Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quan điểm, Giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Quan điểm xuyên suốt trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là phải bám sát đường lối chủ trương của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền; phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa; trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, có sự chuyển hướng chiến lược từ xây dựng sang hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, theo đó, nhất quán một số quan điểm sau đây.
4.1.1. Gắn với yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp quyền, tinh thần Hiến pháp 2013, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Nhìn từ góc độ công tác kiểm tra văn bản, Hiến pháp năm 2013 đặt ra hàng loạt vấn đề mới trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam, tác động sâu sắc đến việc tổ chức triển khai công tác kiểm tra văn bản của cả hệ thống cơ quan kiểm tra văn bản từ trung ương đến cơ sở.
Tiếp tục khẳng định quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trong bối cảnh hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, Hiến pháp năm 2013 đã quy định nhiều nội dung mới về: nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước; đề cao dân chủ, thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, ngăn chặn sự tùy tiện “cắt xén” quyền con người, quyền công dân từ phía Nhà nước; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân phải do Luật định (không được ủy quyền lập pháp); quy định rõ ràng, đầy đủ hơn về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước; khẳng định quan điểm tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc và các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên trong đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng tiếp tục thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu, rộng hơn; đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng một nhà nước hiệu quả, có cơ cấu tổ chức phù hợp và một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phù hợp với xu hướng phổ biến trên thế giới. Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp; cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định (Điều 119). Với yêu cầu bảo vệ Hiến pháp, việc tổ chức, triển khai thi hành pháp luật, trong đó có giám sát, kiểm tra bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải được coi là nhiệm vụ trọng yếu, có tính quyết định trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Tinh thần Hiến pháp năm 2013 đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ xây dựng pháp luật sang tổ chức thi hành pháp luật. Trong điều kiện đó, chúng ta chuyển trọng tâm chỉ đạo chiến lược từ xây dựng thể chế sang nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật trên các lĩnh vực kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, quản lý xử lý vi phạm hành chính; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật; đề cao công tác đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật. Các hoạt động xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản, pháp điển, kiểm soát thủ tục hành chính, quản lý xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật cần phải được tổ chức thực hiện theo chu trình, quy trình đồng bộ, thống nhất tại Bộ Tư pháp, các tổ chức pháp chế Bộ, ngành và tư pháp địa phương. Hiến pháp năm 2013 đặt ra yêu cầu rà soát, sửa đổi toàn bộ hệ thống pháp luật cho phù hợp. Kết quả rà soát cho thấy một số lượng lớn luật, pháp lệnh đang có hiệu lực phải được sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013, đồng thời cũng đặt ra nhu cầu sửa đổi, thay thế một số lượng lớn các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh. Thực tế này tiềm ẩn nguy cơ gia tăng các văn bản vi hiến; tính chất vi hiến ngày càng phức tạp, khó nhận diện, yêu cầu phải tăng cường năng lực giám sát, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản. Trong hệ thống pháp luật hiện nay, các văn bản của cơ quan hành chính, nhất là văn bản của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương chiếm một số lượng lớn, quy định chi tiết các nội dung được giao trong các văn bản cấp trên hoặc biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang bộ chứa đựng nhiều quy định tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân, vì vậy, yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp đối với nhóm văn bản này là vô cùng quan trọng, đồng thời có nhiều khó khăn, thách thức. Phương châm chuyển mạnh từ xây dựng pháp luật sang tổ chức thi hành pháp luật không có nghĩa là coi nhẹ công tác xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, mà yêu cầu về chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật đã, đang và sẽ tiếp tục được đặt lên hàng đầu, đó cũng chính là giải pháp hướng tới việc ít phải kiểm tra, hạn chế tình trạng văn bản có dấu hiệu trái pháp luật phải xử lý. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Có thể nhận định, trong những năm tới, hệ thống pháp luật của Việt Nam sẽ có bước đổi mới căn bản để phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Hệ thống pháp luật, theo cách hiểu truyền thống là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Bối cảnh hiện nay, hệ thống pháp luật cần được tiếp cận toàn diện, đầy đủ hơn, theo đó ngoài hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, còn bao gồm các thiết chế, nguồn nhân lực bảo đảm tổ chức, triển khai thi hành pháp luật. Vì vậy, các giải pháp bảo đảm chất lượng của hệ thống pháp luật cần được xem xét, đánh giá từ nhiều phương diện, kết nối chặt chẽ các khâu đoạn, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả chu trình từ hoạch định, xây dựng chính sách, thể chế hóa chính sách vào pháp luật (soạn thảo, ban hành văn bản), giám sát, kiểm tra (hậu kiểm văn bản) đến tổ chức, triển khai thi hành pháp luật.
Hiến pháp năm 2013 quy định, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp (Điều 94). Trong một Chính phủ hành pháp theo đúng nghĩa, Bộ Tư pháp có vai trò quan trọng không chỉ trong xây dựng, kiểm soát việc ban hành, chính sách, pháp luật mà còn có vai trò “hạt nhân” đầu mối của bộ máy nhà nước bảo đảm hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật. Với vị trí là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp có vai trò, trách nhiệm đặc biệt quan trọng và có điều kiện thuận lợi nhất giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức thi hành Hiến pháp, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phòng, chống “lợi ích nhóm” trong tham mưu, đề xuất chính sách và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bộ Tư pháp có trách nhiệm làm đầu mối, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ triển khai thi hành Hiến pháp, trong đó có nhiệm vụ kiểm tra, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, Bộ Tư pháp có vai trò mang tính quyết định trong việc bảo đảm để Bộ/Ngành Tư pháp giữ vai trò chủ trì giúp Chính phủ, Quốc hội, các cấp chính quyền địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật của đất nước; tổ chức pháp chế bộ, ngành, cơ quan tư pháp địa phương có vai trò chủ trì giúp các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch về xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật của Bộ, ngành và địa phương. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Những nội dung mới của Hiến pháp đòi hỏi phải tăng cường năng lực, kiến thức chuyên môn cho công chức kiểm tra văn bản; công chức kiểm tra văn bản phải hiểu sâu sắc, cả tinh thần và lời văn Hiến pháp, từ đó có thể phát hiện chính xác, kịp thời văn bản có nội dung vi hiến. Đây là nhiệm vụ khó, đòi hỏi công chức kiểm tra văn bản phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm sâu rộng, trước hết là nắm rõ phạm vi thẩm quyền, nội dung văn bản của các Bộ, chính quyền địa phương được quy định những gì, phạm vi đến đâu để tham mưu việc kiểm soát, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, các cam kết, điều ước quốc tế và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời không cản trở việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo, điều hành của bộ máy nhà nước, góp phần phát triển kinh tế, xã hội.
Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam phải gắn với bảo đảm quyền con người và quyền công dân, bởi lẽ, một trong những yêu cầu không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền là tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người. Trong mối quan hệ với quyền con người, Nhà nước pháp quyền có ba nghĩa vụ chính, đó là: nghĩa vụ chú ý, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ thực thi. Trong nghĩa vụ chú ý, Nhà nước không được trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở cá nhân thực hiện quyền con người của họ. Trong nghĩa vụ bảo vệ, Nhà nước phải bảo vệ cá nhân khỏi sự can thiệp vào vị trí pháp lý của họ bởi người thứ ba, suy rộng ra, nhà nước có trách nhiệm giữ cho quyền con người đã được quy định trong Hiến pháp được nguyên vẹn, đúng như đã được ghi nhận thông qua các hình thức khác nhau mà không bị xâm phạm bởi bất kỳ đối tượng nào. Nghĩa vụ thực thi đòi hỏi Nhà nước phải tạo điều kiện để thực thi các quyền của họ thông qua các biện pháp tích cực mà nhà nước tiến hành. Như trên đã phân tích, bằng pháp luật, Nhà nước ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm cho quyền con người được thực thi trên thực tế. Song, pháp luật nói chung, một mặt là phương tiện nhằm bảo vệ quyền con người, mặt khác lại chứa đựng nhiều khả năng vi phạm, hạn chế hay tước đoạt quyền con người. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế để loại bỏ các khả năng này của toàn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là hết sức cần thiết. Cần nhận thức rằng, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam ban hành chính là một phương tiện để ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền con người nhưng cũng có khả năng chứa đựng các “nguy cơ” xâm phạm quyền con người. Vì vậy, kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam với mục đích bảo vệ quyền con người là hoạt động thiết thực, tích cực, có ý nghĩa lớn trong quá trình thực thi, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay.
Kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam với ý nghĩa bảo vệ quyền con người, quyền công dân là vô cùng quan trọng. Bởi việc tổ chức, hướng dẫn thi hành các quy định của luật, pháp luật về quyền con người chủ yếu được thực hiện thông qua việc ban hành văn bản của các Bộ, cơ quan ngang bộ – một trong đối tượng văn bản kiểm tra chủ yếu. Chính vì thế, cần kiểm tra và ngăn chặn những quy định vi phạm quyền con người.
Việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người có phạm vi rộng. Trước hết, trong các lĩnh vực, ngành mà trọng tâm là sự quan tâm xây dựng pháp luật có liên quan đến lĩnh vực, ngành đó để đảm bảo quyền con người được thực hiện đầy đủ; Ở cấp trung ương và các cấp địa phương, việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người thể hiện qua các hoạt động quản lý nhà nước mà một trong các hoạt động cụ thể đó là ban hành thể chế. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là một trong các hoạt động góp phần rất quan trọng vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật do kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật giúp tìm ra nội dung trái pháp luật để đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Đối với việc bảo vệ quyền con người, vai trò của công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện rõ nét qua nhiều thành tựu đã đạt được trong thời gian qua. Cụ thể là việc tìm ra các quy định trái với các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện qua việc phát hiện và xử lý hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý quy định sai trái đó. Kết quả kiểm tra nhiều văn bản thời gian qua cũng cho thấy, cần có sự cân bằng (giải quyết vấn đề) giữa nhu cầu, nhận thức quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước và quyền con người, quyền công dân cũng như việc ban hành thể chế tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước song cần bảo đảm đúng pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Chính vì vậy, hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam phải gắn với xây dựng nước pháp quyền, tinh thần Hiến pháp năm 2013 là yêu cầu trước tiên, bắt buộc và hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn. Yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam còn phải gắn với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
4.1.2. Gắn với cải cách thể chế hành chính; xác lập cụ thể, rõ ràng hơn thẩm quyền, phạm vi và đối tượng kiểm tra
Cải cách thể chế hành chính là một trong bốn nội dung của cải cách hành chính ở nước ta hiện nay (bao gồm: Cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công). Trong những năm qua, cải cách hành chính ở Việt Nam, trong đó có cải cách thể chế hành chính đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật là một nhiệm vụ xuất phát từ chính yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong điều kiện hiện nay, phục vụ trực tiếp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, chủ động hội nhập quốc tế. Do vậy, hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chung và cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam nói riêng không thể tách rời với cải cách thể chế hành chính. Cụ thể ở đây là, phải xây dựng được cơ chế kiểm tra để qua đó phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời các nội dung trái pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, minh bạch, công khai của hệ thống pháp luật, theo đó cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về soạn thảo, ban hành, kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tại các bộ, ngành và địa phương; kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định trước đây không còn phù hợp. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cần tập trung hoàn thiện các quy định về: nguyên tắc kiểm tra văn bản, xử lý văn bản trái pháp luật; thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật; phạm vi, đối tượng kiểm tra, nội dung kiểm tra; trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản và các quy định của pháp luật về điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản. Trên cơ sở đó, giúp cho các chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc đã được xác định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, không vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm, như: (i) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; (ii) Ban hành văn bản không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 4 của Luật này nhưng có chứa quy phạm pháp luật; (iii) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật này; (iv) Quy định thủ tục hành chính trong thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật.
Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính ở Việt Nam phải gắn với cải cách hành chính vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa là mục tiêu lâu dài, do vậy, cần có các giải pháp đồng bộ và lộ trình triển khai thực hiện một cách khoa học, khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn.
4.1.3. Bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản và tăng cường tự kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Bất kỳ hoạt động nào trong đời sống xã hội cũng hướng đến đích cuối cùng đó là tính hiệu quả. Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng cũng không nằm ngoài mục tiêu này.
Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước không những phải bảo đảm tính hiệu quả, mà còn phải bảo đảm được tính hiệu lực. Bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu được đặt ra đối với các chủ thể quản lý. Hoạt động kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam mang tính quyền lực nhà nước, do chủ thể là cơ quan công quyền có thẩm quyền riêng thực hiện, ở đây là các cơ quan hành chính nhà nước; việc kiểm tra văn bản không chỉ dừng lại ở việc xem xét, đánh giá mà còn kết luận, xử lý vụ việc, đưa ra những kiến nghị để sửa chữa kịp thời, sớm khắc phục hậu quả, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương tuân thủ pháp luật đối với chính các cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản thuộc đối tượng kiểm tra. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay suy cho cùng là để công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đạt kết quả, hiệu quả tốt hơn. Trong bối cảnh thi hành Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật cơ bản đã được xây dựng xong, có sự chuyển hướng chiến lược từ xây dựng sang hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật thì yêu cầu về bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản quy phạm càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, do đó, việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam không thể thoát ly và phải quán triệt sâu sắc quan điểm này. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam phải bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của công tác công tác kiểm tra văn bản, trước tiên là phải chấp hành nghiêm kỷ luật trong việc gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra; các văn bản thuộc đối tượng kiểm tra phải được gửi kịp thời, đầy đủ cho cơ quan có thẩm quyền kiểm tra; tất cả các văn bản thuộc đối tượng kiểm tra đều phải được xem xét, kiểm tra theo quy định; các văn bản phát hiện có sai sót, vi phạm phải được kiến nghị xử lý và khắc phục triệt để, kịp thời; kết quả kiểm tra, xử lý đối với văn bản có sai sót, vi phạm phải được xem xét, rút kinh nghiệm trong việc soạn thảo, ban hành các văn bản khác.
Theo quy định hiện hành, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp phải tự kiểm tra văn bản do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành (đối với Bộ, cơ quan ngang Bộ) ngay sau khi văn bản được ban hành, khi nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng. Khi thực hiện việc tự kiểm tra văn bản, phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thì cơ quan, đơn vị thực hiện việc tự kiểm tra lập hồ sơ kiểm tra văn bản và báo cáo ngay với cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành hoặc liên tịch ban hành văn bản đó để xem xét, thực hiện việc tự xử lý theo quy định. Như vậy, trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc về các chủ thể đã ban hành văn bản đó, ở đây là các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Hơn thế nữa, việc xử lý đối với các văn bản có sai sót, vi phạm trước tiên cũng thuộc trách nhiệm của người đã ban hành văn bản đó. Nguyên tắc này đã được xác định cụ thể trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2004, đó là: Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Như đã phân tích, đánh giá ở phần thực trạng công tác kiểm tra văn bản trong thời gian qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tự kiểm tra văn bản còn những tồn tại, hạn chế nhất định như: chưa được tiến hành thường xuyên; kết quả tự kiểm tra, phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật còn thấp; nhiều văn bản trái pháp luật chưa được phát hiện và xử lý kịp thời; việc tự kiểm tra, xử lý đối với văn bản có nội dung trái pháp luật do cơ quan có thẩm quyền kiểm tra thông báo còn chậm và chưa triệt để. Do vậy, việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay phải nhằm tăng cường tự kiểm tra việc thực hiện chức năng của hệ thống cơ quan hành pháp.
Nội dung hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đề cập ở đây là phải: làm cho công tác tự kiểm tra được tiến hành thường xuyên hơn; góp phần nâng cao kết quả tự kiểm tra, phát hiện văn bản có sai sót, vi phạm; các văn bản có sai sót, vi phạm phải được phát hiện và xử lý kịp thời và việc tự kiểm tra, xử lý đối với văn bản có sai sót, vi phạm do cơ quan có thẩm quyền kiểm tra thông báo cũng phải được thực hiện kịp thời, triệt để hơn.
Cùng với đó, cần phải phát huy tốt hơn nữa vai trò của Bộ Tư pháp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời, cần tiếp tục đổi mới hoạt động kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ Tư pháp với vai trò là đầu mối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác này.
