Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI về Giáo dục và Đào tạo đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản mang tính toàn diện nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong đó, đề cập đến giải pháp: “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường. Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch”.

Công tác thanh tra, kiểm tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là phương thức đảm bảo pháp chế tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, đồng thời thực hiện quyền dân chủ của công dân; hoạt động thanh tra là một chu trình không thể thiếu trong quản lý. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm đánh giá chính xác tài năng, công sức của cá nhân, đơn vị nhằm động viên khuyến khích, thúc đẩy họ hoàn thành nhiệm vụ và có cơ sở để xem xét khen thưởng, đề bạt. Mặt khác, qua thanh tra, kiểm tra phát hiện những thiếu sót, khuyết điểm để uốn nắn, chấn chỉnh kịp thời trên cơ sở ngăn chặn, phòng ngừa những vi phạm, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường kỷ cương nền nếp, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Nghị định 42/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục (sau đây gọi là Nghị định 42) có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 thay thế cho Nghị định số 85/2006/NĐ-CP ngày 18/8/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra giáo dục. Ngày 04/12/2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 39/2013/TT- BGDĐT Hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục (Sau đây gọi là Thông tư 39) thay thế cho Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Hướng dẫn thanh tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư phạm nhà giáo. Theo đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo không còn chức năng thanh tra; hoạt động thanh tra chuyên của các cơ quan thanh tra nhà nước về giáo dục cũng có sự đổi mới là chuyển từ hoạt động thanh tra chuyên môn dạy và học sang hoạt động thanh tra công tác quản lý, phù hợp với quy định của Luật Thanh tra và Nghị định 42, Thông tư 39. Cơ quan thanh tra không thực hiện thanh tra hoạt động sư phạm nhà giáo một cách độc lập, tránh chồng chéo với việc đánh giá nhà giáo theo chuẩn nghề nghiệp hàng năm; chú trọng yêu cầu tự kiểm tra đi đôi với tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục.

Xuất phát từ những thay đổi trên và những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải có sự đổi mới công tác quản lý; công tác thanh tra, kiểm tra là một khâu của công tác quản lý, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý; quan điểm đổi mới là: tăng phân cấp quản lý, tăng tự chủ, tự kiểm tra, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục; cơ quan thanh tra nhà nước mục đích là tác động vào hệ thống, không làm thay, không tiến hành thanh tra, trực tiếp các nội dung hoạt động nhà trường, thanh tra hoạt động sư phạm nhà giáo mà chỉ chủ yếu tập trung thanh tra trách nhiệm của Hiệu trưởng trong thực hiện pháp luật về giáo dục, thanh tra tác động vào hệ thống. Khi hoạt động thanh tra được chuyển trọng tâm từ thanh tra chuyên môn sang thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước là chính thì hoạt động kiểm tra nội bộ (KTNB) trường học của thủ trưởng các cơ sở giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo trong nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Với những thay đổi nói trên thì hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học đóng vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay. Tuy nhiên, nhận thức của các trường học nói chung, trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nói riêng chưa nhận thức hết chưa đầy đủ vị trí, vai trò, hoạt động của công tác Kiểm tra nội bộ, vẫn chông chờ vào các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra nhà nước, chưa thường xuyên, chưa gắp với nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ chính trị của trường, còn lúng túng, tính hiệu lực, hiệu quả thấp, mang tính hình thức. Việc xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các trường từ đó đề ra biện pháp để quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đổi mới hoạt động thanh tra giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Với lý do đó, tôi chọn đề tài: ‘‘Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động Kiểm tra nội bộ trường trung học phổ thông;
  • Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Xác định cơ sở lý luận về hoạt động Kiểm tra, Kiểm tra nội bộ trên cơ sở tổng hợp những nghiên cứu về vấn đề này;
  • Nghiên cứu về thực trạng hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

5. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Tại sao phải thực hiện Kiểm tra nội bộ trong trường học? Làm như thế nào để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ NT?

6. Giả thuyết nghiên cứu

Hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã và đang được triển khai thực hiện theo từng năm học nhưng nếu áp ụng, thực hiện các biện pháp đề ra của luận văn nhằm quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ thì sẽ góp phần đổi mới căn bản, toàn diện tại các nhà trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

7. Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu lý luận hoạt động thanh tra, kiểm tra; thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, từ đó đề ra luận cứ, biện pháp đối với hoạt động Kiểm tra nội bộ của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Tập trung vào việc xây dựng các biện pháp chủ yếu để quản lí có hiệu quả hoạt động Kiểm tra nội bộ trường Trung học phổ thông của Hiệu trưởng.

8. Phương pháp nghiên cứu

8.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết;
  • Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết.

8.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp quan sát;
  • Phương pháp điều tra;
  • Phương pháp chuyên gia;
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

8.3. Các phương pháp hỗ trợ

  • Phương pháp thống kê toán học;
  • Phương pháp hỏi ý kiến.

9. Cấu trúc của luận văn Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG Trung học phổ thông ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Từ trước đến nay, Đảng ta luôn coi trọng công tác kiểm tra, coi đó là bộ phận rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong toàn bộ công tác lãnh đạo của Đảng. Tầm quan trọng của công tác kiểm tra được thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, công tác kiểm tra là một bộ phận hợp thành của công tác lãnh đạo, chị đạo; phục vụ thiết thực cho sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, quản lý của Nhà nước và là một trong ba yếu tố quyết định sự thành công của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đã ban hành.

Trong tác phẩm “Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hành ngay”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi. Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự, còn phải tổ chức, phải đấu tranh. Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Thứ hai, kiểm tra góp phần phòng, chống bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí; phòng, chống tham nhũng và phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật khác; góp phần bảo vệ tài sản của Nhà nước, quyền và lợi hợp pháp của công dân”.

Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn cho rằng: lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý mà thiếu sự kiểm tra thì đó là biểu hiện của sự quan liêu, dẫn đến nạn tham ô, lãng phí. Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” Người khẳng định, người lãnh đạo phải “kiểm soát kết quả công việc của cán bộ mình”. Người còn khẳng định: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các Nghị quyết có được thi hành hay không, thi hành có đúng hay không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát” và “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau nhất định khuyết điểm bớt đi”. Người cho rằng: “có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, muốn biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”.

Như vậy, theo quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra là rất quan trọng, nó gắn liền với quản lý, là một bộ phận quan trọng của công tác lãnh đạo, quản lý; và là một trong những yếu tố, phương thức bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước được thi hành nghiêm chỉnh. Đồng thời, kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí, tệ tham nhũng cũng như các hành vi vi phạm khác trong hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước”.

Đảng, Bác Hồ, Nhà nước ta, ngay từ thuở đầu dựng nước và xây dựng đất nước đã xác định vị trí quan trọng của công tác Kiểm tra nội bộ, vì thế ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, có nhiệm vụ là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ.

Các nhà khoa học quản lý ở trong nước cũng như trên thế giới đều xác định kiểm tra là một trong các chức năng của quản lý (Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra). Thuật ngữ kiểm tra ngày càng được các nhà khoa học nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện dần làm phong phú và sâu sắc bản chất của nó, xem đó là một chuyên ngành cần được tiếp tục nghiên cứu làm sáng rõ cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý giáo dục, qua kinh nghiệm của nước ta và các nước có nền giáo dục phát triển, phải nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, coi kiểm tra là hoạt động thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước.

Khi bàn về công tác kiểm tra trong giáo dục, các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, đặc biệt là về quản lý giáo dục (QLGD): Nguyễn Ngọc Quang “Những khái niệm cơ bản về Quản lý giáo dục”; Đặng Quốc Bảo “Một số khái niệm về Quản lý giáo dục”; M.I Kônđacôp “Cơ sở lý luận khoa học Quản lý giáo dục”; Trần kiểm “Khoa học Quản lý giáo dục-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”… Các công trình trên thực sự là cẩm nang cho các nhà Quản lý giáo dục các cấp trong lý luận cũng như trong thực tiễn Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường.

Về Quản lý nhà trường, các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Đặng Quốc Bảo đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy-học, từ đó chỉ ra một số biện pháp Quản lý nhà trường. Một trong số các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ Quản lý đi đúng mục tiêu, kế hoạch là các biện pháp kiểm tra, thanh tra, đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn nhất định.

Tác giả Hà Sỹ Hồ (1985) trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học” tập hai – NXB Giáo dục đã cho rằng: “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng Quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ Quản lý và phân hệ được Quản lý…”. Ông khẳng định “QL mà không kiểm tra thì Quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành Quản lý quan liêu”. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) trong cuốn “Những khái niệm cơ bản về Quản lý giáo dục” cho rằng: Quá trình Quản lý diễn ra qua năm giai đoạn: “Chuẩn bị kế hoạch hóa (KHH), Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra; trong đó, kiểm tra là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn loại trừ”. Tác giả kết luận: “theo lý thuyết Xibecnetic, kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình Quản lý. Nó giúp cho chủ thể Quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ Quản lý. Không có kiểm tra, không có Quản lý”. Tác giả Đặng Quốc Bảo (1998) trong “Những vấn đề cơ bản về Quản lý giáo dục” xác định: “Kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều khiển mục tiêu” . Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Đã có nhiều bài viết của các nhà quản lý giáo dục, các bài giảng, các chuyên đề tập huấn, các sáng kiến kinh nghiệm về công tác kiểm tra trong giáo dục, Kiểm tra nội bộ trường học, nhưng chủ yếu chỉ đề cập đến các vấn đề xung quanh nội dung thanh tra, đánh giá một nhà trường, một giáo viên, quy trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo… Về Kiểm tra nội bộ đã có tác giả Lưu Xuân Mới viết đề cương bài giảng về ‘‘Kiểm tra nội bộ nhà trường” cho lớp bồi dưỡng hiệu trưởng ở trường Cán bộ quản lý giáo dục (nay là Học viện Quản lý giáo dục); một số tác giả viết Luận văn như: Lê Anh Tuấn, Một số biện pháp quản lý công tác Kiểm tra nội bộ ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (năm 2011); Hồ Hữu Lễ, Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nội bộ trường Trung học phổ thông, Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2012)…

Tuy vậy, vẫn chưa có công trình nghiên cứu đề cập một cách cụ thể, sâu sắc về Quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học theo quan điểm đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra trong giáo dục theo tinh thần Nghị định 42 của Chính phủ và Thông tư 39 của Bộ Giáo dục và Đào tạo để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong tình hình hiện nay nhưng những quan điểm chỉ đạo, tư liệu, tài liệu, kinh nghiệm quý báu đó giúp em tham khảo trong quá trình thực hiện Luận văn: ‘‘Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”.

1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan

1.2.1. Quản lý

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về Quản lý. Các trường phái Quản lý học đã đưa ra những khái niệm như sau:

Theo F.W Taylor (1856-1915): Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.

Theo Henrry Fayol (1886-1925): Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Từ những năm 1950 trở lại đây, do vai trò đặc biệt quan trọng của Quản lý đối với sự phát triển kinh tế, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết và thực hành Quản lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: chủ thể Quản lý và đối tượng Quản lý. Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý).

Từ đó có thể đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.

1.2.2. Quản lý giáo dục

Khái niệm “Quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô (quản lý vĩ mô – quản lý một nền/hệ thống giáo dục), cấp mô (quản lý vi mô- quản lý một nhà trường). Ở luận văn này chủ yếu tìm hiểu nội dung Quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô.

Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể Học sinh, cha mẹ Học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Cũng có thể định nghĩa: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và Học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xă hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách Học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” (Trần Kiểm – Khoa học quản lý giáo dục- Nhà xuất bản giáo dục- 2006- [24]).

Tóm lại, : Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra.

1.2.3. Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Nhà trường là tế bào cơ sở, chủ chốt của hệ thống giáo dục quốc dân, trường học là thành tố sắc thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương, lại là hệ thống độc lập tự quản của xã hội.

Bởi vậy Quản lý trường học vừa có tính Nhà nước vừa có tính xã hội (Nhà nước và cộng đồng xã hội phải thống nhất trong quản lý nhà trường). Về thực chất Quản lý Nhà nước đối với giáo dục ở tất cả các cấp đều phải nhằm mục đích tạo điều kiện tối ưu cho sự vận hành thuận lợi của trường học. Các cấp giáo dục tồn tại không phải vì bản thân mà trước hết phải vì chất lượng và hiệu quả giáo dục của trường học. Thành tích thực chất của trường học làm nên chất lượng giáo dục. Chất lượng giáo dục thực chất do chất lượng giáo dục trường học tạo nên.

Nhiệm vụ quan trọng của nhà trường là tạo nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, phù hợp với xu thế toàn cầu hoá lực lượng sản xuất. Trong quản lý trường học, quản lý con người là trung tâm số một. Con người trong trường học chính là những người giáo viên và Học sinh, để chính họ lại quản lý và tự quản lý quá trình dạy học; Giáo dục nhằm đào tạo ra sản phẩm là nhân cách người lao động mới.

Tóm lại, quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động của giáo viên, Học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: ‘‘Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định”.

1.2.4. Kiểm tra, thanh tra Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Theo từ điển tiếng Việt, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.

Về kiểm tra thì cho đến nay nhà nước ta chưa có văn bản quy phạm có định nghĩa cụ thể về kiểm tra nhưng trên phương diện lý luận, thực tiễn thì kiểm tra là khái niệm rộng thể hiện ở nhiều góc độ như:

Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính tri – xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình. Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn. Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn.

Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện. Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyế t điểm hoặc vi phạm pháp luật.

Kiểm tra trong quản lý nói chung hay kiểm tra trong quản lý giáo dục nói riêng là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những sai phạm và điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đặt ra góp phần đưa toàn bộ hệ thống quản lý lên một trình độ cao hơn.

Kiểm tra thông thường của thủ trưởng là hoạt động kiểm tra được tiến hành trong một thời gian nhất định, không được tiến hành theo trình tự, thủ tục nhất định, và được tiến hành ngay sau quyết định quản lý.

Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. (Luật Thanh tra năm 2010). Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

1.2.5. Thanh tra giáo dục, thanh tra nhân dân, kiểm tra nội bộ

Hoạt động thanh tra, kiểm tra trong thực tiễn giáo dục hiện nay đang tồn tại khái niệm: thanh tra giáo dục, thanh tra nhân dân, kiểm tra nội bộ.

Thanh tra giáo dục: là thanh tra chuyên ngành về giáo dục, thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước về giáo dục, nhằm đảm bảo việc thi hành về pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục.

Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua ban thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Ban thanh tra nhân dân trong nhà trường chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chấp hành công đoàn cơ sở và có nhiệm vụ giám sát các hoạt động của đơn vị. Phạm vi giám sát của Ban thanh tra nhân dân được quy định tại Luật thanh tra năm 2010.

KTNB trường học là hoạt động xem xét và đánh giá các hoạt động giáo dục, điều kiện dạy-học, giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường nhằm mục đích phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung, phát triển nhà trường nói riêng.

KTBN là một chức năng quản lý của thủ trưởng đơn vị mang tính chất bắt buộc, được thực hiện thường xuyên trên mọi đối tượng, mọi nội dung quản lý, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nhất định (tự kiểm tra).

Phân biệt hoạt động thanh tra giáo dục, thanh tra nhân dân và Kiểm tra nội bộ:

Giống nhau: Các hoạt động thanh tra giáo dục, thanh tra nhân dân và kiểm tra nội bộ đều là hoạt động quan sát, theo dõi, xem xét, đánh giá các hoạt động giáo dục và giúp đỡ, tư vấn đối tượng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Khác nhau: Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Về tính chất: Thanh tra giáo dục là hoạt động kiểm tra và đánh giá chính thức có tính chất nhà nước của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên đối với cấp dưới. Kết luận thanh tra mang tính pháp lý cao. Thanh tra nhân dân vừa mang tính pháp lý vừa mang tính quần chúng và nặng về giám sát. Kiểm tra nội bộ có tính chất tổ chức quản lý trong nội bộ là chủ yếu, song vẫn mang tính chất hành chính pháp chế; nó thuộc chức năng quản lí của người đứng đầu cơ sở giáo dục.

Về đối tượng: Đối tượng của thanh tra giáo dục là cơ quan, tổ chức, cá nhân cấp dưới với công việc và hoạt động của họ. Đối tượng của thanh tra tùy nội dung thanh tra quyết định gắn với việc thực hiện các chính sách pháp luật của nhà nước và chế độ của đơn vị. Đối tượng của Kiểm tra nội bộ là bộ phận, cá nhân trong một tổ chức với những công việc, hoạt động và mối quan hệ của họ.

Về tổ chức: Thanh tra giáo dục là hệ thống tổ chức thanh tra nhà nước và thanh tra chuyên ngành do pháp luật quy định, và có tính ổn định cao; thanh tra viên là công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Ban thanh tra nhân dân trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp do Hội nghị công nhân, viên chức bầu ra và chịu sự chỉ đạo của Ban chấp hành công đoàn. Ban kiểm tra nội bộ do thủ trưởng đơn vị trực tiếp quyết định thành lập, tổ chức thực hiện và ít ổn định hơn.

Về xử lý: Thanh tra giáo dục có tính chất và hiệu lực pháp lý cao, buộc đối tượng phải thực hiện; có thể đình chỉ hoạt động khi thật cần thiết. Thanh tra nhân dân chủ yếu kiến nghị và giám sát việc thực hiện kiến nghị. Ban kiểm tra nội bộ xem xét, phát hiện, uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ trong nội bộ.

1.3. Lý luận kiểm tra nội bộ trường học

1.3.1. Vị trí, vai trò, bản chất khoa học, đặc điểm của kiểm tra trong quản lý nhà trường

Quá trình giáo dục luôn có sự phối hợp biện chứng giữa hoạt động của nhà giáo dục và quá trình rèn luyện của người được giáo dục. Quá trình này tạo ra sự thay đổi đó chính là kết quả thể hiện được ở người được giáo dục. Kết quả này được các nhà giáo dục tổ chức kiểm tra để đánh giá mức độ thay đổi của người được giáo dục. Như vậy, xác định đến thành tố kết quả giáo dục tức là đề cập tới việc tổ chức kiểm tra đánh giá hay yếu tổ kiểm tra đánh giá, do đó, kiểm tra được xác định là một thành tố của quá trình giáo dục. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Sơ đồ mô tả thành tố kiểm tra trong cấu trúc của quá trình giáo dục:

Mặt khác, kiểm tra còn là chức năng quản lý quan trọng trong quá trình quản lý (quá trình quản lý bao gồm các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo/chỉ đạo và kiểm tra). Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để thực hiện hóa các mục tiêu đó cần phải tiến hành các hoạt động kiểm tra để xem xét việc triển khai các quyết định trong thực tiễn. Xác định rõ việc làm nào tốt, việc nào chưa thực hiện và việc nào chưa tốt, từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong các hoạt động để góp phần đạt được những mục tiêu đã xác định.

Về hình thức, hoạt động kiểm tra kết thúc cho một quá trình quản lý, đồng thời chuẩn bị cho một quá trình quản lý tiếp theo. Vị trí của chức năng kiểm tra có thể mô tả trong một quá trình quản lý như sau:

Hoạt động kiểm tra cung cấp các thông tin quản lý cho chủ thể và các cấp quản lý điều hành để đạt tới mục tiêu. Do đó, kiểm tra có một vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý như đổi mới công tác kế hoạch hóa, công tác tổ chức, chỉ đạo, cũng như đổi mới cơ chế quản lý, phương pháp quản lý để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý.

Vai trò của kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng cơ bản để đảm bảo sự lãnh đạo, quản lý chính xác. Thực tế cho thấy, không có kiểm tra sẽ không đánh giá đúng thực trạng, cũng không có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy và hỗ trợ các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ đề ra. Kiểm tra còn giúp cho việc đánh giá khen thưởng chính xác những cá nhân và đơn vị có thành tích, đồng thời phát hiện được những lệch lạc để uốn nắn, sửa chữa kịp thời. Do đó, kiểm tra không phải chỉ là ‘vạch mặt và lùng bắt” những sai sót, mà còn là sửa chữa kịp thời hầu hết những lệch lạc có thể xảy ra, đồng thời khuyến khích, động viên cái tốt, truyền bá những kinh nghiệm ngay trong thực tiễn. Kiểm tra là kênh thông tin phản hồi quan trọng nhất, trên cơ sở đó, người quản lý điều hành các hoạt động để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Do đó, kiểm tra vừa là tiền đề vừa là điều kiện để đảm bảo thực hiện các mục tiêu.

Bản chất khoa học của kiểm tra: Bản chất của kiểm tra là ‘mối liên hệ ngược” trong quản lý giáo dục. Sau khi có những thông tin thuận từ hệ quản lý đến hệ bị quản lý, hoạt động kiểm tra cung cấp những thông tin thực tế từ hệ bị quản lý đến hệ điều khiển. Do đó kiểm tra là một hệ thống phản hồi trong quản lý.

Hệ quả của ‘‘mối liên hệ ngược” là sự điều chỉnh của hệ quản lý hoặc tự điều chỉnh của hệ bị quản lý.

Đặc điểm của kiểm tra : Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Kiểm tra có đặc điểm cơ bản là sửa chữa và phòng ngừa; có hai loại kiểm tra: kiểm tra sửa chữa và kiểm tra phòng ngừa.

Kiểm tra sửa chữa là kiểm tra những hoạt động đã diễn ra thực tế, trong quá trình xem xét, đánh giá thực trạng, một mặt xác định những thành tích đã đạt được, mặt khác cũng cần phải phát hiện những lệch lạc, sai sót, xác định nguyên nhân và tìm cách khắc phục, không để những sai phạm đó tái diễn trong giai đoạn sau.

Kiểm tra phòng ngừa là kiểm tra trước các hoạt động để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những lệch lạc, thiếu sót, sai phạm có thể diễn ra trong thực tế. Việc kiểm tra phòng ngừa có ý nghĩa tích cực và quan trọng giúp cho hệ thống đạt tới những mục tiêu dự kiến với hiệu quả cao nhất. Người quản lý cần xác định được một hệ thống những biện pháp kiểm tra phòng ngừa phù hợp với đơn vị mình.

Kiểm tra trong quản lý có nhiều nguồn thực hiện. Việc quản lý một đơn vị thường gồm hai loại: loại thứ nhất là quản lý của cơ quan quản lý cấp trên và bên ngoài của một đơn vị; loại thứ hai là quản lý của chính chủ thể đơn vị đó.

Kiểm tra của thủ trưởng là kiểm tra của chủ thể quản lý theo chức năng, nhiệm vụ để đánh giá việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ của cơ sở hoặc là kiểm tra đánh giá cán bộ trong đơn vị theo quy định quản lý. Kiểm tra của thủ trưởng cũng có tính chất hành chính pháp chế nhà nước, tuy nhiên tính chất này thường thể hiện trọng một phạm vi hẹp của đơn vị.

Tự kiểm tra là quá trình tự xem xét, đánh giá và tự điều chỉnh hoạt động của từng cá nhân trong tổ chức. Hoạt động của mỗi cá nhân rất đa dạng và phức tạp, cho nên dù kiểm tra có sâu sát đến đâu đi chăng nữa thì cũng không theo sát từng bước đi của người thầy giáo. Hơn nữa, lao động của giáo viên mang đặc điểm sáng tạo nên cần áp dụng một chế độ kiểm tra thích hợp. Vấn đề đặt ra là phải làm sao cho người giáo viên tự giác, chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao. Vấn đề đó phụ thuộc vào quá trình đào tạo và bồi dưỡng của giáo viên. Quá trình bồi dưỡng có sự tham gia tích cực của công tác kiểm tra. Vì chính kiểm tra sẽ duy trì ý thức tổ chức kỷ luật, sẽ bồi dưỡng khả năng phân tích, đánh giá công việc của người giáo viên, từ đó kiểm tra góp phần hình thành ý thức và khả năng tự kiểm tra của người giáo viên đối với chính công việc của họ. Một tập thể lao động bao gồm những người lao động biết tự kiểm tra công việc của bản thân họ là một tập thể lao động biết tự quản lý. Đó là một tập thể lao động lý tưởng.

Một trong những mục đích quan trọng của quản lý là biến quá trình Kiểm tra nội bộ thành quá trình tự kiểm tra của từng cá nhân trong tổ chức. Mỗi đơn vị nếu biết kết hợp tốt các nguồn kiểm tra khác nhau sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý của đơn vị mình. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

1.3.2. Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học

Là hệ thống các tác động có hướng đích của chủ thể quản lý (CBQLNT) đến hoạt động NỘI BỘ hay “việc thực hiện các công việc của nhà trường” làm cho hoạt động này vận hành, phát triển và đạt được mục tiêu dự kiến, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

Chủ thể quản lý công tác Kiểm tra nội bộ trường học bao gồm:

  • Hiệu trưởng là chủ thể cao nhất, chịu trách nhiệm toàn diện về công tác Kiểm tra nội bộ trong nhà trường;
  • Mỗi Cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường là chủ thể tự kiểm tra công việc, việc thực hiện nhiệm vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của mình;

1.3.3. Chức năng của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học

KTNB trường học là chức năng quản lý cơ bản, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý đảm bảo tạo lập mối liên hệ thường xuyên, kịp thời, giúp Kiểm tra hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường. Kiểm tra nội bộ là một công cụ sắc bén, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo trong nhà trường. Lãnh đạo mà không có kiểm tra coi như không có lãnh đạo.

Thực tế cho thấy, nếu Kiểm tra nội bộ được thực hiện chính xác, chân thực sẽ giúp Hiệu trưởng có thông tin chính xác hơn về thực trạng đơn vị mình cũng như xác định các mức độ, giá trị, các yếu tổ ảnh hưởng, từ đó tìm ra nguyên nhân, đề ra các giải pháp điều chỉnh, uốn nắn phù hợp. Như vậy, kiểm tra vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để đảm bảo các mục tiêu.

KTNB còn có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ và giúp đỡ các đối tượng kiểm tra làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Nếu tổ chức việc kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm lần. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

KTNB chẳng những giúp nhà Quản lý thu thập thông tin về hoạt động của đối tượng Quản lý mà mình đang điều hành mà giúp mà còn giúp nhà Quản lý nhận rõ kế hoạch, việc chỉ đạo, điều hành….của mình có khoa học, khả thi không, từ đó có các biện pháp điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả Quản lý.

KTNB trường học thực hiện việc xem xét và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên, bộ phận trong nhà trường, phân tích nguyên nhân các ưu, nhược điểm đồng thời đề xuất các biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, thiếu sót. Do đó, giúp cho công việc động viên, khen thưởng, chính xác các cá nhân, tập thể; khuyến khích cái tốt, truyền bá kinh nghiệm tiên tiến đồng thời phát hiện ra những lệch lạc, sơ suất, sai sót để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời. Đồng thời, làm tốt Kiểm tra nội bộ sẽ giúp ngăn ngừa việc khiếu nại, tố cáo, góp phần làm cho nhà trường có được không khí lành mạnh, xây dựng tập thể nhà trường đoàn kết, nhất trí.

Vai trò của Kiểm tra nội bộ trong trường Trung học phổ thông là giúp Cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên, nhân viên nhìn nhận, đánh giá về thực trạng hoạt động của nhà trường, của từng bộ phận, cá nhân trong trường một cách khách quan. Qua đó, mỗi bộ phận, cá nhân nhận thấy rõ trách nhiệm trong Quản lý, trong giảng dạy, trong việc phục vụ hoạt động dạy và học; tích cực hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời ngăn ngừa các hạn chế, sai sót trong việc thực hiện nhiệm vụ. Việc Kiểm tra nội bộ trong năm học giúp Hiệu trưởng theo dõi, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động năm học, thực hiện nhiệm vụ của nhà trường đã được thông qua trong tập thể sư phạm ngay từ đầu năm học.

Có thể nói, Kiểm tra nội bộ là một trong các yếu tố tạo tạo nên chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

Hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học có những chức năng sau:

Chức năng đánh giá: đánh giá là quá trình xác định một giá trị thực nào đó cho cá nhân hay tổ chức trong hoạt động cụ thể. Đánh giá đòi hỏi các thao tác phân tích, tổng hợp và xác nhận giá trị thực trạng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng và hiệu quả công việc, đưa ra kết luận về trình độ và xu hướng phát triển tại thời điểm đang xét so với mục tiêu hay chuẩn mực xã hội xác lập. Đánh giá bao gồm: Xác lập chuẩn và quy định một chế độ kiểm tra hợp lý. Trong quản lý nhà trường, đó là chuẩn đánh giá hiệu trưởng, chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, chuẩn đánh giá giáo viên, chế độ kiểm tra, đánh giá học sinh, …; đánh giá còn bao gồm: tổ chức đo lường các thông tin (thành tựu). Người hiệu trưởng một mình không đủ thời gian và công sức cho hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học, do đó, người hiệu trưởng cần phải xây dựng lực lượng làm công tác kiểm tra trong nội bộ trường học, trên cơ sở đó phân công, phân nhiệm cho từng cá nhân, tổ chức cùng thực hiện kế hoạch kiểm tra đồng thời quy định chế độ báo cáo với hiệu trưởng sau kiểm tra; đánh giá còn bao gồm: so sánh sự phù hợp của các thành tựu đã thu thập được với những chuẩn mực đã xác lập. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp tình hình người kiểm tra xác định mức độ phù hợp so với chuẩn theo ba mức độ (có, có thể hoặc không phù hợp). Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Chức năng phát hiện: Chức năng phát hiện là quá trình xác định những cái tốt để khuyến khích, động viên, đồng thời phát hiện cái lệch lạc, thiếu sót, sai phạm so với mục tiêu, chuẩn mực để chấn chỉnh. Phát hiện bao gồm: khẳng định cái tốt, đồng thời phát hiện cái thiếu sót, lệch lạc và sai phạm so với chuẩn mực được đề ra; xác định mức độ của những thiếu sót, lệch lạc và sai phạm một cách chính xác và khách quan; tìm nguyên nhân của những thiếu sót, lệch lạc và sai phạm đó. Nếu ở mức vi phạm các quy định sẽ đưa ra các hình thức kỷ luật đối với các cá nhân mắc sai phạm.

Chức năng điều chỉnh: Chức năng điều chỉnh là việc đưa ra những quyết định và biện pháp cần thiết để khuyến khích, động viên, phát huy những nhân tố tích cực hoặc uốn nắn, sửa chữa những sai lệch, nếu sai phạm nhiều thì xử lý. Điều chỉnh bao gồm: hành động phát huy có thể có các mức độ khuyến khích, động viên hoặc truyền bá những kinh nghiệm tốt; hành động uốn nắn, sửa chữa là cấn thiết đối với hành vi, thái độ của người thừa hành, nếu cần có thể thay đổi các mức chỉ tiêu đã đề xuất; hành động xử lý

Cơ sở thực tiễn tiến hành kiểm tra nội bộ:

Các hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học trong nhà trường phức tạp nhưng giáo dục đào tạo không được phép có phế phẩm, do đó hiệu trưởng nhà trường phải thường xuyên hay theo định kỳ kiểm tra các hoạt động, các công việc để nắm bắt, rút kinh nghiệm, điều chỉnh, uốn nắn, cải tiến và hoàn thiện chu trình quản lý.

Cơ sơ pháp lý để tiến hành kiểm tra nội bộ:

Việc thực hiện quy định Kiểm tra nội bộ trường học được quy định tại Luật Giáo dục, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục, Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, Chỉ thị và Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ hàng năm của Bộ Giáo dục, Thông tư 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04/12/2013 (Khoản 2, Điều 15 quy định trách nhiệm của Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo là tổ chức công tác tập huấn Kiểm tra nội bộ; khoản 3, Điều 16 quy định trách nhiệm của Phòng Giáo dục và Đào tạo là xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ được giao và hướng dẫn công tác Kiểm tra nội bộ; khoản 1, Điều 17 quy định trách nhiệm của các cơ sở giáo dục là xây dựng kế hoạch và tổ chức Kiểm tra nội bộ); Thông tư 32/2014/TT-BGDĐT ngày 25/9/2014 quy định về chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục có yêu cầu, hướng dẫn về công tác Kiểm tra nội bộ của cơ sở giáo dục (dùng cho cộng tác viên là cán bộ quản lý hoặc viên chức thuộc cơ sở giáo dục).

Căn cứ pháp lý để Kiểm tra nội bộ trường học là: Luật giáo dục; Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật giáo dục; Điều lệ nhà trường; mục tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường; Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục; quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn hiệu trưởng; quy định về biên chế đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên; quy định về thiết bị dạy học, phòng học bộ môn; quy định về đaọ đức nhà giáo; quy định về đánh giá xếp loại viên chức; quy định về thi và tuyển sinh; quy định về vệ sinh, môi trường, an ninh trong trường học; quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các cơ sở giáo dục; quy định về dạy thêm học thêm; quy chế văn bằng chứng chỉ; quy định về đánh giá, xếp loại viên chức, học sinh; quy định về tự kiểm tra tài chính, kế toán; quy chế dân chủ, công khai minh bạch trong tổ chức và hoạt động giáo dục; quy định về phổ cập giáo dục; chỉ thị nhiệm vụ năm học (hàng năm) của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo ở địa phương; kế hoạch năm học của nhà trường,….

1.3.4. Thẩm quyền, đối tượng, phạm vi kiểm tra nội bộ trường học Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Thẩm quyền: Lãnh đạo cơ sở giáo dục và thành viên ban Kiểm tra nội bộ do thủ trưởng cơ sở giáo dục ra quyết định thành lập.

Đối tượng Kiểm tra nội bộ: Về đối tượng kiểm tra: Đối tượng Kiểm tra nội bộ trường học là tất cả các thành tố cấu thành hệ thống sư phạm nhà trường, sự tương tác giữa chúng tạo ra một phương thức hoạt động đồng bộ và thống nhất nhằm thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch giáo dục và tạo ra kết quả đào tạo mong muốn. Song đối tượng chủ yếu của Kiểm tra nội bộ trường học là: lãnh đạo, Cán bộ, giáo viên, nhân viên, Học sinh, cơ sở vật chất – kỹ thuật, tài chính, kết quả dạy học và giáo dục.

Phạm vi kiểm tra nội bộ: kiểm tra việc thực hiện chức trách, các nhiệm vụ được giao của các bộ phận, tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các cá nhân thuộc quyền quản lý của thủ trưởng cơ sở giáo dục.

1.3.5. Hình thức kiểm tra nội bộ trường học

Kiểm tra khái quát: Kiểm tra khái quát là bước đầu tiên tiếp xúc với đối tượng kiểm tra để xác định hình ảnh ban đầu về một đối tượng tốt hay xấu. Theo cách này, người kiểm tra xác định mục tiêu của các hoạt động hay từng hoạt động cụ thể, các biện pháp chủ yếu đã thực hiện và kết quả đạt được tại thời điểm kiểm tra so với kế hoạch đã xác định và sơ bộ đưa ra kết luận tốt hay chưa tốt.

Kiểm tra chi tiết: Kiểm tra chi tiết là kiểm tra cụ thể từng hoạt động hay từng vấn đề cụ thể. Người kiểm tra xem xét hệ thống các biện pháp đã được áp dụng so với kế hoạch, mục tiêu và các điều kiện cung cấp cho việc thực hiện các mục tiêu đó.

Kiểm tra toàn diện: Kiểm tra toàn diện đối với một tổ chức, một bộ phận hay một cá nhân là xem xét trình độ hoạt động của đối tượng đó trên cơ sở số liệu đa dạng, có hệ thống của toàn bộ các hoạt động và hiệu quả của tất cả các khâu trong quá trình hoạt động. Kiểm tra toàn diện nhằm mục đích đánh giá khách quan tình hình công việc, khuyến khích động viên được những cái tốt và giúp đỡ khắc phục thiếu sót, nên chương trình kiểm tra toàn diện cần được thông báo trước cho đối tượng được kiểm tra. Cần chú ý rằng, hình thức kiểm tra toàn diện thường được tiến hành tương đối ít, nên cần chuẩn bị chu đáo và thận trọng.

Kiểm tra chuyên đề: Kiểm tra chuyên đề là hoạt động kiểm tra chỉ xem xét sâu sắc một số vấn đề trong toàn bộ hệ thống hoạt động của đối tượng kiểm tra. Kiểm tra chuyên đề có thể phát hiện được các thiếu sót điển hình và đưa ra được kết luận có căn cứ xác đáng. Những kết luận này có thể sử dụng làm căn cứ phân tích, so sánh với các đối tượng khác có hoàn cảnh tương tự.

Kiểm tra theo kế hoạch: được tiến hành theo kế hoạch xây dựng từ đầu năm học với các nội dung, nhiệm vụ được quy định theo các văn bản của các cấp quản lý và tình hình thực tế của đơn vị do thủ trưởng đơn vị ký duyệt. Hoạt động Kiểm tra nội bộ có thể tiến hành theo chuyên đề hoặc theo tổ bộ môn, cá nhân. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Kiểm tra đột xuất: khi phát hiện tổ chuyên môn, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật theo yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng hay do thủ trưởng cơ quản quản lý nhà nước có thẩm quyền giao. Kiểm tra đột xuất là rất cần thiết cho người hiệu trưởng vì nó không những giúp chủ thể quản lý biết được tình hình công việc diễn ra trong điều kiện bình thường hàng ngày diễn ra mà còn giúp cho việc duy trì kỷ luật lao động, tinh thần tự giác trong công việc hàng ngày và bồi dưỡng cho từng thành viên khả năng tự kiểm tra điều chỉnh hành vi, thái độ của mình trong hoạt động.

1.3.6. Nguyên tắc kiểm tra nội bộ trường học

Nguyên tắc Kiểm tra nội bộ trường học là những quy định, luận điểm cơ bản mà chủ thể quản lý cần phải tuân thủ khi xác định tổ chức và hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học. Nguyên tắc Kiểm tra nội bộ trường học tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của kiểm tra trong quản lý như:

Nguyên tắc pháp chế: kiểm tra được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật quy định, không ai có thể can thiệp, không được tùy tiện trong tổ chức và hoạt động kiểm tra.

Nguyên tắc tập trung dân chủ: nguyên tắc tập trung dân chủ được quán triệt trong kiểm tra, chủ thể quản lý có quyền quyết định chương trình kế hoạch kiểm tra và có quyền phủ quyết những kết luận của những bộ phận, cá nhân tham gia lực lượng kiểm tra. Mặt khác, các tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, đề xuất, kiến nghị để các tổ chức xem xét, giải quyết.

Nguyên tắc khách quan: kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, công khai, công bằng. Kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào chuẩn mực đã quy định, tránh áp đặt, chủ quan của người kiểm tra. Kết quả kiểm tra phải phản ánh đúng thực trạng về đối tượng kiểm tra; Tránh định kiến, suy diễn cũng như tránh hình thức, giả tạo.

Nguyên tắc tính hiệu quả: hoạt động kiểm tra phải đạt được mục tiêu đã đặt ra với mọi chi phí ít nhất (chi phí vật chất, thời gian, sức lực). Hiệu quả kiểm tra còn được thể hiện bằng những kết luận chính xác, những kết luận có tính khả thi giúp toàn bộ hệ thống quản lý có những điều chỉnh hợp lý nhằm đạt được mục tiêu và nâng cáo chất lượng hoạt động. Kiểm tra không phải là ‘bới lông tìm vết”. Kiểm tra phải có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy việc thực hiện được tốt hơn. Đặc biệt, phải tính đến hiệu quả trong kiểm tra; kiểm tra phải giúp nhà Quản lý nâng cao hiệu quả Quản lý nhờ những thông tin xác thực về hoạt động của đối tượng Quản lý và hoạt động của các cấp Quản lý trong nhà trường.

Nguyên tắc tính kế hoạch: nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động kiểm tra phải được xác định trong toàn bộ kế hoạch năm học nhằm hỗ trợ tích cực cho việc triển khai các chức năng quản lý khác. Mặt khác, kiểm tra phải có kế hoạch triển khai cụ thể phù hợp với từng giai đoạn nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Nguyên tắc tính công khai, thường xuyên, kịp thời: đó là thể hiện sự dân chủ trong quản lý. Cần phải động viên, thu hút cá nhân, tham gia vào quá trình kiểm tra. Qua kiểm tra phải có tác dụng ngoại biên tích cực. Kiểm tra là một chức năng quản lý, là công việc của nhà quản lý nên phải thực hiện thường xuyên, không phải là khi có vấn đề mới kiểm tra.

Ngoài ra, Kiểm tra nội bộ phải đảm bảo nguyên tắc tính giáo dục và phát triển; phải xây dựng được nét văn hóa chung của nhà trường và hệ thống giáo dục là: cầu tiến, tin yêu nhau, chân thành học hỏi và giúp đỡ nhau; phải tiến hành thường xuyên, hệ thống, có mục đích, có kế hoạch suốt năm học; phải sử dụng các tiêu chuẩn, biểu mẫu…dễ hiểu, tiện dụng, phù hợp với hoàn cảnh và trình độ kiểm tra; phải phát hiện, động viên kịp thời người tốt, việc tốt và sữa chữa ngay các thiếu sót; phải có chế độ kiểm tra hợp lý, đủ để phát huy tác dụng tích cực, vượt quá giới hạn sẽ phản tác dụng; phải tôn trọng đối tượng được kiểm tra; phải linh hoạt, tránh dập khuôn, máy móc; phải sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.

1.3.7. Nhiệm vụ của kiểm tra nội bộ trường học

KTNB trường học thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

Kiểm tra: xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng kiểm tra so với các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn của các cấp quản lý. Yêu cầu kiểm tra phải tỉ mỉ, rõ ràng, chỉ rõ những việc làm được, những việc chưa làm được của đối tượng kiểm tra. Đối với người được kiểm tra thì cảm thông, hợp tác, phối hợp với người kiểm tra.

Đánh giá: Xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo quy định, phù hợp với bối cảnh và đối tượng để đánh giá, xếp loại đối tượng được kiểm tra. Yêu cầu của đánh giá là phải khách quan, chính xác, công bằng đồng thời định hướng, khuyến khích tạo cơ sở cho sự tiến bộ của đối tượng kiểm tra.

Tư vấn: Nêu được những nhận xét, gợi ý giúp cho đối tượng được kiểm tra thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ của mình. Yêu cầu của tư vấn là các ý kiến tư vấn phải sát thực, khả thi giúp cho đối tượng kiểm tra nâng cao chất lượng công việc của mình.

Thúc đẩy: Là hoạt động kích thích, phát hiện, phổ biến các kinh nghiệm tốt, những định hướng mới và kiến nghị với các cấp quản lý nhằm hoàn thiện dần hoạt động của đối tượng kiểm tra góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường. Yêu cầu của thúc đẩy là người kiểm tra phải phát hiện, lựa chọn được kinh nghiệm (của đối tượng kiểm tra, của người khác, của mình, …); phổ biến được kinh nghiệm tốt, những định hướng mới cho đối tượng kiểm tra và có những kiến nghị xác đáng đối với các cấp quản lý nhằm phát triển tổ chức, phát triển cá nhân trong đơn vị.

1.3.8. Nội dung kiểm tra nội bộ trường học Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường rất phong phú, phức tạp và nhiều mặt. Hiệu trưởng có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ công việc, hoạt động, mối quan hệ, kết quả của toàn bộ quá trình dạy học, giáo dục và những điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, tài sản, thiết bị, đồ dùng dạy học, không loại trừ mặt nào. Để xác định nội dung của Kiểm tra nội bộ cần căn cứ vào đối tượng của Kiểm tra nội bộ trường học và các cơ sở pháp lý của thanh tra, kiểm tra.

Kiểm tra theo chuyên đề: kiểm tra công tác quản lý của thủ trưởng, phó thủ trưởng, các tổ chuyên môn, tổ văn phòng, nhóm chuyên môn, …; kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo; hoạt động dạy thêm, học thêm; việc thu, quản lý và sử dụng các khoản thu; việc thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động, người học; công tác quy chế đánh giá và xếp loại học sinh; thực hiện chế độ cho điểm; đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá; công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật; ….

Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công tác quản lý của thủ trưởng đơn vị: xây dựng và triển khai thực hiện các loại kế hoạch; quản lý, bố trí, sử dụng, bồi dưỡng, đánh giá xếp loại thực hiện chế độ, chính sách đội ngũ cán bộ, nhà giáo, nhân viên, người học; thực hiện quy chế dân chủ, giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại giáo viên; tổ chức, tham gia các hoạt động xã hội; quản lý hành chính, tài chính, tài sản; công tác tham mưu, phối hợp và công tác xã hội hóa giáo dục.

Kiểm tra chuyên đề nhà trường: Kiểm tra việc thực hiện 3 công khai (công khai chất lượng giáo dục; công khai điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đội ngũ; công khai thu-chi tài chính); kiểm tra việc thực hiện chỉ thị nhiệm vụ năm học; kiểm tra việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá; kiểm tra việc thu, chi tài chính, việc huy động và sử dụng các khoản do nhân dân và các tổ chức đóng góp; kiểm tra việc thực hiện quy định về dạy thêm, học thêm; kiểm tra việc thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua của ngành; kiểm tra việc thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí; kiểm tra việc thực hiện quy định đổi mới tiếp công dân; …

Kiểm tra các tổ, nhóm: xem xét, đánh giá năng lực, uy tín của tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng; xem xét, đánh giá quá trình, kết quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ (xây dựng kế hoạch, kết quả thực hiện, đôn đốc kiểm tra hiệu quả thực hiện nhiệm vụ các hoạt động, công việc của trường, của ngành đã và đang triển khai thông qua hồ sơ sổ sách và kết quả tổ chức các hoạt động.

Kiểm tra giáo viên: Thực hiện quy chế chuyên môn; dự giờ lên lớp (số tiết dự và đánh giá theo quy định của Sở); kết quả giảng dạy và giáo dục học sinh (điểm kiểm tra hoặc kết quả đánh giá học sinh, kiểm tra việc khảo sát chất lượng); so sánh kết quả giáo dục của học sinh do nhà giáo giảng dạy với các lớp khác trong trường (có tính đến đặc thù của đối tượng); thực hiện các nhiệm vụ khác được giao: thực hiện công tác kiêm nhiệm, công tác chủ nhiệm, tham gia các hoạt động tập thể, các phong trào thi đua.

1.3.9. Xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Thời điểm là đầu năm học, sau khi có hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học và kế hoạch năm học của nhà trường. Xây dựng mục đích, yêu cầu, lựa chọn nội dung, đối tượng và thời điểm, thời gian kiểm tra phù hợp.

1.4. Triển khai các chức năng quản lí trong việc thực hiện hoạt động kiểm tra nội bộ trường Trung học phổ thông

1.4.1. Lập kế hoạch kiểm tra nội bộ

Đây là bước đầu tiên trong việc thực hiện chức năng quản lí của hiệu trưởng nhà trường. Kế hoạch có đảm bảo phù hợp thì các khâu khác mới đạt được hiệu quả cao. Bậc Trung học phổ thông chịu sự quản lý chỉ đạo trực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, vì vậy hằng năm cứ vào dịp đầu năm học trên cơ sở các điều kiện đảm bảo của nhà trường: như kế hoạch của cấp trên, qui mô trường lớp, cơ sở vật chất, biên chế đội ngũ, chất lượng học sinh, nguồn tài chính, kế hoạch hoạt động của các tổ, nhóm chuyên môn…Hiệu trưởng tập trung chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch Kiểm tra nội bộ của nhà trường. Lập kế hoạch là nhiệm vụ hàng đầu của các nhà quản lý, là quá trình ấn định những mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó. Nó liên hệ với những phương tiện cũng như với những mục đích. Kế hoạch Kiểm tra nội bộ chính là bản mô tả của các vấn đề : Kiểm tra cái gì (nội dung), phương thức Kiểm tra, quy trình Kiểm tra, thời gian và người chịu trách nhiệm…Quản lý công tác lập kế hoạch Kiểm tra nội bộ trường học là quá trình hiệu trưởng phải triển khai đầu các năm học thông qua các bộ phận giúp việc trong nhà trường để chỉ đạo lập kế hoạch Kiểm tra nội bộ NT. Kế hoạch phải đảm bảm tính khả thi cao, chỉ ra được lực lượng tham gia Kiểm tra, đối tượng được Kiểm tra, các nội dung Kiểm tra (nội dung Kiểm tra phải toàn diện, Kiểm tra tất cả các hoạt động của nhà trường, quản lý gì thì kiểm tra ấy; nội dung Kiểm tra phải tác động được vào hệ thống quản lý của nhà trường, không chỉ tập trung vào Kiểm tra hồ sơ, sổ sách, hoạt động sư phạm của giáo viên), các biện pháp Kiểm tra, thời gian tiến hành Kiểm tra … Phải đảm kế hoạch được xây dựng từ cơ sở, bộ phận, tổ chức, cá nhân để đi đến xây dựng kế hoạch tổng thể của nhà trường.

1.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra nội bộ

Công tác tổ chức thực hiện là bố trí nhân lực, phân tích chi tiết công việc, lựa chọn và phân công từng cá nhân trong đơn vị tương xứng cho từng công việc đã được xây dựng trong kế hoạch một cách thích hợp nhất.

Kế hoạch dù có tốt đến đâu mà các giải pháp tổ chức triển khai của nhà quản lí không phù hợp thì cũng không thể phát huy hiệu quả của công tác Kiểm tra nội bộ. Trên cơ sở kế hoạch đã được xây dựng, hiệu trưởng cần cụ thể hoá kế hoạch dự kiến con người, xây dựng chương trình kiểm tra. Phát huy sức mạnh của những người được giao nhiệm vụ đầu mối Kiểm tra nội bộ, đội ngũ cốt cán của nhà trường vì hiệu trưởng không thể làm thay họ được tất cả. Tổ chức thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ: Tổ chức triển khai thành công những hoạt động mà đã được vạch ra trong bản kế hoạch là điều hết sức quan trọng. Triển khai chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ trường học là quản lý việc sử dụng một cách tối ưu các điều kiện đảm bảo về con người và cơ sở vật chất hiện có và được yêu cầu của nhà trường để thực hiện tốt nhất kế hoạch đã được xây dựng. Khi quản lý công tác tổ chức thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ nhà trường, người quản lý phải có tư duy có hệ thống để có thể dự kiến sát nhất các tình huống quản lý có thể xẩy ra để có các biện pháp tổ chức phù hợp. Quản lý công tác tổ chức thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ nhằm giúp hiệu trưởng nắm chắc tiến trình công việc, tìm và phối hợp mọi nguồn lực để tổ chức thực hiện được kế hoạch đề hữu hiệu hơn. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

1.4.3. Chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ

Công tác chỉ đạo thực hiện là giám sát, điều khiển nhân lực, trong quá trình thực hiện công việc, tạo động lực cho từng cá nhân trong đơn vị thực hiện từng công việc đã được xây dựng trong kế hoạch một cách thích hợp nhất. Công tác chỉ đạo ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng có ý nghĩa quyết định cụ thể thắng lợi của công việc. Có thể nói bất kỳ kế hoạch hay các biện pháp tổ chức nào dù chuẩn bị kỹ càng chi tiết đến đâu trong quá trình thực hiện cũng có những phát sinh ngoài dự kiến công tác chỉ đạo phải nhìn nhận xử lý kịp thời, chính xác các vấn đề nảy sinh. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ trong trường Trung học phổ thông cần đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của lực lượng được giao nhiệm vụ để đảm bảo hoạt động kiểm tra đi đúng hướng, có hiệu quả cao.

Công tác quản lý chỉ đạo thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ là việc làm nhằm giúp các bộ phận, các cá nhân được giao nhiệm vụ kiểm tra trong nhà trường làm việc hiệu quả hơn để đạt được các kế hoạch. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ trong nhà trường phải được qui về một mối thống nhất là hiệu trưởng nhà trường, có như vậy mới tạo được tiếng nói chung sự nhất trí tổng thể trong việc thực hiện kế hoạch, cũng như những điều chỉnh cần thiết (nếu có) của kế hoạch đã đề ra. Chỉ đạo công tác Kiểm tra nội bộ cũng phải nắm chắc các biện pháp khuyến khích động viên để tạo tâm lý thoải mái, tự tin nắm vững các nhiệm vụ cơ bản của tổ chức để phối hợp với các đồng nghiệp tham gia kiểm tra hoàn thành tốt nhiệm vụ. Quản lý công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ trường học cũng phải chú trọng xem việc thực hiện phải được triển khai theo đúng thời hạn đề ra. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

1.4.4. Đánh giá kết quả và đưa ra yêu cầu quản lý trong Kiểm tra nội bộ

Kiểm tra – đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin về các hoạt động Kiểm tra nội bộ đã được triển khai. Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là công tác kiểm tra. Vị trí, vai trò của kiểm tra – đánh giá là không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn trong công tác Kiểm tra nội bộ mà trong cả quá trình kiểm tra. Đánh giá ở mỗi thời điểm cuối mỗi giai đoạn kiểm tra sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn kiểm tra mới. Từ kết quả của kiểm tra đánh giá những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện thêm kế hoạch Kiểm tra nội bộ đã đề ra.

Sau mỗi chu kỳ thời gian kiểm tra, sau mỗi hoạt động kiểm tra, sau một lần triễn khai kiểm tra các đối tượng … Hiệu trưởng các nhà trường phải chỉ đạo quyết định tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm cho các bộ phận để tiếp tục triển khai cho các đợt khác, đối tượng khác.

Kiểm tra, đánh giá trong Kiểm tra nội bộ là kiểm tra chuỗi quá trình hoạt động theo kế hoạch, đánh giá, xem xét việc thực hiện kế hoạch Kiểm tra nội bộ được thực hiện đúng kế hoạch không. Kiểm tra đánh giá trong Kiểm tra nội bộ phải chú trọng tập trung vào các mục tiêu và biện pháp mà kế hoạch đã đề ra. Nhà quản lý phải quản lý hữu hiệu các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá trong Kiểm tra nội bộ, các hình thức kiểm tra – đánh giá khác nhau trong suốt quá trình, xác nhận độ tin cậy, tính hiệu lực, đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định. Kế hoạch có thể sẽ được thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra. Kiểm tra đánh giá trong Kiểm tra nội bộ phải góp phần làm cho việc kiểm tra đánh giá trở nên linh hoạt, nhanh nhạy hơn trong công việc .

1.4.5. Quy trình tiến hành một cuộc kiểm tra nội bộ

Giai đoạn 1: Chuẩn bị kiểm tra

Ban hành Quyết định kiểm tra (theo kế hoạch hoặc đột xuất): lựa chọn nội dung theo kế hoạch hoặc đột xuất; lựa chọn người Kiểm tra với số lượng và con người cụ thể phù hợp với nội dung và thời gian Kiểm tra. Trưởng đoàn xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công nhiệm vụ trong đoàn, thông báo kế hoạch Kiểm tra đến đối tượng được kiểm tra, sắp xếp lịch Kiểm tra phù hợp để không ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị, chuẩn bị các văn bản liên quan (căn cứ pháp lý, văn bản quy định liên quan, biểu mẫu, biên bản, đề cương, …)

Giai đoạn 2: Tiến hành kiểm tra Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Thu thập thông tin, hồ sơ, sổ sách có liên quan; kiểm tra hồ sơ, sổ sách của đối tượng trên cơ sở đối chiếu với nhiệm vụ được giao và đối chiếu với các quy định liên quan; kiểm tra thực tế nhiệm vụ được giao; xem xét báo cáo giải trình của đối tượng; hội ý nhóm, đoàn kiểm tra để tổng hợp, thống nhất ý kiến; ghi biên bản kiểm tra theo từng nội dung và biên bản kiểm tra chung.

Giai đoạn 3: Kết thúc kiểm tra

Hiệu trưởng thông báo kết quả kiểm tra, đánh giá những ưu điểm, tích cực để nhân rộng, biện pháp xử lý vi phạm (nếu có), rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch của người quản lý (nếu cần), lưu giữ hồ sơ theo quy định. Hồ sơ gồm có: Quyết định thành lập đoàn kiểm tra, kế hoạch đoàn kiểm tra, phân công nhiệm vụ, lịch làm việc, báo cáo của đối tượng được kiểm tra, biên bản kiểm tra, báo cáo kết quả của đoàn kiểm tra, quyết định xử lý và văn bản kiến nghị xử lý (nếu có).

1.4.6. Quản lý các mối quan hệ trong quá trình Kiểm tra nội bộ trường học

Quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ bao gồm: lập kế hoạch Kiểm tra nội bộ; tổ chức thực hiện Kiểm tra nội bộ; chỉ đạo hoạt động Kiểm tra nội bộ; đánh giá kết quả kiểm tra và đưa ra yêu cầu quản lý. Trong bốn khâu trên của quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ, mỗi khâu đều có vị trí quan trọng, vai trò nhất định tác động vào quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường, cả bốn khâu đều góp phần để tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ.

Tất cả các khâu không tách rời nhau mà thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau, khâu này là điều kiện, tiền đề cho khâu kia và ngược lại. Trên cơ sở khai thác thế mạnh của từng khâu trong điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nhà trường với từng thời điểm thích hợp để sử dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, tránh dập khuôn, máy móc. Từ đó mà người hiệu trưởng cần nhìn nhận sự vận động, phát triển trong mối liên hệ biện chứng để vận dụng các khâu cho phù hợp với từng thời điểm, từng bộ phận mới mang lại hiệu quả cao trong quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ, góp phần đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay.

1.5. Đổi mới giáo dục và yêu cầu tăng cường quản lý Kiểm tra nội bộ trường học Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

1.5.1. Đổi mới giáo dục và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục

Lí do phải thay đổi, đổi mới giáo dục là vì: để thích ứng với yêu cầu; để duy trì cân bằng động với sự thay đổi của kinh tế – xã hội; để giải toả sức ép về yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục từ xã hội;

Giáo dục là một bộ phận của xã hội, khi mà xã hội thay đổi thì giáo dục phải thay đổi để đáp ứng và hội nhập. Trước những bất cập của giáo dục với yêu cầu của xã hội do mục tiêu giáo dục quá coi trọng kiến thức, ít coi trọng kỹ năng và kiểm tra, đánh giá quá coi trọng ghi nhớ, ít coi trọng năng lực vận dụng nên chất lượng giáo dục bất cập, không đáp ứng được yêu cầu.

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới thì Đảng và nhà nước đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

Tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục có nêu: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục, đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học, các giải pháp đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.

Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, từ đầu mà cần vừa kế thừa, củng cố, phát huy các thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới, vừa kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc; đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình phù hợp với thực tế đất nước, địa phương. Những hạn chế, thách thức của giáo dục phải được nhận thức sâu sắc, có giải pháp hữu hiệu và lộ trình khắc phục, vượt qua để đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới.

1.5.2. Vai trò của hoạt động Kiểm tra nội bộ các nhà trường trong việc đáp ứng yêu cầu đổi mới GD Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đã xác định một trong những nguyên nhân của các yếu kém về giáo dục trong thời gian qua là do “công tác quản lí chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức”. Trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp quản lí, giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, đào tạo thì công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra phải được tăng cường. Nghị quyết khẳng định: Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò hội đồng trường; thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lí các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch các hoạt động của cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.

Kế hoạch số 808/KH-UBND ngày 11/3/2014 của UBND tỉnh Phú Thọ về Thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám BCH Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế có đề ra giải pháp thực hiện chương trình nêu rõ: “Tiếp tục đẩy mạnh việc phân định công tác quản lý nhà nước về giáo dục với công tác quản lý đào tạo, quản trị của cơ sở giáo dục; tập trung vào việc tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy vai trò của ngành giáo dục, vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội; đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc thực thi công vụ cũng như triển khai các nhiệm vụ đổi mới giáo dục, đào tạo, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục. Thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; đổi mới quản trị cơ sở giáo dục, đào tạo theo hướng phát huy dân chủ, tính sáng tạo, tăng dần vai trò của Hội đồng trường; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản. Trong Hội đồng trường bảo đảm vai trò của Đảng ủy (chi ủy) và cơ quan chủ quản; thực hiện cơ chế tự chủ và chịu trách nhiệm trước xã hội, công khai, chịu sự giám sát của các chủ thể trong nhà trường, của Nhà nước và của xã hội đối với cơ sở giáo dục đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý các cấp. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về việc thực hiện mục tiêu đào tạo, chương trình, nội dung, kế hoạch, chất lượng giáo dục và phương pháp giáo dục; tiếp tục củng cố kỷ cương, nền nếp trong dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục, trong kiểm tra đánh giá, thi cử, bảo đảm sự khách quan, chính xác, công bằng; coi trọng quản lý chất lượng đầu ra, quản lý quá trình đào tạo và chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng. Xây dựng cơ chế thu nhận và xử lý các thông tin trong quản lý giáo dục. Đổi mới và nâng cao hiệu quả việc cấp trên đánh giá cấp dưới, thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục, nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý, cơ sở giáo dục tham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục. Đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và của các cơ sở giáo dục”.

Từ quan điểm và giải pháp trên cho thấy, vai trò quản lý của hiệu trưởng nhà trường góp phần thực hiện kế hoạch, mục tiêu đổi mới giáo dục là hết sức quan trọng. Để làm được việc đó, quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ của trường tốt thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

1.5.3. Định hướng phát triển giáo dục của tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 và việc đổi mới hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học

Ngày 25/4/2014, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ ban hành Kế hoạch số 626/KH-SGD&ĐT về thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế giai đoạn 2014 – 2020 với mục tiêu là: Xây dựng được những giải pháp sáng tạo, phù hợp, khắc phục kịp thời thiếu sót, yếu kém trong giáo dục, đào tạo, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân địa phương giai đoạn 2014 2020.

Một trong tám giải pháp đưa ra là: Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng. Theo đó, cần:

Thực hiện đổi mới quản lý giáo dục theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc thực thi công vụ cũng như triển khai các nhiệm vụ đổi mới giáo dục, đào tạo.

Thực hiện nền nếp Quy chế công khai đối với các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân ban hành kèm theo Thông tư số 09/2009/TTBGDĐT ngày 07/5/2009 của của Bộ Giáo dục và Đào tạo; các cơ sở giáo dục thực hiện 3 công khai để người học và xã hội giám sát, đánh giá: (1) công khai chất lượng đào tạo, (2) công khai các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, (3) công khai thu, chi tài chính. Thực hiện 4 kiểm tra: (1) kiểm tra việc phân bổ và sử dụng ngân sách giáo dục đào tạo, (2) kiểm tra việc thu và sử dụng học phí trong các nhà trường, (3) kiểm tra việc sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của người dân và các tổ chức cho nhà trường, (4) kiểm tra việc thực hiện chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và xây dựng nhà công vụ cho giáo viên. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về việc thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạch, chất lượng giáo dục; tiếp tục củng cố kỷ cương, nền nếp trong dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục, trong kiểm tra đánh giá, thi cử, bảo đảm sự khách quan, chính xác, công bằng. Quản lý chặt chẽ việc thực hiện quy định về mục tiêu, chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục.

Phát huy vai trò của các cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo của địa phương tham gia quyết định về quản lý nhân sự, tài chính cùng với quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.

Tiếp tục đề nghị triển khai thực hiện Nghị định 115/2010/NĐCP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục. Bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục.

Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin trong quản lý giáo dục, đào tạo. Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục, đào tạo; nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý; cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước; các tổ chức chính trị – xã hội tham gia giám sát, phản biện các hoạt động giáo dục đào tạo.

Để các nhà trường tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ và giải pháp nêu trong Kế hoạch Định hướng phát triển giáo dục của tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 thì một trong những giải pháp giúp hiệu trưởng các nhà trường rà soát, đánh giá, kiểm tra những việc làm tại nhà trường đó là nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động Kiểm tra nội bộ. Hoạt động Kiểm tra nội bộ tại các nhà trường sẽ giúp Hiệu trưởng có được cái nhìn chính xác hơn, toàn diện hơn, khoa học hơn, khác quan hơn, dân chủ hơn, công khai hơn trong thực hiện kế hoạch định hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020; làm tốt công tác Kiểm tra nội bộ theo hướng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sẽ góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục tại các nhà trường và sự nghiệp chung của giáo dục, đào tạo.

1.6. Những yếu tổ ảnh hưởng đến hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học

1.6.1. Yếu tố chủ quan

Thực tế, công tác Kiểm tra nội bộ tại các trường học hiện nay có triển khai nhưng còn hình thức, chưa hiệu quả, chưa toàn diện, chủ yếu tập trung các nội dung như: kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo; kiểm tra chuyên đề về công tác giảng dạy; công tác chủ nhiệm lớp; kiểm tra cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện; thực hiện quy chế chuyên môn, đánh giá, xếp loại học sinh.

Do yếu tố văn hóa nhà trường, hiệu trưởng là người có vai trò quyết định/chi phối sự phát triển văn hóa nhà trường; Do nhận thức của một số thủ trưởng chưa quan tâm, chưa chỉ đạo một cách toàn diện trong việc tự kiểm tra mà coi đó là công việc của các cơ quan quản lý cấp trên; chưa phận định hoạt động Kiểm tra nội bộ của hiệu trưởng, hoạt động của Ban thanh tra nhân dân. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

Hoạt động Kiểm tra nội bộ liên quan đến toàn bộ công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục của nhà trường từ công tác chuyên môn, đến công tác tài chính, công tác quản lý của hiệu trưởng……năng lực của các thành viên trong ban Kiểm tra nội bộ chưa thật đáp ứng;

Chế độ chi trả cho ban Kiểm tra nội bộ chưa được thủ trưởng các đơn vị quan tâm, đôi khi coi đó là việc phải làm. Thực tế chỉ có một số người như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo thực hiện việc kiểm tra theo công việc quản lý. Các thành viên khác làm việc chưa có chế độ bồi dưỡng nên chỉ làm cho xong việc, chưa chú ý đến hiệu quả hoạt động Kiểm tra nội bộ.

Yếu tố tâm lý của người kiểm tra và người được kiểm tra trong cùng một đơn vị trường học:

Của đối tượng được kiểm tra:

Thứ nhất đối với giáo viên, đội ngũ giáo viên là nhóm xã hội có trình độ nhận thức cao hơn so với mặt bằng chung của xã hội, do đó, họ thường có tâm lý coi công việc của mình là khoa học, hiệu quả và đúng với yêu cầu của cấp trên, đồng thời họ cũng thường có tính tự trọng cao, muốn được những người khác thừa nhận, tôn trọng mình. Do vậy, biết có hoạt động kiểm tra diễn ra đối với mình, một bộ phận giáo viên có tâm trạng lo lắng, bộ phận khác lại mong đợi việc kiểm tra diễn ra để có cơ hội chứng minh khẳng định mình qua kết quả kiểm tra. Một số khác lại muốn tranh thủ sự ủng hộ của tập thể sư phạm để thực hiện mục đích cá nhân.

Khi giải trình hay cung cấp thông tin theo yêu cầu kiểm tra, đối tượng kiểm tra thường dấu đi những chi tiết không có lợi cho bản thân mình nên có trường hợp nguỵ biện, lừa dối, che đậy khi thành viên ban kiểm tra nghiên cứu, xem xét. Một số giáo viên có quá trình công tác được suy tôn các danh hiệu cao quý có thể không khiêm tốn, thường tỏ thái độ nóng nảy, dùng uy quyền hay lập luận và đưa ra những minh chứng không xác đáng bao che cho việc làm của mình. Ngược lại, với những việc làm sai trái hoặc có các vi phạm họ thường dùng những lời lẽ thuyết phục hoặc sửa chữa hồ sơ để che đậy những cái sai mà họ phải gánh chịu trách nhiệm. Khi họ bị phát hiện thường lúng túng hoặc nổi nóng dẫn đến có thái độ bất cần hoặc buông thả không quan tâm đến việc kiểm tra, đánh giá ban kiểm tra.

Thứ hai, do thủ trưởng đơn vị là người quyết định thành lập Ban Kiểm tra nội bộ nên tâm lý của các thành viên trong ban kiểm tra thường nể nang, cho rằng mọi việc trong nhà trường đều do thủ trưởng; tốt, xấu đều do thủ trưởng nên khi thực hiện nhiệm vụ của ban kiểm tra có phần nể nang, làm cho xong. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

1.6.2. Yếu tố khách quan

Sự tác động của các cấp quản lý về hoạt động Kiểm tra nội bộ: việc thanh tra của Sở, Bộ trong những hoạt động thanh tra, kiểm tra nhà trường; việc tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra cho cán bộ quản lý, cho thành viên Ban Kiểm tra nội bộ có tác động, ảnh hưởng nhất định đến công tác Kiểm tra nội bộ của nhà trường.

Nguồn lực tài chính và vật chất dành cho hoạt động kiểm tra còn hạn hẹp, chưa được quan tâm;

Quan niệm của các lực lượng tham gia giáo dục về kiểm tra chưa thực theo hướng tích cực là kiểm tra để phát triển; nhiều chỗ, nhiều nơi còn ngại kiểm tra vì họ hiểu một chiều là kiểm tra chỉ để phê bình, khiển trách.

1.7. Tiểu kết chương 1

KTNB có vai trò hết sức quan trọng, là một chức năng không thể thiếu của quản lí nhà trường. Vì vậy, trong Chương 1, tôi tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ nhà trường, từ đó định hướng cho việc khảo sát thực trạng hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học của các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học của các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn thành phố Việt Trì trong Chương 2 và Chương 3. Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học

One thought on “Luận văn: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại trường Trung học

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra nội bộ tại trường Trung học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *