Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại Tỉnh Hòa Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế – xã hội, và kết quả thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình
2.1.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội ở tỉnh Hòa Bình
Tỉnh Hòa Bình có diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam, tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng. Tỉnh Hòa Bình có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng tây bắc – Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía tây bắc có độ cao trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía đông nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung bình từ 100 – 200 m.
Hòa Bình hiện có 854.131 dân (tính đến ngày 1/4/2019). Theo thống kê dân số toàn quốc, trên địa bàn tỉnh có 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Mường chiếm 63,3%; người Kinh chiếm 27,73%; người Thái chiếm 3,9%; người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%; người Mông chiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh. Người Hoa trước đây sống tập trung ở Ngọc Lương, Yên Thủy; nhưng sau năm 1979 còn lại một số gia đình và hiện nay sống phân tán ở các xã Yên Trị, Ngọc Lương và Phú Lai huyện Yên Thủy. Ngoài ra, còn có một số người thuộc các dân tộc khác chủ yếu do kết hôn với người Hòa Bình công tác ở các tỉnh miền núi khác. 15,7% dân số sống ở đô thị và 84,3% dân số sống ở nông thôn.
Về đặc điểm kinh tế xã hội trong 5 năm qua: Trong năm năm, kinh tế của tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân hằng năm đạt 8,7%, gấp 1,3 lần so với mức trung bình toàn quốc (6,64%/năm); quy mô nền kinh tế được mở rộng, năm 2020 tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) đạt khoảng 54.832 tỷ đồng, gấp 1,65 lần so với năm 2015. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản; đến hết năm 2020, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 51,38%, dịch vụ chiếm 24,75%, nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 19,17%, thuế sản phẩm 4,7%. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 66,9 triệu đồng, gấp 1,66 lần so với năm 2015, cao hơn trung bình khu vực trung du và miền núi phía bắc và bằng khoảng 90% GDP bình quân đầu người của cả nước. Các chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước; tổng vốn đầu tư toàn xã hội; số doanh nghiệp, hợp tác xã thành lập, hoạt động có hiệu quả; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu; tỷ lệ đô thị hóa; tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đều đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết đại hội đề ra.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Kết quả thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình
Sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22/6/2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) được ban hành và có hiệu lực, Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình đã ban hành Quyết định số 103/QĐ-Ủy ban nhân dân ngày 15/10/2015 về Kế hoạch triển khai thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; tổ chức Hội nghị quán triệt việc thực hiện Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP trên phạm vi toàn tỉnh; tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các đối tượng là đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; công chức làm công tác pháp chế tại các sở, ban, ngành và công chức tư pháp cấp huyện. Qua đó, đã nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh về vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như những quy định mới của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Trong những năm qua, thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh; các ngành đã chú trọng thực hiện khá bài bản các quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã được quy định rất cụ thể trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Tuy nhiên, do nhận thức về vai trò quan trọng của công tác này của một số cơ quan tham mưu còn hạn chế, nhiều cơ quan khi tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chưa bám sát và tuân thủ đúng quy trình thực hiện theo quy định nên dẫn đến các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành đã không đảm bảo đúng thẩm quyền, sai về nội dung cũng như thể thức và kỹ thuật trình bày. Trong 05 năm trở lại đây, được sự quan tâm của Bộ Tư pháp, sự tập trung chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, việc tuân thủ quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã được các cơ quan tham mưu thực hiện khá là bài bản và có nhiều chuyển biến tích cực, cụ thể:
Một là, thực hiện pháp luật trong soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật Cơ quan được giao chủ trì xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh đã căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan trung ương, ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân để tổ chức soạn thảo Nghị quyết, Quyết định. Nội dung của các văn bản được soạn thảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng; đúng thẩm quyền, nội dung, thể thức và kỷ thuật trình bày văn bản; đảm bảo tính khả thi và phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương.
Những năm trước, nhiều cơ quan soạn thảo được giao chủ trì chưa định hình được việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật mà chủ yếu là theo cảm tính, lặp lại, sao chép văn bản của trung ương để đưa vào trong văn bản của tỉnh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, nhận thức về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan được giao soạn thảo văn bản đã được nâng lên rõ rệt. Hầu hết các văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đều dựa trên nội dung được giao quy định chi tiết tại Luật, Nghị định, Thông tư. Theo đó, chỉ soạn thảo những nội dung thuộc thẩm quyền quy định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Ví dụ, trong năm 2016 Thông tư của Bộ Tài chính quy định về phí, lệ phí được ban hành mới để phù hợp với Luật Phí, lệ phí năm 2015, cơ quan soạn thảo đã căn cứ để tham mưu Hội đồng nhân dân tỉnh soạn thảo Nghị quyết 40/2016/NQ-Hội đồng nhân dân ngày 07/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định về mức thu, miễn, giảm và tỷ lệ (%) trích, nộp những khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh trên địa bàn tỉnh đúng theo điều khoản giao Hội đồng nhân dân tỉnh quy định nội dung chi tiết tại Thông tư 250/2016/TT-BTC. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Hai là, thực hiện pháp luật trong tổ chức lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản Để đảm bảo tính khả thi của văn bản trong thực tiễn thi hành, bảo đảm pháp luật sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, công tác lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã được chú trọng và thực hiện nghiêm túc theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Sau khi dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định của Ủy ban nhân dân được xây dựng, các cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và các cơ quan, tổ chức có liên quan thông qua nhiều hình thức thiết thực, có hiệu quả như: Đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh và Trang thông tin điện tử của đơn vị soạn thảo hoặc tổ chức Hội nghị lấy ý kiến. Cơ bản dự thảo khi chuyển đến Sở Tư pháp để thẩm định đã được tổ chức lấy ý kiến. Một số dự thảo còn được tổ chức lấy ý kiến nhiều lần, đảm bảo cho các văn bản sau khi được ban hành phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống.
