Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản 

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng về thị trường khách du lịch nhật bản dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Những xu hướng chính tác động tới thị trường khách Nhật đi du lịch nước ngoài

Theo ông Naoto Katsumata, chuyên gia tư vấn WTO kiêm nghiên cứu viên viện phát triển du lịch quốc tế Nhật Bản (IITDJI) thì xu hướng chính tác động tới thị trường khách Nhật đi du lịch nước ngoài là:

Du lịch là một phần của đời sống và lối sống Nhật Bản. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, người Nhật đã luôn luôn tin rằng:

  • Giá đất và giá chứng khoán tiếp tục tăng cao.
  • Vốn đầu tư cho tập đoàn, công ty và chi phí tiêu dùng tiếp tục tăng.
  • Nhân viên làm việc cả đời tiếp tục trở thành một thực tế chung trong các doanh nghiệp Nhật Bản.
  • Doanh nghiệp của Nhật hiện nay đã dành ra nhiều thời gian nghỉ, nhiều kỳ nghỉ hơn cho nhân viên.
  • Người Nhật đã biết cách giảm tốc độ làm việc của họ và bắt đầu tận hưởng cuộc sống với gia đình.

Từ những thay đổi trên về thái độ của người Nhật với cuộc sống, một thay đổi trong quan niệm về giá trị, ngành công nghiệp du lịch Nhật Bản có đủ mọi lý do để phát triển trong tương lai. Đi du lịch đang dần dần trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống và lối sống của người dân Nhật.

Sự gia tăng khách du lịch nữ, người nghỉ hưu và đi với gia đình, cùng với du lịch nghỉ tuần trăng mật.

  • Thị trường du khách nữ.
  • Thị trường những du khách đã nghỉ hưu. Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .
  • Thị trường những người đi du lịch với gia đình.
  • Thị trường những người đi nghỉ tuần trăng mật.

Toàn bộ các phân đoạn trên đều thuộc loại khách đi du lịch độc lập (FIT) hay thị trường khách du lịch đơn lẻ.

Trong tất cả các du khách nữ, số khách trong độ tuổi 20 – 29 tăng nhanh hơn cả. Đặc biệt phổ biến là những khách “OL (office lady) – nữ viên chức”, những quý cô làm việc trong các văn phòng, hay là những nhóm sinh viên nữ vừa tốt nghiệp trở thành phân đoạn thị trường lớn nhất, dẫn đầu vì những phụ nữ Nhật còn độc thân đã biết hưởng thụ tự do và tiền bạc của họ trước khi lập gia đình. Những đối tượng này chiếm tỷ lệ cao trong tổng số khách nữ người Nhật Bản du lịch ra nước ngoài.

Thứ hai là đến những người về hưu. Theo Viện nghiên cứu những vấn đề dân số thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi, quá trình già đi của xã hội Nhật đã đang có nhiều tiến triển với một tốc độ nhanh hơn bất cứ nước nào trên thế giới. Đến năm 2007, ước tính dân số Nhật sẽ lên tới đỉnh điểm là 128.640.000 người, cứ 5 người dân sẽ có một người từ 65 tuổi trở lên. Thực tế quan trọng hơn là số người hưởng lương hưu – những người trên 60 tuổi dự tính sẽ tăng gấp 3 trong vòng 30 năm tới, từ 12,7 triệu lên đến 30,8 triệu người. Những con số này đã đưa ra gợi ý đối với ngành du lịch là hàng triệu người lĩnh lương hưu sẽ có nhiều thời gian rỗi hơn và nghỉ hưu một cách thoải mái. Số người nghỉ hưu ngày càng tăng mỗi năm sẽ làm tăng các chuyến du lịch nước ngoài và biến nó thành một phương thức nghỉ ngơi cần thiết hay một phần không thể thiếu trong cuộc đời của họ.

Thứ ba, thị trường khách du lịch gia đình. Đã từng mang tiếng là những người tham công tiếc việc, nay người Nhật đã bắt đầu quay lại nơi mà họ thuộc về đó là gia đình. Hàng triệu người “làm công ăn lương” đã coi công việc làm ăn là một thứ quan trọng hàng đầu trong nhiều thập kỷ. Ngày nay, họ dường như đã biết cách giảm chậm lại, thư giãn và tận hưởng cuộc sống – cuộc sống với gia đình mình trong lúc nền kinh tế tăng trưởng chậm và suy thoái kéo dài. Khoảng vài năm gần đây số du khách đi du lịch cùng gia đình mặc dù còn nhỏ bé về số tuyệt đối nhưng cũng tăng đều đặn.

Thứ tư, thị trường khách du lịch đi nghỉ tuần trăng mật. Trong những năm gần đây, người Nhật có phong trào đi nghỉ tuần trăng mật ở nước ngoài. Số lượng những người này chiếm một tỷ lệ cũng không nhỏ trong tổng số người Nhật đi du lịch ra nước ngoài. Trung bình chi tiêu cho chuyến đi là 10.000 USD.

Theo kết quả khảo sát về xu hướng du khách Nhật đi du lịch Việt Nam và các nước Asean của Công ty tiếp thị Nhật Bản (có trụ sở chính tại Nhật) vừa công bố mới đây, có đến trên 88% du khách Nhật mê món ăn Việt Nam. Theo kết quả của nghiên cứu này, mua sắm tại Việt Nam cũng được du khách Nhật khá thích thú, với kết quả 82% du khách khẳng định có đi mua sắm khi đến Việt Nam. Về mục đích của du khách Nhật đến Việt Nam, có đến 69% cho biết đến Việt Nam với mục đích nghỉ ngơi và 17,6% với mục đích thương mại – đầu tư, so với các nước trong khu vực là 66% và 11,7%. Tuy nhiên, về xu hướng khách du lịch Nhật Bản trở lại chỉ có 3,3% du khách khẳng định trở lại Việt Nam lần 2 và 5,7% trở lại lần 3, so với các nước trong khu vực là 13,8% và 25,7%.[54]

Về xu hướng của thị trường khách du lịch Nhật Bản hiện nay

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, chúng ta luôn tưởng tượng hình ảnh của những người Nhật đó là những nhân viên làm việc cả đời, chỉ có 10 ngày nghỉ trong năm và tiêu dùng số tiền kiếm được bằng việc sử dụng những hàng hoá, dịch vụ nổi tiếng, hợp mốt và cao giá. Thế nhưng, từ sau những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế đã dần dần làm thay đổi hình ảnh đó. Quan niệm tiêu dùng cũng đã thay đổi theo. Người Nhật tìm đến nhiều hơn với những hàng hoá, dịch vụ tiện ích và kinh tế. Kiểu thái độ “tiền không thành vấn đề” dường như đã biến mất và họ trở nên tỉnh táo và kén chọn giá trị dịch vụ đúng như nhu cầu của mình. Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Điều này cũng được thể hiện trong việc lựa chọn các chương trình du lịch. Trước kia, với 10 ngày nghỉ trong năm, họ luôn phải lên lịch trình rất chặt chẽ cho những chuyến du lịch của mình. Họ sử dụng những dịch vụ hoàn hảo và chủ yếu nhằm vào các nước Mỹ, Úc, Anh, Pháp và một số quốc gia châu Âu khác.

Thế nhưng hiện nay, từ những nhân viên làm việc quên nghỉ, người Nhật đã bắt đầu biết giảm tốc độ làm việc của họ và tận hưởng cuộc sống. Họ có nhiều thời gian hơn. Và điểm đến nhiệt đới Đông Nam Á thanh bình, an toàn, chi phí phải chăng, đã trở nên hấp dẫn hơn trong mắt du khách Nhật. Điều này là do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, đó là những biến động của tình hình an ninh, chính trị và kinh tế tại các nước như Mỹ và một số nước châu Âu và khu vực Trung Đông… đã khiến cho người Nhật trở nên thận trọng hơn. Họ lo sợ nạn khủng bố sẽ không đảm bảo cho sự an toàn của họ. Thứ hai, người Nhật có nhiều thời gian hơn và đồng thời suy xét sáng suốt hơn, tỉnh táo hơn để lựa chọn những chương trình du lịch phù hợp và hấp dẫn. Thứ ba, đó là vì hiện nay, tại một số nước Đông Nam Á, du khách Nhật cũng có thể tìm thấy được những dịch vụ khá hoàn hảo mà không phải bỏ ra quá nhiều tiền.

Khách du lịch Nhật Bản tới Việt Nam là những đối tượng nào?

Trong một vài năm gần đây, Việt Nam cũng đã trở thành một trong những nơi được người Nhật chú ý tới trong khu vực. Tuy nhiên, hầu như chúng ta mới chỉ chủ yếu thu hút được một số ít khách thuộc 3 phân đoạn thị trường đó là: Phân đoạn thị trường du khách nữ; Phân đoạn thị trường du khách nghỉ hưu; Phân đoạn thị trường du khách thanh niên – sinh viên.

Hầu như toàn bộ các tập khách thuộc 3 phân đoạn thị trường này đều là  khách đi lẻ (FIT). Điều này lý giải tại sao ta thường bắt gặp trên đường 2 cô gái Nhật, hoặc 1 nhóm người Nhật cao tuổi đi với nhau. Rất ít khi chúng ta thấy họ đi theo theo một đoàn đông như kiểu khách du lịch Trung Quốc, hoặc khách du lịch Pháp.

Phân đoạn thị trường khách nữ mà hầu hết là Office Lady (Nữ viên chức) người Nhật đang ngày một mở rộng. Phụ nữ Nhật hiện nay lập gia đình muộn hơn. Họ tự chủ về kinh tế và biết hưởng thụ tự do, tiền bạc mà họ kiếm ra trước khi lập gia đình. Xu hướng của họ là tới thăm các nước Đông Nam Á và Trung Hoa. Những du khách thuộc đối tượng này thường đi theo một nhóm nhỏ (không quá 10 người) và mua sắm rất nhiều đồ thủ công mỹ nghệ.

Họ thích hưởng thụ những dịch vụ về lưu trú và ăn uống có chất lượng cao.

Phân đoạn thị trường du khách Nhật thứ hai thường lựa chọn đến Việt Nam là các vị đã nghỉ hưu. Theo dự báo của chính phủ, xã hội Nhật đang ngày càng già đi. Ước tính tới năm 2007, dân số Nhật sẽ lên tới 128.640.000 người và cứ 5 người dân thì có sẽ có 1 người trên 65 tuổi. Vậy là hàng triệu người lĩnh lương hưu, có nhiều thời gian rỗi sẽ đi du lịch nước ngoài. Thiết nghĩ, các công ty du lữ hành của chúng ta nên chú y hơn tới việc đáp ứng nhu cầu và sở thích của đối tượng khách nghỉ hưu này để có thể khai thác được tốt nhất. Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Phân đoạn thị trường thứ ba là sinh viên và thanh niên Nhật. Đối tượng này thường thích đi theo kiểu du lịch du lịch ba lô và họ rất thích tìm hiểu về lối sống và văn hoá của địa phương thông qua việc tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng, hoạt động của các tổ chức từ thiện… Họ thích tiếp xúc trực tiếp với người dân, ở ngay trong những ngôi nhà của cư dân địa phương, cùng ăn những món ăn gia đình hơn là ở những khách sạn sang trọng và ăn tại nhà hàng dành cho khách du lịch.

Ngoài ra, ở Việt Nam còn một số lượng khách nhỏ người Nhật đi du lịch theo kiểu gia đình, và các doanh nhân tìm hiểu để hợp tác về kinh tế… nhưng thị phần này chưa nhiều và chúng ta cũng chưa đủ điều kiện về dịch vụ hoàn hảo để đáp ứng cho những nhu cầu rất cao của các đối tượng khách là doanh nhân và khách gia đình này.

Vậy đặc tính của các đối tượng khách thuộc 3 phân đoạn thị trường này là gì?

Thứ nhất, về tập quán và thói quen tiêu dùng, những người phụ nữ Nhật vốn nổi tiếng là kỹ tính. Thực chất họ đã quen với những dịch vụ và tiện nghi có chất lượng cao. Cụ thể họ đặt ra những tiêu chuẩn cho dịch vụ khi đi du lịch phải gồm 4 chữ C và 1 chữ S:

  • Comfort (tiện nghi)
  • Convenience (thuận tiện)
  • Cleanliness (sạch sẽ)
  • Courtesy (lịch sự)
  • Safety (an toàn)

Hầu hết các khách sạn ở Nhật Bản đều phải đáp ứng được những tiêu chuẩn này. Trong một quảng cáo trên mạng Internet của khách sạn Ryokan – Tokyo, người ta mô tả cách đón tiếp khách như sau: khi bạn bước tới lối vào của Ryokan, một nhân viên Ryokan sẽ cúi gập người chào đón bạn. Anh ta sẽ xách túi cho bạn và chỉ cho bạn đến phòng của mình. Nước chè được sắp sẵn và một nữ phục vụ khác sẽ mang đến cho bạn một Yakata (đồ mặc trước và sau khi tắm kiểu Nhật) vừa vóc dáng của bạn. Trong phòng tắm có rất nhiều kích cỡ khăn tắm, chủng loại mỹ phẩm, dầu tắm, dầu gội để bạn lựa chọn. Có đủ cả máy sấy tóc, dao cạo râu, bàn chải. Điều này dường như rất ít khi thấy trong các phòng tắm của các khách sạn ở Việt Nam. Sau đó, khi rời khỏi phòng tắm, bạn sẽ thấy một bồ đồ sạch sẽ và chiếc giường đã sẵn sàng chờ bạn ngả lưng. Người Nhật vốn đã có thói quen không phải mang gì theo khi ở các khách sạn kiểu Nhật Bản. Và họ cũng rất mong muốn kiểu phục vụ như vậy ở các nước khác. Nhưng hiện nay ở Việt Nam thì khó tìm thấy kiểu khách sạn hoàn hảo như vậy. Đây là một hạn chế của chúng ta mặc dù những tiện nghi và kiểu phục vụ như vậy hoàn toàn có thể làm được. Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Đặc tính thứ hai, người Nhật Bản trong giao tiếp từ trang phục, hành vi đều nhã nhặn, lịch sự, khiêm tốn, tự trọng dân tộc và vị tha nhưng họ cũng rất nguyên tắc, cứng nhắc, khó thương lượng, khó thay đổi. Họ thích kỷ luật và tuân thủ thời gian, không muốn chờ đợi lâu. Họ đặc biệt thích sự đúng giờ, nhất là đối với những người làm việc tại các công sở. Vì vậy, trong các chương trình du lịch, những người Nhật sẽ đòi hỏi phải thật chính xác về thời gian. Mọi yếu tố về thời gian đưa đón, phương tiện vận chuyển, người điều khiển, chương trình, nội dung và con người cụ thể khi làm việc đều phải được thể hiện ra trên giấy tờ, văn bản. Họ ít khi chấp nhận sự thiếu chính xác do chủ quan mang lại. Điều này cũng lý giải tại sao khi vào các nhà hàng, khách du lịch rất thích được phục vụ nhanh chóng. Nếu bữa ăn đã được chuẩn bị chu đáo thì họ sẽ hoàn toàn yên tâm. Đặc biệt, với các quý cô, một nam nhân viên phục vụ ân cần, nhanh nhẹn và mến khách là hình ảnh đem lại ấn tượng rất tốt đối với họ.

Một đặc tính nữa của những du khách Nhật Bản, đó là họ rất tò mò, rất thích tìm hiểu (nhất là những du khách thuộc đối tượng nữ viên chức và sinh viên, thanh niên). Thay vì ngồi trong phòng khách sạn, họ luôn ra ngoài để xem, ăn uống, thử mua bán, giải trí. Họ sẽ hỏi hướng dẫn viên rất nhiều về những mặt hàng. Thường họ mua rất nhiều đồ mỹ nghệ và quần áo bằng chất liệu vải lụa tơ tằm Việt Nam để làm quà tặng cho những người thân khi về nước. Họ sẽ rất thích thú nếu bạn chỉ cho họ được địa điểm để xem rối nước, ăn đặc sản, mua sắm đồ thủ công mỹ nghệ mà giá cả thấp hơn so với những mức giá được ghi trong sách hướng dẫn du lịch. Và đặc biệt hơn cả là những vị khách người Nhật sẽ rất hài lòng nếu như họ nhận được một món quà lưu niệm của đơn vị kinh doanh du lịch gửi tặng.

Về ngôn ngữ, người Nhật thích những hướng dẫn viên nói tiếng Nhật. Đa số người dân Nhật đều học tiếng Anh (nếu là trung học thì 6 năm còn đại học thì học 10 năm), nhưng chủ yếu họ chú trọng vào 2 kỹ năng đọc và viết. Vì vậy, hướng dẫn viên tiếng Anh sẽ không được khách Nhật thích bằng hướng dẫn viên nói bằng chính ngôn ngữ của họ. Một điều đặc biệt cần phải lưu ý khi giao tiếp với người Nhật là họ rất ít khi nói đúng suy nghĩ của mình. Họ thường không khi nào trả lời không, hay nói ngược lại với ý thích của mình. Người Nhật họ rất giỏi trong việc che giấu cảm xúc. Vì vậy mà chúng ta rất khó để có thể biết khách có thực sự hài lòng với chương trình du lịch hay không. Thường thì họ sẽ không phàn nàn tới hãng hoặc công ty lữ hành gửi khách khi họ đã về nước.

 Về tôn giáo, hầu hết những du khách Nhật được hỏi đều trả lời rằng họ theo đạo Phật. Họ thích tới tham quan các công trình văn hoá nghệ thuật, di tích lịch sử mang tính tôn giáo và biểu hiện được đặc điểm kiến trúc, tính dân tộc của nơi họ đến tham quan. Đặc biệt, người Nhật rất kỵ số 4. Trong tiếng Nhật “shi” là số 4 và cũng có nghĩa là cái chết. Họ thích những chữ số lẻ. Vì vậy, bạn sẽ không được đánh giá cao nếu như bạn xếp cho họ những phòng khách sạn mang số 4. Những người khó tính, họ còn không chấp nhận sự sắp xếp này. Và ngay lập tức họ sẽ cho rằng, bạn chưa thật hiểu về họ.

Người Nhật, đặc biệt là du khách nữ, rất thích áo dài, đồ gốm và món ăn Việt Nam. Vì vậy, nếu được tham gia vào một công đoạn sản xuất thủ công như vẽ lên gốm, hoặc làm món ăn kiểu Việt Nam thì họ sẽ rất hài lòng.

Thế nhưng, trong một chuyến đi dài, họ cũng thích được ít nhất một lần ăn những món ăn Nhật Bản tại địa phương họ tới tham quan du lịch. Nếu như trên bàn ăn của Việt Nam mà lại có bình nước tương kiểu Nhật thì nghĩa là biểu hiện sự hiếu khách của chúng ta và điều này sẽ tạo được ấn tượng rất tốt đẹp cho những vị khách Nhật Bản.

Trong một cuộc trò chuyện với lưu học sinh Việt Nam tại một trường Đại học ở Nhật, một vị giáo sư đã nói: “Việt Nam – hơn cả những điều tưởng tượng. Mọi cái đều vượt ra ngoài những gì tôi đã nghĩ”. Câu nói này đã phản ánh một thực tế về tiềm năng của Việt Nam đối với khách du lịch Nhật Bản. Thế nhưng, để có thể thu hút được không chỉ thị trường khách đi lẻ mà còn nhiều hơn nữ khách du lịch Nhật đi theo đoàn, việc đầu tiên là phải hiểu được người Nhật, hiểu họ mong muốn gì khi tới Việt Nam. Có hiểu được họ, chúng ta mới có thể mang đến cho họ những sản phẩm lữ hành tốt nhất, độc đáo và hấp dẫn. Đặc biệt, đối với những nhân viên phục vụ trực tiếp trong ngành, mà quan trọng là đội ngũ các hướng dẫn viên du lịch, thì việc giao tiếp và hiểu về văn hoá Nhật Bản, hiểu được đặc tính và xu hướng của người Nhật khi đi du lịch là điều cần thiết nhất. [34, 58 – 61]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.2. Thực trạng khai thác thị trường khách Nhật Bản tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Nhật Bản là một trong những thị trường du lịch trọng điểm của du lịch Hà Nội nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung. Lượng khách du lịch từ Nhật Bản vào Hà Nội luôn chiếm vị trí cao (thứ 2/ hoặc 3) trong 10 thị trường khách du lịch quốc tế hàng đầu và có chiều hướng tăng mạnh trong giai đoạn 1999 – 2002. Do ảnh hưởng của dịch bệnh SARS và cúm gia cầm nên trong năm 2003 lượng khách du lịch Nhật Bản đến Hà Nội giảm nhiều. Từ năm 2004 đến nay lượng khách Nhật Bản đã có dấu hiệu tăng trưởng tốt. Năm 2004, lượng khách Nhật Bản vào Hà Nội là 81.712 lượt khách chiếm 8,6% tổng lượng khách quốc tế đến Hà Nội và chiếm 28,5% khách du lịch Nhật Bản đến Hà Nội trong năm 2005 ước tính đạt 100.119 lượt khách chiếm 9% tổng lượng khách Nhật Bản đến Việt Nam, tăng 23% so với năm 2004 và tăng 7% so với năm 2002 (năm tăng trưởng cao nhất của giai đoạn trước khi xảy ra dịch bệnh SARS và cúm gia cầm).

Trung bình một du khách Nhật chi tiêu trong một ngày lớn hơn nhiều so với khách ở nước khác. Người Nhật đặc biệt chi nhiều cho các dịch vụ lưu trú (47%), số tiền chi cho dịch vụ giải trí còn quá ít (12%). Đây là điểm cần chú ý khi xây dựng chương trình cho khách Nhật bởi vì thực sự hiện nay các địa điểm giải trí của ta còn quá nghèo nàn, khó thu hút được họ.

Khách du lịch đến Việt Nam chủ yếu là khách đi du lịch thuần tuý và du lịch kết hợp với mục đích kinh doanh, phần lớn mua tour trọn gói qua các công ty gửi khách. Khách Nhật tới Việt Nam qua đường hàng không là chính chiếm 90%, còn lại là đường biển và đường bộ.

Một số nguyên nhân hạn chế khách Nhật Bản đến Việt Nam

Thứ nhất, tài nguyên du lịch có tiềm năng phong phú, hấp dẫn nhưng việc khai thác để tạo nên sức hút cho sản phẩm du lịch còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Số lượng, chủng loại sản phẩm du lịch chưa đa dạng, chưa thể hiện rõ nét bản sắc văn hoá. Chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu của khách, chưa khai thác được cảnh quan môi trường, các giá trị văn hoá lịch sử độc đáo của dân tộc, bỏ lỡ nhiều cơ hội thu hút nguồn du khách từ bên ngoài nhất là các thị trường Mỹ, Đức, Nhật… Nếu không nhanh chóng khai thác tiềm năng, chậm chạp trong đa dạng hoá sản phẩm, chất lượng phục vụ du lịch yếu kém thì lượng du khách Nhật Bản trong những năm tiếp theo sẽ không tăng hoặc tăng chậm và quan trọng hơn là thời gian lưu trú của khách sẽ ngắn ngày nên mức chi tiêu của họ thấp.

Thứ hai, chương trình du lịch còn thiếu sự phong phú, quá đơn điệu, thiếu tính độc đáo và hầu như giống nhau với mọi loại khách, ở mọi thời điểm. Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp lữ hành chỉ tìm kiếm các di tích, danh lam thắng cảnh có sẵn rồi xâu chuỗi chúng lại, kết hợp với các cơ sở dịch vụ du lịch là thành một tuyến du lịch cho khách du lịch Nhật Bản còn các loại hình du lịch như các tour du lịch khám phá mạo hiểm (lặn biển, chèo thuyền, leo núi) còn rất ít chưa thu hút được một số lượng khách lớn. Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Thứ ba, giá các chương trình du lịch của Việt Nam thường cao hơn so với các nước trong khu vực vì giá vé máy bay và thuế VAT cao làm “đội giá” toàn chương trình. Điều này làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các tuyến du lịch tại Việt Nam.

Thứ tư, quảng cáo tiếp thị của các doanh nghiệp lữ hành chưa tạo được sức hút đối với du khách Nhật Bản. Mặc dù vài năm trở lại đây đã xuất hiện nhiều ấn phẩm như Guidebook, CD – ROM, băng video, tập gấp, tờ rơi….giới thiệu về Việt Nam song hầu như các ấn phẩm đó chưa được tuyên truyền rộng rãi, những hình ảnh về Việt Nam qua các phương tiện truyền thông đến với người nước ngoài một là quá ít, hai là bị lệch lạc. Các website về du lịch Việt Nam, các CD – ROM ấn phẩm bằng tiếng Nhật chưa có để tuyên truyền quảng bá ở thị trường này. Các băng video, tài liệu phần lớn là những băng quá cũ hoặc không được kiểm soát chặt chẽ. Các doanh nghiệp lữ hành cũng tự xuất bản các ấn phẩm của riêng mình, tự quảng cáo về mình qua sách, báo, tivi… nhưng cơ hội tiếp xúc với các hãng lữ hành quốc tế và khách hàng một cách trực tiếp để quảng cáo thì hầu như không có.

Thứ năm, cơ sở vật chất có chất lượng cao phục vụ du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch Nhật Bản: thiếu khách sạn cao cấp từ 3 sao trở lên, không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường, gây tình trạng căng thẳng thiếu phòng thường xuyên và thực tế các hãng lữ hành đã phải từ chối nhiều đoàn khách quốc tế muốn đến thăm Việt Nam. Thiếu phương tiện vận chuyển hiện đại cho khách du lịch. Hệ thống taxi tuy đủ về số lượng nhưng chất lượng phục vụ chưa thực sự tốt. Dịch vụ vui chơi giải trí còn thiếu và kém chất lượng, thiếu khu vui chơi giải trí, khu du lịch, trung tâm triển lãm, trung tâm thương mại mang tầm cỡ quốc gia và đạt tiêu chuẩn quốc tế. Cơ sở hạ tầng và giao thông còn hạn chế nên việc vận chuyển du khách còn chiếm nhiều thời gian, ảnh hưởng đến thời gian nghỉ, tham quan… không phù hợp với tâm lý yêu cầu của du khách.

Thứ sáu, mối quan hệ quốc tế của các hãng lữ hành chưa được mở rộng. Hiện nay, du lịch Việt Nam đã ký hợp tác du lịch song phương với 13 nước. Đã ký, tham gia hợp tác đa phương trong khuôn khổ ASEAN, tiểu vùng Mê Kông mở rộng, EU, ba nước Việt – Lào – Thái Lan.

Thứ bảy, khách Nhật ít quay lại Việt Nam, đặc biệt là ít đối với lần thứ ba. Nguyên nhân là do họ thiếu thông tin, không hài lòng lắm khi đi mua sắm (sản phẩm còn nghèo nàn) và không thấy thông tin về hệ thống chăm sóc sức khoẻ. Ngoài ra lý do còn là cơ sở hạ tầng của Việt Nam yếu kém và du lịch Việt Nam chưa thực sự hướng tới khách du lịch giàu có.

Các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam quan hệ với trên 1000 công ty của trên 50 nước nhưng hiện tại mới chỉ có 15 doanh nghiệp lữ hành gia nhập Hiệp hội các hãng lữ hành Nhật Bản (JATA) nên khả năng thâm nhập thị trường Nhật Bản còn rất hạn chế 15 doanh nghiệp lữ hành Việt Nam là thành viên của JATA: Công ty du lịch thành phố Hồ Chí Minh, Công ty du lịch Hương Giang, OSC Việt Nam, Công ty du lịch Việt Nam tại Hà Nội, Công ty du lịch Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, Công ty du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng, Công ty du lịch và dịch vụ Hà Nội, Công ty điều hành hướng dẫn du lịch Vinatour, Công ty du lịch dịch vụ Bến Thành, Công ty du lịch dịch vụ Hạ Long, Công ty du lịch Khánh Hoà, Hàng không Việt Nam, Công ty du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng, Công ty du lịch Hà Nội.

Những công ty lữ hành Việt Nam tham gia khai thác thị trường khách Nhật đó là: Công ty du lịch Hương Giang, Saigontourist, Vietravel, Fiditour, Công ty du lịch – dịch vụ OSC – SMI.

Một số hãng lữ hành có quan hệ gửi khách với các công ty lữ hành Việt Nam là: Japan Travel Bureau, Nippon Travel Agency, Kinki Nippon Tourist, Jalpak, Jetour Corp, H.I.S, Nippon Express và một số hãng lữ hành khác.

2.3. Thị trường khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

2.3.1. Số lượng khách

Trong vài năm trở lại đây, ngành du lịch Việt Nam đón nhận một xu hướng “bùng nổ” dòng khách Nhật đi du lịch Việt Nam. Nếu như cách đây hơn 10 năm, lượng khách Nhật đến Việt Nam chỉ dừng lại con số ít ỏi hơn 1.000 khách, thì đến năm 2002 đã tăng lên đến gần 300.000 khách. Hàng năm, số người Nhật đi du lịch các nước khoảng 18 triệu người, nhưng chỉ 1% trong số này đến Việt Nam (cứ 3,5 triệu/18 triệu lượt người đến ASEAN, trong đó tới Thái Lan 1,3 triệu, tới Singapore 0,9 triệu, tới Indonesia là 0,6 triệu). [56]

Những năm gần đây, lượng khách Nhật Bản đến Việt Nam có chiều hướng tăng lên, đặc biệt là sau khi đường bay trực tiếp từ thành phố Osaka đến thành phố Hồ Chí Minh được mở. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, lượng khách Nhật Bản đến Việt Nam năm 2000 là 142.900 người, năm 2001 tăng lên 205.100 người, năm 2002 tăng lên 279.800 người, sau đó lượng khách chững lại và chỉ đạt hơn 209.600 người vào năm 2003 và hơn 267.210 vào năm 2004. Và đến năm 2005, lượng khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam đạt 320.605 người. Trong khi đó, chỉ xét riêng năm 1996, lượng khách Nhật Bản đến các nước ASEAN đạt 3,4 triệu người, trong đó lượng khách đến Singapore là 1.171.899 người, đến Thái Lan là 940.196 người, đến Indonesia là 638.287 người và đến Malaysia là 353.204 người. Còn lượng khách Nhật đến Việt Nam thì chỉ đạt hơn 118.000 người. Đến năm 2005 khách Nhật Bản đến Việt Nam đạt 320.605 khách, trung bình tăng 20%/năm so với năm 2004. Thị phần khách Nhật Bản chiếm 6 – 7% tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. “So với số du khách Nhật đến Việt Nam, số người Nhật đi thăm các nước châu Âu, hoặc chỉ đến Bangkok thôi cũng lớn hơn nhiều”. [23, 102].

Bảng 1. Số lượng khách Nhật Bản đến Việt Nam (2002 – 2006)

2.3.2. Cơ cấu khách Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Khách du lịch Nhật Bản là một thị trường khá mới mẻ ở Việt Nam cũng như ở Hà Nội. Vì vậy ngoài số liệu của Tổng cục Du lịch Việt Nam tác giả khoá luận còn sử dụng một số kết quả thu được từ việc tiến hành điều tra sơ bộ với 42 khách trong thời gian một tháng, đặc biệt lấy dẫn chứng là điều tra khách du lịch Nhật Bản trong phạm vi Hà Nội. Kết quả điều tra không thể nói hết được các đặc điểm khách Nhật Bản vào Hà Nội nhưng đó cũng là cơ sở cần thiết để bổ sung một số thông tin trong quá trình nghiên cứu.

Theo mục đích chuyến đi

Bảng 2. Mục đích đi du lịch của người Nhật Bản

Mục đích đi du lịch của người Nhật được xếp theo thứ tự ưu tiên: du lịch thuần tuý, du lịch kết hợp kinh doanh, thăm thân, du lịch kết hợp tìm hiểu thị trường, trong đó mục đích đi du lịch thuần tuý nghỉ ngơi, tham quan chiếm tỷ lệ cao. Ngoài ra, mục đích du lịch gắn với việc đi dự thảo, hội nghị, hội thảo và tham gia các khoá học ở nước ngoài tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng đang tăng dần trong những năm gần đây. Người Nhật đi du lịch ở các nước châu Á và châu Âu thuần tuý nghỉ ngơi, giải trí cao hơn ở Mỹ. Châu Á điển hình là Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á được coi là thị trường đầu tư hấp dẫn nên dẫn thu hút được khá nhiều khách Nhật đi du lịch kết hợp với mục đích kinh doanh. Trong khi đó, mục đích du lịch kết hợp tham dự hội nghị, hội thảo và học tập lại chuyển hướng sang châu Âu và Mỹ, nơi có hệ thống giáo dục đào tạo vững chắc, trung tâm của các cuộc hội thảo, hội nghị kinh tế – chính trị – xã hội tầm cỡ thế giới.

  • Theo giới tính

Đến Hà Nội, khách là nữ giới nhiều hơn là nam giới, kết quả điều tra cho thấy: Nam giới chiếm 19%, nữ giới là 81%. Cũng theo số liệu của công ty du lịch Việt Nam – Hà Nội thì số lượng khách Nhật chiếm 65,7% là nam giới, còn lại là 34,3% là  nữ giới. Tỷ lệ này chưa phản ánh đầy đủ xu hướng chung của giới nữ đang gia tăng việc đi du lịch nước ngoài.

  • Theo số lần đến

Bảng 3. Số lần đến Hà Nội của khách Nhật Bản

Theo kết quả điều tra cho thấy, khách Nhật Bản đến Hà Nội lần đầu và lần thứ hai, thứ ba chênh lệch rất nhiều. Theo sự đối chiếu giữa các phiếu điều tra thì khách đến lần thứ hai, thứ ba chủ yếu là đối tượng khách có mục đích kinh doanh, dự hội nghị, hội thảo. Còn khách Nhật đến Hà Nội lần đầu thường là khách du lịch thuần tuý.

  • Theo độ tuổi

Theo số liệu điều tra, trong tổng số khách nữ ra nước ngoài của Nhật Bản thì độ tuổi 20 – 29 chiếm tỷ lệ cao.

Bảng 4. Phân loại khách đến Hà Nội theo độ tuổi

Qua bảng trên, khách đến Hà Nội chủ yếu là từ độ tuổi 18 – 25. Đây là khách thuộc nhóm sinh viên. Còn số khách từ 55 – 60 tuổi trở lên còn quá ít.

2.3.3. Chi tiêu của khách Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Trong các chuyến du lịch, do có thu nhập cao nên người Nhật thường có xu hướng sử dụng dịch vụ và mua những sản phẩm có chất lượng cao. Khách du lịch Nhật được đánh giá là đối tượng khách có chi tiêu cao. Bình quân mỗi khách nước ngoài vào VN tiêu khoảng 400 – 450 USD, nhưng bình quân một khách Nhật tại Việt Nam chi khoảng 2.000 – 3.000 USD/chuyến. Nhu cầu mua sắm của du khách Nhật Bản cao vì khả năng chi tiêu của du khách Nhật Bản cao. Hiện nay, họ là một thị trường tiêu thụ hàng hoá lớn của công nghiệp dệt may và hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Nắm bắt cơ hội này, tại nhiều điểm du lịch nhất là ở TP. Hồ Chí Minh) nhiều nhà kinh doanh đã mở những cửa hàng chuyên doanh phục vụ riêng cho khách Nhật. Những mặt hàng được tiêu thụ mạnh là đồ may mặc sẵn, đồ trang sức thủ công như túi kết cườm, dây đeo tay đeo cổ tết bằng các loại sợi màu, giày dép thời trang lạ mắt.

2.3.4. Thời vụ du lịch 

Người Nhật đi du lịch nhiều nhất vào bốn thời điểm: Giáng sinh, năm mới (25/12 đến 7/1); kỳ nghỉ xuân của sinh viên Nhật (cuối tháng 3 đầu tháng 4); tuần lễ vàng (cuối tháng 4 đầu tháng 5); thời gian học sinh Nhật nghỉ hè (cuối tháng 7 đến cuối tháng 8). Họ thường đăng ký với các đơn vị lữ hành thời gian khoảng từ 6 tháng đến 1 năm. Mùa đi du lịch cao điểm nhất là mùa hè và Tết.

Theo điều tra của JNTO – Tổ chức du lịch quốc gia Nhật Bản, năm 2005 những tháng đỉnh điểm đi du lịch nước ngoài của người dân Nhật là từ tháng 4 đến tháng 8 với số khách trung bình 1,52 triệu. Ngoài ra, dịp năm mới 2005 cũng thu hút 12,1% người Nhật ra nước ngoài. [49, 35].

2.3.5. Độ dài trung bình của chuyến du lịch

Người Nhật không đi du lịch trong thời gian dài, phần lớn ngày nghỉ của họ ngắn hơn ở những nước phương Tây. Hơn nữa, nhiều người Nhật không nghỉ hết ngày cho phép vì ở một số công ty như thế bị xem là thiếu tinh thần trách nhiệm. Khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam chỉ thích đi du lịch năm ngày bốn đêm hoặc bốn ngày ba đêm Tuy nhiên suy nghĩ này đang dần dần thay đổi. Vì vậy thời gian trung bình của mỗi chuyến đi nghỉ là 8 ngày, tuỳ từng điểm đến mà độ dài tour có thể kéo dài hoặc thu hẹp lại. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của các điểm du lịch và trình độ hiểu biết của người Nhật đối với địa điểm đó.

2.3.6. Quyết định đi du lịch Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Phần lớn người Nhật cho rằng quyết định đi du lịch còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện. Các công ty lữ hành quan tâm trước hết đến đối tượng: chắc chắn đi du lịch và đã có kế hoạch; chắc chắn đi nhưng chưa có kế hoạch, vì nó liên quan đến các kế hoạch cho mùa du lịch của công ty song con số những đối tượng này chỉ chiếm trung bình 26,6 %.

Nếu một gia đình Nhật Bản bao gồm ông bà, bố mẹ, con cái định đi du lịch ở nước ngoài thì bọn trẻ sẽ quyết định khi nào họ sẽ đi, ông bà quyết định họ sẽ tiêu bao nhiêu trong chuyến đi vì ngân quỹ của họ dồi dào hơn của bố mẹ. Bà mẹ có quyết định cuối cùng về tất cả mọi thứ còn ông bố chỉ thực thi mà không có ý kiến gì.

Theo kết quả điều tra lần thứ 17 về động thái du lịch của người Nhật Bản thực hiện bởi Hiệp hội du lịch Nhật Bản (Japan Tourist Association) vào năm 1996, việc quyết định điểm du lịch sẽ đi dựa theo ý kiến của người thân và bạn bè đã đi du lịch ở điểm đó chiếm tỷ lệ cao nhất, thứ đến là họ quyết định sau khi tham khảo ở sách hướng dẫn du lịch (guide book) và các tập gấp.

2.3.7. Bạn đồng hành khi đi du lịch

Rất ít khi thấy khách du lịch Nhật Bản đi một mình trừ khi chuyến đi đó với mục đích thương mại hoặc du lịch balô. Họ đi du lịch theo những nhóm được tổ chức bởi các đại lý du lịch, trường học, tổ chức kinh doanh hoặc những tổ chức khác mà phần lớn là du lịch trọn gói.

2.3.8. Lựa chọn các công ty, đại lý du lịch phục vụ chuyến đi

Các hãng lữ hành Nhật Bản tổ chức cho khách Nhật đi du lịch nước ngoài đa phần là các hãng loại một, trong đó những hãng loại một dẫn đầu sự lựa chọn của khách du lịch là: Japan Travel Bureau (JTB), Kinki Nippon Tourist (KNT), Nippon Travel Agency (NTA), Tokyo Tourists, Hankyu Express, JTB Tranveland, Nippon Express, Jalpak, H.I.S… trong số 926 hãng loại này và đều là thành viên của JATA. Các hãng loại 2 và 3 chủ yếu làm đại lý bán chương trình cho các hãng loại 1: trong đó phải kể đến những hãng loại 2 hàng đầu là: Keihan Travel Service, Big Holiday, ANA World, All Nippon Airways Tradings… trong số 75 hãng này có mặt trong JATA.

2.3.9. Cách thức phục vụ khách du lịch Nhật Bản

Người ta nói rằng khách du lịch Nhật Bản rất khó tính, đòi hỏi cao trong phục vụ. Nhưng có thể khái quát các yếu tố phục vụ của họ thành 4 C và 1 chữ S. Đó là:

  • Comfort (Tiện nghi)
  • Convenience (Thuận tiện)
  • Cleanliness (Sạch sẽ)
  • Courtesy (Lịch sự)
  • Safety (An toàn)

Họ thích trong phòng mình ở mọi thứ phải luôn sẵn sàng, đầy ắp và sạch sẽ. Đầy ắp về thức ăn và cũng nên đầy ắp cả về thông tin vì người Nhật thường có tính tò mò muốn thoả mãn hết các vấn đề mà họ quan tâm. Thay vì ngồi trong phòng cả ngày họ luôn có xu hướng ra ngoài để xem, ăn, thử, mua sắm hay giải trí. Do đó các khách sạn nên đưa những thông tin hữu ích đối với khách Nhật vào những cuốn sách nhỏ, báo hay băng video. Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Hay cũng có người cho rằng người Nhật Bản cũng sử dụng 3 chữ S là:

  • Speed (Tốc độ)
  • Sophistication (Tinh tế)
  • Specialisation (Chuyên môn hoá cao)

Dịch vụ cần phải nhanh vì khách hàng không thích chờ đợi đặc biệt là với người Nhật. Nói chung, yếu tố chính xác giờ giấc cũng là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình phục vụ khách Nhật vì người Nhật bản thân họ luôn sống rất đúng giờ. Bữa trưa bao giờ cũng chỉ có 20 – 30 phút. Đúng giờ đôi khi tạo cho họ tính hay sốt ruột nên khách Nhật Bản gọi phục vụ ngay khi họ ngồi vào ghế ở nhà hàng. Phục vụ nhanh đối với họ cũng đồng nghĩa là mến khách.

Ngoài ra các nước cần phải làm nổi bật nét độc đáo của mình về ẩm thực, lịch sử và văn hoá. Các sản phẩm du lịch và các dịch vụ cần phải tinh tế vì khách Nhật ngày càng khó tính. Người Nhật không quốc tế hoá lắm về ngôn ngữ, vì vậy rất tôn trọng những ai biết nói tiếng Nhật do đó đội ngũ hướng dẫn viên và nhân viên phục vụ cần được đào tạo tốt hơn để có thể giao tiếp bằng tiếng Nhật một cách trôi chảy, làm cho họ có cảm giác như luôn đang ở nhà mình.

Bên cạnh đó các yêu cầu của người Nhật Bản cũng được tổng kết bằng 5 chữ S là:

  • Safety (An toàn)
  • Sanitation (Vệ sinh)
  • Space (Thoáng đãng)
  • Shopping (Mua sắm)
  • Soup (Ẩm thực)

Trong việc lựa chọn sản phẩm du lịch nào đó, khách du lịch người Nhật thường dựa vào các yếu tố sau: uy tín và tên tuổi của công ty du lịch, sự hài lòng đối với những lần du lịch trước đó, hoặc do bạn bè người thân giới thiệu. Sự tận tình, chu đáo, hiểu biết rộng và lành nghề của hướng dẫn viên và nhân viên phục vụ.

Về phong cách giao tiếp nên coi trọng các câu như là:

  • Tôi có thể giúp được gì cho ông (bà) ? (Irasshaimase)
  • Cảm ơn (Arigato gozaimashota)
  • Phải đấy thưa ông (bà) (Kashikomarimashita)
  • Xin chờ cho một lát (Shosho Omachi Kudasaimase)
  • Xin lỗi vì đã để ông (bà) phải đợi (Omatase itashimashita)
  • Xin ông (bà) vui lòng…..(Osore irimasuga)
  • Rất lấy làm tiếc (Moshiwake gozaimasen)
  • Xin thứ lỗi…(Shitsure itashimashita)
  • Chúng tôi hy vọng được phục vụ quý ông (bà) lần sau (Zehi mata goriyo kudasaimaso)

Với tư cách là hướng dẫn viên cho khách du lịch là người Nhật cần thể hiện tốt những nhiệm vụ sau:

Chào đón khách một cách lịch sự theo đúng phong cách Nhật Bản trong tư thế nghiêm, cúi lưng thấp, tươi cười với câu nói: “Xin chào mừng quý vị đến với đất nước chúng tôi. Chúng tôi hân hạnh được đón tiếp quý vị”

Mặc đồng phục đã được giặt ủi của hãng và đeo biển hiệu trên ngực với vẻ mặt vui vẻ, dễ gần.

Khi tiếp xúc cần nhìn thẳng vào mắt khách, đừng bao giờ tránh cái nhìn của họ. Kiểm tra họ và tên khách và khách sạn nơi họ đã đăng ký đặt chỗ, giải thích cho khách phải thật cặn kẽ rõ ràng, dễ nghe khi trao cho họ vé khứ hồi, thẻ khởi hành.

Với khách Nhật hộ chiếu là văn bản chính thức được Chính phủ Nhật cấp, chứng nhận họ là công dân nước Nhật do đó văn bản quan trọng này chỉ có họ được giữ nó. Vì vậy hướng dẫn viên chỉ được phép cầm giữ hộ chiếu của khách trong trường hợp: xin visa cho khách vì nhà cung cấp dịch vụ yêu cầu phải có hộ chiếu theo luật quốc gia hiện hành hoặc hộ chiếu là tài liệu cần thiết trong việc xảy ra các sự cố, tai nạn… Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Từ khi khách đến (hoàn tất thủ tục) cho đến khi đưa khách ra xe ô tô không quá 10 phút, giúp đỡ khi lên xuống xe. Khi điểm danh phải gọi đầy đủ họ và họ tên khách, phải nói rõ cho khách biết lịch trình trước khi đi, khi khách còn đang trong tình trạng do dự về một quyết định nào đó lời khuyên hữu ích kịp thời đối với họ có giá trị như vàng. Người hướng dẫn viên cần quan tâm đặc biệt tới khách là người cao tuổi và trẻ em bằng các việc làm cụ thể. Nhanh chóng nhận ra trưởng đoàn, hoặc những người “thủ lĩnh” trong nhóm khách để nhờ sự giúp đỡ của họ. Cần tránh sự thân mật hoặc quan tâm quá mức tới một ai đó trong nhóm khách (trừ người già và trẻ em) cố gắng sử dụng tất cả vốn tiếng Nhật mà mình có khi nói chuyện với họ, các chỉ dẫn cho họ cũng bằng tiếng Nhật. Nhai kẹo cao su, hút thuốc, sửa thắt lưng trước mặt khách du lịch người Nhật là điều phạm huý (Taboo). Sẽ là hành vi cực kỳ thô lỗ trước người Nhật khi mà bạn đếm khách bằng cách chỉ ngón tay vào mặt họ. Tuyệt đối giữ gìn bí mật cho khách. Đôi khi thật khó mà biết khách du lịch Nhật Bản có thực sự hài lòng hay không. Nhiều người cho rằng biết khách Nhật có thực sự hài lòng hay không là điều chẳng dễ chút nào. Họ không phàn nàn ngay lập tức bởi nhiều lý do như: ngôn ngữ bất đồng hay tâm lý ngại đông người của khách Nhật. Thường thì họ phàn nàn các tổ chức hay những hãng du lịch khi họ quay về nước, để tránh những điều không hay này nên có các phiếu thăm dò, góp ý của khách để thông qua đó có thể giải quyết những phàn nàn của họ một cách trực tiếp và hiệu quả.

Tóm lại, phong cách phục vụ khách du lịch nói chung và khách Nhật nói riêng chứa đựng bốn thành phần mà người ta gọi là “4S”. Đó là tươi cười (Smile), chân thành (Sincerity), nhanh nhẹn (Speed), và lịch sự (Smart). Vì vậy khi phục vụ khách du lịch  người Nhật đòi hỏi nhân viên phục vụ và hướng dẫn viên phải nắm bắt được những tâm lý – xã hội đặc trưng của họ. Với phong cách giao tiếp của nền văn hoá phương Đông, với những chuẩn mực bất thành văn của nó: sự tôn kính, ân tình, nhường nhịn, kín đáo, vì cộng đồng  kết hợp các tiêu chuẩn trên sẽ giúp cho chúng ta có phong cách giao tiếp phù hợp với khách du lịch người Nhật.

2.3.10. Sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch Việt Nam

Những sản phẩm của du lịch Việt Nam mà khách Nhật ưa thích đó là những tour được thiết kế nêu bật cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn và một nền văn hoá nhiều bản sắc, có bề dày lịch sử và nhất là có nhiều tương đồng với họ. Khách Nhật cũng mong muốn được làm giàu vốn hiểu biết của mình khi được khám phá những sắc thái dân tộc và nền văn hoá đặc thù của 54 dân tộc anh em của nước ta. Họ thích có chuyến đi ngược dòng thời gian đi tìm văn hoá bản làng bởi các dân tộc thiểu số còn giữ được nếp sống, phong tục từ xưa như một sự hiện diện của quá khứ trong xã hội hiện đại như các chuyến đi SaPa, đi thăm các bản Dao, H’Mông. Ngoài ra khách Nhật còn lựa chọn đến các đình chùa của đạo Phật trong chuyến đi của mình. Dẫu sao đó là tôn giáo mà đa số người Nhật sùng kính và để thấy những giống nhau và khác nhau của đạo Phật ở hai nước và rút ra các nhận xét bổ ích về giá trị tâm linh mà họ đặt niềm tin.

Theo tổng kết của tờ Mainichi Newspapers Survey, trong các tour mà người Nhật thích tham gia như: tham quan danh thắng tự nhiên, nghỉ biển, tham quan các di tích lịch sử và di tích cổ xưa, tham gia danh thắng chính yếu, nghỉ ở vùng núi, đồi, cao nguyên, tour mua sắm, thể thao, làm quen với phong tục tập quán và lối sống của người dân địa phương, nghiên cứu văn hoá dân gian, nghiên cứu ẩm thực, du thuyền thì tour tham quan danh thắng tự nhiên là chiếm số đông nhất (gần 50%) sau đó mới đến nghỉ biển và ít nhất là tour du thuyền. Trong các nước ASEAN thì Việt Nam là nước thứ tư thu hút khách Nhật đi theo tour tham quan danh thắng tự nhiên (sau Singapore, Thái Lan và Malaysia), đứng thứ ba về lượng khách Nhật đi theo tour tham quan di tích lịch sử và di tích cổ xưa, tour tham quan một nơi hay một thành phố, tour nghiên cứu ẩm thực, đứng thứ hai về tour làm quen với phong tục tập quán và cuộc sống của người dân địa phương (sau Thái Lan). [48, 25]

Ngoài ra những điểm du lịch trên thế giới cũng rất hấp dẫn người Nhật. Hawaii vẫn là điểm du lịch đứng đầu bảng thu hút hơn 2 triệu khách du lịch mỗi năm. “Theo ông Matshuhashi – Giám đốc văn phòng xúc tiến Du lịch Nhật Bản, Hawaii có nhiều dịch vụ và cảnh đẹp hấp dẫn thu hút du khách và cho phép du khách được nghỉ ngơi thực sự. Bờ biển Waikiki trên đảo thực sự là một điểm du lịch điển hình của sự kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp thiên nhiên với giai điệu du dương và những câu chuyện tiểu thuyết lãng mạn.” [4, 12] Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Tiếp sau Hawaii là các điểm du lịch khác hấp dẫn như Guam, Mỹ, Bali (Indonesia), Hồng Kông và Malaysia.

Các chương trình chủ yếu vẫn là:

  • Hà Nội: đa số khách Nhật thích tham quan lăng Bác, khu phố cổ, khu di tích Hồ Gươm, đền Quán Thánh, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Quán Sứ… xa hơn thì có Cổ Loa, làng gốm Bát Tràng, làng tranh Đông Hồ. Giải trí ở Hà Nội chủ yếu vẫn là xem múa rối nước, xem hát dân tộc, tự do dạo phố hoặc mua sắm, đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ.
  • Huế: thăm cố đô Huế, dạo chơi sông Hương, nghe hò, dạo chơi chợ Đông Ba.
  • Quảng Nam: thăm phố cổ Hội An, Non Nước – Ngũ Hành Sơn, thánh địa Mỹ Sơn.
  • Đà Lạt: thích chơi golf, tham gia săn bắn, ngắm cảnh Đà Lạt.
  • Nha Trang: thích tắm biển, thăm tháp Chàm Ponaga.
  • Hồ Chí Minh: dạo chơi phố, shopping.

Ngoài ra những di tích chiến tranh như DMZ tour cũng luôn thu hút du khách sinh viên Nhật bởi đó chính là bằng chứng hùng hồn của sức mạnh Việt Nam.

2.3.11. Các tác nhân hạn chế

Vấn đề cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật của ngành du lịch và vấn đề con người trực tiếp hoạt động trong ngành dịch vụ du lịch. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch đến thời điểm năm 1998 cả nước ta có hơn 2000 hướng dẫn viên được cấp thẻ, trong đó chỉ có 6% số hướng dẫn viên tiếng Nhật. Đến năm 2006 hiện nay cả nước có 6.000 hướng dẫn viên. Trong khi đó theo con số thống kê được của Văn phòng du lịch quốc gia Thái Lan ở Nhật Bản cung cấp thì hiện tại ở Thái Lan có tổng số 19.586 hướng dẫn viên, trong đó có 4.304 hướng dẫn viên tiếng Nhật. Như vậy mới thấy được số lượng hướng dẫn viên của ta còn quá ít ỏi. Trong thực tế việc chỉ có khả năng ngoại ngữ cùng với một số hiểu biết về lịch sử, văn hoá, xã hội, con người của đất nước mình vẫn sẽ là không đủ nếu không am hiểu tường tận về tập quán, thói quen và văn hoá của những người khách mà mình đang hướng dẫn. Đôi khi nhiều người khách Nhật còn phàn nàn rằng có những hướng dẫn viên gần như chỉ làm việc như một phiên dịch thuần tuý. Họ chỉ biết nói hết những gì mà họ đã chuẩn bị trước về địa điểm họ dẫn khách đến tham quan.

Vấn đề đảm bảo trật tự an toàn xã hội cũng chưa được tốt khi khách Nhật luôn bị quấy rầy về tệ nạn ăn xin, chào bán mua các đồ lưu niệm ở địa phương du lịch. Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Vấn đề giao thông vận tải (đường sá, giao thông đến các điểm du lịch) còn chưa thuận lợi, còn hạn chế nên việc vận chuyển du khách còn chiếm nhiều thời gian, ảnh hưởng đến thời gian nghỉ, tham quan… không phù hợp với tâm lý nhu cầu của du khách.

Trong thời gian gần đây chúng ta đã cố gắng rất nhiều trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vui chơi giải trí như công viên chủ đề, nhưng chất lượng và số lượng những dịch vụ vui chơi giải trí, những sạp hàng lưu niệm bày bán có lẽ chưa thật hấp dẫn và phù hợp với sở thích của họ. Xét về thực tế, khi được hỏi người Nhật Bản đều nói thích đến miền nam nước ta, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đặc biệt là những dịch vụ vui chơi giải trí ở đây phát triển hơn những nơi khác ở nước ta.

Mặt khác chúng ta chưa đáp ứng được với tập tục thói quen của người Nhật Bản. Đôi khi có người Nhật còn phàn nàn rằng có những khách sạn vẫn bố trí những phòng nghỉ không có bồn tắm cho họ. Đây có thể nói là một việc làm hoàn toàn không chú ý đến tập quán của khách. Đối với người Nhật Bản thì một việc không thể thiếu được hàng ngày là việc họ vào bồn tắm ngâm trong nước ấm. Đây là một hình thức làm cho họ bớt đi những căng thẳng và mệt mỏi sau một ngày làm việc. Tuy nhiên với giới trẻ tuổi thì nhiều khi họ cũng không đòi hỏi, nhưng phần đông những người khách Nhật đều muốn nghỉ ngơi trong phòng có bồn tắm. Việc không bố trí phòng có bồn tắm cho họ sẽ là một điều gây cho họ cảm giác khó chịu, tuy họ không nói ra.

Tuy nhiên, trong quá trình phục vụ khách du lịch Nhật Bản, các doanh nghiệp lữ hành của chúng ta còn có nhiều hạn chế. Chất lượng phục vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của khách Nhật. So với các nước trong cùng khu vực, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch của chúng ta còn rất yếu và thiếu.

Một đặc điểm là người Nhật rất tôn trọng thời gian và lời hứa. Qua tiếp xúc với những người có kinh nghiệm đi du lịch Việt Nam, đặc biệt là những người đã trực tiếp tổ chức những đoàn khách đến Việt Nam du lịch, họ phản ánh rằng đôi khi lịch trình tour thực hiện không chính xác. Có người đi du lịch Việt Nam rất nhiều lần nên có hướng dẫn viên du lịch của một hãng lữ hành trong miền Nam rất giỏi tiếng Nhật đồng thời hiểu biết tâm lý tập quán của khách Nhật và lần sau họ đã mua tour của hãng lữ hành này và yêu cầu người hướng dẫn viên đó phụ trách việc hướng dẫn. Hãng lữ hành này đã hứa nhưng sau đó không hiểu vì lý do gì đã thay người hướng dẫn viên khác. Kết quả là họ đã rất bất bình và có một ấn tượng xấu về cung cách làm việc của ta.

Những việc làm như vậy rất ảnh hưởng đến uy tín và tính hấp dẫn của du lịch Việt Nam.

Sản phẩm du lịch của chúng ta chủ yếu dựa vào tài nguyên. Người Nhật tới Việt Nam chủ yếu vì nguồn tài nguyên của chúng ta hấp dẫn. Thế nhưng, chúng ta lại chưa phát huy được thế mạnh này. Không kể đến các yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật thì chất lượng của đội ngũ hướng dẫn viên và phục vụ khách vẫn còn nhiều vấn đề đáng bàn.

2.4. Thị trường khách du lịch Nhật Bản và vấn đề đối mặt với kinh doanh du lịch Việt Nam Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Nhật Bản từ lâu nằm trong danh sách 5 quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách du lịch đến Việt Nam đông nhất, gồm Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Tuy nhiên, so với tổng số du khách Nhật đi du lịch nước ngoài (17,5 triệu năm 2005), số khách đến Việt Nam còn quá nhỏ bé (317.000 người). [52]

 Do vậy, để cạnh tranh với các điểm đến mới và các thị trường du lịch phát triển như Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia… và khuyến khích du khách Nhật quay trở lại, Việt Nam cần quảng bá nhiều hơn hình ảnh của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhật Bản. Hiểu hơn về luật hoạt động của các công ty lữ hành Nhật Bản sẽ là một lợi thế. Nếu biết rõ hơn về 15 ngày lễ mà người Nhật không đi du lịch, hay những thời điểm mà người Nhật thích “ở nhà” hơn như ngày Phật đản vào trung tuần tháng 8, tuần lễ cuối năm và trước bầu cử… cũng giúp ích cho các công ty du lịch Việt Nam lên kế hoạch thu hút khách. Điều quan trọng là phải hiểu về đặc điểm tập quán, phong tục, những sở thích để chăm sóc khách hàng. Một trong những “phương tiện” hữu hiệu trong quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới là hàng không.

Cùng với việc các công ty của Nhật mở văn phòng và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài, số doanh nhân Nhật làm việc tại nước ngoài cũng tăng. Nhiều người không mang theo vợ con. Và sự cô đơn của những doanh nhân là nhu cầu dẫn tới việc mở các quán karaoke tại nhiều thành phố trên thế giới. Và tất nhiên người bản địa làm ăn với thương gia Nhật cũng là khách được mời tới thưởng thức loại hình giải trí này. Karaoke bar xuất hiện không chỉ ở các nước Đông Nam Á mà còn lan sang Hoa Kỳ và các thành phố khu vực Nam Mỹ. Thống kê cho thấy, cứ 3 người Nhật thì có một người thích hát karaoke. Người ta cho rằng, nếu có nét văn hoá nào của Nhật lan rộng thì có lẽ đó là karaoke. Xét về một chừng mực nào đó, nó cũng giống như các hình thái sinh hoạt khác như rủ nhau đi uống bia, nghe nhạc, chơi golf để tăng cường quan hệ.

Không giống như vài chục năm trước đây, từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 người Nhật không được đón chào tại Việt Nam, nay họ lại được coi là những vị khách quý, được các công ty du lịch lữ hành quan tâm. Chính phủ Việt Nam cũng đã bỏ thị thực nhập cảnh cho công dân Nhật để mở rộng thêm thị trường tiềm năng này và trên thực tế, việc bỏ thị thực cho du khách Nhật đã giúp tăng số du khách Nhật đến Việt Nam. Do được miễn visa, du khách Nhật chủ động đi lại hơn, nên số người thông qua các công ty du lịch lữ hành lại không nhiều. Các chuyến bay thẳng và đường bay cũng tăng tạo điều kiện cho người Nhật đến Việt Nam. Nhưng dù được miễn thị thực trong hai tuần, thường họ chỉ đến Việt Nam 5 ngày với mục tiêu mua sắm và cưỡi ngựa xem hoa là chính, chứ không đi sâu tìm hiểu như khách du lịch phương Tây. Ví dụ, muốn biết về đồng bằng sông Cửu Long và sông nước Nam Bộ, họ chỉ đi gần cỡ thành phố Mỹ Tho, sáng đi chiều về, để có cái nhìn tổng quát. Du khách Nhật chi tiều nhiều nhờ giá rẻ hơn ở nước họ rất nhiều. Tại Việt Nam, họ tiêu tiền rất thoải mái và thuộc số du khách chi tiêu rộng rãi nhất. Họ rất thích mua hàng lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ và những thứ ở Nhật rất đắt. Khách du lịch nước ngoài nói chung và khách Nhật nói riêng đến Việt Nam dưới nhiều hình thức, hoặc thông qua công ty du lịch, hoặc tự đi bằng đường hàng không, đường bộ, đường biển, Khách Nhật thích tự tổ chức đi du lịch thay vì thông qua các công ty và đây là xu hướng của người Nhật nói chung cũng như giới trẻ Nhật nói riêng, nhất là khi Việt Nam bãi bỏ visa đối với khách nhập cảnh từ Nhật.

Trong chuyến thăm và làm việc chính thức tại Nhật Bản từ ngày 03 đến 10 – 4 – 2005, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng và ông Kitagawa Kazua – Bộ trưởng Lãnh thổ, Hạ tầng và Vận tải Nhật Bản đã ký Tuyên bố chung hợp tác du lịch hai nước. Theo tinh thần của Tuyên bố, hai bên sẽ tăng cường thúc đẩy một số lĩnh vực hợp tác bao gồm xúc tiến, quảng bá du lịch, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, quy hoạch du lịch, khuyến khích đầu tư trao đổi thông tin, chuyên gia.

Đây là một dấu hiệu rất đáng mừng đối với các nhà kinh doanh lữ hành và du lịch tại Việt Nam. Việc hợp tác về du lịch giữa hai nước ở cấp quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hãng lữ hành Việt Nam tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường. Hiện tại chúng ta đang có rất nhiều lợi thế bởi hình ảnh của một đất nước nhiệt đới yên ả, thanh bình đang ngày càng trở thành ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách Nhật. Số lượng khách ngày một tăng. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, từ năm 1995 đến nay, Nhật Bản luôn là 1 trong 5 nước dẫn đầu về số lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Năm 2004, ngành du lịch chúng ta đã đón 267.210 lượt khách Nhật Bản và chiếm thị phần khách quốc tế đông thứ 3 tại Việt Nam chỉ sau Trung Quốc, Mỹ. Tốc độ tăng trưởng được nâng lên hàng năm và luôn chiếm tỷ trọng lớn. [56] Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

Trong chương trình Cửa sổ nhìn ra thế giới, Đài truyền hình Asahi (Nhật Bản) đã liên tục phát băng giới thiệu về Việt Nam. Thông qua hành trình dọc đất nước băng tàu Thống Nhất, các địa danh, phong cảnh cùng với những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống độc đáo khắp ba miền đã được giới thiệu với người Nhật. Đây là một tin rất mừng đối với ngành du lịch Việt Nam. Điểm đến Việt Nam an toàn và hấp dẫn đang thu hút sự chú ý của khách du lịch Nhật Bản. Chắc chắn, trong những năm tới, người Nhật sẽ coi Việt Nam là một trong những lựa chọn của mình. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để ngày càng có nhiều người Nhật lựa chọn Việt Nam? Làm sao để người Nhật quay trở lại Việt Nam nhiều lần sau khi đã tới Việt Nam lần đầu tiên. Có lẽ, chúng ta hãy bắt đầu từ việc tìm hiểu về đặc tính và xu hướng đi du lịch của người Nhật Bản.

Lý do khiến người Nhật chọn Việt Nam làm điểm đến là do họ thích thú với các loại hình resort từ bình dân đến cao cấp, các mặt hàng trang trí nội thất, mỹ nghệ phong cách Á châu có giá cả dễ chấp nhận. Ngoài ra sự hấp dẫn từ cuộc sống mãnh liệt và năng động của người Việt Nam, sự pha trộn của văn hoá ảnh hưởng Trung Hoa, Pháp đã thu hút khách Nhật. Cơ hội đầu tư vào Việt Nam vẫn hấp dẫn các doanh nghiệp Nhật… Đặc biệt sự tương đồng về văn hoá giữa hai dân tộc cũng như lòng mến khách, sự thân thiện, yêu thích hoà bình, quý thiên nhiên, thú chơi cây cảnh, cắm hoa, trà đạo… đã tạo sự gần gũi cho khách Nhật. Tuy nhiên, du lịch Việt Nam còn gặp một số khó khăn khi khai thác thị trường Nhật vì các quốc gia lân cận cũng tích cực giành giật thị phần ở đối tượng khách này. Giá vé máy bay từ Nhật sang Việt Nam còn cao hơn so với Thái Lan. Việt Nam còn thiếu những điểm vui chơi giải trí, các điểm nghĩ dưỡng. Tình hình giao thông đô thị còn phức tạp hay ùn tắc giao thông, vệ sinh môi trường còn kém đặc biệt là thiếu các điểm thông tin cho khách. [53]

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Có thể nói thị trường khách du lịch Nhật Bản là một thị trường tiềm năng. Thông qua đó các nhà kinh doanh du lịch cần phải có sự hiểu biết hơn nữa về phong tục, tâm lý, sở thích tiêu dùng du lịch của tập khách này để thu hút họ đến đông hơn.

Người Nhật Bản được mệnh danh là người đam mê du lịch, thích tìm hiểu về văn hoá lịch sử nên du lịch Việt Nam cần phát triển và bảo tồn các di tích lịch sử và danh thắng đặc biệt là Hạ Long, Huế, phố cổ Hội An v…v. Đồng thời phải có chính sách tuyên truyền quảng bá về những hình ảnh đất nước, con người và du lịch của Việt Nam. Ngoài ra tạo điều kiện mở rộng quan hệ giao lưu văn hoá, tiếp xúc, tìm đối tác ký kết các hợp đồng hợp tác phát triển và kinh doanh du lịch. Luận văn: Thực trạng về thị trường khách du lịch Nhật Bản .

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp thị trường khách du lịch Nhật Bản

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *