút mạnh mẽ với du khách và là loại hình du lịch đang được nước ta quan tâm, chú trọng, ưu tiên phát triển. Thúc đẩy du lịch biển đảo phát triển được coi là hướng đột phá trong những năm tới của Việt Nam. Trong“Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 – tầm nhìn 2030” của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ thúc đẩy du lịch biển đảo phát triển được coi là hướng đột phá trong mười năm tới của Việt  Nam [14, tr4]. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Như một món quà mà tạo hoá đã ban tặng cho con người, với các đảo và quần thể đảo lớn nhỏ ở vịnh Nha Trang, Đảo Yến đã trở thành một trong những hòn đảo đẹp nhất ở Việt Nam và được nhiều du khách yêu thích. Đảo Yến mang vẻ đẹp của thiên nhiên kỳ vĩ với những bãi biển độc đáo, những vách đá cheo leo, hiểm trở, nơi làm tổ của chim yến, cũng như mang đậm giá trị văn hoá lịch sử, gắn liền với sự hình thành và phát triển của ngành nuôi yến, cách sản xuất đặc sản yến sào nổi tiếng và có giá trị của Khánh Hoà. Tất cả những điều đó đã mang lại nhiều giá trị và tiềm năng du lịch, là một điểm đến hấp dẫn, mang lại những cảm giác thú vị, độc đáo cho du khách. Do đó, đảo Yến đã được nhiều công ty du lịch quan tâm, đặc biệt công ty Sanest Tourist, Công ty TNHH Nhà nước MTV Yến sào Khánh Hòa đã đưa vào khai thác tour du lịch Đảo Yến, giúp du khách có thể khám phá vẻ đẹp biển đảo của xứ trầm hương, vừa được tận mắt và thưởng thức những sản vật từ những tổ yến cheo leo trên vách đá. Chính những vẻ đẹp mà thiên nhiên ưu đãi đã thu hút một lượng du khách trong và ngoài nước hàng năm tới Đảo yến ngày một tăng. Trong giai đoạn 2014-2018, tốc độ tăng trưởng lượng khách bình quân của Đảo Yến là 38,2%/năm và doanh thu du lịch tăng trưởng bình quân ở mức 32,91%/năm. Riêng năm 2018, tổng số lượt khách đến với Đảo Yến là 8.287 lượt và doanh thu du lịch đạt 8,13 tỷ đồng [13, tr1-4].

Tuy vậy, việc phát triển du lịch tại Đảo Yến trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, bất cập như: Chưa khái thác hết tiềm năng du lịch trên đảo; vấn đề bảo vệ môi trường du lịch còn hạn chế;  cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch tại đây chưa nhiều; …Chính vì vậy, để bảo tồn và phát huy các giá trị mà thiên nhiên ban tặng cho Đảo Yến như là một báu vật của tật hóa, phát triển du lịch Đảo Yến xứng tầm với tiềm năng sẵn có, trong thời gian tới chính quyền và nhân dân Đảo Yến nói riêng và tỉnh Khánh Hòa nói chung rất cần thực hiện đồng bộ các biện pháp để thực hiện phát triển bền vững du lịch của vùng đất giàu tiềm năng này. Xuất phát từ lý do trên đây, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến, Khánh Hoà” làm luận văn thạc sĩ của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Mục đích của đề tài

Mục đích của đề tài là đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại Đảo Yến trong thời gian qua, đồng thời định hướng du lịch tại Đảo Yến phát triển lâu dài, bền vững về kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường.

3. Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau:

  • Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững.
  • Phân tích thực trạng phát triển du lịch tại Đảo Yến, Khánh Hòa trong giai đoạn 2014-2018, tìm ra những mặt hạn chế và nguyên nhân.
  • Đề xuất các giải pháp nhằm định hướng du lịch Đảo Yến phát triển lâu dài, bền vững về kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

4. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá về tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, thực trạng phát triển du lịch của Đảo Yến, Khánh Hòa. Trên cơ sở đó sẽ phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng phát triển du lịch của Đảo Yến. Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch cho Đảo Yến trong tương lai để đảm báo phát triển bền vững.

5. Phạm vi nghiên cứu

  • Không gian nghiên cứu: Đề tài luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu trên địa bàn tại Đảo Yến, Khánh Hòa.
  • Thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018.
  • Triển khai tiến hành công tác khảo sát điều tra nghiên cứu thực địa từ tháng 3/2019 đến tháng 5/2019

6. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đã được sử dụng:

Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp số liệu từ hoạt động du lịch của Đảo Yến trong thời gian vừa qua thông qua số liệu, báo cáo của các sở, ban ngành có liên quan. Thông qua số liệu này, tác giả có thể khái quát về các vấn đề và có cái nhìn tổng quát hơn về nội dung nghiên cứu.

Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này tác giả dùng để thảo luận nhóm với các chuyên gia để hoàn chỉnh bảng câu hỏi thiết kế để sử dụng bảng hỏi này tiến hành khảo sát, phỏng vấn khách du lịch, dân cư địa phương và các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn Đảo Yến. Dựa vào những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững được tổng hợp từ các công trình nghiên cứu trước làm cơ sở để tham vấn ý kiến của các chuyên gia. Tác giả đã tham vấn các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, bao gồm:

  • + 1 cán bộ lãnh đạo Sở du lịch tỉnh Khánh Hòa
  • + 1 lãnh đạo sở Giao thông vận tải, thành viên Ban chỉ đạo phát triển du lịch Khánh Hòa.
  • + 3 lãnh đạo và cán bộ chuyên môn của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch liên quan đến du lịch Đảo Yến.

Danh sách các chuyên gia được thể hiện tại phụ lục 01 của luận văn.

Ngoài ra, thông qua thảo luận nhóm giúp tác giả có nhiều cơ sở hơn trong việc xử lý các nội dung liên quan đến vấn đề phát triển du lịch bền vững.

Thời gian tham vấn ý kiến chuyên gia là tháng 12 năm 2018.

Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng bảng hỏi để tiến hành khảo sát, điều tra khách du lịch, dân cư địa phương và các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn Đảo Yến. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

  • Về xây dựng bảng câu hỏi khảo sát:

Bảng câu hỏi khảo sát được xây dựng trên cơ sở lý luận về nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững, dựa trên kinh nghiệm của những nguyên cứu trước đó, tham vấn ý kiến của các chuyên gia và ý kiến của giáo viên hướng dẫn khoa học. Phiếu khảo sát được kết cấu thành 3 phần cơ bản:

  • Phần 1: Những thông tin cơ bản của đối tượng được khảo sát
  • Phần 2: Ý kiến đánh giá về công tác phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến
  • Phần 3: Những ý kiến đóng góp để phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến trong thời gian tới

Nội dung cụ thể của phiếu khảo sát được trình bày tại phụ lục 02 của luận văn.

  • Về số lượng mẫu và thời gian khảo sát:

Trên cơ sở số liệu báo cáo của Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa về số lượng các cơ sở kinh doanh du lịch và khách du lịch đến với Đảo Yến, tác giả lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên với số lượng mẫu cụ thể như sau:

  • Cơ sở kinh doanh du lịch: 50 cơ sở
  • Khách du lịch: 100 khách du lịch

Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2019. Tác giả là người trực tiếp đi khảo sát và phiếu khảo sát sẽ được phát tận tay các đối tượng. Chính vì vậy tỷ lệ phiếu thu về là tuyệt đối với 50 phiếu từ cơ sở kinh doanh du lịch và 100 phiếu từ khách du lịch.

Sau khi thu phiếu khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm Microsolf Excel 2010 để nhập, phân tích và tổng hợp số liệu.

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương.

  • Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển du lịch bền vững
  • Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến, Khánh Hòa
  • Chương 3: Các giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến, Khánh Hòa

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1. Một số khái niệm có liên quan tới vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Khái niệm du lịch  Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tai Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua.” [5, tr12]

Tổ chức Du lịch thế giới WTO định nghĩa: “Du lịch là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này.

Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí tiêu khiển”. [5, tr12]

Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. [10, tr8]

Khái niệm này được bổ sung sửa đổi trong Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. [11, tr9]

Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ yếu không phải là kiếm lời. Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến.

1.1.2. Khái niệm phát triển bền vững Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Vấn đề phát triển bền vững được Ngân hàng thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên vào năm 1987 như sau”…Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”. Quan điểm này chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống của con người trong quá trình phát triển của con người, nhưng chưa đề cập đến vấn đề xã hội (Gôdian và Hecdue, 1988) [5, tr24].

Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) (Ngô Thắng Lợi, 2000) [6, tr22]. Mối quan hệ này được biểu hiện qua hình vẽ sau:

Cụ thể như sau:

Bền vững về mặt kinh tế chính là việc phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong một thời gian dài. Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được phát triển bền vững về mặt kinh tế. Vì thế chúng ta phải luôn duy trì một tốc độ tăng trưởng ổn định hợp lý và lâu dài không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế nhanh.

Bền vững về mặt môi trường là ở đó con người có cuộc sống chất lượng cao dựa trên nền tảng sinh thái bền vững.