Ba là, về thực hiện pháp luật trong thẩm định dự thảo văn bản
Đã được lãnh đạo tỉnh quan tâm, chú trọng, các văn bản quy phạm pháp luật đều phải được thẩm định trước khi trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh ký ban hành. Trong giai đoạn 2015-2020 đã có hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật được chuyển đến Sở Tư pháp thẩm định. Với đầu mối là cơ quan kiểm soát về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Sở Tư pháp đã có nhiều đổi mới trong công tác tổ chức thẩm định dự thảo, không ngừng nâng cao về chất lượng, đảm bảo về thời gian, tiến độ thực hiện. Đối với nhiều dự thảo có phạm vi điều chỉnh rộng, nội dung phức tạp hoặc phát hiện có nhiều nội dung không phù hợp, Sở Tư pháp tổ chức họp các đơn vị liên quan để trao đổi và thống nhất với cơ quan soạn thảo. Vì vậy, các ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp được các cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, đánh giá cao, góp phần nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, hạn chế các sai sót về thẩm quyền, nội dung, thể thức kỷ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt là trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua, các cơ quan, đơn vị phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của mình trong việc soạn thảo, ban hành, thực thi văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh; kịp thời rà soát với các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên và tình hình thực tế của địa phương để tham mưu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan, đơn vị phát huy vai trò, thực hiện đúng các quy định về trình tự, thủ tục (từ khâu đề nghị, soạn thảo, lấy ý kiến dự thảo, thẩm định, trình thông qua dự thảo và ký ban hành …)
Từ đó hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh từng bước được kiện toàn và đi vào nề nếp. Việc thực hiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật 2015 đảm bảo theo trình tự, thủ tục, được ban hành một cách chặt chẽ, có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức; hạn chế tối đa các sai sót về chính sách, pháp lý.
Về hình thức văn bản luôn được quan tâm thực hiện nghiêm chỉnh. Tuy nhiên một số cơ quan tham mưu đôi khi vẫn còn chưa nhận định rõ các nội dung cấu thành văn bản quy phạm pháp luật, gây nhầm lẫn trong quá trình tham mưu soạn thảo, dẫn đến chất lượng văn bản tham mưu chưa cao, cho nên phải sửa nhiều lần khi được thẩm tra và xem xét thông qua nghị quyết, quyết định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Tóm lại, trong thời gian qua thực hiện quy định về thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh được ban hành theo đúng quy định của Luật và Nghị định hướng dẫn. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Hòa Bình ban hành đã điều chỉnh cơ bản các mặt của đời sống chính trị, kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của địa phương. Các văn bản ban hành được triển khai thực hiện thống nhất; đồng thời, có tác động rất lớn, tạo hành lang pháp lý trong việc bảo đảm hoạt động hiệu quả của bộ máy nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương.
Để đạt được những kết quả tích cực trong thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 31/2017/QĐ-UBND ngày 19/10/2017 quy định một số nội dung có liên quan đến công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Quyết định số 32/2017/QĐ-UBND ngày 19/10/2017 ban hành Quy chế kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh. Ngày 30/3/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-UBND ngày về tăng cường công tác tham mưu xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, trong đó yêu cầu Thủ trưởng các Sở, Ban, Ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xác định công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong chương trình công tác của ngành, địa phương mình. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; ban hành Danh mục Quyết định quy định chi tiết điều, khoản, điểm văn bản cấp trên giao Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết; Thường trực Hội đồng nhân dân ban hành văn bản chấp thuận xây dựng Nghị quyết quy định chi tiết điều, khoản, điểm văn bản cấp trên giao Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chi tiết; trên cơ sở đó chỉ đạo các sở, ban, ngành chủ động, tích cực trong việc xây dựng dự thảo. Đồng thời, giao Sở Tư pháp thường xuyên rà soát, tích cực đôn đốc, hướng dẫn các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện tham mưu cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền bảo đảm tiến độ, chất lượng theo yêu cầu đề ra.
Thường xuyên chỉ đạo Sở Tư pháp thực hiện công tác thẩm định, góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của tỉnh phong tục, tập quán địa phương để văn bản có tính khả thi cao sau khi ban hành. Trong năm 2018, Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức giám sát tình hình thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Sở Tư pháp và một số đơn vị trên địa bàn về tình hình triển tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh, qua đó đã phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong công tác xây dựng và ban hành văn bản, đồng thời kiến nghị các biện pháp xử lý đối với một số văn bản quy phạm pháp luật ban hành không phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.
Từ 01/7/2016 đến năm 2020, Sở Tư pháp đã tiến hành thẩm định 255 dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Qua thẩm định, lấy ý kiến nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 196 quyết định; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua 59 nghị quyết.Đến thời điểm hiện nay, công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh càng ngày càng đi vào nề nếp; chất lượng dự thảo văn bản ngày càng được nâng cao, về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu quản lý; góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh; kịp thời xử lý các vướng mắc, bất cập nảy sinh từ thực tiễn quản lý, điều hành tại địa phương.
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Việc triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh đã được các Sở, ban, ngành; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố quan tâm thực hiện. Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được nâng lên, kịp thời điều chỉnh các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, giải quyết được những yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển. Các văn bản được ban hành phần lớn đúng thẩm quyền, đúng quy trình, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước ở địa phương.
Quá trình thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh có những thực trạng sau:
2.2.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh tại tỉnh Hòa Bình
Qua thực hiện cho thấy, các văn bản quy phạm pháp luật cơ bản được ban hành kịp thời, đảm bảo chất lượng của văn bản, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và quản lý nhà nước ở địa phương. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh:
các dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh được xem xét, thông qua theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét thông qua nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định phương thức thông qua quyết định, cụ thể xem xét, thông qua tại phiên họp của Ủy ban nhân dân hoặc lấy ý kiến của thành viên Ủy ban nhân dân (đối với những văn bản không thảo luận tại phiên họp thường kỳ của Ủy ban nhân dân). Sau khi giải trình, tiếp thu ý kiến của thành viên Ủy ban nhân dân, cơ quan soạn thảo hoàn thiện hồ sơ trình Ủy ban nhân dân xem xét, quyết định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Về thực thi văn bản và hiệu quả của văn bản khi ban hành: Các điều kiện bảo đảm cho việc triển khai thực hiện theo đúng yêu cầu của từng lĩnh vực. Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh khi triển khai thực hiện trên thực tế có giá trị pháp lý cao. Các quy định sát với điều kiện thực tiễn tại địa phương. Ít có quy định chồng chéo, mẫu thuẫn hoặc không phù hợp với điều kiện thực tiễn và trái với các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Công tác chấp hành việc soạn thảo, ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
Đa số dự thảo nghị quyết trước khi trình Hội đồng nhân dân và quyết định quy phạm pháp luật trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét ban hành đều được Sở Tư pháp thẩm định theo đúng quy định;
Nội dung các văn vản ban hành đều đảm bảo không trái với Hiến pháp và các quy định hiện hành của pháp luật, và được thực hiện theo đúng trình tự về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
Các văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành cơ bản đảm bảo tính thực thi, áp dụng phù hợp với điều kiện, thực tiễn của địa phương. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình triển khai, thi hành Luật vẫn còn một số khó khăn, bất cập khiến cho quy trình xây dựng, soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương gặp không ít khó khăn; trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn có một số văn bản ban hành chậm tiến độ so với đề nghị xây dựng văn bản, nguyên nhân chủ yếu là do có sự thay đổi căn cứ pháp lý do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành hoặc đang trong quá trình xây dựng dự thảo văn bản phát sinh nhiều nội dung phức tạp cần kéo dài thời gian để nghiên cứu, chỉnh lý, thời gian thảo luận, lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trước khi trình Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thông qua, ban hành.
Một số cơ quan soạn thảo chưa tuân thủ nghiêm bước lập đề nghị xây dựng nghị quyết. Một số địa phương cho rằng, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ quy định về biện pháp tổ chức thi hành văn bản của cấp trên, không quy định chính sách mới, nhưng vẫn phải lập đề nghị xây dựng văn bản, làm hạn chế khả năng phản ứng nhanh của chính quyền địa phương đối với những vấn đề cấp bách của xã hội.
Bên cạnh đó, bước lập đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng gặp phải tình trạng tương tự. Có những văn bản đã thực hiện các bước soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, gửi thẩm định khi chưa lập đề nghị xây dựng quyết định. Từ đó dẫn đến việc Sở Tư pháp phải làm văn bản trả hồ sơ và yêu cầu thực hiện lại theo đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Luật năm 2015. Vẫn còn nhiều đề nghị xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật địa phương rập khuôn, máy móc, nặng nhiều về hình thức. Cá biệt có những đề nghị sai trình tự, thủ tục luật định. Phần lớn các đề nghị xây dựng dự thảo văn bản dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên, còn chủ quan, không dựa trên phân tích đánh giá khách quan tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương nên chưa phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do đó, chưa phát huy được khả năng dự liệu các vấn đề phát sinh trong xã hội. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Việc đánh giá tác động một số chính sách còn mang tính hình thức, chưa được các cơ quan có thẩm quyền chú trọng, ý kiến của các đối tượng chịu tác động trong các phần đánh giá tác động vẫn còn khá mờ nhạt. Bởi nếu quy định như hiện nay, quy trình ban hành chính sách mất rất nhiều thời gian, việc đánh giá chính sách khó thực hiện, nội dung cần đánh giá tác động còn dàn trải, chưa phù hợp với tính chất của văn bản. Khái niệm “chính sách” cũng chưa được định nghĩa để giới hạn những vấn đề cần phải đánh giá tác động. Do vậy, có những Sở, Ngành khi xây dựng đề xuất ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật nội dung còn sơ sài, thiếu thông tin, không đủ cơ sở pháp lý để khẳng định sự cần thiết phải ban hành văn bản; đặc biệt là đề xuất về xây dựng chính sách trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân do Ủy ban nhân dân tỉnh trình, chưa đáp ứng đúng các yêu cầu về trình tự, thủ tục, nội dung.
Việc xác định văn bản quy phạm pháp luật và văn bản cá biệt; trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật có lúc, có việc chưa đảm bảo; công tác phối hợp có lúc chưa chặt chẽ, chất lượng chưa cao; nguồn nhân lực cho công tác xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn mỏng, thường xuyên biến động.
- Khó khăn, vướng mắc trong việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật:
Trình độ, năng lực công tác soạn thảo của một số cán bộ, công chức còn hạn chế, chủ yếu là thừa hành theo văn bản chỉ đạo của cấp trên. Vậy nên một số văn bản do chính quyền địa phương ban hành thường là sao chép, nhắc lại các quy định trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Bên cạnh đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng khi tiến hành soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật là khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương liên quan đến dự thảo; thu thập và xử lý thông tin, tư liệu có liên quan đến dự thảo. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều khi các hoạt động này không được quan tâm đúng mức và còn nặng tính hình thức. Không ít trường hợp do thiếu nhân lực, kinh phí mà việc khảo sát, thu thập số liệu bị coi nhẹ và làm tắt.
Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động lấy ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:
Mặc dù Luật năm 2015 đã quy định rất chi tiết, nhưng một số cơ quan chủ trì soạn thảo chưa nhận thức đầy đủ được tầm quan trọng của việc lấy ý kiến đánh giá, còn xem nhẹ việc tổ chức lấy ý kiến; cách thức chưa hiệu quả, thiếu công khai, minh bạch; nội dung lấy ý kiến chưa chính xác; tiếp thu ý kiến phản hồi còn tùy nghi. Ngoài ra, đối với khâu phối hợp lấy ý kiến các cấp, các ngành liên quan và nhất là những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản đôi khi chưa hiệu quả. Các cơ quan được lấy ý kiến đóng góp chỉ góp ý mang tính hình thức hoặc không góp ý, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng, phải đề nghị điều chỉnh, bổ sung dự thảo nhiều lần. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Việc tổ chức phản biện đối với văn bản quy phạm pháp luật do ủy ban MTTQ Việt nam tỉnh triển khai thực hiện chưa được nhiều, bởi vì các cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản còn thực hiện việc gửi văn bản đến cơ quan Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh còn chưa thường xuyên và chưa nhiều do vậy công tác phối hợp để tổ chức phản biện đối với văn bản quy phạm pháp luật còn vướng mắc; mặt khác cơ chế, chế tài để quy định xử lý nội dung này chưa được đề cập rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm một cách cụ thể.
- Khó khăn, vướng mắc trong việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật
Còn tồn tại trường hợp dự thảo văn bản gửi thẩm định không đúng quy định làm ảnh hưởng đến thời gian cũng như gây bị động cho cơ quan thực hiện chức năng thẩm định. Nội dung thẩm định phần lớn về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản chứ chưa đi sâu phân tích nội dung. Xuất phát từ chất lượng của một số dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chưa cao nên khi tổ chức thẩm định, thẩm tra dự thảo mất nhiều thời gian để góp ý, chỉnh lý cả về nội dung và kỹ thuật trình bày, dẫn đến chậm tiến độ theo yêu cầu. Cá biệt, trong cuộc họp thẩm định chất lượng văn bản, còn có đại biểu nghiên cứu văn bản chưa kỹ do vậy ảnh hưởng không ít trong quá trình thảo luận.
Trách nhiệm đề nghị xây dựng văn bản của một số đơn vị chưa thực sự chủ động, chủ yếu chờ vào chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh;
Một số hồ sơ xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn chưa bảo đảm theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; vẫn còn một số quy định khi triển khai thực hiện chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 mới chỉ quy định thành lập Hội đồng thẩm định để thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, chưa quy định về thành lập Hội đồng thẩm định để thẩm định dự thảo quyết định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Chính vì vậy, quá trình thực hiện phối hợp trong thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh chưa mang lại hiệu quả, dẫn đến chất lượng thẩm định văn bản chưa cao.
Luật năm 2015 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền ban hành quyết định để quy định chi tiết, điều khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Thiết nghĩ, việc giao cho cấp dưới quy định chi tiết văn bản của cấp trên sẽ phù hợp khi cơ quan được giao là một cơ quan có thẩm quyền chung trong cả nước (Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật) hay cơ quan chuyên môn ở trung ương (Quốc hội, Chính phủ giao cho bộ quy định chi tiết luật, nghị định), vì như vậy vừa đạt được mục đích của ủy quyền, vừa đảm bảo được sự thống nhất của pháp luật. Còn việc Luật năm 2015 trao quyền cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành văn bản để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên chưa thực sự phù hợp. Bởi có thể đưa ra lý do cho việc ủy quyền này là xuất phát từ sự đặc thù riêng biệt về địa lý, dân cư, điều kiện kinh tế, xã hội… của từng địa phương nên cơ quan nhà nước cấp trên trao quyền chủ động cho địa phương quy định cụ thể. Tuy nhiên, nếu giải thích như vậy sẽ trùng lặp giữa khoản 1 và khoản 4 Điều 27. Còn nếu việc ủy quyền xuất phát từ lý do khác, thì có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật từ trung ương đến địa phương, bởi khi trao quyền quy định chi tiết cho địa phương, thì hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng các địa phương quy định không giống nhau về cùng một vấn đề được giao.
2.2.2. Những nguyên nhân của khó khăn, hạn chế rút ra từ thực tiễn thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Hòa Bình Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Từ thực tế việc thực hiện pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua cho thấy, một số đơn vị thực hiện chức năng tham mưu xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa quan tâm và chú trọng đối với công tác này.
Trách nhiệm phối hợp triển khai thực hiện của một số cơ quan, đơn vị có liên quan chưa thống nhất, chặt chẽ. Chất lượng soạn thảo, tham mưu của một số đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế.
Việc lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được các cơ quan thực hiện theo đúng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 127 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Việc xem xét, kiểm tra việc đề nghị ban hành quyết định được Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Tư pháp thực hiện theo đúng quy định trước khi báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định; Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua.
Về việc lập danh mục văn bản quy định chi tiết
Theo quy định tại Điều 28 Nghị định 34/2016/NĐ-CP thì việc lập danh mục nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chi tiết Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Các địa phương sẽ lập trên cơ sở thông báo của Bộ Tư pháp (điểm c khoản 2 Điều 28 Nghị định 34/2014/NĐ-CP). Tuy nhiên, đến nay Bộ Tư pháp chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Ngoài ra, nếu chỉ thực hiện theo quy định thì văn bản quy định chi tiết Nghị định, Thông tư không được lập trong danh mục, mà thực tế việc giao địa phương quy định chi tiết chủ yếu trong Nghị định, Thông tư. Như vậy, khó khăn trong việc theo dõi, hướng dẫn, quản lý, đôn đốc, nhắc nhở các sở ngành tham mưu cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ quy định chi tiết điều khoản, điểm trong văn bản cấp trên. Mặt khác, chưa có một quy định cụ thể về trình tự, thủ tục lập danh mục và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan trong việc lập danh mục quy định chi tiết. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Về quy định thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành
Tại khoản 4 Điều 14 của Luật năm 2015 nghiêm cấm việc “Quy định thủ tục hành chính trong….. nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật.”
Tuy nhiên, tại Điều 27 Luật năm 2015 quy định Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản trong trường hợp: “quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương”;tại Điều 28 Luật năm 2015 quy định Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền “quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương” và để thực hiện được các biện pháp, chính sách này trong thực tiễn thì cơ bản phải có quy định về thủ tục hành chính nhưng nếu quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương thì lại dẫn đến vi phạm khoản 4 Điều 14 Luật 2015.
Điều này gây rất nhiều khó khăn cho địa phương trong việc xây dựng, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời đã triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong trường hợp cải tiến thủ tục hành chính theo hướng tích cực, phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương, chẳng hạn như rút ngắn thời hạn giải quyết vụ việc, giảm các công đoạn thủ tục giải quyết so với các quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương.
- Về thực hiện quy trình lập đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Tại Điều 27 Luật năm 2015 đã quy định cụ thể về 04 trường hợp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành Nghị quyết đều phải lập đề nghị xây dựng (Điều 111 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP chỉ quy định việc lập đề nghị xây dựng chỉ phải thực hiện đối với các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật. Như vậy, căn cứ khoản 4 Điều 4 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì đối với Nghị quyết để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật năm 2015 không phải thực hiện quy trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Việc quy định không thống nhất giữa Điều 111 của Luật và khoản 4 Điều 4 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP khiến các cơ quan tham mưu soạn thảo và các cấp có thẩm quyền tại địa phương gặp khó khăn trong việc xác định về quy trình xây dựng, soạn thảo và ban hành văn bản. Thực tế hiện nay, việc lập đề nghị xây dựng nghị quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 27 tại địa phương là chưa thực hiện được vì trước kỳ họp của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã dự kiến nội dung trình sang Hội đồng nhân dân (các nội dung này đều do cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tham mưu), trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân phân công cơ quan chuyên môn soạn thảo xây dựng dự thảo nghị quyết. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Một trong những khó khăn, vướng mắc trong quy trình đề nghị xây dựng chính sách đó là việc đề nghị xây dựng chính sách đối với các chính sách đặc thù tại địa phương (khoản 2, 3, 4 Điều 27 của Luật) là quy trình mới, mang tính kỹ thuật cao theo quy định của Luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Tuy nhiên, các nội dung về báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong Nghị định số 34/2016/NĐ-CP mới chỉ mang tính nguyên tắc, quy định chung, chưa cụ thể nên rất khó thực hiện như: Phương pháp đánh giá tác động chính sách trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; so sánh các chi phí về lợi ích… dẫn đến các cơ quan chuyên môn khó khăn khi triển khai thực hiện dẫn đến chậm tiến độ trong việc tham mưu cho Hội đồng nhân dân quyết định các chính sách đặc thù của địa phương. Vừa qua, Sở lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hòa Bình tham mưu cho Ủy ban nhân dân xây dựng 02 chính sách mang tính đặc thù tại địa phương (khoản 4 Điều 27 Luật 2015) để trình Hội đồng nhân dân thông qua, đó là chính sách cho những người làm công tác quản trang; chính sách đối với người làm công tác cộng tác viên giảm nghèo…. trong quá trình đánh giá tác động của chính sách còn gặp khó khăn vì chưa có văn bản nào hướng dẫn việc đánh giá cụ thể như thế nào.
Mặt khác theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đối với Nghị quyết quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27 thì cơ quan soạn thảo phải thực hiện quy trình chính sách: Thực hiện từ Điều 112 đến Điều 117 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trước khi thực thực hiện quy trình soạn thảo. Quy trình chính sách bao gồm các bước như sau:
- Xây dựng nội dung chính sách;
- Đánh giá tác động của chính sách;
- Xây dựng dự thảo Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Nghị quyết;
- Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng Nghị quyết;
- Thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết;
- Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết;
- Trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét đề nghị xây dựng Nghị quyết, phân công soạn thảo và xác định thời hạn trình Hội đồng nhân dân. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Sau khi thực hiện xong các bước nêu trên, nếu đề nghị xây dựng Nghị quyết được Thường trực Hội đồng nhân dân chấp thuận thì thực hiện tiếp theo quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật từ Điều 118 đến Điều 126 của Luật.
Tuy nhiên, trên thực tế việc đánh giá tác động chính sách được các cơ quan soạn thảo thực hiện lồng ghép trong quá trình xây dựng văn bản nhưng chưa đúng quy trình, thủ tục vì những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành những chính sách đặc thù của tỉnh thường có nội dung ngắn và thực hiện theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nên việc lập đề nghị xây dựng Nghị quyết thực hiện theo ý kiến chỉ đạo và thường bỏ qua bước lập Đề nghị xây dựng Nghị quyết trong quy trình chính sách (gửi Sở Tư pháp thẩm định Đề nghị thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định), thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh và trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét Đề nghị).
Thứ hai, theo quy định của Luật thì cần phải xây dựng nội dung chính sách sau đó đưa chính sách đó đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh rồi mới trình Thường trực Hội đồng nhân dân chấp thuận. Nếu chính sách đó được chấp thuận thì cơ quan soạn thảo mới tiến hành xây dựng dự thảo Nghị quyết và thực hiện các quy trình tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế do nội dung chính sách của địa phương thường ngắn gọn nên cơ quan soạn thảo tiến hành xây dựng luôn dự thảo Nghị quyết, đánh giá tác động chính sách, tổ chức lấy ý kiến góp ý, thẩm định… và bỏ qua giai đoạn xây dựng chính sách như quy định của Luật.
Qua thực tế theo dõi việc ban hành và triển khai thực hiện các chính sách pháp luật tại địa phương, vấn đề quan trọng trọng nội dung này là cần phải điều chỉnh quy định đánh giá tác động chính sách ở địa phương theo hướng lồng ghép đánh tác động chính sách vào quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm đơn giản hóa thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tiết kiệm thời gian, công sức cho các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, không tách riêng thành 02 quy trình như quy định của Luật hiện hành. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 thì đối với những đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 1 Điều 27) thì không phải thực hiện quy trình chính sách theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 2 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy định về soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định “đánh giá tác động văn bản trong tất cả các trường hợp kể cả trường hợp dự thảo Quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên”. Như vậy, quy trình đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và quy trình đánh giá tác động chính sách trong soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thống nhất với nhau.
Về ban hành văn bản bãi bỏ: Theo khoản 1 Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Như vậy, theo quy định mới của Luật năm 2015 thì văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh) là văn bản quy phạm pháp luật.
Thực tiễn triển khai áp dụng quy định này gặp một số khó khăn như sau:
Một là, phần lớn văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để quy định chi tiết điều, khoản điểm được cơ quan Trung ương giao về cho địa phương ban hành, khi các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương làm căn cứ pháp lý ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh không còn phù hợp (bị sửa đổi, bổ sung, thay thế) thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cũng không còn phù hợp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Trong trường hợp nếu văn bản không còn đối tượng điều chỉnh hoặc một phần đối tượng điều chỉnh không còn, hoặc một phần hoặc toàn bộ nội dung không còn phù hợp với căn cứ pháp lý hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội mà không cần thiết phải ban hành văn bản mới thay thế thì ban hành văn bản bãi bỏ (bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản). Như vậy, có thể thấy nội dung của văn bản bãi bỏ rất đơn giản, chỉ cần rà soát các quy định hiện hành của Trung ương thì có thể xác định văn bản đó có cần thiết bãi bỏ hay không bãi bỏ.
Hai là, nếu văn bản bãi bỏ là hình thức văn bản quy phạm pháp luật thì phải ban hành theo trình tự thủ tục của một văn bản quy phạm pháp luật như: Đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, đăng tải, lấy ý kiến, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua. Trong khi nội dung văn bản bãi bỏ phần lớn chỉ có 2 điều: Một điều quy định về bãi bỏ văn bản nào đó, một điều quy định về tổ chức thực hiện. Đồng thời, kinh phí xây dựng cho một văn bản quy phạm pháp luật theo Thông tư liên tịch số 338/2016/TTLT-BTC-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2016 quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật thì mức chi cho một văn bản bãi bỏ là 10 triệu đồng gây tốn kém ngân sách nhà nước.
Về thực hiện nội dung cấm quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (khoản 4 Điều 14 Luật):
Khoản 4 Điều 14 Luật quy định những hành vi bị nghiêm cấm ”… Quy định thủ tục hành chính trong thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật.”
Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 thì nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không được quy định thủ tục hành chính trừ trường hợp được giao trong luật.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do đó, trong thực tiễn áp dụng quy định này có một số vướng mắc như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Một số văn bản dưới luật giao hoặc qua thực tế tại địa phương phát sinh một số nội dung cần quy định thủ tục hành chính để triển khai thực hiện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương (như ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ xúc tiến thương mại, ban hành thủ tục xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC …). Trong trường hợp này nếu địa phương không quy định thủ tục để tổ chức, cá nhân nhận được mức hỗ trợ sẽ dẫn đến việc tùy tiện trong thực hiện, không đảm bảo tính công khai, minh bạch; đồng thời có một số cơ quan tự quy định về mẫu đơn, tờ khai và trình tự thủ tục để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân. Còn nếu quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thì lại trái với khoản 4 Điều 14 Luật (chỉ cho phép quy định trong trường hợp được luật giao).
- Về thẩm định dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh:
Thẩm định dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương, thông thường Hội đồng nhân dân tỉnh chỉ quyết định và thông qua các Nghị quyết tại kỳ họp thường lệ và kỳ họp chuyên đề trong năm. Hơn nữa, thời gian của mỗi kỳ họp rất hạn chế (khoảng 2, 3 ngày) với khối lượng công việc rất lớn nên trước mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, dự thảo Nghị quyết được gửi Sở Tư pháp thẩm định cùng một thời gian (thường là sát kỳ họp) và phải tiến hành đồng thời với các nhiệm vụ khác cũng phải đảm bảo thời gian theo quy định, trong khi biên chế của phòng nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp không nhiều (hiện nay là 04 biên chế). Do áp lực về tiến độ nên dễ dẫn đến việc thẩm định khó đảm bảo chất lượng.
- Vấn đề văn bản quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố): Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 152 của Luật năm 2015 thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, các văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương được ban hành trên cơ sở phân cấp, ủy quyền và thường sẽ có hiệu lực chậm hơn so với thời điểm có hiệu lực của văn bản của các cơ quan cấp trên. Đặc biệt là thời gian gần đây, các văn bản về cơ chế chính sách, về chế độ, mức chi…. do Bộ Tài chính quy định thường giao cho địa phương “căn cứ tình hình thực tế và ngân sách địa phương Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quy định cụ thể mức chi...” nhưng từ khi có văn bản của Trung ương có hiệu lực thi hành đến thời điểm dự thảo văn bản và thực hiện các bước của quy trình soạn thảo, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương theo quy định thì dẫn đến nhiều trường hợp văn bản địa phương có hiệu lực muộn hơn văn bản ở trung ương nhưng không được quy định hiệu lực trở về trước (Ví dụ: Văn bản địa phương ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/6/2018 nhưng chính sách của Trung ương có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Trường hợp này làm ảnh hưởng đến các quyền của các đối tượng được áp dụng. Các địa phương thường vướng mắc và lúng túng khi áp dụng nguyên tắc này do phải tuân thủ theo quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù nội dung này đã được Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã có tháo gỡ, quy định linh hoạt trong việc tổ chức “họp chuyên đề hoặc họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất”. Tuy nhiên đối với nội dung ít mà vẫn phải tổ chức các quy trình như kỳ họp bình thường thì gây lãng phí; mặt khác về quy trình cho việc soạn thảo, xây dựng nghị quyết, quyết định cũng cần phải đảm bảo quy định như lập chương trình, thẩm định, lấy ý kiến nhân dân, thẩm tra… do vậy, khó có thể đảm bảo được thời gian theo quy định; nếu thực hiện không có bài bản trong thời gian gấp rút để đảm bảo thời hiệu của văn bản thì không tránh khỏi những sau sót trong quá trình tham mưu, thẩm định (do thời gian rất ngắn); cho nên việc quy định hiệu lực trở về trước của văn bản là một nội dung cần phải quy định làm sao cho phù hợp với từng nội dung cụ thể, để đảm bảo các chính sách không bị thiếu sót trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện.
- Về căn cứ pháp lý ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
Khoản 1, Điều 61 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định: “Căn cứ ban hành văn bản là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực hoặc đã được công bố hoặc ký ban hành chưa có hiệu lực nhưng phải có hiệu lực trước hoặc cùng thời điểm với văn bản được ban hành. Căn cứ ban hành văn bản bao gồm văn bản quy phạm pháp luật quy định thẩm quyền, chức năng của cơ quan ban hành văn bản đó và văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn quy định nội dung, cơ sở để ban hành văn bản”. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Như vậy, căn cứ pháp lý để ban hành văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc phải là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn mà không được căn cứ vào văn bản áp dụng pháp luật hoặc văn bản cá biệt có chứa quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trên.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay việc lấy văn bản hành chính làm căn cứ pháp lý cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nhiều trường hợp là rất cần thiết. Chẳng hạn như có nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải căn cứ vào các văn bản không phải là quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương (như các quyết định về phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về chương trình việc làm, dạy nghề mang tính giai đoạn, hướng dẫn về ngân sách, đầu tư, thuế…. nhưng có nội dung chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể có giá trị làm cơ sở pháp lý về mặt nội dung cho các địa phương ban hành các thể chế, chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể. Cho nên nếu không căn cứ vào các văn bản này thì việc ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thiếu tính thuyết phục và là một thiếu sót trong việc xác định cơ sở pháp lý về nội dung.
Ví dụ: Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 có quy định:Căn cứ Kế hoạch vốn trung hạn giai đoạn 2016-2020 đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt, điều kiện thực tế của các địa phương và nhu cầu hỗ trợ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho từng nội dung. Như vậy, nếu không căn cứ vào Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh không có cơ sở trong việc ban hành mức hỗ trợ theo quy định, trường hợp đưa Quyết định 1600/QĐ-TTg làm cơ sở cho việc ban hành thì vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 61 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
Như vậy theo quy định Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, để thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo trình tự, nội dung thì việc chính quyền địa phương cấp tỉnh phải có những vận dụng khoa học và sát thực với tình hình thực tiễn địa phương thì hiệu quả việc trong việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ được nâng lên.
Nhìn chung chính quyền địa phương cấp tỉnh nói chung và tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua nhận thức về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày được nâng lên từ lãnh đạo, cho đến các cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu, giúp việc. Đặc biệt là trong những năm qua tỉnh Hòa Bình đã ban hành Quyết định số 31/2017/QĐ-Ủy ban nhân dân ngày 19/10/2017 quy định một số nội dung có liên quan đến công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Quyết định số 32/2017/QĐ-Ủy ban nhân dân ngày 19/10/2017 ban hành Quy chế kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh. Từ khi ban hành các quy định cụ thể trong việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương đã có những chuyển biến rõ rệt trong việc thực hiện, hạn chế các chồng chéo, mâu thuẫn góp phần nâng cao tính thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tránh được sự tùy nghi trong việc tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, từ đó đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có giá trị pháp lý cao, phù hợp với thực tiễn đời sống của người dân địa phương.
Tuy nhiên với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay, để chất lượng các văn bản ngày càng được phát huy hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn thì việc luôn luôn tìm tòi, và đổi mới cách thức và quy trình thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cáp tỉnh là một trong những nội dung cần được quan tâm để giải quyết tối đa những khó khăn bất cập trong triển khai, thực hiện. Do vậy đòi hỏi chính quyền địa phương cấp tỉnh cần không ngừng nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc cải cách thể chế, đổi mới việc thực hiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật để đáp ứng tốt nhất công tác quản lý nhà nước và xã hội trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về ban hành văn bản quy phạm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về ban hành văn bản quy phạm
