Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Một Số Giải pháp góp phần nâng cao vai trò của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Lí luận và thực tiễn đều chứng minh vai trò quan trọng của dư luận xã hội trong xã hội. Vì vậy, việc tìm ra giải pháp để nâng cao vai trò của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật là một yêu cầu cấp thiết. Trong luận văn này, chúng tôi xin đưa ra một số các giải pháp sau:
3.1. CÁC GIẢI PHÁP TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, TÁC ĐỘNG CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
3.1.1. Thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển
Kinh tế – xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi gì cho sự hình thành, tác động của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật?
Trước hết, kinh tế – xã hội phát triển sẽ góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật cho người dân. Kinh tế – xã hội kém phát triển, đời sống nhân dân gặp khó khăn, khả năng nhận thức, nghe nhìn, hiểu biết của họ cũng kém. Đó là chưa kể đến nhiều vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội nảy sinh, như chênh lệch giàu, nghèo, thiếu việc làm, tệ nạn xã hội gia tăng… Điều này tất nhiên sẽ dẫn đến những tư tưởng tiêu cực trong cộng đồng hoặc người dân dễ bị tác động bởi những luồng tư tưởng xấu từ bên ngoài. Chúng ta hiểu vì sao người dân ở các vùng sâu, xa của nước ta thường bị những phần tử phản động lợi dụng để truyền bá những tư tưởng lệch lạc về đường lối chỉ đạo của Đảng, Nhà nước. Thực ra chúng đã lợi dụng sự “ngây thơ”, kém hiểu biết của bà con các dân tộc thiểu số để kích động nhằm đạt mục đích lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam. Kinh tế phát triển, đời sống vật chất được đảm bảo thì đời sống tinh thần của con người cũng được nâng cao. Người dân được đi học nâng cao trình độ văn hóa, có điều kiện mua sắm các thiết bị nghe, nhìn, có thể mở rộng tầm mắt, nâng cao hiểu biết. Những nhận định, phán xét của nhân dân sẽ đa diện, đa sắc hơn. Đặc biệt là các thông tin về pháp luật sẽ dễ dàng đến với đông đảo quần chúng hơn. Khi người dân đã hiểu luật pháp thì những nhận xét, đánh giá của họ về các sự việc, sự kiện diễn ra trong đời sống pháp luật sẽ khách quan hơn. Chúng ta có thể nắm bắt dư luận xã hội kịp thời để phục vụ quá trình soạn thảo và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật. Dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có vai trò rất quan trọng đối với quá trình xây dựng các văn bản pháp luật. Để có được những điều luật đúng đắn, nhà nước phải nắm được trạng thái tư tưởng, tâm lý, những suy nghĩ, nhu cầu, tâm trạng và nguyện vọng của các tầng lớp xã hội. Mọi chủ trương, chính sách pháp luật khó trở thành hiện thực nếu không hợp lòng dân, không được dân ủng hộ. Khi đã có được các điều luật để đi vào thực thi, các thông tin phản hồi lại càng quan trọng, mọi vướng mắc, lệch lạc trong quá trình thực hiện đều được bộc lộ qua dư luận xã hội. Dư luận xã hội là một trong những cơ sở thông tin giúp các cấp quản lí đưa ra những quyết định phù hợp lòng dân, kịp bổ sung, chỉnh lý những quyết định còn khiếm khuyết, tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình tổ chức, thực hiện.
Về vấn đề này, quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin khẳng định: không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ mà tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ. Điều này đã nói lên rằng ý thức pháp luật của con người được hình thành xuất phát từ những điều kiện kinh tế, vật chất nhất định của xã hội, phản ánh những điều kiện vật chất nhất định và chịu sự chi phối của chính những điều kiện vật chất đó. Chúng ta muốn nâng cao ý thức pháp luật của người dân thì cần thiết phải cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho họ. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Thứ hai, kinh tế – xã hội phát triển sẽ ngày càng củng cố và xây dựng lối sống văn minh, góp phần tích cực vào việc thực hiện pháp luật có hiệu quả. Từ khi Đảng, Nhà nước thực hiện kinh tế thị trường, chúng ta không phủ nhận đã đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế. Bên cạnh thành tựu đạt được, chúng ta không thể phủ nhận một số hậu quả của nền kinh tế thị trường. Đô thị có tình trạng xả rác tùy tiện nơi công cộng, lấn chiếm lòng đường để buôn bán, phạm giao thông, vi phạm pháp luật nơi công cộng… Hội hè, đình đám ma chay, cưới hỏi lãng phí, bạo lực gia đình gia tăng, thuần phong mĩ tục thay đổi… là các vấn đề đang đặt ra ở nông thôn. Trong khi đó nhiều thủ tục hành chính vẫn rườm rà, một bộ phận cán bộ vẫn quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu dân chúng… Đây là những biểu hiện của một lối sống vị kỉ, thực dụng, vi phạm pháp luật, thiếu văn minh. Chính vì vậy, chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển kinh tế – xã hội. Khi kinh tế thực sự phát triển, xã hội lành mạnh, người dân củng cố và thực hiện tốt nếp sống văn minh thì chắc chắn sẽ tạo điều kiện để dư luận xã hội tác động tích cực tới việc nâng cao ý thức pháp luật công dân. Như thế, những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội cũng được hạn chế.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.2. Phát huy và mở rộng nền dân chủ xã hội
Dân chủ là gì? Đây là một khái niệm rộng nhưng có thể hiểu nội dung cốt lõi của nó là “toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân”. Ở Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Mở rộng và phát huy nền dân chủ xã hội sẽ giúp gì cho việc hình thành, phát triển, tác động của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật?
Chúng ta đều biết rằng việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội của nhân dân đều gắn liền với quá trình xây dựng, đổi mới của đất nước. Không khí dân chủ trong mọi mặt của đời sống xã hội được phản ánh trong dư luận xã hội, tạo nên tính năng động của dư luận xã hội đối với thực tiễn cuộc sống.
Việc mở rộng và phát huy nền dân chủ xã hội trên phạm vi cả nước là điều kiện hết sức quan trọng để nhân dân ta phát huy tính tích cực chính trị – xã hội, tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật.
Làm thế nào để phát huy và mở rộng nền dân chủ xã hội?
Trước hết, chúng ta cần thực hiện dân chủ hóa trên mọi mặt của đời sống xã hội:
Quyền dân chủ của nhân dân trên lĩnh vực chính trị được thể hiện: Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Nhân dân có quyền được có một nhà nước thực sự dân chủ. Nhà nước đó do nhân dân bầu ra qua việc bỏ phiếu kín. Nhà nước đó phải thực sự là công cụ để thực thi những yêu cầu chính đáng của nhân dân. Nhà nước đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp và thông qua các tổ chức đại diện của nhân dân. Nhân dân có quyền tỏ tín nhiệm hay bất tín nhiệm với một bộ phận cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước làm hại tới lợi ích chính đáng của nhân dân.
Mở rộng quyền người dân tham gia vào việc nhà nước. nhân dân có quyền thảo luận mọi vấn đề lớn nhỏ có liên quan tới lợi ích chính đáng của mình. Với ý nghĩa đó quyền của người dân không chỉ được thực hiện qua các thiết chế đại diện mà còn được thực hiện thông qua thiết chế dân chủ trực tiếp.
Bảo đảm cho người dân quyền tự do ngôn luận, tự do suy nghĩ, tự do tín ngưỡng phù hợp với pháp luật.
Mọi công dân không phân biệt thành phần giai cấp, giới tính, nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động hợp pháp đều bình đẳng trước pháp luật.
Dân chủ trên lĩnh vực kinh tế yêu cầu:
Hoàn thiện thể chế kinh tế, đặt nền kinh tế dưới sự kiểm soát của nhân dân, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân.
Hình thành cơ chế kinh tế sao cho người lao động đều được tham gia vào sở hữu, quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau.
Kết hợp kế hoạch nghiêm ngặt của nhà nước với việc phát huy sáng kiến của doanh nghiệp, của người lao động.
Thị trường phải là nơi cạnh tranh dựa trên nguyên tắc giá trị, chất lượng sản phẩm để đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng.
Dân chủ trên lĩnh vực xã hội chủ yếu thể hiện ở việc đảm bảo quyền công dân, quyền con người, quyền được bảo vệ về mặt xã hội của công dân; khắc phục dần sự khác biệt giữa các tầng lớp xã hội, giữa các vùng của đất nước, từng bước giải phóng con người khỏi những quan hệ phi nhân tính. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Dân chủ trên lĩnh vực tinh thần đòi hỏi trong giới hạn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thế giới quan Mác – Lê nin giữ vai trò chủ đạo – chấp nhận sự đa dạng hóa về ý kiến, về thế giới quan trong xã hội.
Thứ hai, hoàn thiện hình thức dân chủ đại diện, mở rộng dân chủ trực tiếp.
Dân chủ trực tiếp là hình thức nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình. Hiến pháp 2013 quy định hình thức dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng các phương thức: chế đội bầu, bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; chế độ gặp gỡ tiếp xúc với cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền công dân tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và của địa phương; biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý dân.
Muốn phát huy dân chủ trực tiếp, chúng ta cần: Báo cáo công khai trước nhân dân kết quả hoạt động của các lĩnh vực xã hội; nâng cao vai trò, chất lượng đóng góp của nhân dân vào việc hình thành các quyết định của Nhà nước, các cấp lãnh đạo; xây dựng những thiết chế dân chủ phù hợp ở cơ sở; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở.
Dân chủ đại diện là hình thức cơ bản thông qua đó nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, vận hành theo quy định của hiến pháp. Theo cơ chế này, nhân dân bầu ra cơ quan đại diện. Cơ quan đại diện trực tiếp nhận quyền lực từ nhân dân được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Tính chất quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội thể hiện ở chỗ Quốc hội thay mặt cho nhân dân cả nước quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước như lập hiến, Hiến pháp, các chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước; thành lập các cơ quan nhà nước trung ương; quyết định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Hội đồng nhân dân có vai trò là cơ quan thay mặt nhân dân địa phương quyết định các biện pháp nhằm xây dựng địa phương về mọi mặt, bảo đảm phát triển kinh tế văn hóa, nâng cao đời sống của nhân dân, thành lập ra cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, thực hiện quyền giám sát hoạt động của cơ quan này và các cơ quan nhà nước khác đóng trên địa bàn địa phương. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Việc mở rộng dân chủ dại diện đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các tổ chức quần chúng. Bởi vì các tổ chức quần chúng là nơi nắm vững và nhanh nhạy mọi nhu cầu bức xúc của các thành viên và phản ánh kịp thời với các cơ quan chức năng của Đảng, nhà nước. Hơn nữa, quần chúng muốn bày tỏ ý kiến và tham gia tích cực vào các hoạt động của xã hội cũng thường thông qua các tổ chức quần chúng mà mình tham gia.
Thứ ba, tập trung thực hiện tốt cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đây là yếu tố quan trọng để phát huy vai trò của dư luận xã hội trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật.
Mọi công việc của đất nước có liên quan đến lợi ích của dân mà không phương hại gì đến lợi ích quốc gia thì dân đều được biết. Muốn dân biết thì phải cung cấp thông tin cho dân. Các thông tin cung cấp cho dân biết phải có tính chân thực, kịp thời và người dân có quyền được phản hồi, nhận xét, đánh giá trước các thông tin đó. Dư luận xã hội sẽ đúng đắn hơn nếu thông tin họ tiếp nhận được trung thực, khách quan. Chẳng hạn, mới đây khi thông tin Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội vừa đề nghị Quốc hội bổ sung điều 22 trong Pháp lệnh phòng, chống mại dâm với nội dung tăng mức xử phạt hành chính với người mua dâm và công khai danh tính của người mua dâm đến các đoàn thể, chính quyền địa phương để kiểm điểm, giáo dục được báo Dân trí thông tin thì đã gặp phải sự phản ứng của dư luận xã hội. Đa số dư luận xã hội cho rằng nếu quy định việc công khai danh tính người mua dâm đến đoàn thể, chính quyền địa phương để kiểm điểm giáo dục thì cần phải xem xét đối chiếu xem việc công khai như vậy có xâm phạm tới quyền nhân thân của người mua dâm hay không. Dư luận xã hội cũng cho rằng việc công khai danh tính của người mua dâm sẽ mất nhiều hơn được. Bởi vì khi công khai danh tính của người mua dâm nhiều hậu quả có thể xảy ra như hạnh phúc gia đình tan vỡ, vợ con chịu sự kỳ thị của bạn bè, đồng nghiệp… Làm như thế vô hình chung đã hủy hoại uy tín của họ. Dư luận xã hội đã không đồng tình thì những nội dung trên khó có thể được đưa vào thực hiện, nếu Quốc hội bổ sung vào Pháp lệnh chắc chắn sẽ gặp phải phản ứng trái chiều hoặc việc thực hiện luật không hiệu quả.
Dư luận xã hội là tập hợp ý kiến của số đông. Việc người dân bàn bạc, thảo luận về các vấn đề của xã hội, những thông tin mà họ được tiếp nhận là một việc làm quan trọng nhằm đưa ra các ý kiến thống nhất trước các vấn đề chung. Dân được bàn cũng tức là họ không chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động hoặc việc công khai thông tin chỉ là hình thức mà họ còn có trách nhiệm, có quyền tham gia quyết định trước khi làm. Những ý kiến đánh giá được thống nhất chung của người dân sẽ là cơ sở cho các cấp lãnh đạo, các nhà lập pháp xây dựng pháp luật cũng như định hướng cho hành vi thực hiện pháp luật của người dân. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Dân làm là thể hiện sự đánh giá của dư luận xã hội vào thực tiễn. Trên cơ sở đánh giá chung mà người dân đi đến hành động thực tiễn thống nhất, cho phép phát huy những sự việc, sự kiện phù hợp với lợi ích chung và hạn chế những hiện tượng tiêu cực, đi ngược lại lợi ích của nhà nước, của nhân dân. Dân làm là sự biểu hiện hành động xã hội của các nhóm dân cư trên cơ sở họ được cung cấp thông tin và đánh giá tình hình thông qua sự thảo luận, bàn bạc tập thể, là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Kiểm tra là một hoạt động tất yếu của một xã hội có tổ chức nhằm quản lý xã hội. Chức năng kiểm soát của dư luận xã hội có ý nghĩa tích cực trong hoạt động này. Dư luận xã hội hình thành theo con đường chính thức và không chính thức. Hoạt động kiểm tra trong mối liên hệ với dư luận xã hội cũng diễn ra theo cơ chế này. Trong quá trình hình thành và phát triển, dư luận xã hội chịu sự tác động chi phối của các giá trị, chuẩn mực xã hội. Đến lượt mình khi đã hình thành, dư luận xã hội lại tác động đến các giá trị, chuẩn mực xã hội cho hoạt động kiểm tra. Trong hoạt động kiểm tra, vai trò của thanh tra nhân dân có ý nghĩa rất to lớn, nó góp phần làm tăng cường hiệu quả của hoạt động thanh tra nhà nước, nhằm duy trì các giá trị, chuẩn mực xã hội đã được quy định thành pháp luật hoặc là những thuần phong mỹ tục trong đời sống của nhân dân.
Cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là một cơ chế chủ yếu để phát huy vai trò của người dân đối với việc kiểm tra, giám sát các hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật của các cấp lãnh đạo. Cơ chế này cho phép tạo ra những luồng dư luận xã hội đúng đắn, được kiểm chứng giúp ích cho các nhà lập pháp trong việc xây dựng pháp luật. Mặt khác, nó khiến cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp có tinh thần trách nhiệm cao hơn và ý thức đầy đủ hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trước Nhà nước và nhân dân. Điều đó thể hiện mạnh mẽ vai trò của dư luận xã hội trong việc nâng cao ý thức thực hiện pháp luật của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Hơn nữa, những luồng dư luận xã hội cũng tác động trực tiếp lên nhận thức người dân. Đó cũng chính là những định hướng, một thứ “luật bất thành văn” để họ hành động theo. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Thứ tư, khắc phục bệnh quan liêu của các đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước. Thực tiễn cách mạng Việt nam cho thấy quan liêu là căn bệnh nguy hiểm, ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp cách mạng và rất khó khắc phục trong điều kiện của một đảng cầm quyền nếu không có một quyết tâm chính trị cao để xây dựng Đảng ta thật “đạo đức, văn minh”. Biểu hiện của bệnh quan liêu là tách quyền hành khỏi quyền lợi và nguyện vọng của tập thể, xem thường thực chất sự việc, trốn tránh trách nhiệm, làm việc không theo nguyên tắc và những quy định của pháp luật, đùn đẩy trách nhiệm, gây ra hậu quả xấu cho cấp trên hoặc cấp dưới, duy trì đẳng cấp, đặc quyền, đặc lợi…. Ở góc độ tâm lý học thì quan liêu do tư duy máy móc, tính nguyên tắc cứng nhắc, sính quyền lực, động cơ, nhu cầu thăng tiến không đúng lúc. Mặt khác còn do trình độ chuyên môn, quản lý, trình độ lý luận chính trị thấp; hạn chế về năng lực lãnh đạo, quản lý; lập trường chính trị chưa vững vàng, lệch lạc về quan điểm lãnh đạo, quản lý. Nguyên nhân của bệnh quan liêu từ đâu mà ra? Do cán bộ, công chức làm quản lí nhưng không gần dân, không hiểu tâm lí, nguyện vọng của dân, không yêu thương nhân dân. Hơn nữa, khi mắc sai lầm, khuyết điểm thì họ lại sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện. Việc phát hiện ra những cán bộ, công chức mắc căn bệnh này cũng rất khó khăn. Bởi vì biểu hiện của bệnh quan liêu tuy dễ thấy nhưng rất khó “bắt” bởi nó được che khuất bởi cái gọi là do “cơ chế”, do “chủ trương, chính sách” và do cả vị trí của từng cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh này lại không dám dũng cảm tự nhận là mình đã mắc căn bệnh này và xin hứa sẽ quyết tâm sửa chữa. Để giải quyết vấn đề này, theo chúng tôi cần phải thực hiện một số giải pháp :
Phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, có đạo đức tốt thì mới tạo được niềm tin bền vững trong quần chúng đối với Đảng. Sở dĩ như vậy là vì đây là đội ngũ nắm giữ hầu hết các cương vị chủ chốt, các lĩnh vực quan trọng trong bộ máy Nhà nước, các tổ chức kinh tế- xã hội. Nói cụ thể hơn, quan liêu mệnh lệnh cũng chính là từ đội ngũ này chứ nhân dân có muốn quan liêu mệnh lệnh cũng không thể thực hiện được. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Đảng và Nhà nước ta cũng đã dày công để xây dựng đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất, năng lực, nhưng theo tôi cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, và kiên quyết hơn nữa trong việc xử lý những cán bộ thoái hóa biến chất, mạnh dạn sắp xếp bố trí lại những cán bộ không có khuyết điểm nhưng năng lực yếu kém. Đây là vấn đề nhạy cảm và rất khó khăn trong công tác cán bộ nhưng nếu cứ như vậy thì khó có thể nói đến chống quan liêu.
Làm tốt công tác tư tưởng đối với mỗi cấp ủy, chính quyền, cán bộ lãnh đạo, quản lý và quần chúng.
Thực chất của công tác này là làm cho mọi người nhận thức một cách đúng đắn tác hại của quan liêu mệnh lệnh để từ đó thấy được vì sao phải chống nó. Về mặt nhận thức, khi mọi người đã thấm nhuần trong tư tưởng thì sẽ tạo được niềm tin, và niềm tin sẽ là động lực mạnh mẽ, quy tụ được sức mạnh của đại đa số trong việc chống quan liêu.
Dựa vào quần chúng, phát động quần chúng tích cực tham gia đấu tranh chống quan liêu.
Cũng như mọi công việc khác của cách mạng, muốn thành công thì phải dựa vào quần chúng, không dựa vào quần chúng thì chúng ta không thể tiến hành được bất cứ công việc gì, nhất là với quan liêu mệnh lệnh. Chân lý này không phải là mới nhưng vẫn luôn là điều quyết định sự thành, bại của mọi công việc, bởi lẽ nhân dân rất tinh tường, mọi hành vi của những kẻ quan liêu mệnh lệnh không thể che giấu được trước nhân dân. Do vậy, điều quan trọng còn lại là chúng ta cần có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tốt biết tập hợp và chỉ đạo quần chúng thì công cuộc chống quan liêu mệnh lệnh sẽ thu được kết quả.
Phải tập trung làm tốt công tác cán bộ. Đây là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng có tính chất sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Nội dung của công tác cán bộ bao hàm nhiều nội dung nhưng theo tôi trước tiên phải xây dựng cho bằng được quy chế đánh giá cán bộ thật sự khoa học, dân chủ. Sở dĩ chúng tôi muốn nhấn mạnh đến cụm từ “cho bằng được” vì đây là công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp, nhất là việc sắp xếp lại bộ máy gọn nhẹ và hiệu lực. Song hành với công việc đó là kiên quyết gạt bỏ những phần tử cơ hội, tham nhũng, thoái hóa biến chất ra khỏi bộ máy. Về mặt thực tiễn, đây là cuộc đấu tranh gay go và quyết liệt vì nó đụng chạm đến quyền và lợi ích của từng cá nhân, đến vị trí của từng cá nhân trong bộ máy của Đảng và Nhà nước. Chỉ khi nào chúng ta xây dựng và thực hiện được quy chế đánh giá cán bộ nói trên thì công tác đào tạo và đào tạo lại cả về chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức cho từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý mới thực sự có hiệu quả.
Xử lý thật nghiêm những cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý khi đã sai phạm. Chỉ có như vậy thì công cuộc chống quan liêu mới thật sự có hiệu quả, mới tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân.
3.1.3. Tạo lập bầu không khí tâm lý xã hội lành mạnh Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Bầu không khí tâm lý xã hội là một hiện tượng tâm lý xã hội, là trạng thái cảm xúc nổi trội trong nhóm xã hội, thể hiêṇ thái đô ̣đối với hoaṭ đông̣ chung đối với nhau và đối với bản thân mỗi thành viên . Bầu không khí tâm lý xã hội được hình thành từ mối quan hệ giữa con người với con người. Biểu hiện của bầu không khí tâm lý xã hội rất đa dạng như: sợ hãi, lo lắng, vui vẻ, phấn khởi, náo nức, hận thù…
Bầu không khí tâm lý xã hội có ảnh hưởng đến tính tích cực trong hoạt động xã hội của người dân sống trong xã hội đó. Sự ảnh hưởng này diễn ra theo hai chiều hướng, cả tích cực và tiêu cực. Trong điều kiện của bầu không khí tâm lý xã hội thuận lợi sẽ tạo ra tâm trạng phấn khởi, vui vẻ. Như thế, tính tích cực của con người sẽ luôn được khơi dậy, được nuôi dưỡng và phát huy. Ngược lại sống trong bầu không khí tâm lý xã hội nặng nề, tính tích cực của con người sẽ bị dồn nén, tạo ra những cảm xúc, tâm trạng tiêu cực như buồn chán, hận thù thậm chí mất niềm tin.
Dư luận xã hội cũng là một hiện tượng tâm lý xã hội. Vì vậy, giữa bầu không khí tâm lý xã hội và dư luận xã hội có mối liên hệ với nhau. Bầu không khí tâm lý xã hội có ý nghĩa với việc nâng cao vai trò của dư luận xã hội. Bầu không khí tâm lý xã hội là tiền đề về điều kiện để hình thành dư luận xã hội. Nếu bầu không khí tâm lý trong xã hội lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho việc hình thành dư luận xa hội lành mạnh và ngược lại. Chúng ta đã nhận thức sâu sắc vai trò định hướng, giám sát, giáo dục, tư vấn của dư luận xã hội với việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Như vậy, khi dư luận xã hội tích cực, lành mạnh cũng góp sức cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật đúng đắn, lành mạnh.
Để tạo lập bầu không khí tâm lý xã hội lành mạnh làm tiền đề, điều kiện cho dư luận xã hội phát huy vai trò tích cực với việc xây dựng và thực hiện pháp luật, chúng ta cần thực hiện các biện pháp sau:
- Một là, lựa chọn người lãnh đạo tập thể có những phẩm chất và năng lực cần thiết, có uy tín cao;
- Hai là, giải quyết các mối quan hệ về lợi ích giữa tập thể và cá nhân, giữa các cá nhân trong tập thể với nhau;
- Ba là, tăng cường các biện pháp giáo dục, xây dựng tập thể lành mạnh;
- Bốn là, thiết lập những điều kiện làm việc cần thiết cho tập thể.
3.1.4. Đảm bảo sự an toàn cho chủ thể của dư luận xã hội khi phản ánh các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Dư luận xã hội được hình thành từ quần chúng và là tập hợp ý kiến thống nhất của số đông. Hơn nữa, nó lại có tính lan truyền rất nhanh. Vì thế, việc xây dựng và thực hiện pháp luật đặt ra yêu cầu cơ bản là phải nắm bắt dư luận xã hội nhanh nhạy, kịp thời, quan trọng nhất là tính trung thực và mức độ phổ biến của những thông tin được lan truyền. Tuy nhiên, các nhà quản lý xã hội thật không dễ dàng để có được các thông tin đó. Sự thật là nhiều chủ thể dư luận xã hội không dám nói lên những suy nghĩ của bản thân hoặc những điều bản thân biết về những hành vi vi phạm pháp luật. Lý do là họ ngại động chạm đến ai đó nhất là những “ông to”, “bà lớn” hoặc sự trả thù của những đối tượng bị tố giác. Vì vậy, muốn nắm bắt dư luận xã hội một cách trung thực, kịp thời, chúng ta phải khuyến khích sự mạnh dạn “dám nói” của chủ thể bằng cách đảm bảo sự an toàn cho họ.
Hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật rất cần được người dân mạnh dạn, công khai, thẳng thắn bày tỏ các ý kiến, quan điểm, sự phê phán, lên án của họ về các hiện tượng tiêu cực, sai trái và vi phạm pháp luật. Thực tế chứng minh rằng, nhiều vụ việc vi phạm pháp luật của các vị lãnh đạo được đưa ra ánh sáng là có sự đóng góp của dư luận xã hội. Các chủ thể nhiều khi không dám công khai phản ánh nhưng bằng cách gián tiếp nào đó hoặc âm thầm, họ đã gửi các bằng chứng đến các cơ quan thực thi luật pháp để các vụ việc nhanh chóng được sáng tỏ. Nhiều chủ thể không ngần ngại hi sinh bản thân để ngăn chặn các hành động vi phạm pháp luật như tham gia bắt bắt tội phạm cướp giật, giết người, buôn lậu… Bên cạnh đó, nhiều người còn “nhút nhát”, “sợ hãi” không dám nói lên sự thật hoặc tỏ thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm. Điều này là rất nguy hiểm. Xét ở một khía cạnh nào đó, họ đã mắc căn bệnh “vô cảm” với xã hội, với đồng loại. Chúng tôi nghĩ rằng, để chữa trị căn bệnh vô cảm này và khuyến khích chủ thể dư luận xã hội đóng góp công sức, tâm huyết vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật, chúng ta cần phải làm hai việc sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Thứ nhất, cần nâng cao tính tích cực chính trị của nhân dân. Việc tích cực hóa chính trị của mọi tầng lớp nhân dân có vai trò to lớn trong việc khắc phục sự thờ ơ, lãnh đạm về chính trị của một bộ phận nhân dân không quan tâm và không tỏ thái độ trước những tình huống pháp luật, chính trị, xã hội có vấn đề, không muốn can dự vào công việc chung. Việc nâng cao tính tích cực chính trị của nhân dân còn có tác động to lớn đến sự định hướng dư luận do chính nhân dân thực hiện, đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh của nhân dân chống lại những dư luận xã hội có hại cho sự phát triển đất nước, đến việc tự ý thức của nhân dân trong trách nhiệm phản ánh trung thực dư luận xã hội cho các cơ quan có thẩm quyền để xử lý.
Thứ hai, cần có những qui định bằng pháp luật về dư luận xã hội nhằm đảm bảo về mặt pháp lý cho sự an toàn của chủ thể dư luận xã hội. Tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi chính là điều kiện cần thiết để dư luận xã hội có thể phát huy được cao nhất vai trò tích cực của nó đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật.
3.1.5. Cải tiến phương pháp, cách thức phổ biến giáo dục, pháp luật
Để pháp luật được thực thi và phát huy hiệu quả, một trong những công tác quan trọng là phổ biến, giáo dục pháp luật kịp thời. Dư luận xã hội có đặc trưng cơ bản là tính phổ biến, lan truyền nhanh chóng, mạnh mẽ. Vì vậy, có thể sử dụng dư luận xã hội như một công cụ hữu hiệu phục vụ công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Những giá trị, tri thức pháp luật khi được truyền tải bằng con đường dư luận xã hội có thể đến được với đông đảo các tầng lớp nhân dân một cách nhanh chóng, rộng rãi. Qua đó, tác động mạnh mẽ tới ý thức pháp luật của các nhóm xã hội.
Từ lâu, Đảng và nhà nước ta đã coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Chúng ta cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Bên cạnh một số kết quả đạt được thì vẫn còn một số ngành, địa phương chưa chủ động trong việc triển khai thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; việc tuyên truyền còn mang tính hình thức. Đội ngũ làm công tác phổ biến pháp luật còn thiếu và yếu; kinh phí cho công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn eo hẹp; nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn hạn chế, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật chưa cao, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống….
Nhằm nâng cao hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thời gian tới cần phát huy vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng, vì sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp là nhân tố cơ bản, quyết định sự vững mạnh và chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức, trong đó có công tác giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác giáo dục pháp luật phản ánh một cách khách quan năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, trách nhiệm giáo dục, quản lý của các cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ quan, tổ chức, trong đó trước hết phải nói đến trách nhiệm của người đứng đầu.
Mặt khác, phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật một cách sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, để trang bị cho họ kiến thức cơ bản về pháp luật. Trong đó tập trung tuyên truyền Hiến pháp 2013, Luật Đất đai (sửa đổi) và các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến nhiều đối tượng, đặc biệt là người nghèo, đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có phẩm chất chính trị tốt, trình độ chuyên môn vững vàng, có kỹ năng truyền đạt, am hiểu pháp luật và kiến thức xã hội để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là giữa các cơ quan Tư pháp, các ban, ngành, đoàn thể với chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là việc làm cần thiết nhằm bổ sung, tương trợ lẫn nhau trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Để làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thì một yếu tố không kém phần quan trọng nữa là các cấp, ngành cần dành một khoản kinh phí thỏa đáng để phục vụ cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật như tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; mời báo cáo viên tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị mình các văn bản pháp luật mới, có liên quan trực tiếp đến chuyên môn nghiệp vụ của ngành; tham gia in ấn, phát hành tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền pháp luật..
Điều quan trọng trong suốt quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật là chú trọng phương pháp. Đây cũng là một hoạt động giáo dục. Vì thế, chúng ta phải lấy người học, người được tuyên truyền, phổ biến pháp luật làm trung tâm của hoạt động giáo dục pháp luật. Tránh tình trạng người nghe thụ động tiếp nhận, thậm chí có những người không muốn nghe nên ngồi nghe cho hết thời gian. Để khắc phục tình trạng này, yêu cầu hoạt động giáo dục của chúng ta luôn luôn được làm mới về hình thức. Cần kết hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa các hình thức tuyên truyền, trong đó đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin mới vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Tăng cường hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đây là cách nhanh nhất, ít tốn kém nhưng hiệu quả lại rất cao. Bên cạnh tăng cường đưa tin về các văn bản pháp luật mới ban hành thì các ngành với chức năng, nhiệm vụ của mình cần phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng mở chuyên mục riêng về ngành, lĩnh vực mình phụ trách, quản lý để góp phần làm tăng thêm hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước của mình.
Khi tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật, chủ thể tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần phân biệt dư luận xã hội với tin đồn, những tin tức thất thiệt có tác động xấu đến hệ thống pháp luật, cần đấu tranh mạnh mẽ với những thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt, bất lợi cho pháp luật do các thế lực phản động tung ra nhằm làm lung lạc, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật.
3.1.6. Phát huy vai trò của truyền thông đại chúng Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Truyền thông là hoạt động truyền phát và trao đổi thông tin giữa người với người nhằm đạt được sự hiểu biết và tạo ra sự giao tiếp, liên kết xã hội. Truyền thông đại chúng được hiểu là một quá trình truyền đạt thông tin đến các nhóm cộng đồng đông đảo trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.
Phương tiện truyền thông đại chúng thường được hiểu là hệ thống các công cụ, các kênh phát tán thông tin đại chúng như báo chí (báo in, báo phát thanh, báo truyền hình và các loại hình báo điện tử khác), các hãng thông tấn và dịch vụ thông tin, các trạm liên lạc mặt đất và vũ trụ, các trung tâm nghiên xuất bản sách phổ thông, phim thời sự – tài liệu, tờ rơi, áp phích, internet… tức là các kênh phát tán thông tin hướng tác động vào đám đông, vào các nhóm lớn trong xã hội. Hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng bao gồm cả báo chí. Báo chí là các yếu tố cấu thành nhưng là yếu tố cơ bản, nền tảng của hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng. Nó mang đầy đủ những đặc trưng bản chất và là biểu trưng cho sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng.
Truyền thông đại chúng có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện nay. Nó đã tăng cường và phát triển dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội; tổ chức và động viên nhân dân tham gia vào các hoạt động quản lý xã hội, thông tin cho nhân dân về tình trạng của dư luận xã hội trên các vấn đề đang tạo nên mối quan tâm chung của toàn thể xã hội, nhất là các vấn đề có tính cấp bách; tác động lên các thiết chế xã hội và đề xuất các phương án hoạt động; hình thành dư luận xã hội về một vấn đề nào đó nhằm thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của thực tế đó; xây dựng lòng tin, thế giới quan và ý thức quần chúng; điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong xã hội, làm tăng cường tính tích cực chính trị – xã hội của quần chúng. Như vậy, bằng việc chọn lọc, nhấn mạnh, giải thích các sự kiện đặc biệt, cung cấp thông tin tới đối tượng tiếp nhận qua các kênh, khuyến khích dư luận đóng góp ý kiến, tiếng nói của cá nhân mình về các vấn đề đưa ra, truyền thông đại chúng đã tác động vào dư luận xã hội bằng hai con đường: tình cảm và lý trí. Chính sự tác động này giúp chúng ta có thể tận dụng ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến dư luận xã hội để tác động tích cực đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật.
Truyền thông đại chúng đã ảnh hưởng đến dư luận xã hội như thế nào? Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Các phương tiện truyền thông đại chúng khơi nguồn và phản ánh dư luận xã hội, đặc biệt nó hướng sự chú ý của dư luận xã hội đến một số vấn đề được coi là cốt yếu. Việc xác định tầm quan trọng của những vấn đề này dựa vào chủ định của các hãng truyền thông nhưng cũng có thể do đòi hỏi của chính dư luận xã hội. Truyền thông có thể giúp hình thành một ý, quan điểm mới, củng cố những quan điểm đang định hình và thay đổi những quan điểm đã định hình, phá vỡ những thành kiến. Tuy nhiên, phá vỡ những khuôn mẫu tư duy và định kiến của dư luận xã hội không bao giờ là công việc đơn giản. Để có được những sự thay đổi này, hoạt động truyền thông cần được tiến hành trong bối cảnh có những thay đổi về chuẩn mực xã hội liên quan.
Trong lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật, chúng ta thấy rõ vai trò của nó với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chống tham nhũng. Một số ví dụ điển hình dưới đây sẽ làm sáng tỏ điều này.
Ngày 15-1-2008, Chương trình Thời sự 19h của VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam đưa tin nạn bạo hành trẻ em tại lớp trông trẻ tư thục tại số 1/2 Phường Quyết Thắng, Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Người được gọi là “bảo mẫu” hành hạ, đánh chửi, nhiếc mắng vô cùng thậm tệ những đứa trẻ mới chỉ mười mấy tháng tuổi. Mặc dù sự việc nghiêm trọng trên đã xảy ra trong một thời gian dài, những hành động dã man trên của bà Hoa đã bị người dân sống quanh đây phát hiện nhưng các cơ quan chức năng từ phường đến phòng giáo dục thành phố vẫn không vào cuộc ngay. Phóng sự này đã gây xôn xao, khiến hàng triệu bậc cha mẹ, khán giả truyền hình đã vô cùng căm phẫn trước hành động đánh đập trẻ em nhẫn tâm của Bà Hoa. Đến 3h chiều 16-1-2008, cơ quan điều tra đã có cuộc họp với Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Biên Hòa để đưa ra hướng xử lý đối với bà Hoa. Ngày 17-1-2008, kẻ bạo hành trẻ em đã bị bắt giữ và kết quả là lĩnh án 18 tháng tù. Ngay sau sự kiện này, các bậc phụ huynh đã phải cân nhắc nhiều hơn đến việc gửi con ở các cơ sở trông trẻ tư nhân cùng với đó trách nhiệm thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng đối với nhiều địa điểm nhân trông giữ trẻ đã được quan tâm hơn.
Tình trạng tham nhũng – một trong những quốc nạn làm nhức nhối dư luận xã hội – là giặc nội xâm phá hoại từ bên trong, là đồng minh của giặc ngoại xâm có thể làm đổ vỡ sự nghiệp cách mạng. Thực tế cho thấy, mỗi ngày, trên các phương tiện truyền thông đại chúng hầu như đều xuất hiện những bài viết, những chương trình nói về tham nhũng. Các phương tiện truyền thông đại chúng là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhân dân là “tai mắt”, là nguồn cung cấp thông tin sống động về mọi mặt cho các kênh thông tin này. Thông tin báo chí là một trong những nguồn để các cơ quan hình sự khởi tố vụ án. Điều này cho thấy vai trò hết sức quan trọng của các phương tiện tuyền thông đại chúng trong việc tạo lập và thể hiện dư luận xã hội. Không thể phủ nhận được hiện nay, các phương tiện truyền thông đã đi đầu trong phát hiện, đưa lên mặt báo những họat động tham nhũng. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Một trong những ví dụ điển hình cho vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, có thể kể đến sự kiện “nước bẩn” ở Thành phố Hồ Chí Minh ở những ngày đầu tháng 9/2005. Bắt đầu là những thông tin người dân phản ánh liên tục trên các trang mục “Chúng tôi có ý kiến” của các Báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên… phản ánh tình trạng nước sinh họat của người dân bị nhiễm bẩn, không thể sử dụng được. Từ những thông tin ban đầu, nhà báo đã vào cuộc. Thông qua hàng loạt các bài điều tra, các chương trình truyền hình tìm hiểu nguyên do nước bẩn để có những giải thích trước công chúng…, vấn đề “tại sao nước bẩn” đã được đặt trên bàn dư luận. Sức ép của dư luận sau các bài điều tra đã bắt buộc các cơ quan có thẩm quyền phải xử lý việc thiếu trách nhiệm của Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco) cũng như của Trung tâm Y tế dự phòng Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này cho thấy, các phương tiện truyền thông đã tác động lên các thiết chế xã hội. Với chức năng của mình, truyền thông đại chúng đã góp phần lớn vào kiểm soát xã hội và đề xuất các phương án hành động thông qua dư luận.
Truyền thông đại chúng có tác động mạnh mẽ đến hình thành, phát triển, tác động dư luận xã hội đối với việc xây dựng, thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, dư luận xã hội cũng có tác động ngược trở lại, cụ thể:
Thứ nhất, nhiều khi sức mạnh của truyền thông đại chúng khiến nó đi quá xa so với những suy tính ban đầu của các nhà truyền thông. Trong những trường hợp đó, truyền thông đại chúng phải chạy theo dư luận xã hội để khống chế nó. Những hậu quả có thể là tiêu cực hoặc tích cực. Nó tiêu cực ở chỗ, lúc này dư luận xã hội có thể phá hoại và làm tổn hại lớn cho cá nhân và xã hội. Thí dụ năm 2005, Đài truyền hình Việt Nam có đưa tin về một giáo viên ở Gia Lâm Hà Nội bị công an bắt về hành vi lừa đảo để vay hàng trăm triệu đồng của một chi nhánh ngân hàng Phương Nam. Thế nhưng sau khi đưa tin này rất nhiều người đã vội vàng đến các chi nhánh của ngân hàng Phương Nam để rút tiền, khiến cho ngân hàng đứng trước một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Trước tình hình đó, Đài Truyền hình Việt Nam đã phải có những phóng sự tiếp theo để giải thích rõ ràng sự việc, nhờ đó đã tránh được những hậu quả khủng khiếp từ bản tin nọ. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Thứ hai, dưới sức ép của dư luận xã hội nhiều khi các phương tiện truyền thông đại chúng buộc phải thay đổi, điều chỉnh hoặc đính chính những nội dung đã phát, đã công bố. Trong số báo ra ngày 12/4/2008, Moskovski Korrespondent đã khiến báo giới cũng như dân chúng Nga phải sửng sốt về vị Tổng thống mà họ vô cùng ngưỡng mộ. Theo đó, vị Tổng thống sắp mãn nhiệm vào tháng 5 tới đã bí mật ly dị vợ, bà Lyudmila vào tháng 2 vừa qua để “dọn đường” cho cuộc hôn nhân mới với nữ vận động viên xinh đẹp Alina Kabayeva (năm nay mới 24 tuổi), người đã từng là vô địch Olympic Athens môn thể dục dụng cụ vào tháng 6 tới. “Chẳng có một tý sự thật nào trong bài báo đó”, Putin nói về thông tin trên tờ Moskovsky Korrespondent. “Tôi thường phản ứng tiêu cực trước những kẻ hay chõ mũi và có những suy diễn hoang tưởng về cuộc sống của người khác”, ông chủ Kremlin cho biết. Văn phòng của cô Kabayeva cho biết cô không có bình luận gì trước tin đồn này. Một phát ngôn viên của Kabayeva trước đó cho hay thông tin của báo chí về chuyện yêu đương với tổng thống là “rác rưởi”. Trong số báo ra ngày 18/4/2008, tại trang 2, Moskovski Korrespondent đã chính thức nói lời xin lỗi về bài báo gây dư luận ra ngày 12/4/2008: “Trong số báo ra ngày 12/4 có đăng tin Tổng thống Putin sắp kết hôn cùng nữ vận động viên Alina Kabayeva, nhưng đây là thông tin không có cơ sở”. “Chúng tôi rất lấy làm tiếc vì bài báo đã gây nên những hiểu lầm, ảnh hưởng không tốt tới các bên liên quan. Chúng tôi thành thật xin lỗi về việc này”.
Nhận thức được mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội, chúng ta thấy để dư luận xã hội có tác động tích cực đến quá trình xây dựng, thực hiện pháp luật thì các phương tiện truyền thông đại chúng cần bám sát, phản ánh trung thực dư luận xã hội của các tầng lớp xã hội khác nhau và đặc biệt nó phải đạt đến mục đích cuối cùng là định hướng dư luận xã hội. Định hướng dư luận xã hội là định hướng quần chúng. Nếu các phương tiện truyền thông đại chúng định hướng tốt cho dư luận xã hội trong việc xây dựng và thực hiện luật thì quần chúng nhân dân cũng có nhận thức và hành vi đúng đắn khi thực hiện luật.
Xã hội càng phát triển, vai trò của cá phương tiện truyền thông đại chúng càng được nâng cao, sức mạnh chi phối của nó ngày càng lớn đối với cộng đồng và với mỗi cá thể. Vai trò, sức mạnh của nó trước hết là khơi nguồn, phản ánh và định hướng dư luận xã hội, là phát huy sức mạnh của dư luận xã hội vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật.
3.2. TIẾP TỤC PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Cùng với việc việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành, phát triển, tác động của dư luận xã hội với việc xây dựng và thực hiện pháp luật, chúng ta cần tiếp tục phát huy vai trò của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Thực hiện vấn đề này, người viết xin đưa ra hai giải pháp cụ thể sau:
3.2.1. Tổ chức điều tra, thăm dò dư luận xã hội trong lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi việc nắm bắt lòng dân (tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân). Đảng xác định đây là một trong những công việc quan trọng hàng đầu nhằm đề ra các chủ trương, đường lối cách mạng phù hợp lòng dân, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”.
Những năm đầu đổi mới và đặc biệt là thời gian gần đây, Đảng ta tiếp tục có những sự chỉ đạo nhằm tăng cường công tác điều tra xã hội học, nắm bắt dư luận xã hội. Ví dụ, trong văn kiện Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã nêu ra nhiệm vụ đối với công tác tư tưởng sau đây: “Nâng cao chất lượng thông tin nội bộ và công tác tuyên truyền, coi trọng biện pháp điều tra dư luận xã hội”.
Hội nghị lần thứ VIII, Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa VII tiếp tục yêu cầu: “Tổ chức điều tra dư luận xã hội về những vấn đề cần thiết cho công tác lãnh đạo, quản lý Nhà nước, xây dựng luật về trưng cầu dân ý”.
Gần đây nhất, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Chú trọng công tác nghiên cứu, điều tra xã hội học, nắm bắt dư luận xã hội phục vụ công tác tư tưởng”.
Sở dĩ Đảng, Nhà nước ta đặc biệt coi trọng công tác điều tra, thăm dò dư luận xã hội vì thực tiễn đã cho thấy tác dụng tích cực của nó trong điều hành quản lí xã hội nói chung cũng như trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật nói riêng.
Việc điều tra, thăm dò dư luận xã hội cho phép thu thập được những thông tin phản hồi từ dư luận xã hội về chính sách pháp luật, hiệu quả thực thi pháp luật và nhu cầu thông tin pháp luật của các tầng lớp cán bộ và nhân dân. Sự phản hồi từ phía dư luận xã hội là một trong những thông tin hết sức quan trọng giúp cho Nhà nước đưa ra những quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn xã hội, hợp lòng dân; kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định còn khiếm khuyết và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật. Dư luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng và có tác dụng nhiều mặt đối với công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Thực tế xây dựng pháp luật đã chứng minh việc huy động trí tuệ của nhân dân vào hoạt động xây dựng pháp luật thông qua việc tiếp thu các ý kiến có giá trị. Chẳng hạn, đợt lấy ý kiến của nhân dân đóng góp cho Dự thảo Bộ luật dân sự được tổ chức ở quy mô rộng nhất, thời gian dài nhất. Kết quả là đã bổ sung thêm 10 điều nói về quyền nhân thân, thêm 46 điều nói về vấn đề sở hữu, 20 điều về nghĩa vụ và hợp đồng dân sự. Chính vì dư luận xã hội có những đóng góp cho công tác xây dựng pháp luật nên nó cũng có giá trị rất lớn trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tổ chức điều tra, thăm dò dư luận xã hội cho phép thu thập được những thông tin, số liệu thực nghiệm, đưa ra những chỉ báo về thực trạng kiến thức pháp luật của nhân dân. Từ đó, kết quả thăm dò dư luận xã hội sẽ định hướng hoạt động phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật có đạt được hiệu quả như mong muốn hay không có thể đánh giá được thông qua việc nắm bắt dư luận xã hội của đối tượng xã hội mà tác động tuyên truyền, giáo dục nhằm vào. Nói cách khác là tiếp nhận các thông tin phản hồi về hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật. Có thể nói việc tăng cường khâu nắm bắt các thông tin phản hồi bằng các phương pháp điều tra, thăm dò dư luận xã hội một cách khách quan, khoa học là một trong những biện pháp rất quan trọng nhằm phát huy sức mạnh, tính thuyết phục và hiệu quả của hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
3.2.2 Sử dụng các kết quả thăm dò dư luận xã hội vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Theo chúng tôi, để tiếp tục phát huy vai trò tích cực của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật, chúng ta nên sử dụng kết quả thăm dò, nghiên cứu dư luận xã hội vào những việc sau:
Thứ nhất, sử dụng các kết quả thăm dò dư luận xã hội phục vụ quá trình soạn thảo vào tổ chức thực hiện các văn bản luật.
Nhận thức và thái độ của nhân dân đối với các văn bản luật đã ban hành hoặc chuẩn bị được ban hành của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với quá trình ra quyết định của các cơ quan lãnh đạo. Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho các quyết định của các cấp ủy Đảng và chính quyền thiếu tính khả thi, không có khả năng đi vào cuộc sống là do các quyết định thiếu các thông tin phản hồi chân thực về tình cảm, suy nghĩ, ý chí, nguyện vọng của nhân dân đối với các quyết định ấy. Cách nắm bắt thông tin phản hồi truyền thống mà lâu nay các cấp ủy Đảng và chính quyền thường sử dụng là thông qua các báo cáo có tính kinh nghiệm của cấp dưới. Cách này có rất nhiều ưu điểm như nắm bắt thông tin nhanh, ít tốn phí về tiền tài và nhân lực. Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ những khiếm khuyết nghiêm trọng là trong các báo cáo này người ta thường thổi phồng các thành tích, dấu diếm các khuyết điểm, bỏ qua những biểu hiện tâm trạng tư tưởng phức tạp của các tầng lớp nhân dân. Các phương pháp nắm bắt dư luận xã hội lấy thông tin trực tiếp từ quần chúng sẽ khắc phục được những hạn chế của các báo cáo của cấp dưới gửi lên. Điều này sẽ đảm bảo cho quá trình ra quyết định của các cấp lãnh đạo có những thông tin phản hồi khách quan, đáng tin cậy. Nếu nội dung của các quyết định (dự thảo) không được đa số người dân ủng hộ thì đó là các nội dung thiếu tính khả thi, khó đi vào cuộc sống của người dân. Chủ thể quản lý sẽ có cơ sở để bác bỏ dự thảo quyết định. Ngược lại, nếu người dân đồng tình cao thì chắc chắn quyết định của các cấp lãnh đạo sẽ được ban hành.
Quá trình triển khai thực hiện các quyết định đã ban hành có thể gặp phải những khó khăn, vướng mắc thể hiện qua những băn khoăn thắc mắc của các đối tượng thực thi. Nếu các cơ quan lãnh đạo, quản lý không nắm được các băn khoăn, thắc mắc này hoặc nắm một cách méo mó, hời hợt do phương pháp nắm bắt thông tin thiếu khoa học (ví dụ để tình trạng các cán bộ cấp dưới vì lợi ích cá nhân, cục bộ cố tình phản ánh sai lệch tâm trạng, tư tưởng của đối tượng thực thi) thì sẽ không thể kịp thời đưa ra biện pháp bổ sung, sửa đổi và do đó rút cuộc quyết định có thể không được thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả. Do đó, các cấp ủy Đảng và chính quyền cũng phải tăng cường sử dụng các biện pháp nắm bắt dư luận xã hội một cách khoa học, khách quan để nắm được thực trạng tâm trạng, tư tưởng, các băn khoăn, thắc mắc của nhân dân, từ đó kịp thời đề ra những biện pháp bổ sung sát thực, hiệu quả nhằm khắc phục những vướng mắc, thúc đẩy quá trình thực hiện quyết định.
Thứ hai, sử dụng các kết quả thăm dò dư luận xã hội để chống các biểu hiện tham những, quan liêu tắc trách trong đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo nhà nước. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Các phần tử thoái hóa biến chất trong bộ máy Nhà nước sẵn sàng chà đạp lên các giá trị đạo đức và pháp luật nhưng lại rất ngại phương tiện truyền thông và dư luận xã hội. Họ luôn tìm cách che đậy thông tin, tránh né sự quan tâm của các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội. Sự mở rộng dân chủ, công khai hóa cá thông tin về các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, suy thoái đạo đức, lối sống trong bộ máy Nhà nước sẽ thu hút được sự quan tâm, chú ý của dư luận xã hội, lôi kéo dư luận xã hội vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, tha hóa về đạo đức, lối sống trong bộ máy Nhà nước. Sự lên án kịp thời và nghiêm khắc của dư luận xã hội ở đây sẽ làm cho các phần tử tham nhũng, quan liêu, tắc trách…chùn tay. Việc các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm, lắng nghe và giải quyết các yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân trong lĩnh vực đấu tranh, chống tham nhũng, tắc trách sẽ thúc đẩy dư luận xã hội phát huy vai trò của mình trong lĩnh vực này. Đó cũng chính là phát huy vai trò của dư luận xã hội vào việc thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả pháp luật.
Thứ ba, sử dụng các kết quả thăm dò dư luận xã hội để nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Để tạo điều kiện cho vai trò dư luận xã hội hình thành, phát triển, tác động tới việc xây dựng và thực hiện pháp luật, một trong những yêu cầu quan trọng là chúng ta phải cải tiến phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Như đã nói, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật của nước ta mặc dù đã được coi trọng nhưng kết quả đạt được chưa tương xứng. Một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả của các tác động thông tin, tuyên truyền là sự coi thường hoặc không có những phương pháp thích hợp để bảo đảm khâu thông tin phản hồi. Sự coi thường khâu thông tin phản hồi thể hiện ở chỗ chủ thể thông tin tuyên truyền hành động theo kiểu nói lấy được, không cần biết đến phản ứng của người nghe. Họ không cần biết người nghe đã thực sự hiểu các văn bản luật hay chưa hoặc họ có thực sự đồng tình với các văn bản luật đó hay không. Chủ thể thông tin tuyên truyền có thể hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của khâu thông tin phản hồi nhưng do không có các phương pháp nắm bắt thông tin phản hồi tốt, thông tin phản hồi mà họ nắm được không phải là thông tin khách quan, trung thực. Ví dụ, trong các đợt học tập nghị quyết, có những nơi hình thức nắm thông tin phản hồi thông qua các bản thu hoạch của học viên tỏ ra không đáng tin cậy. Vì sợ bị đánh giá ý thức chính trị kém, nhiều học viên dù không đồng tình với bài giảng của giảng viên nhưng vẫn tỏ vẻ lắng nghe và ghi vào bài thu hoạch rất tốt. Nắm dư luận của học viên theo phương pháp phỏng vấn sâu hoặc điều tra theo theo phiếu có thể khắc phục những khiếm khuyết của phương pháp viết thu hoạch nói trên. Có thể việc tăng cường khâu nắm bắt các thông tin phản hồi bằng các phương pháp thăm dò dư luận xã hội khách quan, khoa học là một trong những biện pháp rất quan trọng nhằm tăng cường sức chiến đấu, tính thuyết phục, nói cách khác là đánh giá hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, việc sử dụng các kết quả thăm dò dư luận còn giúp tăng cường nguyên tắc đối thoại trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Giáo dục pháp luật chắc chắn cũng là một hoạt động giáo dục. Trong hoạt động giáo dục, để phát huy tính tích cực của người học thì đối thoại được đánh giá là một phương pháp hiệu quả. Đối thoại trong hoạt động giáo dục không chỉ là việc người trò trả lời những câu hỏi của người thầy mà còn là việc người học đưa ra những vấn đề còn thắc mắc hoặc thậm chí đề xuất một vấn đề mới phát sinh và mong muốn được người thầy giải đáp. Áp dụng điều này với giáo dục pháp luật thì người tuyên truyền pháp luật không chỉ giải quyết những băn khoăn của người nghe mà còn là đối tượng trung gian tiếp thu những ý kiến, những vấn đề người nghe phản ánh lên các cấp có thẩm quyền để đưa ra các phương án giải quyết nếu thấy các ý kiến, vấn đề đó là đúng. Chính công tác nghiên cứu dư luận xã hội là kênh thông tin phản hồi dáng tin cậy, cung cấp cho chủ thể tuyên truyền những băn khoăn, thắc mắc của đối tượng để từ đó người tuyên truyền có thể giải đáp các băn khoăn, thăc mắc của người nghe. Dư luận xã hội là người phản biện tốt nhất với các luận điểm tuyên truyền: luận điểm tuyên truyền có sức thuyết phục hay không, những chỗ nào lập luận yếu, thiếu cơ sở đều được phản ánh trong dư luận xã hội.
Thứ tư, sử dụng kết quả thăm dò dư luận xã hội để giáo dục luân thường, đạo lý trong xã hội, từ đó tác động đến việc nghiêm túc thực hiện pháp luật.
Thuần phong, mỹ tục, các giá trị đạo đức, luân lý truyền thống của dân tộc được lưu giữ qua hàng ngàn năm, một phần là nhờ sự bảo vệ của dư luận xã hội. Dư luận xã hội đặc biệt nhạy cảm với các hiện tượng vi phạm thuần phong, mỹ tục và luân lý xã hội. Trước các biểu hiện vi phạm thuần phong, mỹ tục, đạo đức, luân lý, thái độ của dư luận xã hội bao giờ cũng rất gay gắt. Do dư luận xã hội gắn liền với ý chí của các cộng đồng, của nhóm xã hội nên dư luận xã hội có sức ép lớn đối với tư tưởng và hành vi của mỗi cá nhân. Do đó mà nó có tác động tích cực tới việc xây dựng và thực hiện đúng pháp luật.
Dư luận xã hội là một hiện tượng tâm lý xã hội. Vì vậy có thể sử dụng dư luận xã hội như một công cụ hữu hiệu phục vụ công tác xây dựng và thực hiện pháp luật. Tổ chức thăm dò dư luận xã hội và sử dụng các kết quả của việc thăm dò dư luận xã hội là một giải pháp quan trọng để dư luận xã hội phát huy vai trò của nó với việc xây dựng và thực hiện pháp luật.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Như đã khẳng định, dư luận xã hội có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Vì vậy, các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành, phát triển, tác động của dư luận xã hội là rất quan trọng, cụ thể là: thúc đẩy kinh tế, xã hội; phát huy và mở rộng nền dân chủ xã hội; tạo lập bầu không khí xã hội lành mạnh; đảm bảo sự an toàn cho chủ thể dư luận khi phản ánh các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật; cải tiến các phương pháp cách thức phổ biến giáo dục pháp luật; phát huy vai trò của truyền thông đại chúng.
Bên cạnh các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành, phát triển, tác động của dư luận xã hội, cần có các giải pháp tiếp tục phát huy vai trò tích cực của nó đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Tổ chức điều tra, thăm dò dư luận xã hội hội trong lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật và sử dụng các kết quả đó vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật là các giải pháp để thực hiện vấn đề này.
KẾT LUẬN
Lựa chọn vấn đề “Dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn cao học là xuất phát từ những yêu cầu cấp bách cả về lí luận và thực tiễn. Trong toàn bộ phần nội dung, chúng tôi đã cố gắng làm rõ vai trò, mối quan hệ, thực trạng của dư luận xã hội với việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số các giải pháp góp phần nâng cao vai trò của dư luận xã hội với hoạt động xây dựng, thực hiện pháp luật phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
Bản chất của pháp luật Việt Nam là hệ thống các qui tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân lao động, do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận), có tính bắt buộc chung được Nhà nước đảm bảo thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục thuyết phục và cưỡng chế; thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dư luận xã hội là một dạng của thiết chế xã hội, phục vụ nhu cầu xã hội. Nó chi phối và chịu sự chi phối của các lĩnh vực trong xã hội như tôn giáo, kinh tế, văn hóa… trong đó có pháp luật. Như vậy, dư luận xã hội và hoạt động pháp luật tất yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Đúng với chức năng của mình, ở nước ta, trong thời gian qua, dư luận xã hội đã hỗ trợ pháp luật từ khâu xây dựng các văn bản luật đến việc nâng cao ý thức pháp luật, điều chỉnh hành vi con người, duy trì trật tự xã hội… Thực tế, chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận từ việc phát huy vai trò của dư luận xã hội trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật, như: dân chủ hóa quá trình xây dựng pháp luật, tạo điều kiện để nhân dân tích cực đóng góp ý kiến về các vấn đề kinh tế, xã hội, chủ động tham gia vào các hoạt động quản lí nhà nước, xã hội, thanh tra nhân dân và trực tiếp đấu tranh chống tiêu cực, từng bước nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân.
Dư luận xã hội cũng được xem là một dạng quyền lực. Nhưng dạng quyền lực này cũng có những giới hạn nhất định. Vì thế, trong hoạt động pháp luật, chúng ta cần có những giải pháp để phát huy “vai trò quyền lực” của nó. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, theo chúng tôi cần có các giải pháp vừa tạo điều kiện cho sự hành thành, phát triển, tác động vừa phát huy vai trò của dư luận xã hội đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật, cụ thể là: Thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển; phát huy và mở rộng nền dân chủ xã hội; tạo lập bầu không khí xã hội lành mạnh; đảm bảo sự an toàn của chủ thể dư luận khi phản ánh các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật; cải tiến phương pháp giáo dục pháp luật; phát huy vai trò của truyền thông đại chúng; tổ chức điều tra và sử dụng kết quả thăm dò dư luận xã hội vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật.
Bối cảnh toàn cầu hóa đang dần làm cho những sự kiện, vấn đề của thế giới thành những vấn đề của Việt Nam. Đây cũng là những vấn đề dư luận xã hội nước ta đặc biệt quan tâm. Để hội nhập và phát triển, chúng ta cần phát huy hơn nữa sức mạnh của dư luận xã hội không chỉ trong lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật mà còn trên nhiều các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Luận văn: Giải pháp pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Pháp luật dư luận xã hội đối với việc xây dựng