Bền vững về xã hội: Tính bền vững đó phải mang tính nhân văn hay nói một cách khác là phải đem lại phúc lợi và chia sẻ công bằng cho mọi cá nhân trong xã hội. Phát triển phải được gắn liền với một xã hội ổn định, hoà bình, mở rộng và nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người cùng với đó là việc nâng cao sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển.

Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu. Tư duy về phát triển bền vững bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội. Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de Janeiro đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”.

Về nguyên tắc, phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững. Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thế chân kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường.

Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ.

1.2. Sự cần thiết phải phát triển bền vững du lịch biển đảo ở nước ta Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Du lịch biển đảo ngày càng trở thành một xu hướng và động lực mới, với nhiều tiềm năng ở Việt Nam. Thực tế cũng cho thấy, với lượng khách đến tăng nhiều trong những năm qua và luôn chiếm khoảng 70% tổng khách du lịch cả nước, du lịch biển đảo hiện đang là loại hình du lịch chủ đạo, góp phần quan trọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.

Có thể nói, Việt Nam có nhiều tiềm năng về du lịch biển đảo khi sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km và hơn 3.000 hòn đảo, với những bờ cát trắng, vịnh biển hoang sơ, những hòn đảo nhiệt đới quanh năm tươi tốt. Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới và là nước có diện tích ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á. Và có tới 125 bãi biển mà hầu hết là các bãi tắm đẹp, trong đó bãi biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes bầu chọn là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh. Việt Nam cũng là 1 trong 12 quốc gia có các vịnh đẹp nhất thế giới là Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang. Về mặt hành chính, 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các địa phương có biển, với diện tích tự nhiên là 126.747 km2, dân số (năm 2010) là 37,2 triệu người, bằng 38,2% diện tích tự nhiên và 41,1% dân số cả nước.

Bên cạnh đó, lãnh thổ vùng đất ven biển, vùng biển và hệ thống các đảo, nơi diễn ra du lịch biển đảo và vùng ven biển tập trung tới 7/13 di sản thế giới ở Việt Nam; 6/8 các khu dự trữ sinh quyển; nhiều vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên.v.v. (Bộ VHTT và DL, 2019) [2, tr10]

Ngoài ra, từ bao đời nay, biển đảo không chỉ là nơi cung cấp nguồn sống, mà còn là không gian để cộng đồng người Việt tạo lập nên một nền văn hóa biển đảo, với những di sản văn hóa đặc sắc. Đó là hệ thống di tích lịch sử-văn hóa liên quan đến môi trường biển, hệ thống thần linh biển, những bậc tiền bối có công trong công cuộc chinh phục biển, xác lập và thực thi chủ quyền quốc gia trên biển…; các lễ hội dân gian của cư dân miền biển; tín ngưỡng, phong tục tập quán liên quan đến biển; văn hóa sinh kế, văn hóa cư trú, văn hóa ẩm thực, diễn xướng dân gian, tri thức bản địa… Ðây chính là nguồn tài nguyên giàu có để phát triển du lịch biển đảo bền vững.

Nắm bắt thế mạnh trên, thời gian qua, nhiều khu du lịch biển tiềm năng đã được quy hoạch và đầu tư phát triển như: bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa); bãi biển Non Nước, Mỹ Khê (Đà Nẵng); vịnh Đảo Yến, vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa); bãi biển Mũi Né (Bình Thuận); bãi biển Vũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu). Việt Nam đã hình thành 3 trung tâm du lịch biển có sức hút với khách quốc tế, gồm vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Đà Nẵng, Đảo Yến (Khánh Hòa) với những cơ sở lưu trú hiện đại 4-5 sao, có thể đón những đoàn khách đến nghỉ dưỡng và phát triển du lịch MICE (du lịch hội nghị, hội thảo) (Bộ VH – TT và DL, 2019) [2, tr11]

Việc phát triển mạnh mẽ của du lịch biển đảo trong những năm qua, đã mang lại cơ hội xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân ở vùng ven biển nhiều địa phương trong cả nước. Song theo đánh giá của các chuyên gia, kết quả này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng lớn của du lịch biển, đảo Việt Nam. Thực tế cho thấy, du lịch biển, đảo ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

  • Dịch vụ du lịch còn thiếu, nghèo nàn;
  • Sản phẩm du lịch biển chưa đa dạng; an ninh trật tự và việc quản lý giá tại một số khu, điểm du lịch chưa đảm bảo; quy hoạch của nhiều bãi biển đẹp đã bị phá vỡ, phát triển manh mún và khó điều chỉnh.v.v.

Nhằm khắc phục những hạn chế cũng như tạo sức bật cho du lịch biển, đảo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020”. Mục tiêu của đề án là đến năm 2020, du lịch biển sẽ trở thành động lực của kinh tế biển Việt Nam, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển và bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh (Bộ VHTT và DL, 2019) [2, tr8].

1.3. Phát triển du lịch bền vững

1.3.1. Khái niệm

Phát triển du lịch bền vững và phát triển bền vững có mối quan hệ rất chặt chẽ. Trên thực tế, phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững đều liên quan đến môi trường. Trong du lịch, môi trường mang một hàm ý rất rộng. Đó là môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hoá, chính trị và xã hội; là yếu tố rất quan trọng để tạo nên các sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo. Rõ ràng, nếu không có bảo vệ môi trường thì sự phát triển sẽ suy giảm; nhưng nếu không có phát triển thì việc bảo vệ môi trường sẽ thất bại. Chính vì vậy, chúng ta cần phát triển du lịch nhưng không được làm tổn hại đến tài nguyên, không làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Hay nói một cách khác, du lịch bền vững phải là xu thế phát triển của ngành du lịch. Ngoài sự phát triển thân thiện với môi trường, khái niệm bền vững còn bao hàm cách tiếp cận du lịch thừa nhận vai trò của cộng đồng địa phương, phương thức đối xử với lao động và mong muốn tối đa hóa lợi ích kinh tế của du lịch cho cộng đồng địa phương. Nói cách khác, du lịch bền vững không chỉ có bảo vệ môi trường, mà còn quan tâm tới khả năng duy trì kinh tế dài hạn và công bằng xã hội. Du lịch bền vững không thể tách rời phát triển bền vững. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Vào thập niên 90 của thế kỷ XX người ta thấy rằng, du lịch, một ngành công nghiệp không khói cũng giống các ngành kinh tế khác, tạo ra nguồn lợi nhuận dồi dào nhưng lại đem đến rất nhiều những mặt hạn chế về môi trường, xã hội. Chính vì vậy, một yêu cầu tất yếu được đặt ra là cần phát triển du lịch mang tính bền vững. Vậy phát triển du lịch bền vững là gì?

Butler’s (1993) cho rằng phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển và duy trì trong một không gian và thời gian nhất định (ở đó tồn tại cộng đồng, môi trường), thêm nữa sự phát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng môi trường của con người trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự phát triển lâu dài [17, tr6]. Đây là quan điểm đã nhận được sự đồng thuận của các tác giả khác như Murphy (1994) [22, tr10], Mowforth và Munt (1998).

Một quan điểm khác của Machado (2003) lại nhấn mạnh đến tính bền vững của các sản phẩm trong phát triển du lịch, ông cho rằng phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.

Tác giả Tosun (1998) trong nghiên cứu của mình đã đề xuất phát triển du lịch bền vững như là một trong những thành phần của phát triển du lịch và nó tạo ra những đóng góp đáng kể hoặc ít hoặc phủ nhận sự duy trì các nguyên tắc của sự phát triển trong một thời kỳ nhất định mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của thế hệ tương lai [23, tr598]. Bổ sung vào quan điểm này, tác giả Hens (1998) chỉ ra rằng phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự quan tâm của các bên có liên quan đến việc quản lý các nguồn tài nguyên theo các cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung cấp các sản phẩm du lịch đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, đa dạng hệ sinh thái và bảo đảm sự sống cho thế hệ mai sau [18, tr26].

Theo John Swarbrooke (1999) lại có cái nhìn tách biệt về du lịch bền vững khi cho rằng du lịch bền vững là sự kết hợp giữa việc đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng sở tại mà không ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các thế hệ tương lai đồng thời có khả năng đem lại kinh tế nhưng không được phá hủy các nguồn lực mà tương lai du lịch sẽ phụ thuộc: môi trường vật chất và các yếu tố xã hội của cộng đồng địa phương .

Theo Phạm Trung Lương (2000) trong Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam đã chỉ rõ các mặt bền vững của phát triển du lịch là: Bền vững kinh tế sự phát triển ổn định lâu dài của du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của xã hội, đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là người dân địa phương; bền vững về môi trường là việc sử dụng các tài nguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó, sao cho đáp ứng được nhu cấu phát triển hiện tại song không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu của thế hệ mai sau; Bền vững về xã hội là việc khai thác đáp ứng các nhu cầu phát triển du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống để lại cho các thế hệ tiếp sau [7, tr34]. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Tổ chức du lịch thế giới (WTO) định nghĩa: “Phát triển bền vững trong du lịch là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Sự phát triển này quan tâm đến lợi ích kinh tế, xã hội mang tính lâu dài trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương (WTO, 2002) [24, tr20].

Theo quy định tại Khoản 14, Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế – xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai [11, tr18].

