Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng dư luận xã hội với việc xây dựng và thực hiện pháp luật dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam hiện nay

Trong suốt hành trình gần 70 năm, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời vào ngày 02 tháng 9 năm 1945, thì Việt Nam đã có hơn 30 năm trải qua chiến tranh vệ quốc vô cùng khốc liệt. Sau khi thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã giành được những thành tựu rất quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội như: kế hoạch 5 lần thứ 2 (1976 – 1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1976 – 1985). Đặc biệt, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng có ý nghĩa lịch sử sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Song song với việc phát triển và tăng trưởng kinh tế, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng nền văn hóa mới và giải quyết các vấn đề xã hội, con người. Ngày nay, cả thế giới biết đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam như một bằng chứng về sự thành công chuyển đổi kinh tế trong lịch sử đương đại.

Sau gần 30 năm đổi mới, chuyển sang xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta có thể khẳng định những nét tổng quan nhất về thành tựu văn hóa, xã hội và con người ở Việt Nam như sau:

Những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong lĩnh vực kinh tế:

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu từ năm 1986 với khâu đột phá là đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Lấy phát triển kinh tế làm hàng đầu, kết hợp với sức mạnh tổng hợp trong nước và quốc tế, bằng trí tuệ và tinh thần chủ động, đoàn kết, Đảng đã thật sự lãnh đạo thành công trong việc giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, tạo sự chuyển biến rõ rệt đời sống của đại bộ phận nhân dân.

Đặc biệt là sau 11 năm kiên trì đàm phán và tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết, ngày 11/01/2007 nước ta đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Đây là thời điểm đánh dấu sự khởi đầu một quá trình mới – Việt Nam tham gia vào nền kinh tế toàn cầu bình đẳng với tất cả các thành viên khác của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh. Kết quả là: Từ một quốc gia bị phong tỏa, cấm vận kinh tế; từ một nền kinh tế kém phát triển và có xu hướng “đóng cửa”, sau 28 năm đổi mới, thực hành chính sách đối ngoại rộng mở, “đa phương hóa, đa dạng hóa”, Việt Nam đã vươn mạnh ra thế giới, tạo thế đứng vững chắc của mình. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với trên 170 nước và vùng lãnh thổ; mở rộng quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó đã ký kết 90 hiệp định thương mại song phương với 68 quốc gia và thỏa thuận về quy chế tối huệ quốc (MEN) với 89 nước và vùng lãnh thổ; ký kết khoảng 40 hiệp định tránh đánh thuế 2 lần; tham gia tích cực vào các chương trình tự do hóa đầu tư trong ASEAN, APEC, GMS và WTO, nên đã có trên 80 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam (trong đó có các nước châu Á chiếm khoảng 80% vốn đăng ký); tranh thủ được viện trợ chính thức phát triển của 45 nước và định chế tài chính quốc tế. Ngoài ra, Việt Nam đã có quan hệ tốt với các nước và các nền kinh tế lớn đó là: năm nước trong thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, các nước trong G8. Thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với, Nga, Nhật và một số nước khác [5, tr.36]. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Trong lĩnh vực giáo dục:

Cho đến nay nền Giáo dục đã trải qua 3 lần cải cách và 1 lần đổi mới. Mỗi lần cải cách đều có những chiến lược, mục tiêu cụ thể và đều đạt được những thành quả nhất định. Hiện nay, nền giáo dục của chúng ta đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Tại bậc học phổ thông, ngành Giáo dục đã phổ cập xong tiểu học và trung học cơ sở. Trong phát triển Giáo dục bậc đại học, nhiều trường đại học được ra đời đã tạo điều kiện học tập cho đông đảo sinh viên. Số lượng học sinh, sinh viên, đội ngũ trí thức trẻ ngày càng tăng lên, đóng góp vai trò quan trọng của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Khoa học – công nghệ cũng có những bước phát triển quan trọng:

Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ đã được đưa vào áp dụng trong thực tế, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội rõ rệt đặc biệt là trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, bưu chính viễn thông…Kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ ngày càng tăng lên. Hiện nay nước ta đã có quan hệ hợp tác về khoa học và công nghệ với trên 70 nước, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ (bao gồm Khoa học Xã hội, Khoa học Tự nhiên và Khoa học Kỹ thuật) đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội; tiếp thu, ứng dụng có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài phục vụ công cuộc phát triển đất nước.

Lĩnh vực y tế rất được quan tâm đầu tư phát triển nhằm thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng ưu tiên phát triển mạng lưới và cơ sở vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực y tế nhằm bảo đảm nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Nhờ vậy, chất lượng bảo vệ chăm sóc sức khỏe của nhân dân được nâng lên góp phần hạ thấp đáng kể tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, giảm suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, cơ bản thanh toán được một số bệnh dịch phổ thông trước đây. Y tế dự phòng được quan tâm, không để bùng phát dịch bệnh lớn. Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 71,3 tuổi năm 2005 và đến năm 2012 thì tuổi thọ trung bình là 73 tuổi. Hiện nay, chúng ta đã triển khai nhiều giải pháp giảm quá tải bệnh viện như: ưu tiên đầu tư cho các bệnh viện quá tải cao, nhất là tuyến trung ương và tuyến cuối; nhiều công trình bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đã và đang hoàn thành đưa vào sử dụng; tăng cường quản lý, kiểm soát thuốc, giá thuốc và vệ sinh an toàn thực phẩm; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 63% năm 2010 lên 71,2% năm 2013 [54]

Cơ cấu xã hội nước ta có những biến đổi theo hướng tiến bộ phù hợp với xu thế chung.

Công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước đã tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, to lớn chưa từng thấy. Đó là sự biến đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ một cơ cấu kinh tế gồm hai thành phần với hai hình thức sở hữu sang nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau; từ một xã hội truyền thống khép kín sang xã hội hiện đại, mở cửa và hội nhập; từ một cơ cấu xã hội hai giai cấp, một tầng lớp sang xã hội cùng tồn tại nhiều giai tầng khác nhau tạo động lực cho sự phát huy tính sáng tạo góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế phục vụ công cuộc phát triển đất nước.

Lĩnh vực văn hóa có nhiều tiến bộ rõ rệt:

Những giá trị văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc anh em được kế thừa và phát triển góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng. Một số nét mới trong chuẩn mực văn hóa của con người Việt Nam dần được hình thành. Các tài năng văn hóa, nghệ thật được khuyến khích phát triển. Nhiều di sản văn hóa kể cả vật thể và phi vật thể được giữ gìn, tôn tạo. Việc phân phối các sản phẩm văn hóa dã được tiến hành nhanh và rộng khắp. Hệ thống các sản phẩm văn hóa góp phần trực tiếp vào sự phát triển, tăng trưởng của ngành du lịch, của nền kinh tế quốc dân… Hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa thực sự khởi sắc góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trình độ dân trí được nâng lên cùng với văn hóa phát triển đã góp phần khơi dậy tính chủ động sáng tạo của nhân dân và nâng cao tính đồng thuận xã hội, tạo niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Những đóng góp của khoa học xã hội trong tiến trình phát triển của đất nước, sau gần 30 năm đổi mới và hội nhập, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng mang ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Thực tiễn của gần 30 năm đổi mới cho thấy khoa học xã hội đã góp phần cung cấp những cơ sở lý luận để hiểu đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội, từng bước khắc phục một số quan điểm giản đơn, ấu trĩ như đồng nhất chủ nghĩa xã hội với chế độ phân phối bình quân; muốn có chủ nghĩa xã hội phải nhanh chóng cải tạo mối quan hệ sản xuất mà không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất; cường điệu vai trò của chế độ công hữu, coi sở hữu tư nhân là đối lập hoàn toàn với bản chất của chủ nghĩa xã hội; và cần phải loại bỏ nhanh chóng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đối lập chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, từ đó coi nhẹ những giá trị, những thành tựu đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản; không thừa nhận tính chất pháp quyền của nhà nước xã hội chủ nghĩa, đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước Tư sản… Khoa học xã hội đã góp phần khẳng định mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một xã hội do dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao và bền vững; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và được phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Bên cạnh sự đóng góp vào vào việc đổi mới tư duy kinh tế, khoa học xã hội đã góp phần khẳng định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là vấn đề mang tầm chiến lược có ý nghĩa quyết định để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được sau gần 30 năm qua chúng ta vẫn còn những hạn chế yếu kém cần khắc phục, cụ thể là: Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Về lý luận, vẫn còn nhiều điểm chưa được luận giải rõ ràng nhất là trong nhận thức và giải quyết quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển, giữa tăng trưởng nhanh với tăng trưởng bền vững; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị; giữa độc lập tự chủ và chủ động hội nhập quốc tế…Lý luận cũng chưa đủ sức giải thích nhiều vấn đề bức xúc mà cuộc sống đặt ra hiện nay, do đó chưa đưa ra được những giải pháp mang tính đột phá khiến chúng ta nhiều khi lúng túng trong việc đưa ra những quyết sách phát triển kinh tế – xã hội. Đó là những vấn đề như xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; sự lãnh đạo duy nhất của một Đảng là Đảng Cộng sản với mục tiêu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa – một nền dân chủ tiến bộ nhất trong lịch sử.

Về thực tiễn: kinh tế nước ta phát triển còn chậm, sức cạnh tranh chưa cao và vẫn còn nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch kinh tế còn chậm theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu tư của nhà nước còn dàn trải, thất thoát, lãng phí. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu còn chậm, chưa tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội.

Trong lĩnh vực văn hoá, xã hội còn bộ lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Giải quyết việc làm chưa đạt kế hoạch. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân nhiều mặt còn hạn chế, việc khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện còn chậm. Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm còn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chưa đạt hiệu quả cao; việc ngăn chặn tác động của mặt trái cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, vẫn còn nhiều biểu hiện xấu về đạo đức, lối sống gây bức xúc trong xã hội.

Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu so với mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng. Công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra hiệu quả chưa cao, ít phát hiện tham nhũng. Xử lý các vụ việc tham nhũng còn chậm. Tình trạng nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức gây bức xúc trong nhân dân chậm được khắc phục. Lãng phí thời gian, nguồn lực còn lớn. Ý thức tiết kiệm chưa được đề cao.Bảo vệ chủ quyền quốc gia còn nhiều thách thức. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định ở một số địa bàn. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng còn nhiều bất cập. Việc khắc phục tình trạng lộ lọt bí mật Nhà nước và đấu tranh ngăn chặn hành vi lợi dụng internet gây phương hại cho đất nước hiệu quả chưa cao.

Tội phạm và tệ nạn xã hội vẫn còn nhiều bức xúc. Tai nạn giao thông còn diễn biến phức tạp. Khiếu kiện liên quan đến đất đai vẫn còn nhiều…[54] Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Những hạn chế, yếu kém trên đây do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Bên cạnh những vấn đề mới phát sinh vẫn còn những tồn tại của nhiều năm trước.

Trước hết, do sự biến động phức tạp, khó lường của tình hình thế giới; sự phát triển của khoa học công nghệ dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường thế giới hết sức gay gắt, toàn cầu hóa diễn ra nhanh, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng lớn. Hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng. Những biến động bên ngoài tác động trực tiếp, tức thì đến kinh tế xã hội trong nước trong khi tư duy phát triển và khả năng nắm bắt, phân tích, dự báo chưa đáp ứng kịp yêu cầu nên nhiều chính sách, giải pháp đề ra chưa kịp thời, phù hợp.

Thứ hai, Do nhận thức trên một số vấn đề về chủ trương, quan điểm đã được đề ra vẫn còn khác nhau dẫn đến đổi mới thể chế, chính sách còn ngập ngừng, thiếu nhất quán, nhất là về vai trò của nhà nước và kinh tế nhà nước trong kinh tế thị trường, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, sở hữu và quyền sử dụng đất đai, giá cả một số mặt hàng và dịch vụ công thiết yếu… chưa tạo được đột phá để huy động mạnh mọi nguồn lực cho phát triển.

Thứ ba, Trong quản lý nhà nước còn gặp nhiều bất cập. Tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã có nhiều cố gắng nhưng còn chậm, hiệu quả chưa cao. Chưa tập trung được cao nhất nguồn lực và thời gian để ứng phó với tác động hết sức nặng nề của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu… Những hạn chế nêu trên đã và đang ảnh hưởng tới quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Thực trạng việc xây dựng và thực hiện pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Để quản lý xã hội, Nhà nước phải thực hiện rất nhiều loại hình hoạt động, trong đó xây dựng hệ thống pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản nhất, đặc trưng cho mỗi nhà nước. Trong công cuộc đổi mới toàn diện các lĩnh vực kinh tế – xã hội ở nước ta trong những năm qua đang đặt ra một đòi hỏi khách quan là phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nó được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ngay sau khi giành được chính quyền sau cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân”. Nhà nước, Chính phủ phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Kiên quyết đấu tranh chống đặc quyền, đặc lợi… Đây là một trong những đỏi hỏi quan trọng để đổi mới và xây dựng Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

Một đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là pháp luật đóng vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh toàn bộ các mối quan hệ xã hội. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ dân chủ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước. Để thực hiện được những yêu cầu trên thì trong quá trình xây dựng luật phải bảo đảm tính dân chủ, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng luật, pháp lệnh, từ đó tạo ra ý thức thực hiện pháp luật trong nhân dân. Tuy vậy, cũng phải nhận thức được rằng, để xây dựng nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân thì trước hết mỗi cá nhân phải nêu cao ý thức thực hiện pháp luật và cần phải tạo ra một dư luận xã hội đòi hỏi mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải có ý thức tôn trọng và thực hiện pháp luật.

Tuy nhiên, chúng ta có thể đánh giá một cách tổng quát về thực trạng việc xây dựng và thực hiện pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

2.1.2.1. Về xây dựng pháp luật:

Cho đến nay hệ thống pháp luật của nước ta đã tương đối hoàn chỉnh, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn, đã cơ bản khắc phục được tình trạng “phát triển lệch” của hệ thống pháp luật thời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật được mở rộng tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, chẳng hạn, khi môi trường sống của chúng ta bị ô nhiễm nghiêm trọng thì một loạt các quy định pháp luật về môi trường đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ, và đấu tranh chống lại những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, ngăn chặn tình trạng suy thoái, ô nhiễm môi trường.

Nhiều văn bản được ban hành về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội đã tạo ra những chuyển biến tích cực, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước; tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động của bộ máy nhà nước, của các tổ chức chính trị – xã hội, góp phần thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lập lại trật tự, kỷ cương, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu…

Một số văn bản pháp luật quan trọng như Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật ngân sách Nhà nước, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật lao động… và một số văn bản pháp luật khác cũng đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung càng làm cho hệ thống pháp luật nước ta ngày càng hoàn thiện mà mỗi ngành luật cũng có sự phát triển mạnh mẽ.

Trong hệ thống pháp luật tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các ngành luật, các chế định luật, các văn bản quy phạm pháp luật từng bước được khắc phục. Nội dung của pháp luật đã phù hợp hơn với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội.

Các văn bản pháp luật được ban hành trong thời kỳ hội nhập đã thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, từng bước góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước trên tất cả các lĩnh vực.

Trình độ kỹ thuật pháp lý được ứng dụng để xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật về cơ bản đã được nâng cao. Tri thức pháp luật của các đại biểu Quốc hội cũng như những người được chỉ định soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, v.v…, ngày càng cao. Kết cấu, nội dung các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng logic, chặt chẽ hơn. Các văn bản pháp luật được trình bày khoa học hơn, các khái niệm, ngôn ngữ pháp lý được sử dụng thống nhất, rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng.

Bên cạnh những ưu điểm trên, chất lượng xây dựng pháp luật nước ta thời kỳ này vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, đó là: Hệ thống pháp luật chưa thực sự hoàn chỉnh, nhiều lĩnh vực phát sinh trong xã hội ở thời kỳ hội nhập chưa được pháp luật điều chỉnh, tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong các văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn. Một số văn bản pháp luật chất lượng chưa cao, chưa thật sát với cuộc sống, tính khả thi còn thấp, có những văn bản vừa mới ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Kỹ thuật lập pháp tuy đã được nâng cao nhưng trong quá trình lập pháp, lập quy vẫn còn hạn chế, thiếu sót. Trong một số văn bản pháp luật có những vấn đề quy định còn thiếu chặt chẽ, chưa dự liệu được hết những tình huống thực tế có thể xảy ra để điều chỉnh. Nhiều quy định của pháp luật vẫn chỉ mang tính nguyên tắc chung nên chưa áp dụng được ngay mà phải chờ văn bản chi tiết, hướng dẫn thi hành thường được ban hành chậm làm cho pháp luật chậm đi vào cuộc sống, tạo ra sơ hở dễ bị lợi dụng để làm trái pháp luật.

Có thể nói, cho đến nay hệ thống pháp luật của chúng ta mặc dù vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục dần nhưng về cơ bản đã tương đối hoàn thiện và phù hợp với yêu cầu của đất nước ta trong thời kỳ hội nhập.

2.1.2.2. Về thực hiện pháp luật Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Xuất phát từ thực tế đất nước ta trải qua chiến tranh liên miên nên mọi hoạt động của Nhà nước và xã hội phải quản lý theo nguyên tắc tập trung với mục tiêu hàng đầu là đánh thắng giặc ngoại xâm, tiến tới hòa bình, thống nhất đất nước. Trước lợi ích cơ bản, lâu dài của dân tộc, dư luận xã hội thường có hiệu lực rất lớn trước việc huy động sức mạnh của nhân dân. Trong hoàn cảnh như vậy, dư luận xã hội trong các tầng lớp nhân dân ta luôn thể hiện niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng mang tính chỉ đạo, định hướng đều có hiệu lực thi hành cao hơn Chỉ thị, Nghị quyết của chính quyền và do đó có thể thay thế cho pháp luật. Sự tồn tại nhận thức pháp luật này của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong nhiều thập kỷ qua đã dẫn đến hậu quả là xem nhẹ việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, thiếu quan tâm đến công tác giáo dục dân trí, xây dựng ý thức pháp luật. Vì vậy, việc tạo một ý thức, thói quen tôn trọng và tuân thủ pháp luật trong nhân dân và trong đội ngũ cán bộ là rất khó khăn. Khi Nhà nước ban hành một đạo luật nào đó, thì hầu hết nó không có hiệu lực trực tiếp ngay mà nó phải đợi các văn bản hướng dẫn cụ thể hóa (văn bản dưới luật) mới được thi hành. Các văn bản dưới luật đó không phải là lúc nào cũng hướng dẫn đúng nội dung, tinh thần của Bộ luật, đạo luật vì nó chịu sự ảnh hưởng của nhận thức chủ quan của những người hướng dẫn. Điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực thi pháp luật của mỗi cá nhân.

Hơn nữa, việc xây dựng và ban hành pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp quy của các cấp chính quyền không đi đôi với việc phổ biến, tuyên truyền và giải thích pháp luật. Các Bộ luật, luật và văn bản pháp luật ban hành ngày càng nhiều, đáp ứng ngày càng tốt hơn việc quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước. Trong khi đó, trình độ kiến thức, hiểu biết về pháp luật của các tầng lớp nhân dân cũng như của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở lại không được nâng lên tương xứng. Mặt khác, có một bộ phận không nhỏ người dân cố tình không hiểu hoặc hiểu sai các quy định của pháp luật. Điều đó dẫn đến tình trạng không tuân thủ đúng pháp luật diễn ra ngày càng nhiều thể hiện trên các lĩnh vực sau:

Thứ nhất, trong lĩnh vực quản lý tài chính, ngân sách: Những hành vi tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này xảy ra chủ yếu ở các đơn vị được hưởng ngân sách nhà nước (chính quyền xã, cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện,…). Hiện tượng phổ biến ở các đơn vị này là chi tiêu sai chế độ nguyên tắc tài chính kế toán như: thu tiền không nhập quỹ, không vào sổ sách, không có hóa đơn; lợi dụng sơ hở của chính sách, sự quản lý lỏng lẻo của Nhà nước, một số cán bộ đã rút tiền chia nhau. Ở một số địa phương, nạn tham nhũng, tiêu cực còn thể hiện ở hành vi cố ý làm trái các quy định của nhà nước như: đặt ra các loại quỹ thu trên diện tích đất canh tác, mức đóng góp của mỗi lao động, mỗi hộ gia đình, chế độ phạt mang tính tùy tiện, thiếu cơ sở pháp lý và thực tế. Số tiền phạt chủ yếu đưa và tiếp khách, liên hoan hoặc vào túi cá nhân. Nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực tài chính, ngân sách ở cơ sở chủ yếu là do trình độ quản lý và hiểu biết về công tác tài chính ở cán bộ cấp cơ sở còn nhiều hạn chế và lại chịu sự tác động mạnh mẽ của mặt trái cơ chế thị trường trong thời kỳ hội nhập.

Thứ hai, trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản: Đây là lĩnh vực mà tham nhũng, tiêu cực xảy ra phổ biến nhất và thường xảy ra ở những công trình, dự án phải hoàn thành trong một thời gian ngắn để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế địa phương hay phục vụ yêu cầu chính trị của đất nước, hoặc các công trình được chỉ định thầu, xét thầu, công trình có nhiều nhà thầu phụ… Tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực xây dựng cơ bản diễn ra phổ biến, gây nhiều bức xúc trong dư luận và được đề cập rất nhiều nhưng tựu chung lại có thể thấy nó được bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau:

Đầu tư xây dựng cơ bản là một lĩnh vực phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều đối tượng, nhưng chính sách của Nhà nước về xây dựng cơ bản thiếu ổn định, luôn thay đổi, dẫn đến công tác quản lý trong lĩnh vực này gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Mặt khác cũng có nhiều chính sách bất cập, thậm chí tạo khe hở cho tham nhũng, tiêu cực lợi dụng nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung như: quy định giá trần trong đấu thầu các công trình xây dựng cơ bản là điều kiện cho các nhà thầu thông đồng với nhau hoặc việc khép kín đầu tư, đấu thầu dẫn đến thiếu công khai, minh bạch và nhất là chưa tách bạch chức năng quản lý nhà nước của các Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân các cấp và quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức này với tư cách là chủ đầu tư, dự án. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Công tác quản lý trong xây dựng của các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị chưa thật sự được quan tâm và còn thiếu chặt chẽ nên tham nhũng, tiêu cực phát sinh trong tất cả các khâu từ quy hoạch, thiết kế, thi công, nghiệm thu, thanh quyết toán; các hiện tượng thông đồng, liên kết để tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng cơ bản diễn ra ngày càng nhiều.

Một nguyên nhân rất quan trọng khác đó là việc thực hiện cơ chế: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ở cơ sở còn nhiều hạn chế; chưa chủ động cũng như chưa tạo điều kiện, cơ chế để đông đảo nhân nhân dân tham gia giám sát các công trình xây dựng nên tham nhũng, tiêu cực vẫn có điều kiện nảy sinh và phát triển.

Thứ ba, trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai: Thông qua việc thanh tra, kiểm tra và báo cáo của các bộ, ngành, tỉnh, thành phố và qua phát hiện của một số phương tiện truyền thông thì hành vi tiêu cực về đất đai xảy ra nghiêm trọng nhất ở việc các cấp chính quyền huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn đã tự ý giao cấp bán đất trái thẩm quyền hoặc lợi dụng việc đền bù giải phóng mặt bằng phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, lấy đất của dân, áp giá đền bù thấp để chiếm dụng, chuyển nhượng, chia chác đất cho nhau, bán giá cao gấp nhiều lần nhằm thu lợi nhuận trái phép, vụ lợi cho cá nhân hay tập thể có chức, có quyền… Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người dân và gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Thứ tư, trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng: Cơ chế mới đã tạo môi trường pháp lý cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển nhưng lại dễ tạo kẽ hở cho các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực nảy sinh. Có thể thấy tình trạng tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng điễn ra nhiều và ảnh hưởng không chỉ đến tốc độ phát triển kinh tế mà nhiều khi còn gây mất ổn định xã hội. Trong hoạt động tín dụng, lợi dụng chức năng được huy động vốn một số quỹ tín dụng nhân dân đã nâng lãi xuất tiền gửi lên mức cao để huy động tiền gửi trong nhân dân rồi dùng tiền này chi tiêu, làm cho quỹ mất khả năng thanh toán. Trong hoạt động ngân hàng, hành vi tham nhũng, tiêu cực biểu hiện qua hành vi dùng một tài sản để thế chấp, cầm cố ở nhiều ngân hàng khác nhau; quay vòng tài sản thế chấp, cầm cố bằng cách rút tài sản ở chỗ này đưa sang chỗ khác để thế chấp vay ngân hàng này trả tiền cho ngân hàng kia. Ví dụ: dùng tài sản của mình như hồ sơ nhà đất, ô tô để thế chấp vay tiền sau đó lại lén bán đi hoặc dùng tài sản không phải là của mình để thế chấp, cầm cố như đi thuê, mượn nhà, tài sản của người khác để thế chấp, cầm cố vay tiền… dẫn đến tình trạng nhiều ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được vốn.

Thứ năm, trong lĩnh vực văn hóa xã hội: Hiện tượng tham nhũng, tiêu cực được thể hiện rõ nét trong giáo dục đào tạo mà nổi cộm nhất ở công tác tuyển sinh của các trường phổ thông và chuyên nghiệp. Hành vi tham nhũng, tiêu cực được thể hiện ở tất cả các khâu như nâng điểm tổng kết, sửa chữa học bạ để đạt học sinh giỏi hưởng chế độ ưu tiên cộng điểm vào phổ thông trung học hoặc vào đại học. Trước mỗi năm học ở các cấp phổ thông luôn diễn ra hiện tượng “chạy trường điểm, chạy lớp chọn”, nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh do trái tuyến, thiếu điểm, do cơ sở trường lớp có hạn mà nhu cầu chạy trường chạy lớp ngày càng tăng. Điều này xuất phát từ nguyên nhân do các chủ trương, chính sách về giáo dục thiếu ổn định, không nhất quán về cải cách giáo dục, về trường chuyên, lớp chọn; chất lượng đội ngũ giáo viên không đồng đều và nhất là việc đầu tư cho giáo dục còn nhiều hạn chế chưa thực sự ngang tầm với yêu cầu giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu.

Từ những phân tích nêu trên ta có thể đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật ở nước ta còn bộc lộ rất nhiều hạn chế như: thói quen cấp dưới ỷ lại cấp trên, cấp trên nhiều khi vì lợi ích cá nhân còn cố ý làm ngơ cho cấp dưới làm sai; do trình độ kiến thức, mức độ am hiểu pháp lý còn thấp nên khi giải quyết công việc còn lúng túng, né tránh trách nhiệm pháp lý, quan liêu, giải quyết công việc sai nguyên tắc, vi phạm pháp luật, gây dư luận bất bình… Do vậy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thực hiện pháp luật là một vấn đề thực tiễn có tính cấp bách. Hay nói cách khác, cùng với việc quản lý xã hội bằng pháp luật, dư luận xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện pháp luật của mỗi người dân. Đây cũng chính là yêu cầu tất yếu của chúng ta trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

2.2. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC QUA VIỆC PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.

2.2.1. Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật

2.2.1.1. Dân chủ hóa quá trình xây dựng pháp luật

Nhà nước ta là nhà nước Pháp quyền của dân, do dân và vì dân nên trong mọi hoạt động của Nhà nước đặc biệt là hoạt động xây dựng pháp luật phải luôn có sự tham gia của nhân dân. Quần chúng nhân dân càng tham gia tích cực, rộng rãi vào hoạt động xây dựng pháp luật thì các quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành càng được phản ánh đầy đủ, toàn diện các lợi ích, nguyện vọng của nhân dân. Đảng ta đã khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, quản lý đất nước không phải chỉ là việc riêng của cơ quan nhà nước mà là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mọi nhiệm vụ quản lý của các cơ quan nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, hành chính, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh, trật tự… đều cần có sự tham gia trực tiếp của nhân dân theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Có thể khẳng định rằng, từ Đại hội VI của Đảng đến nay, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện. Đại hội VII của Đảng chỉ rõ: phải tổ chức và vận động các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia xây dựng pháp luật, chính sách, đóng góp ý kiến với cơ quan nhà nước các cấp xây dựng các quy chế, quy ước phù hợp với luật pháp và chủ trương, chính sách của Nhà nước, tham gia phổ biến pháp luật trong nhân dân và tổ chức các phong trào quần chúng thực hiện pháp luật và chính sách của Nhà nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2004 – 2009, nhằm nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ. Những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chú trọng thực hiện tốt những nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến việc phát huy dân chủ, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đặc biệt, công tác tham gia xây dựng pháp luật và vận động nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật của Mặt trận tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Mặt trận đã tham gia góp ý vào khoảng gần 40 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, như: Luật về Hội, Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Cư trú, Luật Công chứng, Luật Trưng cầu dân ý, Luật Bình đẳng giới, Luật Đặc xá, Luật Thi hành án dân sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Luật Hành chính…; đặc biệt, Mặt trận các cấp đã tích cực xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch với các cơ quan Nhà nước cùng cấp, nhằm thể chế hoá các quy định của pháp luật về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước. Sự tham gia của Mặt trận trong công tác xây dựng pháp luật và vận động nhân dân tham gia xây dựng pháp luật đã góp phần làm cho các văn bản pháp luật được thông qua ngày càng sát với thực tiễn và có tính khả thi hơn.

2.2.1.2. Nhân dân tích cực tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về những vấn đề phát triển kinh tế – xã hội thông qua các cơ quan dân cử Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Chúng ta có thể rất dễ ràng nhận thấy bằng lòng tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng nên nhân dân đã nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước về chủ trương, chính sách, xây dựng và sửa đổi luật; về phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Đảng, Nhà nước và của các địa phương; góp ý kiến về hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, về lựa chọn ứng cử viên Hội đồng nhân dân và nhân sự Đại hội Đảng, đoàn thể ở cơ sở.

Luật Đất đai được Quốc hội thông qua năm 1993 là một trong những đạo luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, duy trì ổn định tình hình chính trị – xã hội. Qua hơn 10 năm thực hiện, Luật Đất đai hiện hành đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập. Nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong công tác quản lý, sử dụng đất đai, thể chế hóa kịp thời một số chủ trương, chính sách lớn về đất đai của Đảng và Nhà nước, đồng thời đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các quy định mới của Hiến pháp 1992 và các văn bản quy phạm pháp luật khác, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quốc hội đã tiến hành sửa đổi bổ sung một cách cơ bản và toàn diện Luật đất đai 1993 và tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2001, 2003, 2009, 2011, 2013…. Để huy động được sự tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về những vấn đề phát triển kinh tế – xã hội của toàn dân thì các cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành nhiều cách thức khác nhau, nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân nói lên những suy nghĩ, quan điểm của mình trên cơ sở tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.

Việc tổ chức lấy ý kiến về những nội dung sửa đổi, bổ sung Luật đất đai được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, với những hình thức thích hợp, thiết thực nhằm bảo đảm dân chủ, huy động cao nhất trí tuệ của nhân dân, các ngành, các cấp; đồng thời phát huy vai trò tích cực của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia góp ý kiến, bảo đảm phản ánh kịp thời, trung thực ý kiến của nhân dân, qua đó nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của nhân dân về pháp luật.

Thực tiễn trong những năm vừa qua, nhất là trước các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nhân dân đã tích cực đóng góp ý kiến vào xây dựng Báo cáo chính trị của Đại hội, đóng góp ý kiến xây dựng một số chính sách của Nhà nước. Đây thực sự là những hoạt động chính trị nhằm mở rộng quyền làm chủ cho nhân dân, vì vậy đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đồng thời, tạo động lực để nhân dân tham gia ngày càng có hiệu quả vào quá trình giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, của đại biểu hội đồng nhân dân, cán bộ, đảng viên; giám sát kiểm tra việc thu chi các quỹ, quản lý và sử dụng đất đai, xây dựng và nghiệm thu, quyết toán công trình từ nguồn vốn do nhân dân đóng góp.

2.2.2. Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

2.2.2.1. Mở rộng khả năng tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của quần chúng nhân dân.

Việc mở rộng khả năng tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý Nhà nước, quản lý xã hội không chỉ đòi hỏi từ sự hội nhập mà quan trọng hơn là từ chính yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, dân chủ hóa đời sống xã hội và của bản thân Nhà nước. Mở rộng sự tham gia mạnh mẽ của người dân vào các quá trình ra quyết định, các hoạt động quản lý nhà nước sẽ đóng góp quan trọng cho việc xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ, ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện hiện nay.

Phát huy dân chủ, mở rộng sự tham gia của người dân vào công việc quản lý nhà nước, nhằm bảo đảm cho Nhà nước giữ vững bản chất là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của các chính sách, pháp luật được ban hành đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2). “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6).“Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28). “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 29). Và để bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý nhà nuớc đã được quy định trong Hiến pháp, những bộ luật (Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng…) đã quy định cụ thể các điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước như việc các đại biểu, các cơ quan nhà nước phải tiếp nhận và giải quyết các đề xuất, kiến nghị, khiếu nại của người dân, tiếp thu các ý kiến đóng góp vào các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội… Các luật về các tổ chức chính trị – xã hội như Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Mặt trận Tổ quốc cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội tham gia công việc quản lý nhà nước.

Có thể nói, các phương thức, hình thức để người dân tham gia vào quá trình xây dựng luật pháp, chính sách, vào công việc quản lý của Nhà nước đã được quy định rất đa dạng, phong phú. Nó cho phép người dân có thể biểu đạt được ý chí, nguyện vọng của mình với các cơ quan nhà nước trong việc hình thành nên các chính sách, pháp luật cũng như việc quyết định và thi hành pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

2.2.2.2. Nhân dân tham gia tích cực, chủ động vào công tác thanh tra nhân dân và trực tiếp đấu tranh chống tiêu cực.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, đề ra nhiều giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đã thu được một số kết quả nhất định góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, tình hình tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng gây bức xúc trong dư luận xã hội đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Trong cuộc đấu tranh này, quần chúng nhân dân giữ một vai trò hết sức quan trọng. Bởi quần chúng nhân dân là người chủ của xã hội, tham gia ngày càng tích cực vào công tác kiểm tra, giám sát việc xây dựng các quy chế, quy định của đơn vị, địa phương. Ngoài ra, nhân dân còn tham gia tích cực, chủ động vào công tác thanh tra nhân dân, góp phần quan trọng trong việc phát hiện ra các vụ việc tham nhũng, tiêu cực, ổn định tình hình cơ sở. Nhân dân cũng tích cực tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về những vấn đề phát triển kinh tế – xã hội cũng như vấn đề có liên quan đến tham nhũng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng thông qua các cơ quan dân cử. Ngoài việc đóng góp ý kiến trực tiếp với cán bộ, đảng viên ở các cấp, ngành, người dân còn gửi đơn thư đến các cơ quan chức năng, cơ quan thông tin báo chí ở trung ương và địa phương góp ý, phát hiện những sai phạm về kinh tế, tham nhũng, tiêu cực. Trước sự đấu tranh chống tham nhũng mạnh mẽ của nhân dân và để tránh dẫn đến mất ổn định tình hình, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo các cấp, các ngành và các đoàn thể quần chúng khẩn trương chấn chỉnh, kiện toàn, củng cố công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Đặc biệt hầu hết các cơ quan, đơn vị, địa phương đều đã bố trí cán bộ, phương tiện, trụ sở tiếp công dân cũng như rà soát, bổ sung hoặc xây dựng các quy chế, quy định nhằm khắc phục tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu; phân công lãnh đạo phụ trách; một số nơi có hòm thư góp ý để thu thập ý kiến của cán bộ, nhân dân. Kết quả thu được hàng năm cả nước đã tiếp hàng trăm nghìn lượt công dân đến khiếu tố nhất là ở các trụ sở tiếp dân của Đảng và Nhà nước ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Công tác tiếp và giải quyết khiếu tố của công dân trên toàn quốc cho thấy về cơ bản việc khiếu tố của nhân dân là đúng, các hiện tượng tham nhũng, mất dân chủ ở cơ sở là có thật và thực sự là nguyên nhân gây bức xúc cho nhân dân. Theo dữ liệu của một số kỳ họp Quốc hội những năm qua thì trong số những đơn tố cáo của nhân dân có tới 90% đơn là đúng sự thật và chỉ có 10% đơn là không đúng hoàn toàn. Tuy nhiên, do mở rộng dân chủ, nhân dân được được tự do khiếu tố, trong khi sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên đã dẫn đến hiện tượng gia tăng tỷ lệ khiếu nại sai không đúng với bản chất sự việc, gây khó khăn cho các cơ quan nhà nước khi giải quyết khiếu nại tố cáo. Sự tham gia của nhân dân vào công tác đấu tranh chống tiêu cực còn được thể hiện thông qua các diễn đàn nhân dân như báo nói, báo viết, báo hình. Chính nhờ có sự tham gia tích cực và rộng rãi của nhân dân vào công tác thanh tra, giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp mà nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực được phát hiện và đưa ra xử lý. Có thể nói, cho đến nay nạn tham nhũng, tiêu cực ở nước ta trong một số lĩnh vực đã giảm đáng kể, nhất là ở cơ sở. Những sai phạm trong quản lý đất đai được khắc phục về cơ bản, công tác quản lý đất đai từng bước đi vào kỷ cương, nề nếp. Tham nhũng trong lĩnh vực ngân hàng giảm rõ rệt, công tác xây dựng đã hạn chế được những sai phạm nghiêm trọng. Việc thực hiện chính sách xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Phần đông đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ bản đã cơ bản khắc phục được tệ quan liêu, lối sống hưởng thụ, vun vén cá nhân và đã sâu sát gần dân hơn. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và quy chế dân chủ được coi trọng tạo dựng lòng tin trong nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

2.2.2.3. Nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Một đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là pháp luật đóng vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh toàn bộ các mối quan hệ xã hội. Nhà nước phải đề cao pháp luật và thực sự quản lý xã hội bằng pháp luật. Để thực hiện được yêu cầu trên, ý thức pháp luật đóng vai trò quan trọng là giúp cho các cơ quan, cán bộ công chức nhà nước và mọi công dân biết cách sử dụng đúng đắn phương tiện pháp luật trong hoạt động của mình. Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật là trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật, sự tôn trọng pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hết sức hạn chế. Trong thời gian qua, việc tuyên truyền pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các phương tiện khác đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, so với yêu cầu nâng cao trình độ, ý thức pháp luật cho nhân dân thì những kết quả đó vẫn chưa tương xứng. Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ, ý thức pháp luật cho nhân dân theo yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật hiện nay là vấn đề cấp thiết. Bởi ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của nhân dân và thái độ của họ đối với các quy định của pháp luật. Việc công khai tạo điều kiện cho nhân dân tham gia một cách đông đảo vào việc soạn thảo, thảo luận đóng góp ý kiến về các dự án pháp luật đã đem lại hiệu quả trong việc tuyên truyền pháp luật của nhà nước, huy động được trí tuệ tập thể và phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Hơn nữa, được tham gia vào việc soạn thảo, thảo luận đóng góp ý kiến về các dự án pháp luật giúp người dân quan tâm nhiều hơn đến việc khắc phục tình trạng kém hiểu biết pháp luật của bản thân họ và họ sẽ có ý thức tìm hiểu những kiến thức pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như qua truyền hình, đọc sách báo pháp luật… Trên cơ sở đó người dân sẽ có thái độ nhiệt tình, tham gia hưởng ứng vào vào các đợt Nhà nước tổ chức lấy ý kiến nhân dân, tham gia đóng góp vào quá trình xây dựng các dự án luật bằng các hình thức như viết thư trực tiếp đến ban soạn thảo hay qua thư điện tử.

Tóm lại, nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền là vô cùng quan trọng. Bởi nếu ý thức pháp luật của nhân dân thấp thì khó có thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp, đồng thời với ý thức pháp luật thấp thì các chủ thể cũng khó có thể nhận thức, thực hiện và áp dụng pháp luật chính xác, có hiệu quả cao được. Việc nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay không nên chỉ chú ý tới việc xây dựng, hoàn thiện những tư tưởng quan điểm pháp lý mà còn cần phải chú trọng cả tới việc hình thành thái độ, tình cảm, cảm xúc pháp lý phù hợp, đúng đắn; có như vậy thì việc điều chỉnh của pháp luật mới thực sự có hiệu quả cao.

2.3. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ DƯ LUẬN XÃ HỘI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

2.3.1. Những đóng góp tích cực của dư luận xã hội với việc xây dựng và thực hiện pháp luật.

Như đã phân tích tại mục 2.2 về những kết quả đạt được qua việc phát huy vai trò của dư luận xã hội trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật cho thấy thông qua dư luận xã hội, nhân dân có điều kiện bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về các vấn đề của xã hội. Trên cơ sở đó, Đảng và nhà nước ta sẽ xây dựng những chính sách pháp luật để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội một cách chính xác và phù hợp. Thực hiện pháp luật là một hoạt động mang ý nghĩa thực tiễn, nó được phản ánh thông qua dư luận xã hội. Nếu dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ những chính sách pháp luật Nhà nước thì việc thực hiện pháp luật sẽ rất thuận lợi. Nhưng ngược lại, nếu dư luận xã hội không ủng hộ thì sẽ gây rất nhiều trở ngại, khó khăn và những chính sách pháp luật đó sẽ rất khó đi vào cuộc sống. Nhận thức được tầm quan trọng của dư luận xã hội đối với lĩnh vực pháp luật Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương dân chủ hóa quá trình xây dựng pháp luật nhằm tạo điều kiện để nhân dân tích cực tham gia đóng góp ý kiến về những vấn đề phát triển kinh tế – xã hội. Trên cơ sở đó mở rộng khả năng tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của quần chúng nhân dân bằng nhiều hình thức như: tạo mọi điều kiện để nhân dân tham gia tích cực, chủ động vào công tác thanh tra nhân dân và trực tiếp đấu tranh chống tiêu cực; từng bước nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh hiện nay của nước ta, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ quản lý xã hội mang lại những thành quả hết sức to lớn trong công cuộc hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên “pháp luật không phải là công cụ quản lý vạn năng” do vậy pháp luật cũng có những lỗ hổng thiếu sót nhất định. Bằng thực tiễn, dư luận xã hội có thể tìm ra những lỗ hổng đó và đưa ra những giải pháp sửa chữa các sai lầm mà pháp luật mắc phải, góp phần không nhỏ trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Nguyên nhân của những mặt tích cực Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Những kết quả đạt được trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật của nước ta trong giai đoạn hiện nay qua việc phát huy vai trò của dư luận xã hội được xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

Nguyên nhân khách quan:

Thứ nhất, đổi mới và hội nhập đã đem lại cho nhân dân ta cuộc sống ấm no và ổn định hơn. Kinh tế phát triển, nhân dân có điều kiện chăm lo đến đời sống văn hóa tinh thần nâng cao khả năng nhận thức trong mọi lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực pháp luật;

Thứ hai, có thể nói cho đến nay chúng ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, phạm vi điều chỉnh được mở rộng tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội;

Thứ ba, trong những năm gần đây nhờ sự đóng góp tích cực của dư luận xã hội mà khá nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, công chức bị phanh phui và đưa ra xử lý kịp thời. Điều này đã tạo được hiệu ứng rất tốt và củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Nguyên nhân chủ quan:

Trước hết, do nhận thức được tầm quan trọng của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách rất phù hợp nhằm tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực vào mọi hoạt động của nhà nước nhất là hoạt động lập pháp;

Hai là, hiện nay đại bộ phận cán bộ, công chức nước ta có trình độ và bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu pháp luật, có tinh thần đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức mà họ làm việc; Ba là, trình độ văn hóa, ý thức pháp luật của nhân dân ta ngày càng được nâng cao do đó việc giáo dục người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật sẽ gặp nhiều thuận lợi.

Ngoài ra, còn có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhân dân, xây dựng ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân.

2.3.2. Những mặt hạn chế của dư luận xã hội trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Chúng ta đã biết dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của xã hội, phản ánh tồn tại xã hội từ góc nhìn lợi ích của xã hội nói chung, của mỗi tầng lớp xã hội hay nhóm xã hội nói riêng. Chính vì vậy, khi phản ánh thực tế xã hội, sự phản ánh đó về cơ bản là đúng nhưng cũng có những trường hợp sự phản ánh đó là sai thực tế (có thể sai nhiều hoặc sai ít). Điều này đã gây không ít khó khăn cho quá trình xây dựng các chính sách pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tế. Vì lý do đó, bên cạnh những đóng góp tích cực như đã phân tích ở trên thì dư luận xã hội còn bộc lộ những hạn chế đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật, cụ thể như sau:

Một là, cho đến nay số vụ việc tiêu cực được phát hiện tuy có giảm nhưng lại có chiều hướng diễn biến phức tạp gây tác hại trên nhiều mặt, hậu quả ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh trật tự và phát triển kinh tế – xã hội. Hành vi tiêu cực ngày càng đa dạng, thủ đoạn ngày càng tinh vi, tính chất ngày càng phức tạp. Tiêu cực không còn là hiện tượng đơn lẻ mà đã mang tính tổ chức liên kết chặt chẽ giữa nhiều người, nhiều ngành. Đối tượng cũng trở lên rất đa dạng, là những người có chức, có quyền trong bộ máy Đảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế – xã hội. Hành vi không tuân thủ pháp luật, lách luật đang có chiều hướng gia tăng làm cho trật tự pháp luật và kinh tế, xã hội không ổn định, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà nước và của nhân dân; đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng, mất công bằng xã hội, gây bức xúc trong các tầng lớp nhân dân.

Hai là, tâm lý e ngại va chạm khiến công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực chưa mạnh mẽ, rộng khắp trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là ở các cơ quan doanh nghiệp. Có nơi chính quyền chưa thực sự tin ở dân, không tạo điều kiện cho dân thực hiện quyền dân chủ nhất là quyền dân chủ trực tiếp, điều kiện cơ sở vật chất để họp dân còn nhiều khó khăn, việc tiếp xúc, đối thoại với dân còn nhiều hạn chế. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Ba là, trong việc thực hiện phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra thì việc tạo điều kiện để dân giám sát, kiểm tra còn yếu, cơ chế cho việc kiểm tra chưa rõ. Dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội là hướng đi đúng và thiết thực của Đảng và nhà nước ta. Tuy nhiên, cách làm chưa phong phú, chưa thực sự có những cách thức biện pháp để nhân dân chủ động, còn phụ thuộc vào Nhà nước, dẫn đến triệt tiêu sự sáng tạo của nhân dân, không tận dụng được trí tuệ của nhân dân. Hoạt động của Ban thanh tra nhân dân ở các loại hình cơ sở còn mang tính hình thức, hiệu quả thấp. Nhiều vấn đề dân cần, dân bức xúc chính quyền tuy có quan tâm nhưng lại chậm có biện pháp để giải quyết dứt điểm.

Mặt khác, tâm lý tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nước khiến một bộ phận không nhỏ người dân đã tỏ ra thờ ơ, không quan tâm đến việc đóng góp ý kiến khi Nhà nước tổ chức lấy ý kiến hoặc có thể miễn cưỡng làm theo. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nhận được từ dư luận xã hội vì có thể những ý kiến đó rất giống nhau, hoặc những ý kiến không có giá trị hoặc không dám đưa ra những ý kiến trái ngược. Một bộ phận cán bộ, công chức và người dân ngại tham gia đóng góp ý kiến với lãnh đạo còn biểu hiện xuôi chiều, coi trọng quyền lợi cá nhân, xem nhẹ nghĩa vụ trách nhiệm. Nếu so sánh về khu vực triển khai và thực hiện quy chế dân chủ thì khối nông thôn thực hiện tốt hơn khối cơ quan, doanh nghiệp, trong đó khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh là yếu nhất. Chính vì vậy mà kết quả đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực của từng khối cũng rất khác nhau, phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia đóng góp của các tầng lớp nhân dân.

Bốn là, công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể nhân dân chưa được coi trọng thường xuyên, đấu tranh phê bình và tự phê bình, thực hiện dân chủ công khai ở một số nơi còn hạn chế; tình trạng quan liêu, mất dân chủ ở một số cơ quan, đơn vị xã phường chậm được khắc phục sửa chữa. Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực làm giàu bất chính nhưng việc quản lý, giáo dục, xem xét, xử lý chưa kịp thời, kiên quyết, chưa quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan đơn vị để xảy ra tham nhũng, nên việc xử lý chưa nghiêm túc. Nhiều nơi việc thực hiện các công trình, dự án đầu tư chưa được công khai, dân chủ, việc thực hiện đền bù, tái định cư khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng chưa được thực hiện đúng quy trình, chưa thỏa đáng, một số nơi còn biểu hiện tiêu cực nghiêm trọng gây bức xúc và làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Nguyên nhân của những mặt hạn chế

Có thể nói, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách nhằm phát huy vai trò của dư luận xã hội với việc xây dựng và thực hiện pháp luật nhưng cho đến nay hoạt động này vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, điều này xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan: Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

Hội nhập kinh tế quốc tế đã nâng vị thế của nước ta lên một tầm cao mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Nhưng do tác động mặt trái của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh những yếu tố phức tạp, tiêu cực mới, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc. Cùng với mặt tích cực, cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế đã đưa vào lối sống của người Việt Nam tư tưởng thực dụng, cá nhân chủ nghĩa làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên bị sa ngã. Trong xã hội ta hiện nay dường như đang hình thành một tâm lý mặc nhiên thừa nhận những hành vi tham nhũng, tiêu cực, chấp nhận việc lo lót một số cán bộ, công chức để giải quyết công việc; coi việc lo lót như một thứ luật bất thành văn để trả ơn khi đi làm các thủ tục giấy tờ liên quan đến nhà đất, đến sản xuất kinh doanh; để khám chữa bệnh; để được thầy cô quan tâm đến con cái; để nhận các trợ cấp xã hội; để xin giấy phép đầu tư… Những điều này có nguyên nhân từ sự phức tạp của nền kinh tế thị trường mà hệ thống pháp luật của chúng ta chưa thể điều chỉnh hết được. Hơn nữa thủ tục hành chính của ta tuy đã có nhiều tiến bộ thông qua cải cách hành chính Nhà nước song vẫn còn rườm rà trải qua nhiều khâu trung gian dễ tạo khe hở dẫn đến tiêu cực, tham nhũng gây phiền hà cho nhân dân.

Nguyên nhân chủ quan:

Trước hết, đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền của một số cấp, ngành cơ quan, đơn vị với công tác chống tham nhũng, tiêu cực còn nhiều bất cập, thiếu tích cực, chưa thường xuyên và triệt để. Chưa phát động được phong trào đấu tranh mạnh mẽ, rộng khắp trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là ở các cơ quan doanh nghiệp; thiếu những quy định, cơ chế cụ thể để nhân dân tích cực giám sát, kiểm tra, tham gia cuộc đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả. Tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể của quần chúng tuy ở ngay cơ sở, hoạt động hàng ngày cùng với dân nhưng lại xa dân, không sát dân, không thấu hiểu cuộc sống của dân…rơi vào tình trạng quan liêu, hành chính hóa nặng nề gây tâm lý e ngại cho dân khi tham gia đóng góp ý kiến.

Các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị đôi khi còn chưa phân định rõ chức, nhiệm vụ, quyền hạn dẫn đến hoạt động chồng chéo nên hiệu quả chưa cao. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, chi bộ ở nhiều nơi còn bị xem nhẹ làm giảm sút tính chiến đấu, tính tiên phong của tổ chức Đảng. Tổ chức Đảng ở không ít nơi hoặc buông lỏng lãnh đạo, hoặc bao biện làm thay, can thiệp vào công việc của chính quyền, đoàn thể. Công tác giáo dục, tuyên truyền và kiểm tra bị xem nhẹ. Những nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, phê bình và tự phê bình thường xuyên bị vi phạm.

Hai là, vai trò quản lý của các cấp chính quyền còn bộc lộ nhiều yếu kém: chính quyền các cấp ở nhiều nơi hoạt động không có nề nếp, phương pháp làm việc, cung cách quản lý thiếu khoa học. Hoạt động của Hội đồng nhân dân còn mang tính hình thức. Ở một số địa phương, đại biểu Hội đồng nhân dân không đại diện được ý chí, quyền lực, nguyện vọng của nhân dân, trình độ hạn chế, không giám sát, kiểm tra được hoạt động của Ủy ban nhân dân.

Tình trạng Ủy ban nhân dân không làm tròn chức năng là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân còn diễn ra ở khắp nơi. Quản lý hành chính nhà nước không tuân thủ chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước nhất là trong các vấn đề quản lý đất đai, tài chính, trật tự trị an. Ở một số địa phương, mối quan hệ giữa xã và thôn, giửa quản lý nhà nước ở cấp xã và tự quản của cộng đồng dân cư ở nông thôn chưa rõ ràng, vi phạm quyền dân chủ , quyền làm chủ của nhân dân, nhất là sự tùy tiện ra những quyết định, sự huy động đóng góp của nhân dân mà không thông qua dân, không được đa số dân đồng tình ủng hộ. Mặt trận và các đoàn thể hoạt động mang tính hình thức, cầm chừng, không thiết thực nên không thu hút được sự tham gia của quần chúng. Mặt khác, sự tham gia của nhân dân là rất quan trọng nhưng lại chưa được coi trọng đúng mức đôi khi còn bị kìm hãm. Chính vì vậy mà ý kiến đóng góp của nhân dân còn bị hạn chế rất nhiều do tâm lý nể nang, dĩ hòa vi quý không muốn mất lòng. Cũng có trường hợp sợ bị trù dập, thậm chí sợ bị trả thù nên không dám đấu tranh, không dám chỉ ra những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, Đảng viên. Điều này dẫn tới việc chống tham nhũng gặp rất nhiều khó khăn.

Một thực tế là cho đến nay chất lượng đội ngũ cán bộ còn thấp cả về học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ nên hạn chế rất nhiều trong giải quyết công việc nhất là việc vận động, tuyên truyền, thuyết phục quần chúng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính, gây bất bình trong dân. Nguyên nhân chính là do những bất cập của công tác cán bộ từ khâu bồi dưỡng, tuyển chọn, đánh giá, đề bạt, thuyên chuyển đến xử lý cán bộ. Việc lựa chọn cán bộ vào các vị trí quan trọng còn thiếu dân chủ, công khai vẫn còn nhiều kẽ hở tạo cơ hội cho một số phần tử tham những, tiêu cực hoặc bao che cho hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát, giáo dục, rèn luyện cán bộ còn bị xem nhẹ, bị buông lỏng, nhiều vụ việc vi phạm kéo dài nhưng không được phát hiện và giải quyết. Những yêu cầu của dân, khiếu nại, tố cáo của dân về những hành vi không thực hiện đúng pháp luật không được điều tra giải quyết nghiêm minh. Khi xảy ra tình trạng mất ổn định và xuất hiện các điểm nóng về tham nhũng cán bộ đảng viên không quy tụ được, thiếu trách nhiệm với dân, thiếu sự liên kết và phối hợp, để kẻ xấu lợi dụng, thao túng, kích động và dẫn tới những hành động gây rối loạn làm suy giảm sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho cuộc sống cả về vật chất và tinh thần của nhân dân ta được thay da, đổi thịt, điều đó được minh chứng bằng các số liệu cụ thể trong các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội ở nước ta trong thời gian vừa qua. Không chỉ trong lĩnh vực kinh tế – xã hội mà trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật cũng là nội dung được tác giả luận văn nêu ra và phân tích, từ đó khái quát được những kết quả đạt được rất đáng ghi nhận qua việc phát huy vai trò của dư luận xã hội trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Những nhận xét, đánh giá khách quan, sát thực về mặt tích cực, mặt hạn chế của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật ở nước ta trong thời gian qua và phân tích các nguyên nhân của chúng là tiền đề, là cơ sở để tác giả đề xuất các giải pháp phát huy hơn nữa vai trò tích cực và góp phần hạn chế những tiêu cực của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng pháp luật dư luận xã hội với việc xây dựng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *