Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về luật sư từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật về luật sư và pháp luật chuyên ngành khác có liên quan
3.1.1. Bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện Luật luật sư
Luật luật sư năm 2006 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật luật sư năm 2012 được ban hành đã mở ra hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động hành nghề luật sư phát triển, đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của xã hội, bước đầu đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Tuy nhiên, do quy định của Luật luật sư còn bất cập và chưa đầy đủ nên kết quả thực hiện pháp luật về luật sư còn hạn chế, cụ thể :
Luật luật sư quy định về điều kiện, tiêu chuẩn trở thành luật sư chưa phù hợp, phân bố thời gian đào tạo và thời gian tập sự chưa hợp lý, thời gian đào tạo luật sư quá ngắn so với thời gian đào tạo các chức danh tư pháp khác, thời gian tập sự dài nhưng không quy định cụ thể tiêu chí phải đạt được sau khi tập sự, nên tình trạng đánh trống ghi tên để tập sự và đến hẹn lại lên để tham gia kỳ thi sát hạch còn phổ biến. Mặt khác luật quy định miễn và giảm thời gian đào tạo và tập sự hành nghề luật sư cho đối tượng đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chuyên viên pháp luật, thẩm tra viên ngành tòa án, kiểm tra viên ngành kiểm sát… trong khi đội ngũ này tham gia vào đội ngũ luật sư là rất lớn (ở Quảng Bình đối tượng này chiếm 80%) nhưng không được cung cấp, phổ cập các kiến thức cơ bản về luật sư và hoạt động hành nghề luật sư. Họ hoạt động hành nghề luật sư chủ yếu dựa vào kiến thức và kinh nghiệm của họ khi đang công tác tại cơ quan nhà nước, thiếu kỹ năng hành nghề…do vậy chất lượng luật sư còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém.
Luật luật sư quy định điều kiện mở văn phòng luật sư, công ty luật còn quá đơn giản, dễ dãi nên các loại hình tổ chức này được mở tràn lan nhưng với quy mô quá nhỏ, manh mún, tỉ lệ tổ chức hành nghề luật sư chỉ có từ 1 đến 2 luật sư chiếm trên 70% và chủ yếu đặt trụ sở tại nhà riêng luật sư, trong ngõ, ngách, chật hẹp, quản lý điều hành theo lối gia đình, tình trạng này đã làm giảm uy tính của luật sư và hoạt động hành luật sư. Luật quy định văn phòng luật sư, công ty luật là “ tổ chức hành nghề luật sư ” nhưng không quy định tiêu chí, quy mô, nhân sự, bộ máy tổ chức của văn phòng luật sư, công ty luật nên đã dẫn đến tình trạng trên. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Về hình thức hành nghề của luật sư, luật quy định luật sư được hành nghề với tư cách cá nhân, không làm việc trong tổ chức hành nghề luật sư, không làm việc theo hợp đồng trong cơ quan, tổ chức (như người bán hàng rong) nên không phát huy tác dụng và nâng cao vị thế của luật sư. Mặt khác, luật quy định Đoàn luật sư là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, không có chức năng hành nghề luật sư, nhưng lại quy định Đoàn luật sư ký giấy giới thiệu cho luật sư hành nghề cá nhân mỗi khi tham gia tố tụng là mâu thuẫn trái với chính quy định nội tại của Luật luật sư.– Về quy định thủ tục luật sư khi tham gia tố tụng, phải xuất trình thẻ luật sư, giấy yêu cầu của khách hàng, văn bản yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, giấy giới thiệu của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét làm thủ tục cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng. Đây là thủ tục rườm rà, gây khó khăn phiền hà cho hoạt động luật sư, không phù hợp với tinh thần cải cách hành chính, cải cách tư pháp của nhà nước. Cần xóa bỏ “rào cản” luật sư tham gia tố tụng phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự quy định tại điều 27 Luật luật sư.
Người bào chữa chỉ là luật sư: Chính phủ đã có chiến lược phát triển đội ngũ luật sư đến năm 2020 và yêu cầu của xã hội đặt ra là phải có đội ngũ luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý trong các lĩnh vực một cách bài bản, chuyên nghiệp. Đặc biệt người bào chữa trong các vụ án hình sự là liên quan đến quyền con người, sự oan, sai trong hoạt động tố tụng và vấn đề trừng trị kẻ phạm tội nên đòi hỏi người bào chữa không những phải có tâm mà còn phải có năng lực, trình độ, được đào tạo cơ bản về kỹ năng hành nghề. Mặt khác hoạt động của họ phải có chế định pháp lý điều chỉnh và có tổ chức hành nghề đứng ra chịu trách nhiệm mỗi khi họ vi phạm, bảo vệ họ mỗi khi quyền của họ không được tôn trọng hoặc bị xâm phạm. Pháp luật tố tụng hình sự quy định ngoài luật sư, bào chữa viên nhân dân, hoặc người khác cũng có quyền bào chữa cho bị can, bị cáo, quy định như vậy trong giai đoạn hiện nay là không còn phù hợp, đánh đều chất lượng của luật sư với bào chữa viên nhân dân, người khác, làm giảm uy tính của luật sư trong xã hội. Do vậy, người bào chữa cần quy về một loại người (chủ thể) được Luật luật sư điều chỉnh đó là luật sư. Đã đến lúc bỏ các đối tượng khác như bào chữa viên nhân dân và người khác là cá nhân ra khỏi quy trình tố tụng hình sự. Từ những lý giải trên kiến nghị nhà nước tiếp tục nghiên cứu, xem xét bổ sung, sửa đổi luật luật sư, hoàn thiện thể chế luật sư theo đề xuất sau: Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Quy định (sửa đổi) thời gian đào tạo và tập sự hành nghề luật sư quy định tại điều 12 và điều 14 Luật luật sư cho phù hợp với nội dung và yêu cầu đào tạo để các luật sư sau khi hoàn thành tập sự có năng lực, kiến thức cần thiết có thể thực hành nghề được ngay.
Hạn chế đối tượng được miễn, giảm đào tạo, tập sự hành nghề luật sư (quy định tại điều 16 Luật luật sư) theo hướng chỉ miễn đào tạo, tập sự cho luật sư là người đã là thẩm phán, kiểm sát viên trung cấp trở lên. Không miễn giảm, đào tạo, tập sự hành nghề luật sư cho các đối tượng khác.
Quy định quy mô nhân sự, bộ máy tổ chức của các tổ chức hành nghề luật sư (văn phòng luật sư, công ty luật) theo hướng phát triển các tổ chức hành nghề luật sư có quy mô từ 3 luật sư trở lên và bộ phận hành chính kế toán, thu hút nhiều luật sư trong nước và nước ngoài đến làm việc.
Bãi bỏ hình thức hoạt động của luật sư với tư cách cá nhân quy định tại khoản 3 điều 22 Luật luật sư.
Bãi bỏ quy định luật sư khi tham gia tố tụng phải xuất trình giấy tờ và làm thủ tục cấp giấy tham gia tố tụng (quy định tại điều 27 Luật luật sư)
Bổ sung quy định chỉ có luật sư mới được làm người bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự trong các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.2. Đảm bảo sự thống nhất giữa pháp luật về luật sư với Luật tố tụng hình sự
Luật luật sư và luật tố tụng hình sự có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau, sự thống nhất giữa các đạo luật này về văn bản cũng như nhận thức của chủ thể thực hiện pháp luật là cơ sở pháp lý, điều kiện để việc thực hiện pháp luật về luật sư có hiệu quả, tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư phát triển. Tuy nhiên, do vận động, phát triển của xã hội, pháp luật không theo kịp nên đã bộc lộ khiếm khuyết, bất cập, ảnh hưởng đến sự thống nhất giữa các đạo luật, làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện pháp luật. Luật luật sư và luật tố tụng hình sự qua quá trình thực hiện cũng có những bất cập như vậy. Điều này đặt ra yêu cầu pháp luật phải luôn được đánh giá, kiểm chứng trên thực tế để kịp thời bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với phát triển xã hội.
Luật luật sư và luật tố tụng hình sự sau khi ban hành đã được bổ sung, sửa đổi để đảm bảo sự thống nhất trong thực hiện, áp dụng pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật (luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, bị can, bị cáo, đương sự…). Mặc dù vậy hiện tại giữa Luật luật sư và luật tố tụng hình sự vẫn còn những quy phạm pháp luật quy định chưa thống nhất về một số nội dung làm khó khăn, trở ngại cho thực hiện pháp luật về luật sư, cần thiết phải được kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Hoạt động của luật sư đã được quy định tương đối cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Tuy vậy do nhận thức chưa thật đầy đủ và do chưa có hướng dẫn cụ thể, đồng bộ, thống nhất dẫn đến việc luật sư tham gia vào hoạt động tố tụng chưa hiệu quả. Một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự còn mang tính hình thức, khó thực hiện hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất. Sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự không chỉ giúp bị can, bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà còn góp phần trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng, chính xác, tránh làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm. Theo quy định của Luật tố tụng hình sự, luật sư được tham gia tố tụng từ khi khởi tố vụ án, khi có quyết định tạm giữ, nhưng có tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực hiện đúng pháp luật, chưa tạo điều kiện để luật sư thực hiện đầy đủ chức năng của mình. Điều tra viên chưa ủng hộ việc luật sư tham gia tố tụng từ giai đoạn điều tra bằng cách khuyên bị can không nên mời luật sư mà chỉ cần khai báo trung thực để được hưởng khoan hồng. Trường hợp bị can phạm tội nặng, theo quy định của pháp luật, cơ quan tố tụng phải liên hệ với tổ chức hành nghề luật sư cử luật sư bào chữa cho bị can thì điều tra viên lại khuyên bị can viết giấy từ chối không yêu cầu luật sư. Trong trường hợp khác khi bị can, bị cáo có yêu cầu luật sư bào chữa cho họ, các cơ quan tiến hành tố tụng viện ra nhiều lý do để trì hoãn việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư. Tình trạng nói trên đã xâm phạm đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo, cản trở hoạt động của luật sư. Do vậy cần thiết xây dựng điều khoản mới quy định tội danh “ xâm phạm quyền bào chữa và nhờ người bào chữa của công dân ” và tội danh “ cản trở hoạt động của luật sư trong Bộ luật hình sự ”. X óa bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa theo quy định tại điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự.Để tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư trong việc bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định luật sư có quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng trên thực tế việc luật sư gặp mặt bị can, bị cáo gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi phải xuất trình nhiều giấy tờ, thủ tục phiền hà khi tham gia tố tụng vụ án hình sự. Đối tượng quan trọng được luật sư bảo vệ là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam. Những đối tượng này trong trại tạm giam tinh thần không ổn định, tâm lý hoang mang, lo sợ nên việc khai báo không chính xác, vì vậy tình trạng oan, sai thường xảy ra đối với các đối tượng này. Trách nhiệm của luật sư là bào chữa, bảo vệ cho họ để góp phần bảo vệ công lý. Trong quá trình điều tra, việc luật sư được tham gia vào quá trình điều tra đã khó, việc luật sư được gặp bị can còn khó hơn. Việc luật sư được gặp riêng bị can không bao giờ xảy ra ở giai đoạn điều tra, nên luật sư không được nghe họ trình bày, đưa ra đề xuất, yêu cầu luật sư giúp đỡ cái gì, minh oan hay bào chữa giảm nhẹ. Mặt khác theo quy định tại điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự, luật sư chỉ được tiếp xúc, nghiên cứu hồ sơ sau khi cơ quan điều tra đã có kết luận điều tra vụ án, do đó luật sư không có căn cứ gì để đưa ra yêu cầu với cơ quan điều tra bào chữa, bảo vệ cho bị can.
Đây là một tồn tại thực tế, một bất cập của pháp luật, do đó Luật tố tụng hình sự cần bổ sung quy định quyền của luật sư phải được gặp riêng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ngay khi họ hay người thân thích của họ yêu cầu luật sư bào chữa cho họ. Quy định nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được phân công thụ lý vụ án phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho luật sư thực hiện các quyền bào chữa và có quy định xử lý cá nhân, tổ chức vi phạm. Sửa đổi quy định tại điều 58 luật tố tụng hình sự cho phép luật sư bào chữa được tiếp xúc (đọc) hồ sơ ngay trong quá trình điều tra vụ án.
Cùng với việc bổ sung, sửa đổi luật các cơ quan có thẩm quyền: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Liên Đoàn luật sư Việt Nam cần xây dựng và ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn thống nhất về nhận thức, vai trò của luật sư trong tố tụng cũng như ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể, bảo đảm cho luật sư thực hiện đầy đủ quyền của mình đã được pháp luật quy định.
3.1.3. Cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của luật sư khi tham gia tố tụng Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Quyền nhờ người khác bào chữa của bị can, bị cáo đã được pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có sự sửa đổi và quy định nhiều hơn về quyền của người bào chữa như: sự tham gia tố tụng của của Luật sư từ khi có quyết định tạm giữ; có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ; quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa; đưa ra tài liệu và đồ vật; sao chụp tài liệu… Tuy nhiên, để thực sự bình đẳng trong tranh tụng thì cần sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng đảm bảo hơn nữa quyền bình đẳng của Luật sư trước và trong phiên tòa để họ có thể tranh tụng một cách dân chủ, bình đẳng với bên buộc tội. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 chưa hoàn toàn tạo ra cơ chế, điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền bình đẳng của Luật sư – với tư cách là một bên tranh tụng.
Vì vậy, để tranh tụng thực sự dân chủ và có hiệu quả, cần bổ sung một số quyền cho bên gỡ tội:
- Luật sư, bị cáo là bên gỡ tội trong quá trình tranh tụng, hoàn toàn bình đẳng với Viện kiểm sát là bên buộc tội.
- Quyền đề xuất nhân chứng cần triệu tập đến phiên tòa.
- Quyền bác bỏ nhân chứng do phía buộc tội đưa ra.
- Bỏ quy định khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa phải có trách nhiệm giao cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án
- Bỏ quy định Luật sư phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nếu như không phải là phiên tòa xét xử.
- Bỏ việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho Luật sư. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ những cơ quan tổ chức, cá nhân nhưng phải theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Cần hiểu rằng khi người bào chữa đã được bị can, bị cáo yêu cầu để bảo vệ quyền lợi thì có nghĩa là họ đã mong muốn người bào chữa làm mọi biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho họ, hơn nữa khi tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì người bào chữa mới có thể biết được những thông tin về những cá nhân, tổ chức cần thu thập tài liệu, chứng cứ vì vậy không cần thiết phải quy định “theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” mà chỉ cần quy định “để phục vụ cho hoạt động bào chữa cho bị can bị cáo, nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác” là đủ.
Để Luật sư thực sự tranh tụng bình đẳng với Kiểm sát viên tại phiên tòa, thì Luật sư phải có thời gian nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị những chứng cứ lý lẽ, nhất là việc thu thập những chứng cứ ngay từ giai đoạn bị can, bị cáo bị tạm giữ nên cần phải quy định cụ thể:
Đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì ngay tiêu đề của điều luật phải quy định “Bắt buộc phải cử người bào chữa”.
Đồng thời phải có cơ chế kiểm tra và quy rõ trách nhiệm cụ thể với trường hợp luật đã bắt buộc mời nhưng những người có trách nhiệm không mời. Những trường hợp này cần phải coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Nếu trong quá trình tiến hành tố tụng có các vấn đề mới phát sinh như bị can từ chối người bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, bị can đã đến tuổi thành niên, bị can có nhu cầu mời người khác bào chữa… Lúc này cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tùy theo từng trường hợp cụ thể, từng giai đoạn tiến hành tố tụng cụ thể để giải quyết nội dung phát sinh mới cho phù hợp với thực tế sự việc đã xảy ra. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Theo quy định của Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “trước khi hỏi cung, điều tra viên phải giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can”. Trên thực tế, hầu hết các bị can, nhất là bị can đang bị tạm giam (kể cả các trường hợp bị can theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự) đều không được điều tra viên giải thích hoặc giải thích không đầy đủ về quyền được nhờ người khác bào chữa, quyền được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư chỉ định Văn phòng Luật sư cử người bào chữa cho mình. Để khắc phục tình trạng này, trong mẫu giấy về quyết định tạm giữ, khởi tố bị can, nên in sẵn thông báo cho người bị tạm giữ, bị can biết các quyền đó.
Để tạo điều kiện thuận tiện nhất cho người đại diện hợp pháp của người bị tạm giam, bị can mời người bào chữa cần quy định khi người nhà người bị tạm giữ, bị can có đơn (có xác nhận địa chỉ của Ủy ban nhân dân cấp xã) mời Luật sư bào chữa, Cơ quan điều tra phải bố trí Luật sư gặp bị can, người bị tạm giữ. Nếu họ đồng ý để Luật sư bào chữa thì Cơ quan điều tra phải cấp ngay giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư, những trường hợp vì bí mật an ninh quốc gia hoặc những lý do khác Luật sư không thể tham gia ngay từ giai đoạn này pháp luật cũng cần quy định rõ.
Mặc dù pháp luật đã quy định, nhưng việc tham dự của người bào chữa trong các buổi điều tra viên lấy lời khai bị can gặp nhiều khó khăn. Vì theo họ, sự có mặt của người bào chữa sẽ gây khó khăn, phức tạp trong việc lấy lời khai bị can, thậm chí còn gây trở ngại cho công việc của họ. Khi người bào chữa tiếp xúc với bị can đều có điều tra viên ngồi bên cạnh, nên dù bị can bị bức cung hoặc dùng nhục hình thì họ cũng không dám thổ lộ với người bào chữa.
Để khắc phục tình trạng này, Bộ luật tố tụng hình sự cần có quy định rõ những trường hợp Luật sư được tiếp xúc riêng với bị can mà không có sự giám sát của giám thị trại giam hoặc của điều tra viên. Những trường hợp luật đã cho phép có mặt Luật sư tham gia khi hỏi cung bị can, được tham gia các hoạt động nghiệp vụ mà Điều tra viên không thông báo, không tạo điều kiện là vi phạm pháp luật, gây khó khăn cho hoạt động bào chữa của luật sư, cần có những chế tài xử lý.
Theo quy định tại khoản 2 điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự về đối tượng được các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa gồm: a,Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự; b, Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Quy định này cho thấy phạm vi đảm bảo quyền có người bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự là quá hẹp so với quy định của nhiều nước trên thế giới, theo đó với những người bị cáo buộc về các tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, cần thiết phải có cơ chế đảm bảo cho họ có quyền có người bào chữa, sự tham gia nhiều hơn của người bào chữa tại phiên tòa hình sự đảm bảo cho hoạt động tranh tụng thực chất, có hiệu quả hơn. Chính vì vậy đề nghị bổ sung quy định tại khoản 2 điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự các trường hợp được chỉ định bào chữa gồm: những tội (bị cáo buộc) có khung hình phạt từ 15 năm tù trở lên và chung thân (tội đặc biệt nghiêm trong) quy định trong bộ luật hình sự.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Điều 190 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về sự có mặt và sự tham gia tranh tụng của người bào chữa tại phiên tòa, cho phép tòa án vẫn tiến hành phiên tòa nếu người bào chữa vắng mặt như hiện nay vô hình chung sẽ tạo điều kiện cho người bào chữa được quyền thiếu trách nhiệm trong việc bào chữa. Mặt khác, việc Tòa án tiến hành phiên tòa thiếu sự có mặt của người bào chữa sẽ khiến cho việc đánh giá chứng cứ không khách quan, vì bản án của Tòa án khi đưa ra quyết định phải phải dựa trên kết quả xem xét đầy đủ và khách quan các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và cả những chứng cứ khác phát sinh trong quá trình xét xử tại phiên tòa, xem xét toàn diện lời khai của bị cáo, người liên quan, nhân chứng, ý kiến bào chữa của người bào chữa, ý kiến của Viện kiểm sát…chính vì lẽ đó đề nghị sửa đổi quy định của pháp luật tại điều này theo hướng: sự có mặt của người bào chữa là bắt buộc, mọi trường hợp vắng mặt người bào chữa Tòa án phải hoãn phiên tòa (như đối với sự vắng mặt của đại diện Viện kiểm sát). Chức năng bào chữa là một chức năng quan trọng trong quá trình tố tụng, đây là trách nhiệm nghề nghiệp đồng thời cũng là nghĩa vụ của Luật sư trước bị can, bị cáo. Tuy nhiên trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành chưa xác định rõ nghĩa vụ pháp lý của Luật sư trước bị can, bị cáo; tiêu chuẩn về sức khỏe đối với những người hành nghề Luật sư cũng chưa được quy định chặt chẽ. Điều đó làm hạn chế đến khả năng thực hiện chức năng và nghĩa vụ của Luật sư trong quá trình tố tụng. Trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của Luật sư bào chữa trước bị can, bị cáo, trong những trường hợp Luật sư không làm tròn nghĩa vụ và chức năng nghề nghiệp của mình để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Cùng với Luật luật sư, Luật tố tụng hình sự cần được bổ sung, sửa đổi quy định rõ quyền, nghĩa vụ của luật sư khi tham gia tố tụng hình sự, để luật sư thực hiện tốt hơn chức năng của mình trong bào chữa bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị can, bị cáo, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
3.2. Phát triển tăng cường đội ngũ luật sư về số lượng và chất lượng
3.2.1. Chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển đội ngũ luật sư
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất dân chủ trong hoạt động tố tụng và trong đời sống, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, việc khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nghề luật sư và tổ chức luật sư trong chỉnh thể thống nhất cùng các chủ thể tư pháp khác đã được Đảng và Nhà nước ta thực sự quan tâm. Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các chức danh tư pháp ngày càng cao, thông qua việc thực hiện chức năng xã hội của mình, đội ngũ luật sư phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, đấu tranh có hiệu qủa với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Do đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư được đặt trong bối cảnh và khuôn khổ thực hiện các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng luật sư. Cụ thể: Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 07 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII khẳng định: “Củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp… xây dựng một đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Toà án, Chấp hành viên, Công chứng viên, Giám định viên, Luật sư có phẩm chất chính trị và đạo đức, chí công vô tư, có nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ máy trong sạch, vững mạnh”.
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ”. Đặc biệt Nghị quyết còn đặt ra nhiệm vụ: “ … Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn”. [22]
Kế hoạch số 900/UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/3/2007 nhằm thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (giai đoạn 2007 – 2012) cũng khẳng định sự cần thiết phải: “Bảo đảm để khi trở thành thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, các chức danh tư pháp khác, họ là người có đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.
Thực hiện Nghị quyết 49-NQ-TW nêu trên, đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn luật sư để góp phần giải quyết các thách thức đối với công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 14/5/2008 Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định số 544/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án đào tạo chuyên gia pháp luật, luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế “nhằm có được một số chuyên gia pháp luật, luật sư am hiểu pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, giỏi kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có khả năng được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư của nước đang được đào tạo” . Sau khi được đào tạo, các chuyên gia pháp luật, luật sư được sử dụng để tư vấn về hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế; soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; giảng dạy các cơ sở đào tạo luật, đồng thời là nòng cốt để từng bước hình thành và phát triển đội ngũ chuyên gia pháp luật, luật sư tiêu chuẩn quốc tế. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Quyết định số 123/QĐ- TTg ngày 18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đào tạo, bồi dưỡng để hình thành và phát triển được đội ngũ luật sư am hiểu luật pháp quốc tế, giỏi ngoại ngữ, có đủ khả năng tham gia giải quyết các tranh chấp quốc tế.
Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nghề luật sư Việt Nam đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ giai đoạn 2016 -2020 là: “Tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ luật sư; đa dạng hóa công tác đào tạo nghề luật sư theo Chương trình chuẩn quốc gia về đào tạo nghề luật sư; thành lập cơ sở đào tạo nghề luật sư của Liên đoàn Luật sư Việt Nam; mở rộng sự tham gia của các Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trong việc đào tạo nghề luật sư, nâng cao tính cạnh tranh lành mạnh trong đào tạo nghề luật sư; thực hiện đào tạo chuyên sâu và đào tạo liên thông; tiếp tục thực hiện có hiệu quả liên kết với quốc tế và khu vực trong việc đào tạo luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp do tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư đảm nhận”. [44]
3.2.2. Giải pháp nhằm phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư
Mục tiêu xây dựng đội ngũ luật sư tăng về số lượng, nâng cao rõ rệt về phẩm chất và kỹ năng hành nghề, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế đã được nêu đầy đủ trong các Nghị quyết, chủ trương, kế hoạch và khuôn khổ pháp luật nói trên. Để thực hiện được mục tiêu và đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, nhiệm vụ phát triển đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng luật sư cần hướng đến việc phát triển nghề luật sư theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày càng cao của cơ quan, tổ chức, công dân, doanh nghiệp. Nâng cao vị trí, vai trò của đội ngũ luật sư trong việc tham gia hoạch định chính sách, xây dựng, giám sát thực thi pháp luật, thực hiện trách nhiệm xã hội, góp phần bảo đảm thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, bảo vệ công lý, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Mặt khác, nhiệm vụ phát triển đào tạo, bồi dưỡng luật sư cũng phải đáp ứng yêu cầu đưa hoạt động hành nghề luật sư trở thành nghề chuyên nghiệp, song song với việc tạo lập môi trường cho dịch vụ nghề nghiệp của luật sư phát triển theo thông lệ quốc tế; phát triển tổ chức hành nghề luật sư hành nghề chuyên sâu trong một số lĩnh vực, có khả năng cạnh tranh cao, từng bước chiếm lĩnh thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và trên thế giới. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể theo Chiến lược phát triển nghề luật sư của Chính phủ, phấn đấu đến năm 2020, số lượng luật sư trong cả nước đạt từ 18.000 đến 20.000 luật sư; bảo đảm luật sư được đào tạo bài bản theo chương trình chuẩn về cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư theo hướng hội nhập với khu vực và thế giới, đảm bảo 100% số lượng luật sư được bồi dưỡng thường xuyên và nâng cao về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hành nghề, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp theo chuẩn mực nghề nghiệp luật sư. Phát triển đội ngũ luật sư hành nghề chuyên sâu trong các lĩnh vực pháp luật, chú trọng đến việc đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, phấn đấu đạt khoảng 1.000 luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập quốc tế…
Để thực hiện được mục tiêu, định hướng và chỉ tiêu cụ thể nêu trên cần chú trọng triển khai một số giải pháp cụ thể sau đây:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, môi trường pháp lý nhằm đề cao vị thế, hình ảnh dấn thân bảo vệ công lý, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội của đội ngũ luật sư. Có chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, thu hút nguồn nhân lực tham gia hoạt động hành nghề luật sư, chú trọng những đối tượng được đào tạo cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư hoặc đã được công nhận là luật sư ở nước ngoài. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi nhằm quan tâm, thu hút các luật sư có năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức để tạo nguồn tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp và các vị trí khác trong cơ quan Nhà nước.
Thứ hai, chú trọng thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, kết hợp với học tập Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư; tiếp tục triển khai việc quán triệt và thực hiện các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII. Tăng cường công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, bồi dưỡng giáo dục chính trị, tư tưởng thường xuyên trong nội bộ của các Đoàn Luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư đối với các luật sư thành viên. Chú trọng công tác hướng dẫn bồi dưỡng, giám sát tập sự hành nghề luật sư, quản lý chặt chẽ chất lượng tập sự hành nghề nhằm tăng cường chất lượng đầu vào của đội ngũ luật sư; đào tạo kỹ năng quản trị, điều hành tổ chức hành nghề luật sư. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Thứ ba, Liên Đoàn luật sư Việt Nam sớm hoàn thiện Đề án thành lập Trường Đào tạo, bồi dưỡng luật sư Việt Nam, đổi mới về nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo theo hướng chuyên sâu, phù hợp với định hướng chung về cải cách tư pháp. Xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu và kiêm nhiệm có năng lực, phương pháp giảng dạy hiện đại, có kinh nghiệm thực tiễn; hoàn thiện chương trình, tài liệu, tập bài giảng phục vụ tốt công tác bồi dưỡng luật sư. Mở rộng sự tham gia của các Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trong việc đào tạo nghề luật sư, nâng cao tính cạnh tranh lành mạnh trong đào tạo nghề luật sư; tăng cường việc tuyên truyền hướng nghiệp luật sư trong sinh viên các Khoa và Trường Đại học luật…
Thứ tư, Liên Đoàn luật sư Việt Nam chủ động thực hiện các giải pháp xây dựng đội ngũ luật sư hội nhập quốc tế và phối hợp với Bộ Tư pháp trong công tác đào tạo, bồi dưỡng luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế theo Quyết định 123/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ; thành lập và phát huy vai trò, tác dụng của Câu lạc bộ luật sư. Nghiên cứu thành lập cơ sở đào tạo liên kết, hợp tác quốc tế trong việc tổ chức đào tạo luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế; lựa chọn luật sư đi đào tạo chuyên sâu ở nước ngoài và khuyến khích việc luật sư tự đào tạo để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Đối với Quảng Bình để tăng số lượng luật sư trong giai đoạn sắp tới cần phải:
Tiếp tục triển khai thực hiện đề án phát triển đội ngũ luật sư của tỉnh trong thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế 2010 – 2020 đã được tỉnh phê duyệt.
- Hoàn thiện thể chế, môi trường pháp lý, đề cao vị trí, vai trò của luật sư
- Tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất tạo điều kiện cho Đoàn Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư hành lang pháp lý để phát triển.
- Thực hiện chính sách thu hút nhân tài, về hoạt động ở Quảng Bình.
- Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị cho luật sư.
- Xây dựng đội ngũ luật sư chuyên sâu về các lĩnh vực để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nhu cầu hội nhập của tỉnh Quảng Bình.
3.3. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Nghị quyết số 49/NQ-TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ: “đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ, trách nhiệm đối với luật sư. Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luât sư; đề cao trách nhiệm của tổ chức luật sư đối với thành viên của mình”. Để đạt được mục tiêu này, cần thực hiện một số biện pháp sau đây:
Đối với công tác quản lý nhà nước về luật sư và hoạt động luật sư
Tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư để thể chế hoá đầy đủ và kịp thời những nội dung có liên quan của Chiến lược cải cách tư pháp, Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như những chủ trương, chính sách, định hướng quan trọng của Đảng về cải cách hành chính, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Hướng dẫn thi hành Luật Luật sư và các quy định có liên quan của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự.., tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, cụ thể nhằm tăng cường trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, đặc biệt là việc tuân thủ pháp luật, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật hành nghề và nhận thức về tư tưởng, lập trường chính trị trong hành nghề; đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của luật sư.
Kiến nghị Quốc hội tiếp tục hoàn thiện Luật luật sư và pháp luật tố tụng có liên quan nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong tổ chức và hoạt động luật sư, phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với luật sư và hành nghề luật sư. Xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, nâng cao vị thế, vai trò, tính chuyên nghiệp và tăng cường trách nhiệm xã hội của luật sư. Tạo điều kiện đưa nghề luật sư Việt Nam tiếp cận gần hơn nữa với thông lệ hành nghề luật sư quốc tế.
Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo nghề luật sư; tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư và chính trị tư tưởng cho luật sư, người tập sự hành nghề luật sư.
Ở địa phương, các cấp ủy đảng, chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trên cơ sở nhiệm vụ chính trị tại địa phương, tiếp tục chủ động, quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ về cơ sở vật chất nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Tăng cường kiểm tra, thanh tra để nắm bắt tình hình về tổ chức và hoạt động luật sư, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, uốn nắn và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư; biểu dương, khen thưởng kịp thời đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư có nhiều đóng góp trong sự nghiệp phát triển luật sư, gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, chuẩn mực đạo đức luật sư.
Xây dựng và thực hiện thường xuyên cơ chế thông tin, phối hợp quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư với địa phương, giữa cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan.
Đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư
Củng cố, kiện toàn về tổ chức của Liên đoàn luật sư Việt Nam đủ nguồn lực về con người và cơ sở vật chất, đổi mới và nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp trong quản lý, điều hành hoạt động các cơ quan của Liên đoàn để hoạt động của Liên đoàn có bước đột phá, thực chất và hiệu quả, xây dựng Liên đoàn thật sự là ngôi nhà chung của giới luật sư Việt Nam, thực sự trở thành cầu nối giữa Đảng, nhà nước với luật sư, giữa luật sư với công dân và xã hội, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư.
Củng cố, kiện toàn tổ chức, hoạt động của các Đoàn luật sư để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi cho luật sư; giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư; huy động, tập hợp trí tuệ của đông đảo luật sư tham gia vào các hoạt động xã hội nói chung và các sự kiện pháp lý nói riêng.
Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng những nhân tố mới, những luật sư trẻ có bản lĩnh chính trị, đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý để bổ sung vào các chức danh lãnh đạo của Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư nhiệm kỳ tới.
3.4. Tiếp tục tuyên truyền phổ biến pháp luật về luật sư Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Tuyên truyền phổ biến pháp luật về luật sư để công dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhận thức đầy đủ và đúng đắn hơn nữa vị trí, vai trò của luật sư , tác dụng, lợi ích to lớn mà hoạt động luật sư mang lại cho đời sống xã hội và sự nghiệp bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước.
Những năm qua nhờ làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về luật sư cùng với sự hỗ trợ của nhà nước và triển khai thực hiện có trách nhiệm của các cấp, các ngành, đoàn thể xã hội, hoạt động luật sư đã có bước phát triển. Đội ngũ luật sư tăng nhanh về số lượng, nâng cao về chất lượng, tổ chức hành nghề luật sư thành lập nhiều, dịch vụ pháp lý luật sư cung cấp cho nhu cầu xã hội đa dạng, có chất lượng, uy tính luật sư đã được nâng lên, đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ, văn minh.
Trong thực tế xã hội vẫn còn có nhiều nguời, nhiều cơ quan, tổ chức chưa hiểu rõ vai trò của luật sư và cho rằng luật sư sẽ gây khó khăn cho việc chống tội phạm, giúp cho kẻ phạm tội trốn tránh trách nhiệm. Quan điểm của những người làm công tác điều tra cho rằng nếu luật sư tham gia từ giai đoạn điều tra thì tạo ra những khó khăn trong việc phát hiện tội phạm, bảo đảm bí mật điều tra, bảo quản chứng cứ v.v. Theo báo cáo kết quả điều tra cơ bản về hoạt động của các cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm quyền dân chủ của công dân và trật tự an toàn xã hội do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thực hiện ở Hà Nội thì trong số điều tra viên được phỏng vấn có 42,86% số điều tra viên cho là sự tham gia của luật sư vào giai đoạn điều tra là cần thiết, còn 57,47% số điều tra viên cho là không cần thiết. Ngược lại, có ý kiến cho rằng, tội phạm đã rõ ràng thì luật sư không thể bào chữa cho kẻ phạm tội hoặc luật sư là “người giúp việc” cho cơ quan tiến hành tố tụng. Quan niệm như vậy đối với luật sư là trái với quy định của pháp luật và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Sự tham gia của luật sư ở giai đoạn điều tra không chỉ mở rộng những nguyên tắc dân chủ của tố tụng hình sự mà còn nâng cao chất lượng điều tra, tăng cường pháp chế trong giai đoạn điều tra. [7] Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Việc bào chữa kiên định, dũng cảm của luật sư trong vụ án hình sự không những không cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm, giúp khắc phục những sai lầm trong việc xử lý vụ án. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác bằng những phương tiện phù hợp pháp luật luật sư thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền công dân. Vì vậy, cần có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của luật sư trong tố tụng nói riêng và trong xã hội nói chung. Nhận thức đó phải được quán triệt trong các cơ quan nhà nước, trước hết là các cơ quan tiến hành tố tụng và mọi người dân.
Nhấn mạnh đến vai trò của luật sư trong xã hội, trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị toàn quốc ngành tư pháp năm 2003, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã nhấn mạnh rằng, ở các nước mỗi gia đình, mỗi người, mỗi tổ chức xã hội đều có luật sư trợ giúp, tư vấn cho mình. Người luật sư giúp cho họ hiểu được quyền đến đâu và nghĩa vụ đến đâu và từ đó mới ngấm dần vào toàn xã hội được. Đó là điểm rất đáng quan tâm trong điều kiện Việt Nam.
Có thể nói, tiếp tục phổ biến, tuyên truyền phổ biến luật về luật sư, nâng cao nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về vị trí, vai trò của luật sư trong quá trình giải quyết vụ án, tôn trọng luật sư và ý kiến của luật sư, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong các giai đoạn tố tụng là một trong những nhiệm vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.
Nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức khác và nhân dân về vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, góp phần tăng tính hấp dẫn nghề nghiệp luật sư, thu hút ngày càng đông đội ngũ cử nhân luật mới ra trường tham gia hành nghề luật sư. Đồng thời, phát triển thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, kích thích nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư từ phía các cơ quan, tổ chức và cá nhân là một trong những mục tiêu của quá trình thực hiện pháp luật về luật sư tạo cơ sở, điều kiện cho luật sư và hoạt động hành nghề luật sư phát triển, hoàn thành trách nhiệm xã hội cao cả của mình mà pháp luật giao cho.
Để công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về luật sư có hiệu quả cần thực hiện tốt các biện pháp sau đây:
Về nội dung: Xác định nội dung tuyên truyền , phổ biến pháp luật về luật sư, tập trung vào các nội dung cốt lõi về vị trí, vai trò của luật sư, tác dụng, lợi ích mà hoạt động luật sư mang lại, trách nhiệm xã hội của luật sư được quy định tại Luật luật sư, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện pháp luật về luật sư, chiến lược phát triển nghề luật sư Việt Nam đến năm 2020 đã được phê duyệt tại Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của thủ tướng chính phủ.
Về hình thức: Sử dụng tổng hợp các hình thức tuyên truyền trong đó chú trọng thực hiện các hình thức chính sau:
- Thông qua hội đồng tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, truyền hình, wedsite của tỉnh , Sở Tư pháp, bản tin tư pháp
- Biên soạn tài liệu tuyên truyền cầm tay, cấp phát về tận cơ sở thôn bản, xã, phường
- Thông qua hình thức trợ giúp pháp lý miễn phí của luật sư nhân ngày pháp luật Việt nam, ngày truyền thống luật sư Việt Nam Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
- Tuyên truyền tại hội nghị tập trung để phổ biến pháp luật về luật sư đến các khối cơ quan, tổ chức, cụm dân cư….
3.5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện pháp luật về luật sư
Đổi mới, hoàn thiện phương hướng lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư. Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong tổ chức xã hội – nghề nghiệp và tổ chức hành nghề của luật sư. Củng cố, kiện toàn tổ chức Đảng trong các Đoàn luật sư, tăng cường công tác bồi dưỡng, phát triển Đảng nhất là trong đội ngũ luật sư trẻ, chú trọng công tác bồi dưỡng, giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ luật sư. Phát huy tinh thần gương mẫu của luật sư là Đảng viên trong hoạt động nghề nghiệp và thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
Các cấp ủy, chính quyền địa phương cần quán triệt tuyên truyền về vị trí, vai trò của luật sư trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo đảm dân chủ, công bằng xã hội. Nâng cao nhận thức về tổ chức và hoạt động luật sư, qua đó nâng cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp, hỗ trợ tổ chức và hoạt động luật sư trong toàn hệ thống chính trị, trong nhân dân.
Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, các nghị quyết, Đại hội Đảng XI, XII, chỉ thị số 33 – CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư về việc thực hiện những cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới, đã tạo nên những cơ hội lớn cho việc hoàn thiện thể chế, thực hiện pháp luật về luật sư và sự phát triển của đội ngũ luật sư cũng như hoạt động hành nghề luật sư, tiến gần đến với thế giới.
Đáp ứng lại sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng với truyền thống đoàn kết và ý chí tự lực tự cường, tin tưởng rằng đội ngũ luật sư Việt Nam sẽ phát triển ngang tầm với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế Quốc tế. Hoạt động luật sư thực hiện tốt chức năng xã hội, xứng đáng với trọng trách của mình, sự tin tưởng của Đảng, nhà nước và kỳ vọng của xã hội.
Tiểu kết Chương 3
Trên cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về luật sư, thực tiễn pháp luật về Luật luật sư ở tỉnh Quảng Bình; kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và một số bất cập của pháp luật về luật sư. Tác giả đã mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị, giải pháp đảm bảo tiếp tục thực hiện pháp luật về luật sư, đó là: hoàn thiện pháp luât, thể chế về luật sư, khắc phục bất cập, thiếu thống nhất của Luật luật sư với các luật khác có liên quan đến hoạt động luật sư và hành nghề luật sư; phát triển đội ngũ luật sư về số lượng và chất lượng; tăng cường quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, kết hợp với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư; tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về luật sư; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với luật sư và hoạt động hành nghề luật sư. Với mong muốn việc thực hiện pháp luật về luật sư ở tỉnh Quảng Bình cũng như trên phạm vi cả nước thời gian tới có hiệu quả hơn.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển bền vững của đất nước ta hiện nay thì vị trí, vai trò của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trong xã hội ngày càng được khẳng định và nâng cao. Những đòi hỏi trên đặt ra yêu cầu phát triển đội ngũ luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, chuyên nghiệp và hiện đại. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội cho các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư phát triển, quan hệ hợp tác, giao lưu với đối tác nước ngoài. Cùng với sự phát triển bền vững của đất nước, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhất là doanh nghiệp cũng gia tăng nhanh; số lượng vụ việc đa dạng hơn, phức tạp hơn, phạm vi hành nghề cũng mở rộng hơn. Bên cạnh đó yêu cầu của xã hội về chất lượng dịch vụ pháp lý cũng ngày càng cao, trách nhiệm pháp lý, kỷ luật hành nghề, sự cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế cũng ngày một gay gắt.
Nghiên cứu pháp luật về luật sư và thực hiện pháp luật về luật sư, luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề cơ bản trong thực hiện pháp luật về luật sư, đó là:
Làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về luật sư, khái niệm luật sư, địa vị pháp lý của luật sư, đặc điểm hoạt động luật sư và khái niệm pháp luật về luật sư. Đồng thời làm rõ thêm khái niệm thực hiện pháp luật về luật sư trên cơ sở nghiên cứu lý luận về thực hiện pháp luật, nội dung, vai trò thực hiện pháp luật về luật sư, các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về luật sư và quan điểm chỉ đạo của Đảng, nhà nước về luật sư và hoạt động luật sư.
Thực hiện pháp luật về luật sư nhằm mục đích phát triển đội ngũ luật sư chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao, phát huy vị trí, vai trò của luật sư và hoạt động hành nghề luật sư trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì lẽ đó, luận văn đã luận giải những yêu cầu khách quan trong việc thực hiện pháp luật về luật sư ở nước ta trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện cải cách tư pháp và hội nhập Quốc tế.
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về luật sư ở Quảng Bình, làm rõ những hạn chế trong thực hiện pháp luật về luật sư, các bất cập của pháp luật, từ đó có cơ sở thực tiễn để dề xuất, kiến nghị giải pháp đảm bảo tiếp tục thực hiện pháp luật về luật sư trong những năm tới.
Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước luận văn đã xác định những quan điểm cơ bản mang tính chỉ đạo, định hướng và yêu cầu đối với việc thực hiện pháp luật về luật sư, phát triển đội ngũ luật sư, nâng cao chất lượng hoạt động hành nghề luật sư, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Mặc dù học viên đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn này, tuy nhiên do kiến thức còn hạn chế, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn chưa nhiều vì vậy luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Học viên rất mong nhận được ý kiến đánh giá, góp ý bổ sung của quý thầy cô để sửa chữa những hạn chế, thiếu sót, hoàn thiện luận văn này./. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về luật sư Quảng Bình.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực hiện pháp luật về luật sư tại tỉnh Quảng Bình