4.1.4. Bảo đảm tính độc lập tương đối của các chủ thể kiểm tra; sự phối hợp với hoạt động giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và giám sát trực tiếp của nhân dân Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Một trong những lý do đưa ra quan điểm này là nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại trong công tác tự kiểm tra của các cơ quan đã ban hành văn bản; khắc phục tình trạng không thực hiện hoặc thực hiện chậm trễ, tăng cường tính chủ động trong công tác tự kiểm tra. Hơn nữa, việc đưa ra quan điểm này cũng chính là việc tiếp tục khẳng định “tính quyền lực nhà nước” trong hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
So sánh kết quả tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền đối với văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2008 do các Bộ, ngành thực hiện cho thấy: số văn bản do các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tự kiểm là 6.862 văn bản, qua kiểm tra đã phát hiện 333 văn bản có dấu hiệu sai trái; số văn bản các Bộ, cơ quan ngang bộ tiếp nhận kiểm tra theo thẩm quyền là 23.013 văn bản, qua kiểm tra đã phát hiện 2.554 văn bản có dấu hiệu sai trái (riêng Bộ Tư pháp, đã tiếp nhận 17.975 văn bản, qua kiểm tra đã phát hiện 2.174 văn bản có dấu hiệu sai trái). Như vậy, số văn bản do các bộ, ngành đã tự kiểm tra chỉ bằng 1/6 số văn bản được tiếp nhận kiểm tra theo thẩm quyền; số văn bản có sai sót, vi phạm được phát hiện qua tự kiểm tra chỉ bằng 1/14 số văn bản có sai sót, vi phạm được phát hiện qua kiểm tra theo thẩm quyền. Rõ ràng, kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, tức là kiểm tra từ ngoài vào hữu hiệu hơn rất nhiều so với tự kiểm tra văn bản, tức là kiểm tra từ bên trong. Điều này cũng khẳng định ưu thế của việc kiểm tra từ bên ngoài của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên trách công tác kiểm tra văn bản.
Thực tế cho thấy, hiện nay số lượng văn bản thuộc đối tượng kiểm tra là vô cùng lớn và thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, trong đó có những lĩnh vực chuyên sâu mà chỉ có các chuyên gia về lĩnh vực đó mới hiểu được, trong khi đó năng lực chuyên môn của đội ngũ công chức chuyên trách công tác này là có hạn, cả về số lượng và trình độ chuyên môn, cả về chiều sâu cũng như chiều rộng. Như vậy, cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, một mình cơ quan chuyên trách công tác kiểm tra văn bản không thể hoàn thành nhiệm vụ nếu không có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan và để khắc chế các khuynh hướng: cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản có biểu hiện cửa quyền, lạm quyền, bỏ sót văn bản không kiểm tra, không xử lý hoặc xử lý không triệt để văn bản có sai sót, vi phạm; cơ quan có văn bản thuộc đối tượng kiểm tra không hợp tác, phối hợp với cơ quan chuyên trách công tác kiểm tra văn bản thì bên cạnh việc tăng cường tính độc lập tương đối của các chủ thể kiểm tra, cần tăng cường sự phối, kết hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan và sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, cũng như sự giám sát trực tiếp của nhân dân đối với công tác kiểm tra văn bản. Do đó, việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cũng cần bám sát quan điểm này. Việc hoàn thiện cơ chế này cần bảo đảm rõ ràng, minh bạch không chồng chéo, mâu thuẫn về thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể kiểm tra,; bảo đảm sự phối hợp giữa các bộ, ngành đã ban hành văn bản với cơ quan kiểm tra văn bản; sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và sự giám sát trực tiếp của Nhân dân. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
4.1.5. Bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, cá nhân vào quá trình kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý văn bản trái pháp luật
Thời gian qua, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội, của các phương tiện thông tin đại chúng và của mọi tầng lớp nhân dân vào quá trình kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý văn bản có sai sót, vi phạm đã có những chuyển biến nhất định; không ít văn bản có sai sót, vi phạm đã được phát hiện và kiến nghị xử lý qua kênh thông tin này, nên việc chú trọng, khuyến khích sự quan tâm, phát hiện và yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức và công dân về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật là rất cần thiết. Tuy vậy, việc kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin mới được thực hiện chủ yếu tại Bộ Tư pháp, vì vậy, trong thời gian tới, các bộ, ngành và địa phương cần có biện pháp nhằm thúc đẩy việc cung cấp cũng như tiếp nhận, xử lý các thông tin về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật để phát huy được hiệu quả của phương thức kiểm tra này trong kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
Do vậy, việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam phải bảo đảm sự tham gia ngày càng rộng rãi của các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội, của các phương tiện thông tin đại chúng và của mọi tầng lớp Nhân dân vào quá trình kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Đồng thời, các cơ quan kiểm tra văn bản cũng phải thực sự có trách nhiệm khi nhận được thông tin về văn bản sai trái từ các nguồn thông tin trên, cần tổ chức kiểm tra, phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý kịp thời khi phát hiện văn bản được phản ánh có nội dung trái pháp luật. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Như vậy, việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay cần bám sát một số quan điểm: (i) Gắn với yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp quyền, tinh thần Hiến pháp 2013, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; (ii) Gắn với cải cách thể chế hành chính; xác lập cụ thể, rõ ràng hơn thẩm quyền, phạm vi và đối tượng kiểm tra; (iii) Bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản và tăng cường tự kiểm tra việc thực hiện chức năng của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước; (iv) Bảo đảm tính độc lập tương đối của các chủ thể kiểm tra; sự phối hợp với hoạt động giám sát của cơ quan nhà nước có th ẩm quyền và giám sát trực tiếp của nhân dân; (v) Bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, cá nhân vào quá trình kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý văn bản trái pháp luật.
4.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
4.2.1. Hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam tập trung vào một số vấn đề cụ thể sau đây:
Một là, loại bỏ một số loại văn bản quy phạm pháp luật thuộc đối tượng được kiểm tra.
Hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp đã được thu hẹp, theo đó, sẽ không còn hình thức thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (trừ trường hợp liên tịch với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao); không còn hình thức chỉ thị của Ủy ban nhân dân nữa. Vì lẽ đó, đối tượng văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cần được sửa đổi theo hướng, loại bỏ hình thức thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với nhau. Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp thì loại bỏ hình thức chỉ thị.
Trên thực tế, sẽ còn một số lượng không nhỏ các thông tư liên tịch hoặc chỉ thị do các chủ thể nêu trên đã ban hành từ trước và vẫn tồn tại sau thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực, vì vậy, cần có quy định chuyển tiếp về việc tiếp tục thực hiện kiểm tra đối với các văn bản này. Đồng thời, cần quy định rõ trình tự, thủ tục xử lý đối với các văn bản loại này, tránh tình trạng quy định chung chung. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Cũng liên quan đến đối tượng văn bản được kiểm tra, trong tương lai, các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt sẽ được thành lập, theo đó, sẽ phát sinh thêm văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của đơn vị hành chính này ban hành, do đó, cần phải bổ sung văn bản loại này vào đối tượng văn bản được kiểm tra.
Về nội dung kiểm tra trình tự thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Nội dung kiểm tra này có ý nghĩa và tác động rất lớn đối với việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương xây dựng, ban hành văn bản và có ảnh hưởng đến chất lượng, nội dung văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này cần cân nhắc theo hướng (i) Quy định bắt buộc kiểm tra nội dung này đối với tất cả văn bản thuộc đối tượng kiểm tra, theo hướng này sẽ bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong quy định của pháp luật, tạo thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện, tuy nhiên, với thực trạng tổ chức bộ máy và nhân sự như hiện nay, nhất là việc thiếu biên chế và hạn chế về trình độ chuyên môn thì việc thực hiện phương án này cần cân nhắc đến tính khả thi; (ii) Quy định cụ thể, việc kiểm tra trình tự, thủ tục xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ được tiến hành trong trường hợp phát hiện văn bản thuộc đối tượng kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật về thẩm quyền hoặc nội dung hoặc khi có phản ánh, kiến nghị có vi phạm trong thực hiện trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản.
Về kiểm tra tính hợp lý của văn bản: Văn bản quy phạm pháp luật không những phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, mà còn phải bảo đảm tính hợp lý và tính khả thi. Mặc dù vấn đề về bảo đảm tính hợp lý của văn bản hiện nay được điều chỉnh thông qua hoạt động thẩm tra, thẩm định văn bản, nhưng do hoạt động này được tiến hành trước khi văn bản được ban hành. Do đó, để tránh trường hợp văn bản sau khi được ban hành được phát hiện tính bất hợp lý, cần hoàn thiện pháp luật quy định về vấn đề này theo hướng, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản thực hiện việc kiểm tra và kiến nghị khắc phục, xử lý đối với văn bản không bảo đảm tính hợp lý, truy nhiên, nhằm giảm tải công việc đối với các chủ thể kiểm tra, cũng như bảo đảm tính khả thi của phương án này, quy định về việc kiểm tra tính hợp lý của văn bản chỉ nên giới hạn khi nhận được phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền, hình thức xử lý văn bản trái pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Về thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật: Cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, tương thích với hình thức xử lý văn bản quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, theo đó, bỏ quy định về thẩm quyền hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật, bổ sung thẩm quyền xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật do chính quyền của đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành. Đồng thời, quy định chi tiết, cụ thể về nguyên tắc, trình tự, thủ tục áp dụng hình thức hủy bỏ đối với văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người không có thẩm quyền tại Bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương ban hành.
Về các hình thức xử lý văn bản trái pháp luật: Các quy định về hình thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật cũng cần phải được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp 2013. Theo đó, khi quy định các hình thức xử lý văn bản trái pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền, chỉ quy định hình thức đình chỉ việc thi hành toàn bộ hoặc một phần nội dung văn bản và hình thức bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần nội dung văn bản. Những vấn đề này cần được quy định cụ thể, rõ ràng để tạo thuận lợi trong việc hiểu và áp dụng, đề xuất áp dụng các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật, khắc phục các quy định có tính chất định tính. Theo đó, hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản được áp dụng trong trường hợp nội dung trái pháp luật đó nếu chưa được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, cũng chưa có văn bản nào giải thích, hay lượng hóa như thế nào là “gây hậu quả nghiêm trọng”, khi nào và như thế nào là “làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Chính vì vậy, hình thức đình chỉ việc thi hành nội dung trái pháp luật của văn bản khó áp dụng và rất ít được áp dụng trong thực tiễn xử lý văn bản trái pháp luật. Về vấn đề này, đề nghị Bộ Tư pháp xem xét, hướng dẫn theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể.
Hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục ban hành. Về tính chất và thời điểm, hình thức hủy bỏ văn bản trái pháp luật, trước đây đã xác định “Hình thức hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật từ thời điểm văn bản được ban hành” [11, tr. 18]. Từ thời điểm này, sẽ phát sinh trách nhiệm pháp lý của chủ thể ban hành văn bản với đối tượng chịu sự tác động của văn bản (trường hợp việc áp dụng văn bản gây hậu quả). Còn đối với hình thức bãi bỏ văn bản trái pháp luật, về tính chất cũng như thời điểm đều khác so với trường hợp văn bản bị hủy bỏ, hình thức bãi bỏ xác định văn bản bị xử lý chỉ trái pháp luật kể từ khi có văn bản khác được ban hành (sau) có ảnh hưởng đến nội dung của văn bản làm căn cứ cho việc ban hành văn bản bị xử lý hoặc do thay đổi của tình hình thực tiễn đã làm cho văn bản đó không còn phù hợp nữa nên chủ thể có thẩm quyền sẽ bãi bỏ văn bản đó. Do vậy, sẽ không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp văn bản “không còn phù hợp” và bị bãi bỏ (vì trong thời gian áp dụng, văn bản đó vẫn hợp pháp). Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Thực tế cho thấy, hình thức bãi bỏ nói ở trên dễ gây nhầm lẫn với hình thức bãi bỏ khi thực hiện xử lý kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Nói một văn bản trái pháp luật thì về bản chất, nó phải trái ngay từ khi được ban hành, khi mà chưa có văn bản nào được ban hành sau nó làm cho nó bị trái. Còn trường hợp, tại thời điểm ban hành, văn bản phù hợp với văn bản cấp trên hoặc tình hình kinh tế – xã hội, tuy nhiên, sau thời gian thực hiện nó lại không còn phù hợp, do có văn bản được ban hành sau hoặc khi tình hình kinh tế – xã hội thay đổi, đó chính là đối tượng và tính chất của hoạt động rà soát và xử lý kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Do hiện nay không còn hình thức “hủy bỏ” văn bản trái pháp luật nữa, cho nên khi quy định hình thức “bãi bỏ” văn bản trái pháp luật, cần lưu ý quy định rõ các trường hợp văn bản bị bãi bỏ, tùy ở tính chất của văn bản mà quy định thời điểm bãi bỏ văn bản là khác nhau, qua đó mới có thể phân biệt với hình thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật sau khi rà soát, làm cơ sở cho việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể ban hành văn bản và vấn đề bồi thường thiệt hại do việc ban hành văn bản trái pháp luật gây ra. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung hình thức hủy bỏ (trước đây đã từng quy định hình thức này) đối với văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan/người không có thẩm quyền tại Bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương ban hành. Văn bản dạng này được coi là trái pháp luật ngay từ khi ban hành, do đó cần phải có biện pháp xử lý kịp thời, mạnh mẽ, nghiêm khắc, có như vậy mới có thể góp phần phòng ngừa, răn đe, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong việc tuân thủ nguyên tắc, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục triệt để tình trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, không đúng hình thức luật định, trên cơ sở đó, xử lý thích đáng đối với người/cơ quan vi phạm.
Bốn là, ban hành văn bản quy định cụ thể việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người ban hành văn bản trái pháp luật
Xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người ban hành văn bản trái pháp luật và có các hành vi vi phạm trong kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa và tác động rất lớn đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện các quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người ban hành văn bản trái pháp luật trước đây được quy định tại Điều 34 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có trường hợp nào bị xử lý kỷ luật và không có trường hợp nào bị xem xét trách nhiệm hình sự do ban hành văn bản gây hậu quả nghiêm trọng. Một trong những nguyên nhân của hạn chế bất cập này là, nội dung quy định về xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người ban hành văn bản trái pháp luật tại Điều 134 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP hiện nay cũng còn mang tính nguyên tắc chung; chưa có văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể về tính chất, định lượng về mức độ sai phạm, trình tự, thủ tục v.v…, vì thế, rất khó khăn trong việc thực hiện, mặc dù, điều đó là rất cần thiết. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Để khắc phục tình trạng trên, có thể dựa trên cơ sở các quy định hiện hành của Luật Cán bộ, công chức 2008 và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức để quy định cụ thể. Theo đó, hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được coi là nhiệm vụ của công chức, là hoạt động công vụ. Việc soạn thảo, ban hành văn bản trái pháp luật được coi là vi phạm nghĩa vụ công chức trong thi hành công vụ theo quy định tại Luật cán bộ, công chức năm 2008, do vậy, có thể áp dụng trình tự, thủ tục và các biện pháp kỷ luật của Nghị định số 34/2011/NĐ-CP. Ngoài ra, các hành vi vi phạm pháp luật trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản (quy định tại Điều 33, Điều 37 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP trước đây và Điều 133 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP hiện nay) cũng cần được xem xét, xử lý nghiêm khắc, đặc biệt là trong điều kiện, quy định về những hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã có hiệu lực thi hành. Trước mắt, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức trong việc ban hành văn bản trái pháp luật và xử lý các vi phạm trong kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Về lâu dài, cần nghiên cứu, bổ sung pháp luật về hình sự liên quan đến vấn đề này.
Năm là, ban hành văn bản quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường do áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật gây hậu quả.
Hiện nay, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Trong số các hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra quy định tại Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, không có hành vi nào là hành vi ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng chưa có quy định về vấn đề này. Cho nên đến nay, chưa có cơ sở pháp lý cho việc bồi thường thiệt hại do ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật gây ra.
Chúng ta đang hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi mà quyền, lợi ích của con người được bảo đảm, nơi mà pháp luật được đưa lên vị trí thượng tôn, là công cụ để thể hiện sự công bằng, dân chủ, bình đẳng… Từ yêu cầu này cho thấy, việc cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật cũng phải có vị trí bình đẳng với mọi người trước pháp luật, tức là, đã làm sai thì phải chịu trách nhiệm và đã gây thiệt hại cho đối tượng chịu sự tác động của nội dung sai trái đó thì phải bồi thường. Việc ban hành và đưa vào áp dụng văn bản trái pháp luật gây hậu quả, vấn đề khắc phục hậu quả do áp dụng, thực hiện văn bản trái pháp luật, vấn đề bồi thường thiệt hại… là những vấn đề lớn, quan trọng, được nhiều cơ quan, tổ chức, công dân quan tâm. Vì vậy, trong thời gian tới, khi sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cần nghiên cứu, quy định trách nhiệm bồi thường đối với hành vi ban hành văn bản trái pháp luật gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Sáu là, quy định rõ thời hạn kiểm tra văn bản.
Hiện nay pháp luật chưa quy định về thời gian hay thời điểm phải kiểm tra xong một văn bản quy phạm pháp luật, vì vậy trên thực tế, thời gian để kiểm tra xong một văn bản quy phạm pháp luật ở mỗi cơ quan là khác nhau, dẫn đến việc có văn bản được cơ quan kiểm tra văn bản kiểm tra ngay khi nhận được, có những văn bản phải mất thời gian hàng tháng mới kiểm tra xong hoặc sau hàng năm mới được kiểm tra, sau khi văn bản đó có hiệu lực.
Với thực tế như vậy, rõ ràng nội dung trái pháp luật của văn bản có “điều kiện” phát sinh hiệu lực trên thực tiễn và có thể tồn tại trong đời sống kinh tế, xã hội khoảng thời gian tương đối dài mà không được kiểm tra, xử lý trong bối cảnh chưa có quy định cụ thể về việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với chủ thể ban hành văn bản trái pháp luật hoặc bồi thường thiệt hại do việc áp dụng văn bản trái pháp luật gây ra, cũng chưa có quy định về khởi kiện văn bản quy phạm pháp luật ra tòa án có thẩm quyền. Do vậy, cần nghiên cứu các quy định cụ thể nhằm khắc phục tình trạng trên theo hướng:
(i) Quy định rõ thời hạn, trách nhiệm tự kiểm tra sau khi văn bản được ký ban hành: Trong thời gian 05 – 10 ngày (tính từ ngày văn bản được ký ban hành), cơ quan ban hành văn bản phải thực hiện xong việc tự kiểm tra văn bản. Trường hợp phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, phải thực hiện việc xử lý ngay. Trường hợp không phát hiện văn bản trái pháp luật, cơ quan ban hành văn bản sẽ gửi văn bản cùng với kết quả tự kiểm tra cho cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản. Đây cũng là một cách để thông báo rằng, văn bản này đã được tự kiểm tra, không phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật và cũng là căn cứ để xác định trách nhiệm kiểm tra văn bản nếu sau đó kiểm tra, phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.
Quy định rõ thời hạn kiểm tra văn bản theo thẩm quyền: Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong một khoảng thời gian nhất định trong vòng 30 đến 40 ngày, trước khi văn bản đó có hiệu lực, tùy thuộc vào tính chất, mức độ phức tạp của văn bản, chứ không phải chờ đến khi văn bản có hiệu lực thi hành mới tiến hành kiểm tra. Thời hạn đó tối đa có thể là 20 ngày (trừ văn bản được ban hành trong trường hợp khẩn cấp). Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Đây cũng là cơ sở để xác định trách nhiệm của cơ quan kiểm tra văn bản theo thẩm quyền trong trường hợp sau này văn bản được phát hiện trái pháp luật. Quy định như vậy không có nghĩa, sau khi phát sinh hiệu lực, cơ quan đã ban hành văn bản hoặc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản không có quyền tự kiểm tra hoặc kiểm tra văn bản theo thẩm quyền đối với văn bản đó nữa. Mà thẩm quyền kiểm tra văn bản đối với văn bản đó tiếp tục trong suốt quá trình văn bản còn hiệu lực, một cách chủ động hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh, thì sẽ tiếp tục phát sinh hoạt động kiểm tra văn bản.
Đối với văn bản được ban hành trong tình trạng khẩn cấp (có hiệu lực ngay sau khi ký ban hành) thì cần có nghiên cứu kỹ lưỡng về thời điểm, thời gian kiểm tra, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Liên quan đến thời hạn xử lý văn bản trái pháp luật, theo quy định hiện hành thì, chỉ có Thủ tướng Chính phủ mới có thẩm quyền xử lý bằng đầy đủ các hình thức trên, còn lại, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chỉ có thẩm quyền đối với văn bản do chính mình ban hành mà không có thẩm quyền xử lý đối với văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác ban hành. Trường hợp qua kiểm tra, phát hiện văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành trái pháp luật thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chỉ có thể “kiến nghị” chính cơ quan đã ban hành văn bản hoặc Thủ tướng Chính phủ xử lý. Thủ tục xử lý như hiện nay phải mất nhiều thời gian, công đoạn, có thể làm ảnh hưởng đến tính kịp thời trong kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật và làm phát sinh hậu quả đáng tiếc trong thời gian thực hiện, nếu văn bản trái pháp luật không được loại bảo một cách nhanh chóng, kịp thời. Cho nên, quy định thời hạn xử lý văn bản trái pháp luật cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng, rút ngắn hoặc quy định cụ thể hơn, theo đó, trong thời hạn tối đa không quá 02 ngày làm việc, kể từ khi xác định rõ ràng văn bản có dấu hiệu trái pháp luật phải được đình chỉ thi hành ngay (trừ trường hợp nếu tiếp tục thi hành thì có thể sẽ gây hậu quả nghiêm trọng thì phải thực hiện việc đình chỉ thi hành ngay); trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày bị đình chỉ thi hành, phải xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản trái pháp luật đó theo quy định. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Bảy là, sửa đổi, bổ sung quy định về kinh phí hỗ trợ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Việc hoàn thiện các quy định liên quan đến kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tại Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP không chỉ xuất phát từ việc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với văn bản mới được ban hành, mà còn xuất phát từ thực tiễn hết sức khó khăn về kinh phí bảo đảm trong triển khai nhiệm vụ kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương thời gian qua. Để bảo đảm tốt hơn về kinh phí hỗ trợ cho công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp cũng cần xem xét, sửa đổi theo hướng bổ sung một số nội dung chi và nâng định mức chi đối với một số nội dung chi đặc thù về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP do định mức chi như hiện tại còn thấp và không còn phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội (đã có rất nhiều thay đổi so với thời điểm Thông tư liên tịch này được ban hành) nên chưa hỗ trợ tương xứng với tính chất, yêu cầu công việc dẫn đến những khó khăn cho cơ quan thực hiện kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương thời gian qua.
Bên cạnh đó, các quy định về kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin cũng cần được cân nhắc, hoàn thiện, bởi lẽ: Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin ngày càng phát huy và khẳng định vai trò đối với công tác hoàn thiện pháp luật cũng như bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Hiện nay, người dân và doanh nghiệp rất quan tâm đến phương thức kiểm tra văn bản này, coi đây là một “kênh” để phản ánh về văn bản có nội dung trái pháp luật, là “kênh” để thông qua đó, yêu cầu cơ quan nhà nước kiểm tra, xử lý các quy định trái pháp luật nhằm khắc phục việc thực hiện những quy định trái gây ra những thiệt hại cho cá nhân hay doanh nghiệp. Ý thức được tầm quan trọng của phương thức kiểm tra văn bản này, ngày 10/8/2012, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 2313/QĐ-BTP ban hành Quy chế tiếp nhận và xử lý thông tin phục vụ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp. Nội dung Quy chế quy định về trách nhiệm, trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý thông tin phục vụ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý, công bố và lưu trữ kết quả kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin. Đây là nền tảng quan trọng để việc tổ chức kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin tại Bộ Tư pháp đi vào nề nếp, bước đầu đáp ứng yêu cầu của công tác này trong giai đoạn hiện nay.
Để kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin thực sự phát huy giá trị trên thực tiễn, đặc biệt là đồng đều tại các bộ, cơ quan ngang bộ, trong thời gian tới, khi Chính phủ nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thì cần quan tâm, nghiên cứu quy định cụ thể hơn về kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin theo hướng:
Quy định rõ hơn trình tự, thủ tục kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin; cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản với cơ quan ban hành văn bản/cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản khác và các phương tiện thông tin đại chúng; (ii) Nghiên cứu, bổ sung các quy định cụ thể về khen thưởng trong công tác kiểm tra văn bản, đặc biệt là các quy định về khen thưởng đối với tổ chức/cá nhân phát hiện và phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.
Về công tác báo cáo, bên cạnh việc thực hiện tốt chế độ báo cáo công tác kiểm tra, xử lý văn bản của một số bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương, việc không có báo cáo hoặc báo cáo chậm trễ, báo cáo không theo đúng yêu cầu đã ảnh hưởng đến công tác quản lý, nắm bắt tình hình để đề xuất kịp thời các biện pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai công tác kiểm tra văn bản tại bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đó cũng như đối với Bộ Tư pháp trong việc tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy, thời gian tới, Bộ Tư pháp cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ để chấn chỉnh việc thực hiện nội dung này tại các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương.
4.2.2. Củng cố, kiện toàn các chủ thể thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
4.2.2.1. Củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Củng cố tổ chức, tăng cường biên chế chuyên trách kiểm tra văn bản tại Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp; nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức làm công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra văn bản; sắp xếp lại đội ngũ cán bộ đang làm công tác kiểm tra văn bản tại các bộ, ngành, địa phương theo hướng chuyên môn hóa trong kiểm tra văn bản; tăng cường tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra văn bản.
Trong các điều kiện bảo đảm cho kiểm tra văn bản do của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, yếu tố về tổ chức, biên chế đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai có hiệu quả nhiệm vụ này. Cho đến nay, ở mức độ khác nhau, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản cơ bản đã quan tâm thành lập, kiện toàn tổ chức bộ máy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản, bố trí biên chế, kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác phục vụ hoạt động này v.v… nhưng vấn đề tổ chức, biên chế tại các cơ quan kiểm tra văn bản vẫn cần tiếp tục được quan tâm củng cố, kiện toàn.
Với chức năng, nhiệm vụ được giao, với vai trò đặc biệt hơn các bộ, cơ quan ngang bộ khác trong kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu, hoàn thiện Đề án mô hình chuyên quản trong kiểm tra văn bản. Theo đó, cần chú trọng về phương thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, từ đó củng cố về tổ chức, biên chế cho phù hợp. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền kiểm tra của Bộ ; tổ chức thực hiện rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật.
Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc Bộ Tư pháp cần được hoàn thiện theo hướng: Về cơ cấu tổ chức: Trên cơ sở quan điểm, định hướng về chuyên môn hóa, chuyên sâu trong kiểm tra văn bản (theo ngành, lĩnh vực), bố trí các Phòng thuộc Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thực hiện chức năng kiểm tra văn bản theo các ngành, lĩnh vực khác nhau. Về biên chế: Trên cơ sở kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng như đã nêu trên, để có thể bố trí đủ công chức vào từng vị trí công tác chuyên môn, riêng bộ phận kiểm tra văn bản thuộc Cục Kiểm tra văn bản phải được bố trí từ 20 – 25 biên chế. Đồng thời, cần kiện toàn, sắp xếp, bố trí công chức phụ trách kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật theo từng nhóm lĩnh vực; chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quy trình kiểm tra, xử lý văn bản; kết nối và giữ mối liên lạc thông suốt với tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang bộ, Sở Tư pháp các địa phương và đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản theo nhóm lĩnh vực đó.
Các Bộ, cơ quan ngang bộ cần có sự quan tâm thích đáng, nhằm củng cố, bố trí đủ công chức có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức để làm công tác kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, đặc biệt là bố trí đủ số biên chế chuyên trách theo quy định. Cùng với nhiệm vụ rà soát, có thể thành lập Phòng Kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc Vụ Pháp chế nhằm tạo điều kiện chuyên môn hóa công tác kiểm tra văn bản, tăng cường khả năng độc lập tổ chức công việc, nâng cao hiệu quả và phát huy vai trò của công tác này trên thực tế. Bên cạnh đó, để việc kiểm tra văn bản được chuyên môn hóa, thực hiện có hiệu quả cần phải có sự phân công cụ thể việc kiểm tra văn bản theo lĩnh vực, địa bàn, xây dựng cơ sở dữ liệu, xây dựng và quản lý đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản… Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Ủy ban nhân dân các cấp cần tiếp tục kiện toàn tổ chức, đặc biệt là tăng cường biên chế thực hiện nhiệm vụ này tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và cán bộ Tư pháp cấp xã. Đối với Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ và tình hình thực tế và khối lượng công việc trong từng lĩnh vực cụ thể để xác định số lượng và cơ cấu phòng chuyên môn nghiệp vụ kiểm tra văn bản cho phù hợp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, cần kiện toàn Phòng Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc Sở Tư pháp, đảm bảo thống nhất trong phạm vi cả nước, đồng thời, tăng cường biên chế, bảo đảm ít nhất có từ 05 – 07 biên chế chuyên trách công tác này. Đối với các Sở chuyên môn khác, trước mắt cần bổ sung công chức thực hiện công tác pháp chế, thành lập Phòng pháp chế thuộc sở để tham mưu về khía cạnh pháp lý trong việc xây dựng, ban hành, tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do sở đó chủ trì soạn thảo, góp phần giảm bớt gánh nặng cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Sở Tư pháp. Đối với cấp huyện, cần bổ sung biên chế, phân công công chức chuyên trách kiểm tra văn bản thuộc Phòng Tư pháp, đồng thời, quan tâm bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ về xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật cho công chức của các phòng, ban thuộc Ủy ban nhân dân.
Trong quá trình hoàn thiện, củng cố tổ chức, biên chế thực hiện công tác kiểm tra văn bản tại các Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp cần kết hợp tổ chức bộ phận, phân công đầu mối tiếp nhận và xử lý thông tin phục vụ công tác kiểm tra văn bản. Việc tổ chức tốt công tác tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (phục vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin) tại các Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp là hết sức quan trọng, theo đó, cùng với các nội dung khác, việc cung cấp thông tin và trao đổi thông tin, tài liệu hai chiều giữa cơ quan kiểm tra văn bản và người/cơ quan phản ánh văn bản có dấu hiệu trái pháp luật là nội dung chủ yếu. Điều này cần được nghiên cứu, cụ thể hóa và có hướng dẫn cụ thể, để đầu mối này được tổ chức, vận hành theo cơ chế rõ ràng, minh bạch, hiệu quả, theo hướng thành lập bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin.
Bên cạnh việc củng cố, hoàn thiện tổ chức, biên chế, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cần tiếp tục chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức làm công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra văn bản; sắp xếp lại đội ngũ cán bộ đang làm công tác kiểm tra văn bản theo hướng chuyên môn hóa trong kiểm tra văn bản, nhất là tại địa phương. Đồng thời, tăng cường tổ chức, nâng cao chất lương tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra văn bản cho đội ngũ công chức làm công tác này tại các Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
4.2.2.2. Nghiên cứu, giao Tòa hành chính xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam có nội dung không hợp hiến, không hợp pháp
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam như hiện nay dù có hoàn thiện đến mức nào chăng nữa thì cũng vẫn chỉ là hoạt động trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, điều đó không tránh khỏi những hạn chế phát sinh từ nội tại, liên quan đến tính khách quan của hoạt động này. Thực tế hiện nay, “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…” [78, tr. 23] mà nhiều quốc gia trên thế giới trao thẩm quyền cho cơ quan này xem xét, phán quyết về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật thông qua hoạt động của Tòa hiến pháp và Tòa hành chính. Tòa hiến pháp có quyền tuyên bố về văn bản vi hiến nhằm thực hiện chức năng bảo hiến của mình. Còn Tòa hành chính có quyền đưa ra những phán quyết về tính hợp pháp của văn bản dưới luật.
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, trường hợp tổ chức, cá nhân cho rằng văn bản quy phạm pháp luật có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ thì họ có thể khiếu nại văn bản đó ra Tòa án hành chính.
Tại Nhật Bản, mặc dù luật không quy định rõ tòa án có thẩm quyền hay không trong việc phán quyết tính hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật hành chính, song Điều 81 Hiến pháp Nhật Bản cũng khẳng định, Tòa án tối cao là tòa án có thẩm quyền cuối cùng có quyền phán quyết bất kể đạo luật, pháp lệnh, nghị định hay quy định nào có hợp hiến hay không.
Việc xem xét quyết định hành chính mang tính quy phạm tại Trung Quốc cũng giống như việc xem xét bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào khác, Hiến pháp Trung Quốc trao quyền cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc chính quyền địa phương cấp cao hơn xử lý. Luật Kiện tụng hành chính cho phép các tòa án, trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính cụ thể, có quyền xem xét tính hợp pháp của các văn bản hành chính quy phạm của các cấp vụ ở Trung ương, hay của chính quyền địa phương. Điều đó có nghĩa, về mặt nguyên tắc, không được khởi kiện quy phạm một cách độc lập, mà phải gắn liền với một quyết định cá biệt bị kiện trên cơ sở dựa vào quy phạm pháp luật bị cho là trái pháp luật đó. Khi phán quyết, tòa án cũng không có quyền tuyên bố vô hiệu hoặc hủy bỏ, mà quyền này thuộc về các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Hiến pháp. Mặc dù không quy định người dân được khởi kiện một quy phạm pháp luật (tức quy định) hay văn bản quy phạm pháp luật ra tòa án, tuy nhiên, trong quá trình xét xử các vụ án hành chính cụ thể, tòa án có quyền xem xét tính hợp hiến và hợp pháp của các quy phạm pháp luật mà trên cơ sở đó quyết định hành chính bị kiện được ban hành.
Như vậy, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà mỗi quốc gia khác nhau lại có cách thức xem xét, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật khác nhau. Mặc dù có nơi thì cho phép cá nhân trực tiếp khiếu nại về văn bản quy phạm pháp luật hay quy phạm pháp luật ảnh hưởng đến lợi ích của mình, có nơi lại chỉ xem xét văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở xem xét các vụ việc cụ thể. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng vẫn là hành động cụ thể của Tòa án hành chính trong việc xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật hay quy phạm pháp luật.
Việt Nam, việc ra đời Tòa hành chính nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân (theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1995) là một bước tiến quan trọng trong quá trình phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp… Tuy nhiên, Tòa hành chính hiện nay chưa đảm nhận chức năng phán quyết về tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật. Kinh nghiệm của các quốc gia có thể có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu, trao thẩm quyền cho Tòa hành chính xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Chủ trương xây dựng cơ chế phán quyết đối với những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp tiếp tục được khẳng định tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI “Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền” [27, tr. 131], bên cạnh đó, Nghị quyết số 900/UBTVQH11 ngày 21/3/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (giai đoạn 2007-2012) đã đề ra nhiệm vụ: nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giám sát tối cao của Quốc hội và cơ chế bảo vệ Hiến pháp; xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền, có cơ chế phán quyết và xử lý những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp đã thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này. Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định về trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp và định hướng về cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Như vậy, bên cạnh việc nghiên cứu, thiết lập một cơ chế hữu hiệu để thực hiện chức năng bảo hiến nói chung, thì rất cần thiết nghiên cứu, trao thẩm quyền cho Tòa hành chính đmả nhiệm việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương ban hành, đây cũng chính là việc giám sát tư pháp của Tòa án đối với các cơ quan hành chính nhà nước. Đồng thời, phù hợp với chủ trương “mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính” tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 [24, tr. 4].
Khi nghiên cứu thiết lập mô hình bảo hiến phù hợp với Việt Nam cần đặt trong mối quan hệ tổng thể giữa các nhiệm vụ của cơ quan bảo hiến này với thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật. Chẳng hạn, văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành thì chịu sự xem xét, phán quyết về tính hợp hiến hợp pháp của cơ quan bảo hiến. Còn văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, cơ quan ngang bộ và các cấp chính quyền địa phương ban hành thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân (Tòa hành chính). Trên cơ sở xem xét, kết luận về tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật, tùy từng trường hợp, theo thẩm quyền, Tòa hành chính có thể đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, yêu cầu cơ quan đã ban hành văn bản tự kiểm tra, xử lý trong một khoảng thời hạn nhất định, trường hợp không xử lý hoặc xử lý không đúng yêu cầu, Tòa án có thẩm quyền bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó và xem xét tính chất, mức độ thiệt hại đã gây ra cho đối tượng chịu sự tác động của văn bản để phán quyết về mức độ thiệt hại và trách nhiệm bồi thường. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, việc xây dựng, củng cố và khai thác hiệu quả đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản cũng là một kênh hỗ trợ các chủ thể kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Để có thể thu hút và tổ chức, quản lý đội ngũ cộng tác viên đạt hiệu quả cao nhất, cần phải xây dựng được các quy định cụ thể về tài chính, cơ chế giao văn bản thuộc đối tượng kiểm tra, nhận kết quả kiểm tra, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan kiểm tra, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của cộng tác viên. Về cơ chế giao văn bản – nghiệm thu kết quả kiểm tra văn bản cần lưu ý một số vấn đề: (i) Phân công công chức chuyên trách giúp lãnh đạo cơ quan kiểm tra quản lý đội ngũ cộng tác viên. (ii) Về hình thức giao, nhận văn bản kiểm tra: Có thể sử dụng đồng thời hai hình thức giao nhận trực tiếp và gián tiếp, trực tiếp giao cho cộng tác viên tại trụ sở cơ quan kiểm tra văn bản; gián tiếp qua thư điện tử, qua phần mềm hỗ trợ nghiệp vụ (sau khi được nâng cấp và mở rộng diện sử dụng đến đối tượng là cộng tác viên). (iii) Nghiệm thu kết quả kiểm tra của cộng tác viên: Chuyên viên chuyên trách sẽ nghiệm thu kết quả kiểm tra của cộng tác viên. Đối với những văn bản có dấu hiệu trái pháp luật cần phải xem xét, xử lý theo đúng trình tự như quy định của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. (iv) Về việc hướng dẫn nghiệp vụ, tạo điều kiện cộng tác cho cộng tác viên: định kỳ hàng năm cần tổ chức hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về kiểm tra văn bản cho cộng tác viên nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra văn bản. Việc tổ chức hướng dẫn cộng tác viên có thể kết hợp với bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức kiểm tra văn bản.
Ngoài ra, cần cung cấp thông tin, các chính sách pháp luật cho cộng tác viên và tạo điều kiện để họ tiếp cận hệ thống cơ sở dữ liệu dưới nhiều hình thức khác nhau, cung cấp một số tài liệu cần thiết khác phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản theo yêu cầu của cộng tác viên. Đặc biệt là cần có cơ chế phù hợp, khuyến khích cộng tác viên chủ động thu thập thông tin, kiểm tra, phát hiện về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, coi đây là một cơ chế hữu hiệu, kịp thời phát hiện, phản ánh về văn bản trái pháp luật, tương tự, thậm chí phát huy hiệu quả hơn so với phản ánh, kiến nghị của các phương tiện thông tin, truyền thông.
4.2.3. Tăng cường, bảo đảm các nguồn lực và các điều kiện bảo đảm khác phục vụ vận hành cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
4.2.3.1. Về kinh phí và trang thiết bị làm việc
Bảo đảm về kinh phí là bảo đảm cơ bản. Đây là bảo đảm về nguồn tài chính phục vụ cho mọi hoạt động nhằm triển khai và tổ chức hoạt động kiểm tra văn bản, gồm cả tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền.
Dựa trên các quy định của pháp luật, khi lập dự toán ngân sách hàng năm, ngoài việc lập dự toán bảo đảm hoạt động thường xuyên của cơ quan theo quy định hiện hành, căn cứ vào yêu cầu công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan, đơn vị lập dự toán kinh phí hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tổng hợp chung vào dự toán ngân sách hàng năm gửi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đối với các tổ chức không phải là đơn vị dự toán, hàng năm, cần căn cứ vào các nội dung kinh phí hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản quy định tại Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP và kế hoạch kiểm tra được phê duyệt, lập dự toán kinh phí hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản để tổng hợp chung vào dự toán kinh phí hoạt động của cơ quan theo quy định.
Hoạt động kiểm tra văn bản bao gồm nhiều nội dung chi khác nhau và có thể thay đổi thường xuyên, phụ thuộc vào số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, nên các cấp, các ngành cần linh hoạt bổ sung kinh phí kịp thời cho công tác này. Ngoài ra, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp cần tổ chức khảo sát về thực trạng trụ sở, nơi làm việc, các trang thiết bị làm việc, từ đó xây dựng kế hoạch tổng thể yêu cầu các cấp, các ngành, đơn vị thuộc phạm vi quản lý sắp xếp, bố trí trụ sở, trang bị máy móc, trang thiết bị,… phục vụ công tác kiểm tra văn bản, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kiểm tra văn bản. Đồng thời, cần chú trọng đầu tư kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản như đã nói ở trên.
4.2.3.2. Hoàn thiện hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Bảo đảm về cơ sở dữ liệu, các thông tin, tư liệu là bảo đảm thiết yếu. Cơ sở dữ liệu, các thông tin, tư liệu là phương tiện quan trọng, thiết yếu cho quá trình thực hiện kiểm tra văn bản. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu, các thông tin, tư liệu càng sớm, càng hoàn chỉnh thì hiệu quả kiểm tra văn bản càng cao.
Theo pháp luật hiện hành về kiểm tra văn bản, trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm tra, xử lý văn bản được xác định như sau: Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc Bộ Tư pháp, người đứng đầu tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thường xuyên thực hiện và kịp thời rà soát, xác định văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực đã được ký ban hành, thông qua tại thời điểm kiểm tra văn bản để xây dựng và quản lý Hệ cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản trong phạm vi thẩm quyền được giao; thường xuyên phân loại, xử lý các thông tin, tài liệu về kiểm tra, xử lý văn bản và đưa vào cơ sở dữ liệu kiểm tra văn bản. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Xây dựng hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản cần dựa trên cơ sở kế thừa, hoàn thiện các hệ cơ sở dữ liệu hiện hành. Hệ thống cơ sở dữ liệu này phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây: Bảo đảm tính khoa học, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của công tác kiểm tra. Thống nhất xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu chung ở Trung ương do Bộ Tư pháp chủ trì và mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng một hệ cơ sở dữ liệu riêng, tổng hợp chung vào hệ cơ sở dữ liệu ở Trung ương nhằm đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả, cập nhật liên tục những văn bản mới, làm cơ sở pháp lý để kiểm tra văn bản, những văn bản đã được cập nhật cũng phải thường xuyên tiến hành rà soát và chuẩn hóa hiệu lực.
Căn cứ vào trách nhiệm được giao, tổ chức pháp chế các Bộ, ngành và địa phương có nhiệm vụ tổng hợp, biên tập, xây dựng hệ cơ dữ liệu hoàn chỉnh của cơ quan mình. Các kết quả kiểm tra, thông tin về nghiệp vụ kiểm tra, các thông tin tài liệu khác cũng phải được thường xuyên cập nhật, tạo điều kiện cho người kiểm tra văn bản tham khảo, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ.
Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp cần quan tâm tập trung bố trí về nhân lực, vật lực để xây dựng hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản.
Cơ quan kiểm tra cần được cung cấp đầy đủ các nguồn như công báo, các cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật khác (với tư cách là một nguồn thông tin pháp luật), các ấn phẩm không định kỳ như đề tài, dự án, kỷ yếu hội thảo khoa học, sách, văn bản pháp luật v.v… Cơ quan kiểm tra văn bản cũng cần phải thiết lập các thao tác phối hợp về nghiệp vụ giữa bộ phận cơ sở dữ liệu với bộ phận thực hiện nghiệp vụ và hành chính – tổng hợp nhằm cung cấp thông tin nghiệp vụ xây dựng hệ cơ sở dữ liệu (như kết quả kiểm tra và xử lý văn bản, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, báo cáo định kỳ, các chuyên đề, đề tài nghiên cứu khoa học v.v…); Bố trí biên chế và huy động đội ngũ cộng tác viên thực hiện việc rà soát hiệu lực các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên làm cơ sở xác định nội dung văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật. Các công chức được phân công nhiệm vụ cụ thể, phụ trách các mảng khác nhau như phụ trách rà soát, thu thập thông tin văn bản mới ban hành; biên tập, cập nhật các thông tin nghiệp vụ kiểm tra văn bản, kết quả kiểm tra văn bản, quản lý, vận hành và bảo trì máy tính, mạng v.v…
4.2.3.3. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong kiểm tra văn bản Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Thực tiễn cho thấy, bất kỳ hoạt động nào liên quan đến sự tham gia của nhiều chủ thể thì vai trò của tổ chức, cá nhân chuyên trách (làm đầu mối) là vô cùng quan trọng, song nếu chỉ đơn thương độc mã tổ chức, cá nhân chuyên trách trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thì rất khó khăn và khó có thể đạt được kết quả, hiệu quả như mong muốn. Vấn đề muốn đề cập ở đây là, vai trò của công tác phối hợp. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cũng vậy, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Việc phối hợp cần được chú trọng thực hiện tốt cả trong nội bộ các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản; giữa các cơ quan kiểm tra văn bản với nhau, với cơ quan có văn bản được kiểm tra và với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan (phương tiện truyền thông, người phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật…). Tại các cơ quan kiểm tra văn bản, đó là sự phối hợp giữa các đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện nhằm thực hiện tốt công tác kiểm tra theo thẩm quyền, tự kiểm tra kiểm tra văn bản theo lĩnh vực phụ trách thông qua công tác theo dõi, đôn đốc của cơ quan đầu mối là tổ chức pháp chế, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp; tham gia đoàn công tác liên ngành về kiểm tra văn bản khi có yêu cầu; tạo điều kiện cho công chức tham gia làm cộng tác viên kiểm tra văn bản; phối hợp trong các hoạt động khác theo Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. Giữa cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản và các cơ quan có liên quan cần có sự phối hợp chặt chẽ, chia sẻ thông tin kịp thời trong công tác kiểm tra văn bản: phối hợp kiểm tra văn bản (kiểm tra văn bản liên tịch, họp trao đổi, thảo luận về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, cử đại diện tham gia đoàn kiểm tra văn bản liên ngành…), thẩm tra kết quả kiểm tra, tiến hành các hoạt động nhằm tham mưu cho cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật…
Ngoài ra, có một sự phối hợp khác khá quan trọng, đó là phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra văn bản với các phương tiện thông tin đại chúng trong hoạt động kiểm tra văn bản. Để khai thác hiệu quả tác động của các phương tiện thông tin đại chúng với công tác kiểm tra văn bản, các cơ quan kiểm tra văn bản phải có quy định cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng trong: cung cấp thông tin về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; đưa tin về tình hình, kết quả xử lý văn bản trái pháp luật; phổ biến, tuyên truyền quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản và thực hiện phương thức kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin… Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Cùng với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam không thể không đề cập đến giải pháp rất quan trọng khác đó là, tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác này. Để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về kiểm tra văn bản trước hết, Bộ Tư pháp cần nghiên cứu, tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ tiêu chí đánh giá kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chung, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Theo đó, các tiêu chí này phải là thước đo để đánh giá được mức độ hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra văn bản trên các phương diện như: tỷ lệ văn bản được tự kiểm tra/kiểm tra theo thẩm quyền so với số lượng văn bản đã ban hành; tỷ lệ văn bản phát hiện trái pháp luật so với số lượng văn bản đã được kiểm tra và số lượng văn bản đã ban hành; tỷ lệ các dạng trái pháp luật (về nội dung, thẩm quyền, thể thức…) so với số lượng văn bản phát hiện trái pháp luật; tỷ lệ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật được xử lý (tự xử lý hoặc do cơ quan có thẩm quyền xử lý) so với số lượng văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật… Mức kinh phí được bố trí phục vụ kiểm tra văn bản so với nhu cầu… Hệ tiêu chí này sẽ đánh giá được khách quan, toàn diện, chính xác hơn các kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, từ đó có cái nhìn tổng thể và giúp cho cơ quan có thẩm quyền tiếp tục có giải pháp hoặc kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam trên thực tiễn.
Trong điều kiện hiện nay, khi nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã được chuyển giao sang cho Chính phủ, thì việc bảo đảm các điều kiện nêu trên là hết sức quan trọng và cần thiết. Các điều kiện bảo đảm này cần phải được chuẩn bị đồng bộ. Đây cũng là các nội dung bảo đảm quan trọng đối với công tác kiểm tra văn bản nói chung đã được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành về kiểm tra văn bản.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là kết quả nghiên cứu được kết tinh của quá trình nghiên cứu về tổng quan những vấn đề liên quan đến đề tài,từ nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực trạng của cơ chế này, đồng thời, việc đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cũng là mục tiêu cao nhất của đề tài luận án. Muốn có giải pháp phù hợp, khả thi cần phải xác định được các quan điểm, định hướng lớn. Việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam phải được thực hiện trên cơ sở các quan điểm đã được xác định. Bám sát các quan điểm hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam sẽ đưa ra được các giải pháp hoàn thiện cơ chế này một cách toàn diện, khoa học và khả thi.
Việc đề xuất và quá trình triển khai các giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam phải được tiến hành đồng bộ, đồng thời, có tính đến tầm quan trọng của từng giải pháp để đưa ra lộ trình tổ chức thực hiện phù hợp.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật là thiết chế mới, có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật và yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là một trong các hoạt động nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng cách loại bỏ những quy định mâu thuẫn, không hợp hiến, không hợp pháp của văn bản thuộc đối tượng kiểm tra, làm cho hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch. Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác này, góp phần nâng cao chất lượng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cũng như tiến trình đổi mới và hội nhập của đất nước, vấn đề đặt ra là phải có một cơ chế hữu hiệu để vận hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này. Trên thực tế, việc nghiên cứu về hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm luật không nhiều, đặc biệt là hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam dường như chưa có, vì thế, rất cần thiết phải có nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể các vấn đề về hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, để từ đó đánh giá, đưa ra được những giải pháp khoa học, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm cho hoạt động này ngày càng đạt hiệu quả, góp phần đắc lực vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi.
Với mục tiêu trên, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu trước đây, luận án nghiên cứu, giải quyết những vấn đề sau:
Một là, về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ: (i) Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; (ii) Các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; (iii) Tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Hai là, về mặt thực tiễn, luận án tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, bao gồm: thực trạng quy định của pháp luật (thể chế pháp luật) về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; thực trạng chủ thể (tổ chức, bộ máy, nhân sự) thực thi nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; thực trạng các điều kiện bảo đảm khác. Bên cạnh đó, luận án còn nghiên cứu, đánh giá tình hình, kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam trong thời gian qua.
Ba là, từ lý luận và thực tiễn cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, luận án luận chứng, đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