Như vậy, mặc dù được phát biểu theo những cách khác nhau song nhìn chung các khái niệm trên đều đề cập tới: phát triển du lịch bền vững là việc quản lý toàn bộ các thành phần cấu thành ngành du lịch đảm bảo phát triển cân bằng để có thể mang lại những kết quả có lợi về kinh tế, xã hội mang tính lâu dài mà không gây ra những tổn hại cho môi trường tự nhiên và bản sắc văn hoá của du lịch. Quá trình phát triển du lịch bền vững phải kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ và sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm mục đích bảo tồn và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bảo sắc văn hoá dân tộc. Trong luận văn này, tác giả lấy khái niệm phát triển du lịch được quy định trong Luật Du lịch làm kim chỉ nam xuyên suốt đề tài.

1.3.2. Đặc điểm phát triển du lịch bền vững

Một là, phát triển du lịch bền vững là sự phát triển có kiểm soát về mặt kinh tế, đảm bảo chất lượng tăng trưởng. Đây là một trong những điểm đặc trưng của phát triển du lịch bền vững, thể hiện sự khác biệt với phát triển du lịch không bền vững. Phát triển du lịch bền vững không đặt ra mục tiêu tối đa hóa tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, đánh đổi sự ổn định và công bằng xã hội, đánh đổi tài nguyên, môi trường để lấy tốc độ tăng trưởng cao, mà duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, ổn định, phù hợp với điều kiện và an toàn nguồn lực. Nguồn lực tài nguyên du lịch, bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, không bị khai thác quá mức đến cạn kiệt hoặc phải đối mặt với nguy cơ suy giảm, xuống cấp để phục vụ mục tiêu tăng trưởng và thu lợi ích ngắn hạn. Việc khai thác nguồn khách du lịch cũng không bị áp lực phải tối đa hóa để phục vụ mục tiêu lợi nhuận mà có sự kiểm soát để tránh vượt quá sức tải của tài nguyên, môi trường và đảm bảo chất lượng phục vụ.

Hai là, phương thức phát triển hướng đến sự cân đối, hài hòa giữa các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, giữa mục tiêu, lợi ích ngắn hạn và dài hạn trong quá trình phát triển. Nếu như phát triển du lịch không bền vững chỉ chú trọng mục tiêu kinh tế, tối đa hóa lợi nhuận, thì trong phát triển du lịch bền vững, có sự cân đối các nội dung và mục tiêu phát triển, trong đó các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường đều là những trụ cột quan trọng của phát triển bền vững. Phát triển du lịch bền vững cũng bao hàm sự cân nhắc kỹ lưỡng, hợp lý giữa mục tiêu, lợi ích ngắn hạn và dài hạn để có phương án phân bổ nguồn lực và các giải pháp phù hợp trong tổ chức thực hiện, hướng đến đạt được các mục tiêu này.

Ba là, trong phát triển du lịch bền vững, bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường vừa là cơ sở, giải pháp, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Tài nguyên, môi trường du lịch là nguồn lực đầu vào, là điều kiện cần thiết cho mọi phương thức phát triển du lịch, trong đó có phát triển du lịch bền vững. Tuy nhiên, trong khi du lịch không bền vững chỉ coi tài nguyên, môi trường du lịch là yếu tố đầu vào cần phải tận dụng, khai thác triệt để và sẵn sàng đánh đổi việc bảo vệ tài nguyên để hướng đến tối đa hóa lợi ích kinh tế, thì phát triển du lịch bền vững đặt ra yêu cầu bảo vệ, bảo tồn tài nguyên, phát triển các loại tài nguyên có khả năng tái sinh, bảo vệ môi trường trong suốt quá trình phát triển. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Bốn là, phát triển du lịch bền vững đặt ra yêu cầu trách nhiệm cao và sự công bằng về lợi ích đối với các chủ thể tham gia hoạt động du lịch. Các chủ thể chính tham gia hoạt động du lịch bao gồm cơ sở kinh doanh du lịch, khách du lịch, cộng đồng bản địa nơi có hoạt động du lịch và cơ quan quản lý nhà nước về du lịch. Yêu cầu về trách nhiệm đối với mỗi chủ thể bao gồm cả trách nhiệm về kinh tế, xã hội và môi trường, vị trí riêng và thông qua hoạt động tham gia, bằng hành vi cụ thể của mình, đều có những đóng góp, tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch.

Năm là, phát triển du lịch bền vững dựa trên các nguyên tắc phù hợp, được quán triệt xuyên suốt và tuân thủ nghiêm túc trong quá trình phát triển. Đây cũng là một đặc trưng riêng có để đạt được và duy trì sự phát triển du lịch bền vững. Trong khi phát triển du lịch không bền vững không trên cơ sở hoặc thường xuyên phá vỡ các nguyên tắc phát triển, thì phát triển du lịch bền vững luôn tuân thủ nghiêm túc và đầy đủ các nguyên tắc – vốn cũng đã được xác định để định hướng và đảm bảo sự phát triển bền vững.

1.3.3. Mục tiêu và nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 

1.3.3.1. Mục tiêu phát triển du lịch bền vững

Theo Inskeep (1995), mục tiêu của Du lịch bền vững là: – Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường; – Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển; – Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa; –

Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách; – Duy trì chất lượng môi trường. Như vậy, với những quan điểm trên đây thì có thể coi phát triển du lịch bền vững là một nhánh của phát triển bền vững nói chung đã được Hội nghị của Ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường xác định năm 1987. Phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển du lịch ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác. Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển của các ngành khác, sự phát triển bền vững chung của toàn xã hội [20, tr243].

1.3.3.2. Nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

Năm 1998 Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), đã đề ra 10 nguyên tắc để phát triển bền vững. 10 nguyên tắc này cũng được áp dụng trong vấn đề phát triển du lịch bền vững (Nguyễn Đình Hòe, 2001) [5, tr38-54].

Thứ nhất, sử dụng tài nguyên du lịch một cách bền vững. Tài nguyên du lịch gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.

Thứ hai, giảm tiêu thụ quá mức và xả thải. Các nguồn lực tài nguyên, các nguồn nguyên, nhiên liệu, chất đốt đều có giới hạn. Sự tiêu thụ quá mức tại một địa điểm sẽ dẫn đến vấn đề quá tải về môi trường, ô nhiễm môi trường, không khí, nguồn nước đồng thời làm cạn kiệt nguồn tài nguyên vốn có. Hạn chế xả thải ra môi trường cũng là biện pháp ngăn chặn suy thoái và ô nhiễm môi trường. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Thứ ba, duy trì tính đa dạng. Sự đang dạng không chỉ thể hiện trong đa dạng sinh học mà còn thể hiện qua các vấn đề văn hóa, xã hội. Tính đa dạng tạo nên sức hút đối với du khách đồng thời là sức bật cho ngành du lịch của địa phương, tạo nên sự khác biệt, nổi bật so với những điểm đến khác. Bên cạnh đó, việc duy trì tính đa dạng phải đi đôi cùng với việc bảo tồn và gìn giữ môi trường, các yếu tố văn hóa xã hội đặc trưng của điểm đến để không bị mờ nhạt trong thời buổi các quốc gia, khu vực đều tham gia hội nhập.

Thứ tư, lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia. Trong khi du lịch đang là một ngành kinh tế mũi nhọn, đem lại nguồn lợi lớn tì việc quy hoạch và định hướng phát triển là không thể thiếu. Việc quy hoạch phát triển sẽ đem lại cái nhìn xa và rộng hơn cho việc phát triển, đảm bảo phát triển lâu dài, và quá trình phát triển cho các thế hệ mai sau. Điều đó, đồng nghĩa với việc đảm bảo phát triển bền vững cho cả kinh tế, xã hội và môi trường.

Thứ năm, hỗ trợ kinh tế địa phương. Muốn đảm bảo hài hòa các nhu cầu và quyền lợi giữa các chủ thể thì không thể không nhắc đến vấn đề kinh tế địa phương. Lồng ghép phát triển kinh tế du lịch vào phát triển kinh tế địa phương là một giải pháp tối ưu cho việc hỗ trợ kinh tế địa phương phát triển.

Thứ sáu, thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. Cộng đồng địa phương là một phần của bộ mặt điểm đến du lịch, đóng vai trò không nhỏ trong ấn tượng của du khách về hình ảnh điểm đến. Sự tham gia của cộng đồng không chỉ thúc đẩy du lịch phát triển mà còn hỗ trợ cuộc sống của người dân địa phương.

Thứ bảy, sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và cộng đồng. Sự hợp tác lâu dài phải dựa trên sự bình đẳng giữa các chủ thể: người làm du lịch và người dân địa phương.

Thứ tám, công tác đào tạo. Nhân lực luôn là vấn đề mà các nhà quản lý du lịch cần quan tâm. Chất lượng nguồn nhân lực sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc kinh doanh và phát triển du lịch. Vì thế mà công tác đào tạo phải được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ.

Thứ chín, quảng bá du lịch có trách nhiệm. Thông tin đưa ra trong các bài quảng cáo, báo, đài tạp chí đều phải đúng với thực tế của điểm đến, tránh tình trạng gây thất vọng với du khách.

Thứ mười, thực hiện các công tác nghiên cứu. Để phát triển du lịch lâu dài và bền vững, trước tiên phải thực hiện công tác nghiên cứu, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, các mặt lợi thế hay hạn chế, từ đó, đưa ra những giải pháp tối ưu nhất, bền vững nhất cho sự phát triển của điểm đến.

1.3.4. Nội dung của công tác phát triển du lịch bền vững Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Như đã phân tích về nội dung phát triển bền vững ở trên, công tác phát triển du lịch bền vững bao hàm 3 nội dung chính, bao gồm:

  • Tăng trưởng kinh tế bền vững của ngành du lịch;
  • Tăng trưởng kinh tế bền vững đồng thời thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng cao và gắn liền với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa địa phương;
  • Tăng trưởng kinh tế bền vững gắn liền với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phát triển các tài nguyên có khả năng tái sinh, bảo vệ môi trường sinh thái.

1.3.4.1. Tăng trưởng kinh tế bền vững của ngành du lịch

Tăng trưởng kinh tế bền vững của ngành du lịch là sự tăng lên về giá trị tăng thêm của ngành du lịch một cách hợp lý, ổn định dài hạn và có chất lượng trên cơ sở khai thác hiệu quả, hợp lý tài nguyên du lịch và các nguồn lực khác của địa phương nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch (Phạm Trung Lương, 2005) [8, tr14].

Việc tăng trưởng kinh tế bền vững của ngành du lịch được thể hiện qua những nội dung sau:

  • Một là sự tăng lên về giá trị của ngành du lịch ở địa phương một cách hợp lý và ổn định trong dài hạn.

Tốc độ tăng trưởng là mục tiêu quan trọng hàng đầu đối với mỗi địa phương và quốc gia. Đây cũng là điều kiện cơ bản để thực hiện các mục tiêu khác của phát triển bền vững. Tuy nhiên, đối với mỗi ngành kinh tế ở mỗi địa phương và ở những giai đoạn phát triển khác nhau, mức tăng trưởng để được xác định là hợp lý không giống nhau. Với ngành du lịch, các địa phương cần căn cứ vào các điều kiện cụ thể về nguồn lực phát triển đặc biệt là nguồn tài nguyên du lịch để xác định mục tiêu về tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch cho phù hợp. Mục tiêu này cũng cần được duy trì ổn định lâu dài, phù hợp với chu kỳ trung và dài hạn của nền kinh tế.

  • Hai là, tăng trưởng kinh tế ngành du lịch có chất lượng ngày càng cao trên cơ sở khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Các nguồn lực cơ bản cho phát triển ngành du lịch bao gồm tài nguyên du lịch, vốn đầu tư, lao động du lịch và khoa học kỹ thuật phục vụ du lịch.

Các tài nguyên du lịch là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển ngành du lịch. Khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên chính là việc phát huy được tối đa lợi thế và những điều kiện riêng có về tài nguyên du lịch để xây dựng và phát triển bền vững các sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Nguồn lực vốn đầu tư được khai thác hiệu quả cho phát triển du lịch ở địa phương thể hiện qua: Lượng vốn huy động đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bền vững trong từng thời kỳ, cơ cấu nguồn vốn được xã hội hóa ngày càng cao, cơ cấu đầu tư từ các nguồn vốn phù hợp với chiến lược phát triển sản phẩm du lịch bền vững của địa phương; hiệu quả sử dụng các cơ sở vật chất ngành du lịch cao và giảm thiểu chênh lệch về hiệu suất sử dụng giữa các khoảng thời gian trong năm.

Nguồn lao động là nguồn lực quan trọng cần được khai thác hiệu quả để tạo ra thu nhập và tăng trưởng bền vững cho ngành du lịch và đảm bảo thu nhập cho người lao động của địa phương. Lao động trong ngành du lịch phải đáp ứng được những yêu cầu về số lượng, chất lượng và có những phẩm chất đặc thù. Trong đó, sự phát triển về số lượng, cơ cấu lao động du lịch phải phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch; chất lượng lao động, kỹ năng, tính chuyên nghiệp, kỷ luật, kiến thức chuyên ngành về du lịch đáp ứng ngày càng cao yêu cầu phát triển du lịch bền vững.

Nguồn lực khoa học công nghệ được sử dụng hiệu quả và đóng góp ngày càng cao cho tăng trưởng du lịch, thể hiện qua việc chủ động, tích cực ứng dụng với mức độ ngày càng cao các công nghệ thân thiện với môi trường, công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu và tạo năng suất cao trong các dự án du lịch, đầu tư và sử dụng các cơ sở vật chất ngành du lịch; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh du lịch.

  • Ba là, tăng trưởng kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành du lịch theo hướng hiệu quả và thúc đẩy cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Cơ cấu của ngành du lịch chuyển dịch theo hướng hiệu quả khi doanh thu của ngành du lịch ngày càng dựa chủ yếu vào các sản phẩm du lịch đặc trưng bền vững của địa phương và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Doanh thu của ngành du lịch tăng nhanh, tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành du lịch ngày càng chiếm cao trong GRDP của địa phương. Khía cạnh khác thể hiện sự tăng trưởng kinh tế ngành du lịch bền vững là tăng trưởng đó thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp và các ngành, lĩnh vực liên quan ở địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

  • Bốn là, tăng trưởng kinh tế gắn với chất lượng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao.

Tăng trưởng kinh tế ngành du lịch gắn với chất lượng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao thể hiện qua tăng trưởng lượng khách du lịch hợp lý, ổn định nhưng không vượt quá sức chứa của tài nguyên, cơ sở vật chất ngành du lịch và sức chứa xã hội ở địa phương; sản phẩm du lịch thỏa mãn và làm hài lòng du khách. Tăng trưởng kinh tế đạt được trên cơ sở chiến lược thu hút và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch được xây dựng và thực hiện theo hướng giành ưu tiên cho việc nâng chất lượng nguồn khách hơn là theo đuổi thuần túy số lượng khách du lịch để có được tăng trưởng.

1.3.4.2. Tăng trưởng kinh tế bền vững đồng thời thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng cao và gắn liền với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa địa phương Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Đây là nội dung thứ 2 của phát triển du lịch bền vững ở địa phương và được thể hiện qua những khía cạnh cơ bản sau:

  • Một là, tăng trưởng kinh tế của ngành du lịch phải đồng thời tạo cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và người dân, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo ở địa phương.

Phát triển du lịch bền vững thu hút và ưu tiên tạo việc làm cho lao động địa phương trong các dự án kinh doanh du lịch, tăng thu nhập cho các chủ thể tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch. Không những vậy nó còn tạo tác động lan tỏa, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực kinh tế khác phát triển, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và đòi hỏi chất lượng của nhiều sản phẩm tăng theo. Nhờ đó thu nhập bình quân của người lao động và người dân địa phương cũng tăng lên đồng thời với xu hướng tăng doanh thu và giá trị tăng thêm của ngành du lịch. Bên cạnh đó, các nguồn thu từ du lịch góp phần quan trọng thực hiện các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Như vậy, thành quả tăng trưởng kinh tế của ngành du lịch tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất cho mọi thành viên trong cộng đồng địa phương.

  • Hai là, tăng trưởng của ngành du lịch có sự tham gia và tạo cơ hội cho cộng đồng hưởng lợi đồng thời không làm bất công xã hội và vấn đề xã hội gia tăng.

Quá trình phát triển du lịch gắn với việc khuyến khích, thu hút, hỗ trợ cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch, gồm cả hoạt động đầu tư kinh doanh du lịch, huy động sự tham gia của người dân trong các sự kiện phục vụ du lịch có chủ đề về văn hóa hoặc di sản địa phương; xây dựng những chuỗi cung cấp các dịch vụ hàng hóa tại chỗ và tự chủ một phần sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm truyền thống của địa phương để người dân cùng có cơ hội bình đẳng tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ phục vụ du lịch và hưởng lợi từ du lịch; tạo điều kiện để người dân thực sự được tham gia đóng góp vào quy hoạch, có tiếng nói trong quá trình triển khai thực hiện và quản lý các dự án phát triển du lịch tại địa phương. Hoạt động du lịch cũng không gây tác động, ảnh hưởng bất thường đến cấu trúc xã hội truyền thống và văn hóa truyền thống của cộng đồng; không tác động bất thường đến tình hình an ninh trật tự mà góp phần tích cực đảm bảo an toàn xã hội của địa phương.

  • Ba là, tăng trưởng kinh tế bền vững của ngành du lịch gắn liền với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của địa phương.

Tăng trưởng kinh tế bền vững phải trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả và hợp lý các giá trị văn hóa bản địa – nguồn lực tài nguyên du lịch nhân văn của địa phương; tăng trưởng kinh tế bền vững đóng góp tích cực và hướng đến mục tiêu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa bản địa.

Khai thác, sử dụng hiệu quả, hợp lý gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa bản địa cho phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải thực hiện những nội dung cơ bản sau: Rà soát, phân tích đánh giá đúng mức ý nghĩa của các giá trị văn hóa đối với ngành du lịch; xây dựng kế hoạch và cách thức sử dụng các giá trị đó để tạo nên sản phẩm du lịch đem lại hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, hài hoà các lợi ích văn hóa – xã hội, không làm tổn hại giá trị văn hóa; gắn kết giữa sử dụng với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong mọi hoạt động, mọi giai đoạn phát triển du lịch.

1.3.4.3. Tăng trưởng kinh tế bền vững gắn liền với bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển tài nguyên có khả năng tái sinh, bảo vệ môi trường sinh thái Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

  • Một là, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên của địa phương.

Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên đặt ra yêu cầu điều tra, phân tích, đánh giá được đầy đủ, đúng mức tiềm năng, hiện trạng tài nguyên du lịch của địa phương. Trên cơ sở đó, xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng tài nguyên du lịch tự nhiên để hình thành các vùng, khu, điểm du lịch đồng thời xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch phù hợp với điều kiện tài nguyên, nhu cầu thị trường. Xác định các giải pháp, kế hoạch sử dụng với phân kỳ hợp lý, tiết kiệm, cân đối giữa việc sử dụng hiện tại và gìn giữ cho tương lai.

  • Hai là, khai thác, sử dụng gắn với bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái.

Bảo vệ tài nguyên, môi trường trong phát triển du lịch bền vững bao gồm cả việc giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái để tạo tiền đề, điều kiện cho du lịch có thể phát triển bền vững và thực hiện việc bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái trong phát triển du lịch, xác định đây vừa là nội dung, vừa là mục tiêu của phát triển du lịch bền vững.

Bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái trong phát triển du lịch đặt ra các nhiệm vụ kế hoạch hóa việc sử dụng gắn với bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch; kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch; giảm chất thải, xử lý chất thải tự nhiên phát sinh từ hoạt động du lịch, khắc phục và xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường tự nhiên; thực hiện các biện pháp ngăn chặn xuống cấp, suy thoái và bảo vệ sự trong lành nguyên vẹn của môi trường sinh thái tự nhiên trong quá trình tổ chức mọi hoạt động du lịch. Bên cạnh bảo vệ tài nguyên và môi trường, phát triển du lịch bền vững cũng đặt ra nhiệm vụ tái tạo và phát triển một số tài nguyên quan trọng như rừng, các thảm thực vật và các hồ, sông… xung quanh các địa danh, điểm du lịch.

1.3.5. Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững 

Đến thời điểm hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các bộ chỉ số đánh giá phát triển du lịch bền vững. Trong luận văn này, tác giả dựa vào Bộ tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu do Hội đồng du lịch toàn cầu xây dựng, bao gồm 4 nhóm chỉ số (Luigi Cabrini, 2011). Cụ thể các tiêu chí như sau:

1.3.5.1. Quản lý hiệu quả và bền vững

  • Các công ty du lịch cần thực thi một hệ thống quản lý bền vững, phù hợp với quy mô và thực lực của mình để bao quát các vấn đề về môi trường, văn hóa – xã hội, chất lượng, sức khỏe và an toàn.
  • Tuân thủ các điều luật và quy định có liên quan trong khu vực và quốc tế.
  • Tất cả nhân viên được đào tạo định kỳ về vai trò của họ trong quản lý môi trường, văn hóa xã hội, sức khỏe và các thói quen an toàn.
  • Cấn đánh giá sự hài lòng của khách hàng để có các biện pháp điều chỉnh phù hợp.
  • Quảng cáo đúng sự thật và không hứa hẹn những điều không có trong chương trình kinh doanh.

Thiết kế và thi công cơ sở hạ tầng: (i) Chấp hành những quy định về bảo tồn di sản tại địa phương; (ii) Tôn trọng những di sản thiên nhiên và văn hóa địa phương trong công tác thiết kế, đánh giá tác động, quyền sở hữu đất đai và lợi nhuận thu được; (iii) Áp dụng các phương pháp xây dựng bền vững thích hợp tại địa phương; (iv) Đáp ứng yêu cầu của các cá nhân có nhu cầu đặc biệt. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Cung cấp thông tin cho khách hàng về môi trường xung quanh, văn hóa địa phương và di sản văn hóa, đồng thời giải thích cho khách hàng về những hành vi thích hợp khi tham quan các khu vực tự nhiên, các nền văn hóa và các địa điểm di sản văn hóa.

1.3.5.2. Gia tăng lợi ích kinh tế xã hội và giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương

  • Công ty du lịch tích cực ủng hộ các sáng kiến phát triển cơ sở hạ tầng xã hội và phát triển cộng đồng như xây dựng công trình giáo dục, y tế và hệ thống thoát nước.
  • Sử dụng lao động địa phương, có thể tổ chức đào tạo nếu cần thiết, kể cả đối với vị trí quản lý.
  • Các dịch vụ và hàng hóa địa phương nên được doanh nghiệp bày bán rộng rãi ở bất kỳ nơi nào có thể.
  • Công ty du lịch cung cấp phương tiện cho các doanh nghiệp nhỏ tại địa phương để phát triển và kinh doanh các sản phẩm bền vững đựa trên đặc thù về thiên nhiên, lịch sử và văn hóa địa phương (bao gồm thức ăn, nước uống, sản phẩm thủ công, nghệ thuật biểu diễn và các mặt hàng nông sản).
  • Thiết lập một hệ thống quy định cho các hoạt động tại cộng đồng bản địa hay địa phương, với sự đồng ý và hợp tác của cộng đồng.
  • Công ty phải thi hành chính sách chống bóc lột thương mại, đặc biệt đối với trẻ em và thanh thiếu niên, bao gồm cả hành vi bóc lột tình dục.
  • Đối xử công bằng trong việc tiếp nhận các lao động phụ nữ và người dân tộc thiểu số, kể cả ở vị trí quản lý, đồng thời hạn chế lao động trẻ em.
  • Tuân thủ luật pháp quốc tế và quốc gia về bảo vệ nhân công và chi trả lương đầy đủ.

Các hoạt động của công ty không được gây nguy hiểm cho nguồn dự trữ cơ bản như nước, năng lượng hay hệ thống thoát nước của cộng đồng lân cận.

1.3.5.3. Gia tăng lợi ích đối với các di sản văn hóa và giảm nhẹ các tác động tiêu cực

  • Tuân thủ các hướng dẫn và quy định về hành vi ứng xử khi tham quan các điểm văn hóa hay lịch sử, nhằm giảm nhẹ các tác động từ du khách.
  • Đồ tạo tác khảo cổ hay lịch sử không được phép mua bán hay trưng bày, trừ khi được pháp luật cho phép.
  • Có trách nhiệm đóng góp cho công tác bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, khảo cổ và các tài sản có ý nghĩa quan trọng về tinh thần, tuyệt đối không cản trở việc tiếp xúc của cư dân địa phương.
  • Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng địa phương khi sử dụng nghệ thuật, kiến trúc hay các di sản văn hóa của địa phương trong hoạt động kinh doanh, thiết kế, trang trí, ẩm thực.

1.3.5.4. Gia tăng lợi ích môi trường và giảm nhẹ tác động tiêu cực

Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: (i) Ưu tiên buôn bán những sản phẩm thân thiện môi trường như vật liệu xây dựng, thức ăn và hàng tiêu dùng; (ii) Cân nhắc khi buôn bán các sản phẩm tiêu dùng khó phân hủy và cần tìm cách hạn chế sử dụng các sản phẩm này; (iii) Tính toán mức tiêu thụ năng lượng cũng như các tài nguyên khác, cần cân nhắc giảm thiểu mức tiêu dùng cũng như khuyến khích sử dụng năng lượng tái sinh; (iv) Kiểm soát mức tiêu dùng nước sạch, nguồn nước và có biện pháp hạn chế lượng nước sử dụng. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Giảm ô nhiễm: (i) Kiểm soát lượng khí thải nhà kính và thay mới các dây chuyền sản xuất nhằm hạn chế hiệu ứng nhà kính, hướng đến cân bằng khí hậu; (ii) Nước thải, bao gồm nước thải sinh hoạt phải được xử lý triệt để và tái sử dụng; (iii) Thực thi kế hoạch xử lý chất thải rắn với mục tiêu hạn chế chất thải không thể tái sử dụng hay tái chế; (iv) Hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu, sơn, thuốc tẩy, thay thế bằng các sản phẩm không độc hại, quản lý chặt chẽ các hóa chất được sử dụng; (v) Áp dụng các quy định giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, nước thải, chất gây xói mòn, hợp chất gây suy giảm tầng ozon và chất làm ô nhiễm không khí, đất.

Bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên: (i) Các loài sinh vật hoang dã khai thác từ tự nhiên được tiêu dùng, trưng bày hay mua bán phải tuân theo quy định nhằm đảm bảo việc sử dụng là bền vững; (ii) Không được bắt giữ các loài sinh vật hoang dã, trừ khi đó là hoạt động điều hòa sinh thái. Tất cả những sinh vật sống chỉ được bắt giữ bởi những tổ chức có đủ thẩm quyền và điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc chúng; (iii) Việc kinh doanh có sử dụng các loài sinh vật bản địa cho trang trí và tôn tạo cảnh quan cần áp dụng các biện pháp ngăn ngừa các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn; (iv) Đóng góp ủng hộ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm việc hỗ trợ cho các khu bảo tồn thiên nhiên và các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao; (v) Các hoạt động tương tác với môi trường không được có bất kỳ tác hại nào đối với khả năng tồn tại của quần xã sinh vật, cần hạn chế, phục hồi mọi tác động tiêu cực lên hệ sinh thái cũng như có một khoản phí đóng góp cho hoạt động bảo tồn.

1.3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững

1.3.6.1. Năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch

Theo Điều 10 Luật Du lịch của Việt Nam năm 2017, quản lý Nhà nước (QLNN) về du lịch nói chung bao gồm 9 nội dung cơ bản. Trên cơ sở quy định chung về QLNN về du lịch, chính quyền các địa phương có trách nhiệm thực hiện các nội dung này trên địa bàn phù hợp với chức năng của bộ máy chính quyền và phân cấp, phân quyền của Chính phủ. Đối với mỗi địa phương, năng lực QLNN ở mức độ nào sẽ có tác động đến phát triển du lịch bền vững tương ứng ở mức độ đó. Một bộ máy nhà nước của địa phương được xác định là có năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải được tổ chức hợp lý để có thể thực hiện tốt, đầy đủ các chức năng QLNN nói chung nêu trên, đồng thời phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững trong mọi khâu của quy trình quản lý, mọi nội dung của quản lý. Bộ máy đó phải có khả năng xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch thực sự có tầm nhìn dài hạn; có năng lực kiến tạo chính sách và năng lực động viên, tạo môi trường thu hút và tổ chức sử dụng hợp lý, cân đối mọi nguồn lực để hướng sự phát triển của du lịch đạt đến các mục tiêu bền vững. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

1.3.6.2. Ý thức trách nhiệm của cơ sở kinh doanh du lịch, khách du lịch và cộng đồng dân cư địa phương

Trong kinh doanh du lịch, các cơ sở kinh doanh (CSKD) sử dụng, khai thác tài nguyên du lịch và các nguồn lực khác để tạo nên hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu của du khách đồng thời thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hoạt động của CSKD du lịch sẽ trực tiếp góp phần tạo nên doanh thu cho ngành du lịch, đồng thời cũng tác động trực tiếp đến tài nguyên du lịch, tài nguyên thiên nhiên và VHXH nơi có hoạt động du lịch. Nếu các CSKD hoạt động có trách nhiệm thì các cơ sở này sẽ sử dụng hiệu quả, hợp lý tài nguyên và các nguồn lực du lịch khác để góp phần thúc đẩy việc phát triển ngành du lịch bền vững, chia sẻ lợi ích với cộng đồng, đóng góp cho giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo ở địa phương, bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch. Ngược lại, nếu các CSKD du lịch thiếu ý thức trách nhiệm thì việc khai thác, sử dụng các tài nguồn lực sẽ bị lãng phí hoặc quá mức chỉ vì mục tiêu lợi nhuận mà xem nhẹ lợi ích cộng đồng từ đó việc phát triển du lịch sẽ không được bền vững nữa.

Đối với khách du lịch, họ là những người trực tiếp chi trả cho việc tiêu dùng sản phẩm du lịch, tạo nên thu nhập cho ngành du lịch. Bên cạnh đó, khách du lịch  cũng trực tiếp tác động đến tài nguyên du lịch và tương tác với cộng đồng dân cư tại điểm đến, yếu tố trách nhiệm của khách du lịch có tác động, ảnh hưởng quan trọng đến phát triển du lịch bền vững. Chính vì vậy, phát triển du lịch bền vững hay không phụ thuộc vào ý thức, trách nhiệm của du khách với tài nguyên du lịch, với cộng đồng dân bản địa khi tiêu dùng sản phẩm du lịch.

Cộng đồng địa phương vừa là những người trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh một số dịch vụ, hàng hóa phục vụ khách du lịch vừa là nguồn lao động tại các CSKD du lịch; hay góp phần tạo nên sản phẩm du lịch bằng bản sắc văn hóa và truyền thống sinh hoạt văn hóa của cộng đồng địa phương. Bên cạnh đó, cộng đồng địa phương cũng là những người trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc với tài nguyên du lịch. Vì vậy, việc phát triển du lịch bền vững phụ thuộc rất lớn vào ý thức trách nhiệm của cộng đồng địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch.

1.3.6.3. Tài nguyên du lịch

Theo Luật Du lịch của Việt Nam năm 2005, tài nguyên du lịch bao gồm hai nhóm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Tài nguyên du lịch là yếu tố rất quan trọng của hoạt động du lịch, đồng thời cũng là yếu tố tác động đến phát triển du lịch bền vững. Số lượng, chủng loại, cơ cấu, mức độ đa dạng, vị trí và khả năng khai thác của các loại tài nguyên du lịch có tác động trực tiếp và rất lớn đến việc lựa chọn sản phẩm du lịch đặc trưng, xác định các giải pháp phát triển du lịch từ đó tác động đến hiệu quả KTXH và khả năng phát triển của du lịch theo hướng tương ứng của địa phương đó.

1.3.6.4. Trình độ phát triển KTXH, chính sách đối với phát triển du lịch và môi trường an ninh, chính trị, xã hội của địa phương

Trình độ phát triển KTXH của một quốc gia, một địa phương có tác động rất lớn đến việc phát triển du lịch bền vững của quốc gia, địa phương đó. Trình độ KTXH của ở trình độ nào thì ngành du lịch sẽ có được cơ sở, nền tảng và môi trường, điều kiện cho sự phát triển của ngành ở mức độ đó. Bên cạnh đó, tùy theo trình độ và mức độ phát triển KTXH mà phát triển du lịch bền vững cũng có những mục tiêu, tiêu chí đánh giá khác nhau phù hợp với địa phương đó.

Chính sách về phát triển du lịch của một quốc gia, một địa phương cũng ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững. Một địa phương có môi trường an ninh, chính trị, trật tự xã hội ổn định sẽ tạo tạo điều kiện cho các hoạt động thu hút, đang dạng hóa nguồn lực đầu tư du lịch và tạo nên hình ảnh thân thiện, tin cậy và yên tâm cho khách du lịch, thuận lợi cho sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động dụ lịch; từ đó tạo điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển bền vững hơn.

1.3.6.5. Sự liên kết phát triển du lịch giữa các ngành kinh tế và giữa các địa phương với nhau

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, chính vì vậy, mức độ liên kết giữa các ngành liên quan với du lịch có tác động trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững. Nếu mối liên kết này không chặt chẽ, hợp lý thì sẽ xẩy ra những xung đột về quan điểm sử dụng tài nguyên, hạ tầng chung tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi ngành, lĩnh vực. Ngược lại, các ngành và du lịch có mối liên kết giữa tốt sẽ tác động tích cực, giảm chi phí phát triển, giảm nguy cơ xung đột quan điểm phát triển, hỗ trợ nhau tăng trưởng, phát triển bền vững hơn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững chung của cả nền kinh tế.

Mặt khác, các địa phương khi có sự liên kết để phát triển du lịch sẽ tạo điều kiện, mở ra cơ hội cho việc trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng sử dụng tài nguyên hoặc xử lý phù hợp những xung đột trong quan điểm sử dụng tài nguyên cho phát triển du lịch, đa dạng hoá sản phẩm du lịch, kết nối nguồn khách, mở rộng thị trường… để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động du lịch của mỗi mỗi vùng và địa phương. Nếu không có sự liên kết, hợp tác thì hiệu quả và khả năng mở rộng phát triển du lịch bền vững sẽ bị hạn chế rất nhiều, nhất là trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay.

1.3.6.6. Các yếu tố tác động khác

Các yếu tố khác có sự tác động đến phát triển du lịch bền vững như sự suy thoái và khả năng phục hồi kinh tế trên thế giới, nguy cơ suy thoái môi trường, vấn đề tôn giáo và sắc tộc, thiên tai, dịch bệnh… các yếu tố này có tác động theo hướng thuận lợi hay khó khăn đến phát triển du lịch bền vững của từng địa phương, từng quốc giá là tùy thuộc vào sự biến đổi của từng yếu tố đó trong những thời kỳ nhất định.

1.4. Một số mô hình phát triển du lịch bền vững Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

1.4.1. Một số mô hình phát triển du lịch bền vững trên thế giới

Hàn Quốc là quốc gia đã sớm ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy du lịch bền vững. Tháng 8 năm 2008, chiến lước “các-bon thấp, tăng trưởng xanh” đã được tung ra như một tầm nhìn mới cho sự phát triển dài hạn của Hàn Quốc. Năm 2009, “Luật cơ bản về tăng trưởng xanh” có hiệu lực, cũng trong năm “Kế hoạch 5 năm cho tăng trưởng xanh” được công bố để hướng tới một con đường cho tương lai của Hàn Quốc là “tăng trưởng xanh”. Bên cạnh đó, còn có thể kể đến rất nhiều chính sách phát triển bền vững khác như: Chiến lược Phát triển Công nghiệp năng lượng xanh (2008), Quy hoạch Tổng thể ứng phó với biến đổi khí hậu (2008), Dự án Tăng trưởng Xanh Mới (2009), Chiến lược Xúc tiến Tăng trưởng mới (2009),

Các biện pháp toàn diện về Công nghệ xanh R & D (13 tháng 1 năm 2009). Về kế hoạch 5 năm cho tăng trưởng xanh đã vạch ra tầm nhìn, 3 chiến lược và 10 chính sách trực tiếp với tầm nhìn: Mô hình một quốc gia xanh – thông qua việc tạo ra sự hài hòa đạo đức giữa môi trường và kinh tế. Trong đó, 3 chiến lược là: Các biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu và độc lập về năng lượng; Tạo ra các động lực tăng trưởng mới; Cải thiện chất lượng cuộc sống và tình trạng đất nước. Và 10 chính sách trực tiếp:

  • Chuyển đổi mô hình phát triển hướng tới một xã hội với lượng phát thải nhà kính thấp
  • Công nghệ xanh là động cơ tăng trưởng tương lai
  • Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và hướng tới là một nước xuất khẩu mới về ngành công nghiệp xanh
  • Tạo việc làm xanh (công ăn việc làm từ công nghiệp xanh)
  • Chuyển đổi sang mô hình vận tải xanh, xây dựng và kiến trúc xanh, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị sinh thái
  • Cuộc cách mạng sống xanh ở Hàn Quốc
  • Giáo dục và chính sách văn hóa xanh
  • Mô hình thuế xanh và hỗ trợ tài chính chủ động
  • Hàn Quốc là một quốc gia tiên phong trên toàn cầu về tăng trưởng kinh tế xanh.

Như vậy, vấn đề môi trường sinh thái được chính phủ Hàn quốc coi là trọng tâm hướng tới ngành công nghiệp tăng trưởng xanh và đối phó với biến đổi khí hậu và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chiến lược Tăng trưởng xanh của Hàn Quốc là tầm nhìn quốc gia toàn diện, bao gồm cải cách năng lượng và cũng như tạo công ăn việc làm, hồi sinh môi trường, tăng cường năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và thay đổi trong phong cách sống của mỗi công dân. Tăng trưởng xanh là tăng trưởng bền vững làm giảm khí nhà kính và ô nhiễm không khí, là động cơ thúc đẩy kinh tế mới. Chiến lược tăng trưởng xanh là một lựa chọn khôn ngoan cho tương lai toàn cầu của Hàn Quốc và các quốc gia khác.

Mô hình này được triển khai thực hiện với quy mô toàn quốc và được Chính phủ Hàn Quốc quan tâm thì chắc chắn ngành du lịch nói riêng và nền kinh tế – xã hội nói chung của Hàn Quốc sẽ phát triển bền vững, lâu dài.

1.4.2. Một số mô hình phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

1.4.2.1. Mô hình du lịch xanh ở Hà Nội

Một vài năm gần đây, ngành du lịch Hà Nội thử nghiệm một số sản phẩm du lịch, tua, tuyến mang tên “du lịch xanh”, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

Thành phố Hà Nội đang triển khai các giải pháp để nhân rộng loại hình du lịch này, nhằm phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, nhân văn, bảo vệ môi trường sinh thái.

Mô hình du lịch xanh được hình thành ở Hà Nội từ cuối năm 1990, với các tua du lịch trên sông Hồng, du lịch sinh thái, du lịch tại các vùng ngoại thành Hà Nội… Gần đây, ngành du lịch Hà Nội xây dựng các tua du lịch như đưa du khách tham quan khu phố cổ, tham quan Hồ Tây bằng xe điện, du lịch tại làng cổ Ðường Lâm bằng xe đạp… Các sản phẩm du lịch này được khách du lịch, nhất là khách du lịch nước ngoài đánh giá là rất hấp dẫn. Bởi qua mỗi chuyến đi, du khách có cơ hội được tự mình khám phá, cảm nhận những nét văn hóa đặc thù của từng vùng miền.

Trong số những sản phẩm của mô hình du lịch xanh, loại hình du lịch nông nghiệp với tên gọi “Tập làm nông dân” tại các trang trại lớn ở ngoại thành Hà Nội đang thu hút sự quan tâm của nhiều người dân đô thị. Tiến sĩ Ngô Kiều Oanh, Giám đốc Công ty ATC Việt Nam – đơn vị quản lý trang trại Ðồng quê (huyện Ba Vì) cho biết: “Ðến trang trại, khách du lịch được tham gia sản xuất cùng nông dân, được ngắm phong cảnh đồng quê, được thưởng thức và mua các đặc sản tại nơi sản xuất, được giao lưu trò chuyện và thu nhận những kiến thức về cuộc sống đồng quê”. Hiện tại, Công ty ATC Việt Nam phối hợp các trường học tổ chức nhiều tua du lịch nông nghiệp học đường dành cho các em học sinh từ bậc học mẫu giáo đến THPT. Tuy mới xuất hiện và đưa vào hoạt động trong vài năm gần đây, nhưng loại hình du lịch này phát triển khá nhanh, không chỉ giúp khách du lịch có giờ phút nghỉ ngơi thư giãn tại không gian thoáng đãng, mà còn là dịp tốt để những người dân thành phố, kể cả người lớn và trẻ em, có cơ hội được tiếp xúc với thiên nhiên, được trải nghiệm công việc của nhà nông…

Không chỉ triển khai xây dựng sản phẩm du lịch, ý tưởng xây dựng nền du lịch xanh được khách sạn, đơn vị vận chuyển, kinh doanh lữ hành áp dụng bằng biện pháp như: xử lý nước thải tránh gây ô nhiễm, thu gom triệt để rác thải, giảm tiếng ồn, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng cây xanh, hướng dẫn khách du lịch tham gia bảo vệ môi trường… Nhiều đơn vị thực hiện khá tốt, nhằm xây dựng hình ảnh về ngành du lịch thân thiện với môi trường.

Ngành du lịch Hà Nội tiếp tục nhân rộng mô hình du lịch này, nhằm phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, nhân văn, bảo vệ môi trường sinh thái. Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội Trương Minh Tiến cho biết, thời gian tới, ngành du lịch Thủ đô cho ra mắt một số sản phẩm du lịch mới như du lịch sinh thái tại huyện Sóc Sơn, du lịch tâm linh, ăn nghỉ tại nhà dân ở huyện Ba Vì. Các đơn vị trong ngành sẽ đầu tư khai thác giá trị cảnh quan, sinh thái tại khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì, khu danh thắng Hương Sơn, khu vực núi Sóc, hồ Ðồng Quan, xây dựng các tua du lịch sinh thái ven sông Hồng, sông Ðáy… thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng những mô hình du lịch mà Hà Nội đã và đang triển khai chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, ngắn hạn theo từng “đề án” mà rất khó để nhân rộng và bền vững. Nguyên nhân của tình trạng trên là do nhận thức chưa đầy đủ về phát triển du lịch xanh của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp cũng như của các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư; ngành Du lịch chưa xây dựng, ban hành các hướng dẫn đầy đủ về tiêu chí, điều kiện, đánh giá tác động môi trường và hệ thống kiểm soát, quản lý các vấn đề về môi trường liên quan đến các hoạt động du lịch, nhất là với các cơ sở kinh doanh du lịch, gây lúng túng khi áp dụng trong thực tiễn; chưa có nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện và hệ thống về môi trường du lịch làm căn cứ đề ra các giải pháp khai thác hợp lý tài nguyên, đảm bảo môi trường cho phát triển du lịch bền vững.

1.4.2.2. Mô hình phát triển du lịch bền vững tại vịnh Bái Tử Long, huyện Đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Du lịch Vịnh Bái Tử Long chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của huyện đảo Vân Đồn nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chung và là ngành kinh tế chủ đạo trong việc xây dựng mô hình đặc khu Kinh tế hành chính đặc biệt Vân Đồn trong thời gian tới. Du lịch biển đảo vịnh Bái Tử Long hiện nay đang phát triển khá thuận lợi với sự tăng trưởng nhanh của lượng khách (bình quân 14,52%/năm) và được du khách đánh giá cao về giá trị cảnh quan biển đảo. Hoạt động du lịch đã đem lại nhiều doanh thu (666,15 tỷ đồng/năm 2019) và đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương (18,2% GDP), đặc biệt góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm đem lại nguồn thu ổn định cho lao động. Một khảo sát đã được thực hiện với 641 khách du lịch, 100 người dân và 25 cán bộ văn hóa, cán bộ địa phương để nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch và đánh giá tính bền vững của sự phát triển này. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy du lịch Vịnh đang phát triển khá thuận lợi, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương, giảm tỷ lệ hộ nghèo, giải quyết việc làm cho lao động địa phương. Tuy nhiên, hiện nay du lịch biển đảo của Vịnh đang phải đối mặt với những nguy cơ phát triển thiếu tính bền vững: vấn đề về nguy cơ ô nhiễm môi trường biển đảo, sự suy thoái về văn hóa, nguy cơ mất ổn định về an ninh trật tự trên địa bàn. Trước những vấn đề đó, từ năm 2014, huyện đảo Vân Đồn đã thực hiện một số giải pháp sau để phát triển bền vững du lịch biển đảo vịnh Bái Tử Long: Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Giải pháp về quy hoạch và đầu tư phát triển du lịch: Thực hiện ban hành quy hoạch phát triển du lịch vịnh Bái Tử Long; trong đó xem xét sự đồng bộ giữa quy hoạch phát triển du lịch, quy hoạch khu kinh tế với hệ thống quy hoạch nông thôn mới giữa các địa bàn, xã, thị trấn. Thực hiện tốt công tác quy hoạch theo đúng tiến độ. Các hạng mục cần tập trung ưu tiên: xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội thiết yếu, các sản phẩm du lịch vui chơi giải trí bổ trợ tạo động lực phát triển chung.

Phát triển sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch du lịch đảm bảo sự hài lòng của khách du lịch: Xây dựng các sản phẩm du lịch mới gắn với tài nguyên biển đảo và thân thiện với môi trường, tập trung phát triển các sản phẩm du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao biển đồng thời quan tâm tới phát triển các sản phẩm văn hóa làng nghề biển đảo, các sản phẩm du lịch cộng đồng… Chú trọng xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch bổ sung, thay thế để thu hút khách du lịch vào mùa đông là mùa không thuận lợi cho du lịch biển của vịnh như hiện nay. Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đặc biệt dịch vụ lưu trú và các dịch vụ vui chơi giải trí.

Tăng cường và chú trọng các giải pháp bảo vệ môi trường: Thực hiện tăng cường các quy định quản lý môi trường và các công tác thực thi. Thực hiện công tác quản lý thu gom và xử lý rác thải, nước thải, khí thải hợp vệ sinh tại các cơ sở lưu trú, các khu du lịch và các tàu thuyền vận chuyển khách, đồng thời thực hiện đầu tư hệ thống xử lý rác thải phù hợp tại các đảo và các khu vực ven biển. Thường xuyên tổ chức các đoàn liên ngành kiểm tra về môi trường tại các cơ sở kinh doanh du lịch và các bến tàu. Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân cư, khách du lịch và các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn.

  • Thực hiện các giải pháp về xã hội để phát triển du lịch biển đảo bền vững:

Thực hiện đầu tư nâng cấp, tu bổ, tôn tạo có trọng tâm các di tích lịch sử, văn hoá lễ hội truyền thống, phong tục tập quán. Phát triển các làng nghề truyền thống về chế biển thủy sản như nghề làm mắm, đào sá sùng, nuôi cấy ngọc trai… nhằm bảo vệ, gìn giữ những giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể truyền thống vùng biển đảo. Tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự của địa bàn, đặc biệt các khu du lịch, thực hiện xử lý nghiêm các tệ nạn xã hội phát sinh do hoạt động du lịch đem lại; các tệ nạn trộm cắp tài sản từ khách du lịch và sung đột mâu thuẫn giữa người làm du lịch và cộng đồng địa phương.

Nâng cao chất lượng lao động du lịch biển đảo: Cần cân đối cơ cấu lao động trực tiếp, gián tiếp theo cơ cấu của ngành du lịch. Tập trung nâng cao số lượng lao động được đào tạo bài bản, đúng chuyên ngành du lịch cho các cơ sở kinh doanh du lịch.

Tăng cường quảng bá xúc tiến và hợp tác du lịch: Tỉnh Quảng Ninh nói chung, huyện Vân Đồn nói riêng cần ưu tiên đối với các hoạt động nghiên cứu thị trường du lịch biển đảo. Xã hội hóa các hoạt động xúc tiến quảng bá, đặc biệt việc tạo dựng hình ảnh vịnh Bái Tử Long tới gần du khách và công chúng.

Các giải pháp này đã được đề xuất, tuy nhiên, các cấp, các ngành, người dân địa phương và các doanh nghiệp trên địa bàn vịnh Bái Tử Long chưa thực hiện nghiêm túc, đồng bộ cũng như có sự trợ giúp lẫn nhau trong quá trình khai thác, sử dụng và phát triển du lịch tại đây. Chính vì vậy, trong thời gian tới để du lịch biển đảo vịnh Bái  Tử Long được phát triển một cách bền vững rất cần có các chính sách và giải pháp đồng bộ và cần có sự hỗ trợ và phối hợp tích cực của nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

1.4.2.3. Mô hình phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững

Hiện nay du lịch cộng đồng đang được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích phát triển kinh tế bền vững nhất cho cư dân bản địa. Du lịch cộng đồng không chỉ giúp người dân bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, mà còn bảo tồn và phát huy những nét văn hoá độc đáo của địa phương. Việt Nam có nhiều tiềm năng về cảnh quan thiên nhiên, giá trị về lịch sử, văn hóa bản địa của các dân tộc, tập tục và lối sống, văn hóa ẩm thực phong phú của các vùng miền là cơ sở để phát triển mạnh loại hình du lịch cộng đồng.

Du lịch cộng đồng thường được hiểu là hoạt động của một cộng đồng dân cư tham gia làm du lịch. Hoạt động này bắt đầu là tự phát ở những nơi có các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử hấp dẫn du lịch mà dân cư tại chỗ tham gia vào phục vụ nhu cầu của du khách. Một thực tế thường diễn ra là các doanh nghiệp đưa/dẫn khách đến phần lớn là khai thác tiềm năng địa phương chứ chưa chú trọng đến lôi kéo cộng đồng cư dân địa phương cùng làm du lịch. Khi phân chia lợi ích, đôi khi quyền lợi giữa doanh nghiệp và cộng đồng không thống nhất, phần thiệt thòi thường thuộc về phía cộng đồng, dẫn đến bất trắc và làm cho du khách không hài lòng.

Để phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững rất cần phải phát huy được yếu tố tích cực, hạn chế và giảm thiểu mặt tiêu cực. Muốn vậy cần phải có chiến lược phát triển du lịch theo hướng bền vững, chú trọng tăng cường tính văn hóa trong hoạt động du lịch. Định hướng đúng đắn phát triển du lịch nói chung và từng địa phương nói riêng dưới góc độ này là tập trung phát triển du lịch cộng đồng theo hướng du lịch văn hoá, lịch sử, sinh thái; nhằm đạt đồng thời hiệu quả kinh tế và xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ được môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Hoạt động du lịch cộng đồng phải làm giàu thêm bản sắc và truyền thống dân tộc, làm đẹp thêm cảnh quan môi trường, ngăn chặn không cho các tiêu cực và tệ nạn xã hội xâm nhập vào hoạt động kinh doanh.

1.4.3. Bài học kinh nghiệm được rút ra để phát triển du lịch bền vững

Từ những kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của Hàn Quốc, của Hà Nội, Quảng Ninh và mô hình phát triển du lịch cộng đồng, tác giả có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn cho phát triển bền vững tại Đảo Yến, Khánh Hòa như sau:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng chiến lược và kế hoạch chi tiết.

Cần có sự liên kết các tổ chức, ban ngành liên quan để cùng nhau tham gia vào hoạt động phát triển du lịch của địa phương. Tích cực quảng bá, tiếp thị hiệu quả dựa trên tiềm năng độc đáo của địa điểm du lịch, xây dựng hệ thống thông tin chi tiết để phục vụ du khách tìm hiểu về địa phương. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

  • Song song với việc khai thác tài nguyên du lịch, các địa phương cần có các giải pháp bảo vệ và tôn tạo các tài nguyên du lịch quan trọng như cảnh quan thiên nhiên, các công trình và di sản văn hóa của địa phương để du lịch phát triển bền vững.
  • Cần nêu cao vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng dân cư liên quan đến các tài nguyên du lịch địa phương. Có như vậy, cộng đồng địa phương mới cùng chung tay phát triển du lịch bền vững.
  • Cần xây dựng các sản phẩm dịch vụ du lịch có chất lượng hợp lý từ dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ nghỉ ngơi và dịch vụ ăn uống… để thu hút khách du lịch và nâng cao thu nhập từ các dịch vụ đó cho địa phương và doanh nghiệp.
  • Thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, phát triển các ngành nghề địa phương phục vụ du lịch, việc khai thác và phát triển các ngành nghề truyền thống phục vụ du lịch cũng chính là cách làm du lịch bền vững, tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương, tích cực cải thiện môi trường xung quanh khu du lịch.

1.5. Tiểu kết chương 1

Nội dung chương 1, tác giả đã trình bày, phân tích các nội dung liên quan đến phát triển du lịch bền vững như: Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc phát triển du lịch bền vững. Nội dung trọng tâm của chương 1 là xây dựng các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững. Dựa vào Bộ tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu do Hội đồng du lịch toàn cầu xây dựng, bao gồm 4 nhóm chỉ số là (1) Quản lý hiệu quả và bền vững; (2) Gia tăng lợi ích kinh tế xã hội và giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương; (3) Gia tăng lợi ích đối với các di sản văn hóa và giảm nhẹ các tác động tiêu cực và (4) Gia tăng lợi ích môi trường và giảm nhẹ tác động tiêu cực. Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến.

Bên cạnh đó, chương 1 cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển du lịch bền vững tại các địa phương và rút ra những bài học kinh nghiệm từ các mô hình phát triển du lịch bền vững trong và ngoài nước.

Đây là những nội dung quan trọng, là tiền đề, cơ sở để tác giả tiếp tục phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp phát triển du lịch tại Đảo Yến, Khánh Hòa trong nội dung chương 2 và chương 3 của luận văn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến

One thought on “Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Đảo Yến

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *