Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Yêu Cầu Và Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Những yêu cầu mang tính nguyên tắc trong việc lựa chọn các biện pháp
Từ thực trạng, yêu cầu, nhiệm vụ của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh hiện nay, đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống biện pháp nhằm quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở khoa học quản lý giáo dục, thiết nghĩ việc xây dựng các biện pháp phải đảm bảo những yêu cầu mang tính nguyên tắc, đó là: phải đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ, tính kế thừa, tính thực tiễn, tính khách quan, chất lượng và hiệu quả.
Bảo đảm tính khoa học: Dựa trên những tri thức của khoa học quản lý giáo dục, các biện pháp phải được xác định dựa trên một chu trình quản lý khép kín bao gồm các khâu cơ bản, mỗi khâu thể hiện một chức năng quản lý cụ thể. Đồng thời trên cơ sở nắm được các mối quan hệ qua lại giữa các chức năng quản lý, chủ thể quản lý, khách thể quản lý… để điều chỉnh hoạt động quản lý có hiệu quả ngày càng cao. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Bảo đảm tính hệ thống đồng bộ: Các biện pháp khi đề xuất phải bảo đảm tính đồng bộ, hỗ trợ lẫn nhau để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng – an ninh, tránh trường hợp kết thúc thực hiện biện pháp này mới tiến hành thực hiện biện pháp khác hoặc thực hiện biện pháp này gây cản trở ảnh hưởng đến kết quả thực hiện biện pháp khác. Các biện pháp được xây dựng phải bảo đảm tính hệ thống, nghĩa là tổ chức thực hiện biện pháp này là cơ sở để thực hiện biện pháp khác và ngược lại.
Bảo đảm tính kế thừa: Các phương pháp đề xuất phải kế thừa ưu điểm các phương pháp quản lý cũ để tránh trường hợp xáo trộn quá mức và đây cũng chính là quan điểm của Mác “không nên phủ định sạch trơn”
Bảo đảm tính thực tiễn: Việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh nhất thiết phải xuất phát từ thực tiễn tình hình đổi mới quản lý giáo dục đại học nói chung, thực tiễn chuyển đổi phương thức đào tạo tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, đặc biệt là thực tiễn tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh (về trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên, về nội dung, chương trình, giáo trình, cơ sở vật chất phục vụ dạy học giáo dục quốc phòng – an ninh).
Từ thực tiễn trên, các biện pháp đề xuất cần bảo đảm bảo tính khả thi, nghĩa là các biện pháp đề ra phải thu hút được sự tham gia đầy đủ của đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên với một tinh thần tự giác vượt qua mọi khó khăn để đạt được kết quả cao nhất.
Bảo đảm tính khách quan: Biện pháp đưa ra phải đảm bảo tính khách quan chính là thực tiễn của Trung tâm và thực tiễn đổi mới của Đại học Quốc gia Thành phố Hô Chí Minh
Bảo đảm chất lượng và hiệu quả: Các biện pháp đề xuất phải đảm bảo có tác động hiệu quả đến quá trình quản lý đào tạo và phải đạt hiệu quả đào tạo cao.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
3.2.1. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và sinh viên về nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh
Mục tiêu của biện pháp: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Làm cho mọi cán bộ, giảng viên, nhân viên, sinh viên đang công tác, học tập tại Trung tâm có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh, trên cơ sở đó hình thành thái độ, động cơ, hành động đúng đắn trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy và học tốt môn học.
Những nội dung yêu cầu cần đạt được:
Không ngừng chỉ đạo cho đội ngũ cán bộ, giảng viên thường xuyên nghiên cứu, học tập các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của Bộ chính trị, Chính phủ, của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Quốc phòng và của Nhà trường về giáo dục quốc phòng – an ninh. Thực hiện chỉ đạo và dạy học nội dung môn giáo dục quốc phòng – an ninh phải được tiến hành bằng nhiều hình thức, nội dung phù hợp với từng đối tượng; đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực và có hệ thống.
Làm cho sinh viên thấy được giáo dục quốc phòng – an ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Giáo dục quốc phòng – an ninh là môn học chính khóa trong chương trình giáo dục đào tạo từ trung học phổ thông đến đại học và các trường chính trị, hành chính, đoàn thể. Hoàn thành chương trình giáo dục quốc phòng – an ninh là một trong những tiêu chí để cấp bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng.
Cách thức tiến hành: cách thức tốt nhất là tuyên truyền. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên: Đảng ủy, Ban Giám đốc phải hết sức coi trọng công tác tư tưởng trong quản lý, đảm bảo cho mỗi cán bộ, giảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, thông suốt nhiệm vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, với cán bộ công nhân viên thuộc quyền. Cùng với nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của công tác tư tưởng, hằng tháng, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đưa nội dung này vào nghị quyết lãnh đạo (khi cần thiết phải có nghị quyết chuyên đề). Nội dung của nghị quyết phải ngắn, gọn, rõ, sát thực tiễn, đề ra được những chủ trương, giải pháp vừa toàn diện, đồng bộ, vừa có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết dứt điểm khâu yếu, mặt yếu của công tác tư tưởng tầm quan trọng giáo dục quốc phòng – an ninh. Đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong chỉ đạo, xây dựng kế hoạch tiến hành công tác tư tưởng, bảo đảm khoa học, cụ thể, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ từng đơn vị; chấn chỉnh kịp thời những hạn chế, khuyết điểm; chú trọng phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, trước hết là tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và cán bộ, đảng viên trong tiến hành công tác tư tưởng. Đồng thời, trong công tác tư trưởng, cấp ủy và trưởng khoa chú trọng tập trung nắm, quản lý, dự báo và giải quyết tư tưởng theo đúng nguyên tắc, quy trình, theo phân cấp, theo đối tượng, tiến hành thường xuyên, liên tục, chặt chẽ, khách quan, chính xác.
Tập trung nắm toàn diện cả về nhận thức, hoàn cảnh, lịch sử gia đình, bản thân từng cán bộ, giảng viên công nhân viên, các mối quan hệ xã hội và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của họ; qua trực tiếp gặp gỡ trao đổi và qua hồ sơ, lý lịch, bạn bè, đồng chí, người thân, gia đình, địa phương, dư luận… để nắm và quản lý tình hình tư tưởng cán bộ công nhân viên.
Duy trì tốt nắm và quản lý tư tưởng thường xuyên và đột xuất thông qua tổ đảng, chi bộ; qua giao ban, hội ý lãnh đạo hàng ngày; qua đội ngũ cán bộ các cấp. Cán bộ các cấp từ khoa khi giao ban, hội ý, cùng với phản ánh, báo cáo tình hình công việc, nhất thiết phải báo cáo tình hình tư tưởng, kỷ luật trong đơn vị mình; nếu có vấn đề đột xuất xảy ra thì huy động tất cả các tổ chức, các lực lượng vào cuộc để nắm, quản lý, phân tích, đề xuất thống nhất biện pháp giải quyết tình hình.
Bên cạnh đó, gắn đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị với đổi mới công tác quản lý tư tưởng. Cùng với thực hiện nghiêm túc chương trình, nội dung giáo dục chính trị theo quy định, các đơn vị tập trung đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục theo hướng gợi mở, tiếp nhận thông tin một cách “tích cực”, bảo đảm định hướng tư tưởng rõ ràng, có tính chiến đấu cao. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Các đơn vị cần chú ý tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, phát huy thế mạnh của tuyên truyền miệng, trực quan và các thiết chế văn hóa ở đơn vị… để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong giáo dục quốc phòng – an ninh. Cùng với đó, cấp ủy, Ban Giám đốc cần hết sức coi trọng việc gắn sửa chữa khuyết điểm theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay” và thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chuyển mạnh sang “làm theo”, nhằm làm chuyển biến thực sự nhận thức tư tưởng và hành động, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng.
Kết hợp đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng với tuyên truyền, cổ vũ, động viên các nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trên mọi lĩnh vực; phát huy tinh thần sáng tạo, tự lực tự cường, vượt mọi khó khăn, gian khổ, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ; kiên quyết khắc phục bệnh thành tích và tính hình thức trong các phong trào thi đua.
Mặt khác, chú trọng xây dựng Trung tâm có môi trường văn hóa lành mạnh, trong đó chú trọng đặc biệt tới văn hóa lãnh đạo, văn hóa chỉ huy và thực hiện tốt việc nêu gương của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm và đối với họ một tấm gương sống còn hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Cán bộ Phòng, Khoa là người gần gũi với nhân viên nhất, là người cùng làm việc với nhân viên của mình. Vì thường xuyên tiếp xúc với nhân viên nên mọi suy nghĩ, lời nói và hành động của cán bộ đều ảnh hưởng trực tiếp tới nhân viên. Do vậy, nếu người cán bộ không gương mẫu, thì không thể giáo dục, thuyết phục được nhân viên.
Chỉ đạo và tổ chức cho mọi cán bộ, giảng viên học tập nghiên cứu các nội quy, quy định về dạy học của Nhà trường. Bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ, giảng viên nhất là đội ngũ cán bộ, giảng viên trẻ mới chuyển công tác về Trung tâm. Có kế hoạch mời chuyên gia, chuyên viên của cấp trên về bồi dưỡng, phổ biến kiến thức và hướng dẫn việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ dạy học của môn học giáo dục quốc phòng – an ninh. Chỉ đạo tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng về kiến thức quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ dạy học về giáo dục quốc phòng – an ninh cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Đối với sinh viên: Thông qua tuần học tập chính trị đầu năm học để bồi dưỡng về nhận thức đối với việc học tập chương trình giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên. Tổ chức chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức về mục đích, yêu cầu, vị trí vai trò và tính chất của môn học giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên. Thông qua các hoạt động ngoại khóa, các nội dung giảng dạy học tập trên lớp cũng như ngoài thao trường bãi tập để bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho sinh viên. Thông qua tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ, các buổi diễn đàn, sinh hoạt…, có điểm danh để bồi dưỡng nâng cao nhận thức về mục đích, tính chất, yêu cầu, vị trí vai trò của việc học tập môn học cho sinh viên. Phối hợp với các tổ chức, các đoàn thể của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về môn học cho sinh viên trước khi vào học tập môn giáo dục quốc phòng – an ninh.
3.2.2. Tăng cường quản lý công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch dạy học
Mục tiêu của biện pháp: Thực hiện biện pháp này là nhằm quản lý chặt chẽ và tổ chức chỉ đạo thực hiện mọi kế hoạch, chương trình dạy học cho sinh viên một cách khoa học, hiệu quả, phù hợp với mục tiêu yêu cầu đào tạo đã đề ra cho sinh viên góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh ở Trung tâm.
Những nội dung yêu cầu cần đạt được:
Đối với việc xây dựng chương trình, kế hoạch dạy học: Giám đốc chỉ đạo Phòng Đào tạo xây dựng kế hoạch năm học, hướng dẫn các khoa, và từng giảng viên xây dựng chương trình kế hoạch dạy học. Đối với công tác tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học: Ban Giám đốc thường xuyên kiểm tra và chỉ đạo các bộ phận chức năng duy trì thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch.
Cách thức tiến hành:
Đối với việc xây dựng chương trình, kế hoạch dạy học: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Chỉ đạo xây dựng kế hoạch dạy học ngay từ đầu năm học, kỳ học và các đợt học cho các bậc học, các khóa học ở Trung tâm. Chỉ đạo việc nghiên cứu đánh giá thực trạng dạy học và những căn cứ, cơ sở để đảm bảo cho kế hoạch được xây dựng có tính khả thi cao. Có kế hoạch cử cán bộ chuyên trách đi học tập và bồi dưỡng kiến thức về quản lý xây dựng chương trình, kế hoạch dạy học.
Thường xuyên tiến hành đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học với các đơn vị bạn, các bộ phận chức năng chuyên trách của Trung tâm. Căn cứ vào tính chất, nhiệm vụ của từng giai đoạn để chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch dạy học theo hình thức nào cho có hiệu quả nhất. Trước khi trình Ban Giám đốc phê duyệt, phải chỉ đạo các phòng chức năng và các bộ môn rà soát, kiểm tra và chỉnh sửa đảm bảo cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả.
Đối với công tác tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học:
Cần gắn liền hoạt động xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học của giảng viên với kế hoạch học tập của sinh viên. Giám đốc tiến hành điều chỉnh kế hoạch dạy học một cách linh hoạt phù hợp với đặc điểm tình hình thức tế dạy học của Trung tâm.
Trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học cần tranh thủ tối đa sự chỉ đạo, giúp đỡ, phối hợp thực hiện của các Phòng, Khoa, trong Trung tâm cả về vật chất và tinh thần. Duy trì chế độ thỉnh thị, báo cáo, đánh giá việc tổ chức và thực hiện kế hoạch dạy học hàng ngày, hàng tuần, khóa học, đợt học thông qua các chế độ giao ban trực chỉ huy, giao ban cán bộ chủ chốt và họp toàn thể Trung tâm. Toàn thể cán bộ, giảng viên và nhân viên thực hiện tốt, kịp thời công tác tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và khen thưởng xử phạt đối với việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học của Trung tâm.
3.2.3. Xây dựng động cơ học tập đúng đắn, kích thích tính chủ động sáng tạo của người học Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Chuẩn bị về mặt tâm lý cho hoạt động học của sinh viên
Mục tiêu của biện pháp: Có động cơ học tập đúng đắn cùng tính tích cực, chủ động sáng tạo người học sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh tri thức môn học, hoàn thành nhiệm vụ học tập của bản thân.
Nội dung yêu cầu cần đạt được:
Mỗi sinh viên với việc hướng dẫn của giảng viên phải tự xác định động cơ học tập đúng đắn cho mình.
Cách thức tiến hành:
Giám đốc, các trưởng khoa, từng giảng viên phải quán triệt tầm quan trọng của việc xác định đúng đắn động cơ học giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên. Mỗi giảng viên có trách nhiệm giúp sinh viên xác định động cơ học môn học giáo dục quốc phòng – an ninh. Tổ chức tuyên truyền, học tập truyền thống của Trung tâm, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Tăng cường quản lý nề nếp học tập trên lớp của sinh viên
Mục tiêu của biện pháp:
Xây dựng nề nếp học tập nhằm hình thành và tạo ra thói quen trong việc chấp hành chế độ, nhiệm vụ học tập một cách tự giác, tích cực và chủ động theo đúng nội quy, quy chế, qui định học tập của Nhà trường. Tập cho sinh viên thói quen làm việc khoa học và làm việc nhóm tạo tiền đề cho nghiên cứu khoa học sau này.
Nội dung yêu cầu cần đạt được:
Xây dựng, chỉnh sửa, phổ biến và duy trì nghiêm nội quy, quy định, chế độ về học tập phù hợp với đặc điểm, tính chất, mục tiêu yêu cầu đào tạo cho mọi đối tượng học tại Trung tâm.
Cách thức tiến hành: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Giám đốc chỉ đạo Phòng Hành chính – Tổng hợp phối hợp với các phòng chức năng, Đoàn thanh niên của Trung tâm để tuyên truyền, phổ biến các nội quy, quy định và chế độ học tập của Trường cho sinh viên trước khi vào học chương trình giáo dục quốc phòng – an ninh. Chỉ đạo các phòng, khoa và đội ngũ cán bộ, giảng viên thực hiện duy trì nghiêm túc các qui định, nội quy, kỷ luật trong giờ học đối với sinh viên.
Tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm, động viên, khen thưởng và nhắc nhở kịp thời đối với cán bộ giảng viên trong việc duy trì nền nếp học tập đối với sinh viên trong giờ dạy và công tác của mình.
Ban Giám đốc thường xuyên chỉ đạo các khoa tiến hành rút kinh nghiệm về công tác quản lý, thực hiện duy trì nội qui, qui định và kỷ luật học tập đối với đội ngũ giảng viên trẻ.
Phòng Công tác sinh viên quán triệt và thực hiện tốt nội qui dui định về việc quản lý sinh viên trong suốt khóa học như: giữ gìn kỹ luật, đồng phục, giờ ngũ, giờ thức, giờ giải lao, điểm danh sỹ số.
Phòng Đào tạo và giảng viên tham gia giảng dạy nắm bắt tình hình học tập để có quyết định cho thi hay đình chỉ thi cuối khóa
Tăng cường hoạt động tự học của sinh viên
Mục tiêu của biện pháp:
Nhằm giúp sinh viên tự lực nắm vững tri thức, kỹ năng môn học, qua đó sinh viên chủ động biến tri thức môn học thành tri thức riêng của bản thân, khơi gợi lòng yêu nước của thế hệ trẻ.
Nội dung yêu cầu cần đạt được:
Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho sinh viên phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành.
Cách thức tiến hành: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Giám đốc chỉ đạo các khoa cải tiến nội dung đề thi môn giáo dục quốc phòng – an ninh sao cho các em không đọc thêm sách, không tự học thì không đạt hiệu quả cao nhất; cải tiến phương pháp kiểm tra, đánh giá để đảm bảo tính công khai, công bằng, khách quan, giảm tối đa tính hình thức và tăng tính chính xác trong kiểm tra đánh giá bằng các phương pháp thi, kiểm tra hiện đại… cụ thể là tiến hành kiểm tra nhiều lần, kiểm tra không báo trước, xây dựng ngân hàng câu hỏi thi trắc nghiệm và đáp án tự động trên máy tính
3.2.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý.
Mục tiêu của biện pháp:
Nhằm hoàn thành nhiệm vụ “chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020”, xây dựng đạt chuẩn đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy giáo dục quốc phòng – an ninh nói riêng, chất lượng của công tác giáo dục quốc phòng – an ninh nói chung tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Những nội dung yêu cầu cần đạt được:
Để có thể phát triển được đội ngũ giảng viên, điều cần được xác định là xây dựng một bộ năng lực tối thiểu cần thiết cho giảng viên. Trên cơ sở bộ năng lực này, các cơ sở đào tạo cần xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ của mình bằng cách kết hợp các loại hình đào tạo khác nhau để phát triển đội ngũ của mình:
- Đào tạo dài hạn, chính quy (tiến sĩ, thạc sĩ);
- Đào tạo và bồi dưỡng liên tục cho phù hợp với nhu cầu phát triển của từng trường, khoa;
- Các giảng viên tự học tập và bồi dưỡng để không ngừng nâng cao năng lực của bản thân;
- Tạo ra các môi trường và điều kiện để giảng viên có thể phát triển các năng lực của mình – Xây dựng tổ chức học tập.
Hình 1: Năng lực của một giảng viên đại học Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Rõ ràng hệ thống đào tạo, bồi dưỡng và phát triển giảng viên hiện nay ở nước ta đang là một lỗ hổng lớn. Chúng ta chưa có một hệ thống cũng như những tiêu chí cụ thể trong việc phát triển giảng viên và đánh giá giảng viên. Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn bồi dưỡng và phát triển giảng viên tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Quản trị – Đại học Kinh tế Thàn phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Ngoài những tiêu chuẩn về mặt đạo đức và chính trị, một giảng viên giỏi là một giảng viên phải có:
- Có năng lực chuyên môn cao nắm bắt được những phát triển mới nhất trong học thuật cũng như trong thực tiễn chuyên môn của mình;
- Có năng lực giảng dạy phù hợp với lĩnh vực chuyên môn sâu của mình;
- Có năng lực nghiên cứu sâu trong lĩnh vực chuyên môn của mình. (Xem Hình 1: Năng lực của một giảng viên đại học).
Nhìn chung, hiện nay phần “năng lực chuyên môn” là phần giảng viên của chúng ta chú trọng nhiều nhất; phần “năng lực giảng dạy” chúng ta mới bắt đầu và cần được tiếp tục phát triển thông qua việc học tập và phát triển của bản thân: thực hành, và tìm tòi trong việc ứng dụng vào giảng dạy; phần “nghiên cứu” đang là năng lực thiếu hụt nhất của đội ngũ giảng viên trẻ chúng ta. Các trường hầu như chỉ chú trọng tới các chứng chỉ mà bộ yêu cầu đối với giảng viên chứ chưa thực sự chú trọng vào năng lực thực sự của giảng viên vì thế chất lượng của các chứng chỉ này chưa phản ánh được năng lực thực chất của các giảng viên khi đứng lớp.
Nếu một người được đào tạo tốt trong các chuyên ngành đào tạo và có bằng Tiến sỹ thì họ sẽ được đào tạo sâu về chuyên môn và năng lực nghiên cứu, khi đó họ là nhà nghiên cứu (Học giả – Scholar). Hệ thống đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ của ta hiện nay cũng chưa đạt đến chất lượng cao nên cả hai mảng này đều yếu. Là một học giả mới có thể tiến hành các nghiên cứu, tham gia vào quá trình sáng tạo ra tri thức và qua đó làm cho tri thức và năng lực của bản thân giảng viên không ngừng phát triển. Thực hiện tốt chức năng sáng tạo ra tri thức của trường đại học – một tiêu chí quan trọng trong đánh giá và xếp hạng các trường đại học. Nếu một người có chuyên môn giỏi và có năng lực giảng dạy tốt thì họ là một nhà giáo dục (Educator). Hầu hết các giảng viên đại học hiện nay đều không được đào tạo và hỗ trợ tốt về năng lực giảng dạy. Để phát triển năng lực giảng dạy, giảng viên cần xác định:
- Những đặc điểm chuyên môn do mình phụ trách;
- Các phương pháp phù hợp với chuyên môn đó;
- Các đặc tính, sở thích và khả năng của cá nhân với những phương pháp giảng dạy khác nhau;
- Những xu thế của thời đại trong học tập và phát triển;
- Công nghệ học tập, giáo dục, và đào tạo… Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Trong việc phát triển các năng lực giảng dạy cho giảng viên, cần chú trọng đến các năng lực sau:
Xây dựng chương trình giảng dạy ở cấp độ môn học (viết một chương trình môn học): (1) Xác định mục tiêu học tập của môn học và từng đơn vị học tập của sinh viên; (2) Xác định những nội dung phù hợp để đạt tới các mục tiêu đã đề ra; (3) Xác định các phương pháp học tập và giảng dạy phù hợp nhằm chuyển tải được nội dung và đạt tới mục tiêu; và (4) Xác định các phương pháp đánh giá phù hợp để động viên người học, đánh giá đúng trình độ của người học.
Các năng lực sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp với chuyên môn của mình (giảng dạy bằng tình huống, thảo luận nhóm, khám phá, mô phỏng, dự án…).
- Năng lực truyền đạt (viết bài giảng và tài liệu học tập, trình bày, đặt câu hỏi, lắng nghe, và phản hồi);
- Năng lực giải quyết vấn đề và ra quyết định;
- Năng lực quản lý xung đột và đàm phán;
- Năng lực sử dụng công nghệ trong giảng dạy (PowerPoint, máy tính, web, các phần mềm sử dụng trong chuyên môn,…);
- Năng lực không ngừng học tập và phát triển bản thân.
Chiến lược phát triển hệ thống giáo dục đại học đến năm 2020 có thực hiện được hay không, điều quan trọng và cốt lõi phụ thuộc vào việc hệ thống giáo dục đại học của chúng ta có phát triển được đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng hay không. Phát triển giảng viên không phải là việc làm một lần là xong, trong điều kiện bùng nổ tri thức hiện nay, công việc này cần được coi là công việc thường xuyên, liên tục của toàn hệ thống, từng trường, khoa và mỗi giảng viên.
Để đạt được những nội dung yêu cầu nêu trên cần phải xây dựng Đề án phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên của Trung tâm cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu tổ chức bộ máy để báo cáo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Tư lệnh Quân khu VII chỉ đạo thực hiện.
Cách thức tiến hành: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Ban Giám đốc thường xuyên theo dõi, bám nắm cơ quan Tổ chức như: Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cơ quan Cán bộ của Bộ Tư lệnh Quân khu VII, Bộ Giáo dục & Đào tạo để đề xuất công tác quy hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên về số lượng và chất lượng. Xây dựng kế hoạch, chiến lược xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên và tổ chức bộ máy của Trung tâm trình Đảng ủy, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xem xét chỉ đạo tổ chức thực hiện.
Phối hợp với Phòng Tổ chức – Cán bộ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện kế hoạch cũng như chiến lược đã được Đảng ủy, Ban Giám đốc nhất trí phê duyệt. Xây dựng kế hoạch về chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng viên từng năm và từng giai đoạn để tranh thủ sự chỉ đạo giúp đỡ của cấp trên nhằm thực hiện có hiệu quả. Xây dựng cơ chế khuyến khích tự học, tự đào tạo đối với đội ngũ cán bộ giảng viên của Trung tâm nhằm nâng cao kiến thức, học vị.
Liên hệ với các nhà trường trong và ngoài Quân đội để cử cán bộ giảng viên đi học và đào tạo ngắn hạn, dài hạn. Xây dựng tiêu chí phù hợp với quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng như thực trạng và xu hướng phát triển của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên dạy học đại học để chỉ đạo công tác xây dựng đội ngũ về chất lượng.
Liên hệ với Bộ Tư lệnh Quân khu VII, các đơn vị có cán bộ dự kiến được biệt phái chuyển công tác đến Trung tâm để tìm hiểu, nắm bắt về chất lượng cán bộ để báo cáo Đảng ủy, Ban giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các tổ chức có liên quan thực hiện tiếp nhận hay không.
Làm tốt công tác quy hoạch, bố trí sắp xếp cán bộ giảng viên, xây dựng cơ cấu cân đối giữa các khoa trong Trung tâm làm tốt công tác động viên, khen thưởng đối với cán bộ giảng viên có thành tích cao trong học tập, công tác, giảng dạy. Kiên quyết xử lý kỷ luật hoặc buộc chuyển công tác đối với cán bộ giảng viên vi phạm tư cách đạo đức, kỷ luật của Quân đội, của Trung tâm có chuyên môn và nghiệp vụ kém, ngại học, ngại rèn.
Báo cáo, đề xuất và kiến nghị với cấp trên sửa đổi các quy định, chính sách nhằm khuyến khích và tạo điều kiện để cán bộ giảng viên an tâm học tập, công tác lâu dài. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Hàng tuần, từng khoa tiến hành thao giảng, những giảng viên có kinh nghiệm và thành tích sẽ giảng trước, tiếp đến là các giảng viên vừa chuyển công tác thao giảng để khoa xây dựng bài giảng ngày càng tốt hơn. Hàng năm, Trung tâm tổ chức hội giảng để tìm kiếm và phát triển tài năng giảng dạy, cử giảng viên dạy giỏi đi thi hội giảng cấp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các cấp cao hơn.
Ban Giám đốc thường xuyên tổ chức các lớp: nghiệp vụ sư phạm, tâm lý lứa tuổi, phương pháp soạn giáo án hiện đại… để tăng cường nghiệp vụ sư phạm của cán bộ giảng dạy.
Ban Giám đốc công khai quy trình tuyển dụng và phúc lợi xã hội sau khi được tuyển dụng để thu hút nhân tài về Trung tâm.
Ban Giám đốc liên hệ các học viện: Học viện Chính trị, Học viện Quốc phòng của Bộ Quốc Phòng để cử cán bộ đi đào tạo sau đại học.
Ban Giám đốc cần phải thường xuyên chăm lo tốt về đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ giảng viên. Đề nghị cấp trên bảo đảm và thực hiện tốt các chính sách, chế độ được hưởng đối với cán bộ giảng viên đặc biệt là các sĩ quan biệt phái. Chăm lo xây dựng sự đoàn kết, giúp đỡ, học tập, thi đua lẫn nhau giữa các cán bộ và giảng viên trong Trung tâm và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2.5. Quản lý chất lượng hoạt động dạy học và đánh giá kết quả học tập
Mục tiêu của biện pháp:
Nhằm giúp cho người học lĩnh hội một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, hiệu quả nhất kiến thức và kỹ năng của môn học đã đề ra; đồng thời thực hiện nghiêm quy chế thi, kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Nội dung yêu cầu cần đạt được:
Nâng câi chất lượng lên lớp lý thuyết và thực hành của đội ngũ giảng viên kết hợp với đổi mới, tăng cường quản lý hoạt động thi, kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Cách thức tiến hành: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Giám đốc, Ban Giám đốc thường xuyên chỉ đạo việc quán triệt các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục & Đào tạo về dạy học và đổi mới phương pháp dạy học. Thực hiện phổ biến sâu rộng các quy định, quy chế dạy học cho mọi đối tượng giảng viên.
Ban Giám đốc tiến hành thành lập Trung tâm Khảo thí và Kiểm định chất lượng. Giám đốc chỉ đạo Phòng Đào tạo, Khoa Chính trị, Khoa Quân sự xây dựng, thực hiện kế hoạch cử giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm, phương pháp dạy học và các chuyên môn khác, nhất là đối với đội ngũ giảng viên trẻ.
Giám đốc chỉ đạo các khoa xây dựng và hướng dẫn thành lập các bộ môn, xây dựng chế độ làm việc thảo luận, xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với nội dung giảng dạy đặc thù của các bộ môn, đặc biệt khi giảng dạy những nội dung hình thành kỹ năng quân sự và nhận thức chính trị. Xây dựng phong trào tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, phương pháp dạy học đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên. Có kế hoạch tổ chức chỉ đạo thực hiện hội thảo khoa học về đổi mới nâng cao chất lượng và phương pháp dạy học của hai khoa.
Ban Giám đốc thường xuyên chỉ đạo các phòng chức năng, các khoa, thực hiện kiểm tra việc chấp hành nội quy, quy định dạy học của Trung tâm đối với đội ngũ giảng viên giảng dạy giáo dục quốc phòng – an ninh. Tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm và đánh giá cụ thể đối với việc chấp hành và hiệu quả giảng dạy của mỗi giảng viên. Thực hiện động viên khen thưởng, kỷ luật kịp thời chính xác đối với giảng viên trong việc thực hiện nề nếp dạy học.
Chỉ đạo việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, phần mềm dạy học hiện đại và ứng dụng các phương tiện tiên tiến trong dạy học góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao kỹ năng sử dụng các phương tiện hiện đại trong giảng dạy. Chỉ đạo việc lấy ý kiến thăm dò đánh giá của người học về phương pháp, chất lượng giảng dạy của từng giảng viên để có kế hoạch rút kinh nghiệm kịp thời.
Chỉ đạo Phòng Đào tạo và 2 khoa xây dựng kế hoạch thi, kiểm tra phù hợp với nội dung, chương trình học của các đối tượng. Chỉ đạo 2 khoa xây dựng đề cương đáp án, câu hỏi thi, kiểm tra phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo và nội dung chương trình học cho mỗi đối tượng. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Chỉ đạo sắp xếp cán bộ tham gia coi, chấm thi phù hợp với quy chế, quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo về công tác thi, kiểm tra đánh giá kết quả các môn học.
Chỉ đạo 2 khoa xây dựng quy định cụ thể về thời gian chấm bài, giao kết quả thi và kiểm tra phù hợp với đặc điểm tình hình của các khóa học, đợt học và đối tượng học. Quy định cụ thể thời gian vào điểm, trả kết quả, bài thi và chứng chỉ cho các đối tượng học tại Nhà trường.
Chỉ đạo Phòng Đào tạo lưu giữ kết quả thi và kiểm tra (bảng điểm, bài thi) theo đúng quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo một cách ngăn nắp, gọn gàng và khoa học theo danh mục về đối tượng cũng như khóa học. Chỉ đạo Phòng Hành chính – Tổng hợp xây dựng các chương trình, phần mềm để lưu giữ tổng hợp và phân loại kết quả học tập, và in chứng chỉ Giáo dục Quốc phòng – an ninh cho sinh viên.
3.2.6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Trung tâm Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Mục tiêu của biện pháp:
Đảm bảo có đầy đủ công cụ lao động để người dạy truyền đạt kiến thức, xây dựng và hình thành kỹ năng kỹ xảo cho người học.
Nội dung yêu cầu cần đạt được:
Ban Giám đốc chỉ đạo các khoa, các phòng thống kê và phân loại trên cơ sở đó lập dự trù danh mục các loại cơ sở vật chất, trang thiết bị, vũ khí, phương tiện dạy học cần thiết cho các đối tượng còn thiếu để xây dựng kế hoạch mua sắm đảm bảo đủ về số lượng, tốt về chất lượng theo qui định của Bộ Giáo dục & Đào tạo.
Cách thức tiến hành:
Ban Giám đốc chỉ đạo Phòng Kỹ thuật – Hậu cần, Phòng Đào tạo xây dựng kế hoạch đảm bảo về cơ sở vật chất phương tiện, khí tài, tìm các nguồn để mua sắm đảm bảo đầy đủ về số lượng, đồng bộ cao về chất lượng.
Chỉ đạo thường xuyên xây dựng mối quan hệ hiệp đồng, giúp đỡ của các cơ quan quân sự địa phương (Bộ Tư lệnh Thành phố, Quân khu VII) về việc bảo quản, sử dụng, cho mượn các loại vũ khí trang bị cần thiết phục vụ cho dạy học và thực hành kiểm tra bắn súng cho các đối tượng học.
Chỉ đạo các phòng chức năng phối hợp với các khoa xây dựng qui định bảo quản, giữ gìn, sử dụng các loại phương tiện, khí tài của Trung tâm. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Phổ biến sâu rộng qui định về giữ gìn, bảo quản, sử dụng cơ sở vật chất phương tiện dạy học và khí tài cho mọi đối tượng cả cán bộ, giảng viên và sinh viên. Tổ chức thực hiện nghiêm túc theo quy định đó.
Xây dựng kế hoạch và tiến hành bồi dưỡng về kỹ năng sử dụng, bảo quản các loại cơ sở vật chất thiết bị, khí tài, nhất là các phương tiện trang thiết bị, mới hiện đại cho mọi đối tượng trong Trung tâm.
Chỉ đạo các phòng chức năng phối hợp với các bộ môn, thủ kho thường xuyên kiểm tra, đánh giá về số lượng, chất lượng cơ sở vật chất thiết bị, phương tiện, khí tài, để thống kê và báo cáo Ban Giám đốc định kỳ.
Hàng ngày, thông qua giao ban và điểm danh để kịp thời nhắc nhở, rút kinh nghiệm đối với những tập thể và cá nhân chưa thực hiện tốt công tác bảo quản, giữ gìn và sử dụng các loại thiết bị, phương tiện, khí tài. Đồng thời động viên, khen thưởng và xử phạt về công tác bảo quản, sử dụng, giữ gìn đối với thiết bị, phương tiện, khí tài cho mọi đối tượng.
Tổ chức xây dựng mới: Xây dựng và lưu trữ phòng chiếu phim tư liệu chiến tranh; Xây dựng mô hình công sự chiến đấu (Điện Biên Phủ), địa đạo (Củ Chi), chiến khu rừng Sác (Cần Giờ); Xây dựng các sa bàn các trận đánh hiển hách của quân dân ta; Xây dựng nhà truyền thống, lưu giữ kỷ vật chiến tranh (quân trang, vũ khí, máy bay, tên lửa…); Xây dựng phòng trưng bày vũ khí hiện đại.
Các biện pháp tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau, mỗi biện pháp có vị trí, vai trò khác nhau trong việc quản lý nâng cao chất lượng trên mỗi mặt công tác của hoạt động dạy học.
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
3.3.1. Mục đích khảo nghiệm
Đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của từng biện pháp đã đưa ra, qua đó có thể tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất để quản lý và nâng cao chất lượng giảng dạy.
3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm
Để có cơ sở đảm bảo tính ứng dụng của vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tiến hành trưng cầu ý kiến bằng phiếu xin ý kiến của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên đánh giá về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp. Các đối tượng nghiên cứu là: Cán bộ quản lý 10 phiếu (5 cán bộ quản lý của Trung tâm và 5 cán bộ quản lý của Bộ Tư lệnh Thành phố và chỉ huy các quận Tân Bình, Tân Phú, An Ninh, Bến Cầu – Tây Ninh). Giảng viên 50 phiếu. Tổng số phiếu là 60.
3.3.3. Quy trình khảo nghiệm
Để tiến hành khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề ra, phiếu trưng cầu ý kiến được trình bày theo hai tiêu chí là tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý và được thực hiện đánh giá theo bốn mức độ sau đây:
- Tính cần thiết: Rất cần thiết (4đ), cần thiết (3đ), bình thường (2), không cần thiết (1đ).
- Tính khả thi: Rất khả thi (4đ), Khả thi (3đ), ít khả thi (2đ), không khả thi (1đ).
Sau khi nhận kết quả thu được, tác giả tiến hành phân tích xử lý số liệu trên bảng thống kê, tính điểm trung bình của các biện pháp đã được khảo sát rồi xếp hạng theo thứ bậc để nhận xét đánh giá và rút ra kết luận.
3.3.4. Kết quả khảo nghiệm Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp qua khảo nghiệm.
Qua kết quả thu được trên các phiếu trưng cầu ý kiến của các cán bộ quản lý, giảng viên thì đa số đều đánh giá là các biện pháp này là rất cần thiết và có tính khả thi cao trong việc quản lý hoạt động dạy học giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả thu được với quy ước thang điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 4, kết quả khảo nghiệm qua thăm dò 60 cán bộ quản lý và giảng viên thể hiện tính cần thiết và tính khả thi ở bảng 3.1 và 3.2 sau đây:
- Bảng 3.1 : Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp
- Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp
- Biểu đồ: Thể hiện đánh giá tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
Từ kết quả khảo nghiệm thống kê ở 2 bảng (bảng 3.1 và 3.2) và biểu đồ trên đây, tác giả đã đi đến tổng hợp kết quả trung bình chung cho cả 2 vấn khảo nghiệm là tính cần thiêt và tính khả thi của các biện pháp.
Bảng 3.3: Điểm trung bình kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
Xét tính tương quan theo công thức Spearman cho ta thấy sự tương quan về thứ hạng giữa tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp đề xuất như sau: R > 0
Tính cần thiết và tính khả thi có tương quan thuận có nghĩa là các biện pháp vừa có tính cần thiết vừa có tính khả thi. Trong trường hợp này hệ số R=0,857 chứng tỏ tính cần thiết và tính khả thi rất cao.
Nhận xét về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp qua khảo nghiệm.
Qua tổng hợp đánh giá về kết quả tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp, cho thấy các ý kiến đánh giá rất cao với tính cần thiết =3,57 và tính khả thi =3,65 so với Xmax =4,0 là tương đối cao. Có 6/6 biện pháp quản lý có > 3,3 là con số khá ấn tượng; các biện pháp được đưa ra là phù hợp, cần thiết và khả thi với điều kiện quản lý của Trung tâm. Qua thang điểm, tính cần thiết được đánh giá tương đối cao, tính khả thi cao hơn tính cần thiết.
Biện pháp 1: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và sinh viên về nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Tính cần thiết được đánh giá điểm trung bình là = 3,75; tính khả thi điểm trung bình là = 3,7. Trong biện pháp này tính cần thiết được đánh giá cao hơn tính khả thi. Tính cần thiết xếp thứ hạng số 1, tính khả thi xếp thứ hạng 2 . Đây là biện pháp có tính định hướng cho một số biện pháp khác.
Biện pháp 2: Tăng cường quản lý công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch dạy học
Tính cần thiết được đánh giá điểm trung bình là = 3,65; tinh khả thi điểm trung bình là = 3,65. Trong biện pháp này tính cần thiết được đánh bằng tính khả thi và đều ở vị trí thứ hạng số 3. Đây là biện pháp có tính cần thiết và tính khả thi ở vị trí trung bình.
Biện pháp 3: Xây dựng động cơ học tập đúng đắn, kích thích tính chủ động sáng tạo của người học
Tính cần thiết được đánh giá điểm trung bình là = 3,65; tính khả thi điểm trung bình là = 3.45. Trong biện pháp này tính cần thiết được đánh giá cao hơn tính khả thi. Tính cần thiết đánh giá ở vị trí thứ 3 còn tính khả thi được đánh giá ở vị trí thứ 4. Đây là biện pháp mà tính cần thiết được xếp ở vị trí thứ ba tức là tương đối cần thiết phải xây dựng một động cơ học tập đúng đắn , tránh tình trạng học kỳ “ xả hơi”, học kỳ “tình yêu”, nhưng tính khả thi lại xếp ở vị trí thứ bốn. Điều này được rất nhiều ý kiến qua điều tra thăm dò và qua các cuộc hội thảo tọa đàm trăn trở, vì muốn đạt được điều mong muốn trước hết phải xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ sư phạm cao, học thuật quân sự vững vàng, xây dựng ý thức hệ và phải có luật nên cần phải có thời gian lâu dài chứ chưa thể thực hiện ngay một sớm một chiều.
Biện pháp 4: Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý.
Tính cần thiết được đánh giá điểm trung bình là = 3,7; tinh khả thi điểm trung bình là = 3,8. Trong biện pháp này tính cần thiết được đánh giá thấp hơn tính khả thi. Tính cần thiết xếp vị trí thứ 2, tính khả thi xếp thứ nhất. Đây là biện pháp có cấp bách và sống còn của Trung tâm. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Biện pháp 5: Quản lý chất lượng hoạt động dạy học và đánh giá kết quả học tập.
Tính cần thiết được đánh giá điểm trung bình là = 3,5; tinh khả thi điểm trung bình là = 3,65. Trong biện pháp này tính cần thiết được đánh giá thấp hơn tính khả thi. Tính cần thiết đứng thứ 4, tính khả thi đứng thứ 1. Đây là biện pháp nằm trong mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục nước nhà mà các phương tiện thông tin đại chúng đã nói rất nhiều trong thời gian qua.
Biện pháp 6: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Trung tâm
Tính cần thiết được đánh giá điểm trung bình là = 3,45; tính khả thi điểm trung bình là = 3,65. Trong biện pháp này cả tính cần thiết xếp ở vị trí 4 và tính khả thi xếp ở vị trí 3. Đây là biện pháp rất quan trọng đối với Trung tâm và sinh viên.
Nhìn chung các ý kiến đánh giá đều thống nhất cao với sáu biện pháp được nêu ra trong luận văn. Biện pháp có điểm trung bình về tính cần thiết cao nhất là = 3,75; tính khả thi cao nhất với trung bình = 3,8 điểm (so với điểm tối đa là 4,00). Biện pháp có điểm trung bình thấp nhất về tính cần thiết và tính khả thi đều là = 3,45.
Xét tính tương quan theo công thức Spearman để tính toán có hệ số tương quan <1, cho phép tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp là tương quan chặt chẽ, tức là có sự phù hợp nhau. Độ lệch giữa các điểm trung bình của các biện pháp <1 . Như vậy có thể khẳng định các biện pháp đã đề xuất có tính cấp thiết và tính khả thi cao, có cơ sở áp dụng vào công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở Trung tâm.
Nâng cao chất lượng quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là đòi hỏi khách quan. Điều đó đặt ra bài toán cần lời giải thuyết phục từ các tổ chức, các lực lượng giáo dục và quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm. Những biện pháp xác định trên đây dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc, có quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng với nhau, không thể xem nhẹ hoặc tuyệt đối hóa bất kỳ biện pháp nào. Thực hiện các biện pháp đó phải được tiến hành đồng bộ, thường xuyên, liên tục của mọi lực lượng.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
1. Kết luận
Toàn cầu hóa kinh tế đang là một xu thế khách quan, lôi cuốn nhiều quốc gia tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, chúng ta phải chủ động hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đánh dấu bước hội nhập sâu hơn, đầy đủ hơn của nước ta vào nền kinh tế toàn cầu; khẳng định sự thừa nhận của cộng đồng thế giới đối những thành tựu to lớn của nhân dân ta trong hơn 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; đem lại cho nước ta cả cơ hội to lớn lẫn thách thức không nhỏ trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị – xã hội, Quốc phòng – an ninh và đối ngoại…
Các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ âm mưu lợi dụng sự hội nhập để chống phá ta bằng những thủ đoạn mới tinh vi, thâm độc hơn. Chúng tiếp tục lợi dụng những khó khăn, sơ hở của ta trong lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế và không loại trừ việc thông qua hoạt động hợp tác kinh tế (cả trực tiếp và gián tiếp) để chống phá, “mặc cả”, tạo áp lực về chính trị, hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội của đất nước. Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải tăng cường hơn nữa công tác giáo dục quốc phòng – an ninh, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng – an ninh, bảo vệ Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Nâng cao chất lượng quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh cho học sinh, sinh viên nói chung, cho sinh viên đang học tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là một đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn, đây là một “bài toán” cần có lời giải. Do vậy, cần phải có sự nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu qua đó tìm ra lời giải cho “bài toán” này.
Trên cơ sở nghiên cứu, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh, luận văn xác định 6 biện pháp có tính cấp thiết và khả thi để nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
2. Kiến nghị Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
2.1. Đối với Chính phủ
Cần nghiên cứu sửa đổi điều 5, chương I, Nghị định 165/2003/NĐ- CP ngày 22/12/2003 về biệt phái sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam cho phù hợp đối tượng sĩ quan biệt phái làm công tác giáo dục quốc phòng – an ninh tại các cơ quan, nhà trường.
Ban hành thông tư liên tịch giữa các bộ: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định 116/2007/NĐ/CP về Công tác Giáo dục Quốc phòng – an ninh, nhằm chỉ đạo, ngành, địa phương, các học viện, nhà trường, nhất là các trung tâm nâng cao chất lương giáo dục và quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh một cách thiết thực, hiệu quả.
Đối với Bộ Quốc phòng
Nghiên cứu ban hành một số chế độ, chính sách liên quan đến bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh, quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên tại các trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh.
Đối với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm
Bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý về kiến thức quốc phòng – an ninh trong thời kỳ mới; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bồi dưỡng, kiện toàn đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý làm công tác giáo dục quốc phòng – an ninh trong thời kỳ mới.
Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất giáo dục và quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh cho Trung tâm như: nâng cấp hệ thống giảng đường, mô hình, xây dựng các công trình kỹ thuật nâng cao tri thức quân sự, hoàn chỉnh hệ thống tài liệu, giáo trình giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên… Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh

Pingback: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng