Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện chiến lược marketing du lịch nhằm thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, ngành du lịch nổi lên như một điểm nhấn hỗ trợ cho sự phục hồi về kinh tế. Ngành “công nghiệp không khói” này tại Việt Nam trong thời gian qua đã có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc gia và thu nhập của người dân. Sự phát triển của Du lịch quốc tế đến Việt Nam không những tạo nguồn thu quan trọng của ngoại tệ, mà còn góp phần khôi phục nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, phát huy hữu hiệu các giá trị văn hóa cổ truyền, giải quyết được bài toán việc làm,… Tại một số nơi, du lịch đã làm thay đổi cơ bản diện mạo đô thị, nông thôn và đời sống nhân dân. Ngành du lịch Việt Nam nói chung cũng như Du lịch quốc tế đến Việt Nam nói riêng cũng đã góp phần đẩy nhanh tốc độ hội nhập của Việt Nam đối với xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ trên toàn thế giới.
Việt Nam dù được đánh giá là một quốc gia có tiềm năng về du lịch, nhưng lại phát triển khá chậm so với nhiều quốc gia trong khu vực, đặc biệt là trong việc thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam thưởng ngoạn. Đó là bởi Việt Nam ta chưa có một chiến lược marketing du lịch hiệu quả, có thể tạo bước đột phá và duy trì sự phát triển bền vững cho toàn ngành du lịch.
Từ những thực tế kể trên, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện chiến lược Marketing Du lịch nhằm thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam”. Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích đầu tiên là nghiên cứu các khái niệm cơ bản về marketing, marketing du lịch và chiến lược marketing du lịch, lấy những khái niệm này làm cơ sở lý luận vững chắc để phân tích những nội dung tiếp theo.
Thứ hai là đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và những hạn chế của chiến lược marketing du lịch của Việt Nam hiện tại.
Cuối cùng là đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược marketing du lịch của Việt Nam và khắc phục những hạn chế, góp phần thúc đẩy Du lịch quốc tế đến Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu
Ngành du lịch Việt Nam và Du lịch quốc tế đến Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Tất cả các yếu tố tác động đến chiến lược marketing du lịch của Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài khóa luận là phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh dựa trên những dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được từ Bộ VHTT&DL và các thông tin qua sách báo, internet,…
6. Kết cấu của khóa luận Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Khóa luận được trình bày thành 3 phần:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về chiến lược marketing du lịch
- Chương 2: Thực trạng chiến lược marketing du lịch tại Việt Nam
- Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện chiến lược marketing du lịch nhằm thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam
Do thời gian nghiên cứu còn chưa nhiều và những hạn chế về khả năng nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô để khóa luận này của em được hoàn chỉnh hơn.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING DU LỊCH
1.1. Tổng quan về marketing
1.1.1. Khái niệm về marketing
Marketing ra đời ở Nhật Bản và Hoa Kỳ trong quá trình tìm kiếm các giải pháp thoát khỏi các bế tắc bởi khủng hoảng thừa của nền kinh tế. Thuật ngữ marketing đã được quốc tế hóa, bắt đầu xuất hiện trên thế giới từ đầu những năm 1990, và trở thành một ngành khoa học đang trong quá trình phát triển và không ngừng hoàn thiện.
Lịch sử hình thành và phát triển của marketing có thể được tổng kết thành 2 thời kỳ. Thời kỳ đầu tiên từ năm 1900 đến năm 1960 là thời kỳ mà marketing được xem là một ngành ứng dụng của khoa học kinh tế, còn thời kỳ từ năm 1960 trở đi thì marketing là một ngành ứng dụng của khoa học hành vi.
Ngay từ khi bắt đầu, đã có rất nhiều khái niệm về marketing được đưa ra. Sau đây là những khái niệm khái quát được các nhà khoa học và chuyên gia hàng đầu đưa ra: Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Theo Hiệp hội Marketing Mỹ (American Marketing Association) – AMA: “Marketing là quá trình tiến hành hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định giá, xúc tiến và phân phối những ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những nhu cầu, mục tiêu của cá nhân, tổ chức, hay của toàn xã hội”. Theo như định nghĩa này, doanh nghiệp tập trung vào các hoạt động: lập kế hoạch marketing, thực hiện chính sách phân phối và các dịch vụ khách hàng nhằm mục đích đưa ra thị trường những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Còn theo Philip Kotler, “cha đẻ” của marketing hiện đại đã đưa ra định nghĩa về marketing như sau: “Marketing là hoạt động của con người hướng tới thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi”. Định nghĩa của ông nhấn mạnh vào quá trình trao đổi. Ông xác định rõ cội nguồn của marketing là nhu cầu, ước muốn và nội dung cơ bản của marketing là sự trao đổi giá trị. Vì vậy, marketing cần cho tất cả mọi người.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản, marketing là một ngành khoa học ứng dụng, tác động xuyên suốt trong quá trình từ sản xuất, phân phối, tiêu thụ; lấy thị trường làm định hướng nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người thông qua trao đổi.
1.1.2. Vai trò của marketing Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Marketing có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày nay:
Marketing thu hẹp khoảng cách và kết nối không gian cũng như mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng: do có sự cách biệt về không gian và thời gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng nên các nhà sản xuất kinh doanh khó có thể nắm bắt kịp thời những thông tin về sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng. Dưới sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống thông tin marketing thì việc nắm bắt những thay đổi từ phía thị trường sẽ trở nên dễ dàng hơn. Do đó, marketing đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp hướng tới thị trường, lấy thị trường, nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc cho mọi quyết định kinh doanh.
Marketing khuyến khích sự phát triển và đưa ra những cái mới, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần. Với những thay đổi nhanh chóng trong nhu cầu, thị hiếu, công nghệ…, mỗi doanh nghiệp không thể chỉ kinh doanh những mặt hàng mà mình hiện có. Khách hàng luôn mong muốn và chờ đợi những mặt hàng mới và hoàn thiện hơn. Marketing buộc các doanh nghiệp phải không ngừng sáng tạo, hoàn thiện các sản phẩm của mình để chúng phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Marketing bao trùm lên mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua việc nghiên cứu hành vi sau mua của khách hàng, marketing sẽ giúp doanh nghiệp tìm ra những phương án giải quyết, khắc phục những lời phàn nàn, khiếu nại của khách hàng để hoàn thiện hơn về mặt hàng kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.
1.2. Tổng quan về chiến lược marketing du lịch Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
1.2.1. Các khái niệm về du lịch
Khái niệm du lịch: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyền đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. (Điểm 1 khoản 4 Luật Du lịch Việt Nam 2005).
Khái niệm khách du lịch: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
- Khách du lịch quốc tế (International tourism): Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. (Điểm 2 điều 4 Luật Du lịch Việt Nam 2005).
- Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourism): là người nước ngoài, người của một quốc gia nào đó định cư ở nước khác vào một quốc gia để du lịch.
- Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourism): là công dân của một quốc gia và người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước khác du lịch.
- Khách du lịch trong nước (Internal tourism): là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
- Khách du lịch nội địa (Domestic tourism): là tất cả những người khách đang đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia (bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế đi vào).
- Khách du lịch quốc gia (National tourism): là tất cả công dân của một quốc gia nào đó đi du lịch (bao gồm đi du lịch trong nước và nước ngoài).
Theo Tổ chức Du lịch thế giới, có các dạng du lịch là:
- Du lịch làm ăn
- Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt
- Du lịch nội quốc, quá biên
- Du lịch tham quan trong thành phố
- Du lịch trên những miền quê (du lịch sinh thái)
- Du lịch khám phá, mạo hiểm, trải nghiệm
- Du lịch hội thảo, triển lãm MICE
- Du lịch giảm stress; du lịch balo
- Du lịch bụi, du lịch tự túc
1.2.2. Khái niệm marketing du lịch Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, đa dạng và phức tạp. Sản phẩm du lịch mang tính tổng hợp và đồng bộ cao bởi đặc điểm của tiêu dùng du lịch. Vì vậy ngành du lịch cũng bao gồm tất cả các khái niệm, phạm trù về marketing mà các ngành khác đang sử dụng thành công trên thị trường. Marketing du lịch có nghĩa là vận dụng lý thuyết marketing trong lĩnh vực du lịch. Vì vậy marketing du lịch cũng bao gồm và tuân thủ các nguyên tắc chung, các nội dung cơ bản của lý thuyết marketing. Tuy nhiên, việc áp dụng các nguyên lý, các nội dung cơ bản của hoạt động marketing phải phù hợp với đặc điểm của sản xuất và tiêu dùng du lịch. Cho đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về marketing du lịch. Sau đây là một số định nghĩa marketing du lịch:
Theo Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organizations) – UNWTO: “Marketing du lịch là một triết lý quản trị, mà nhờ đó tổ chức du lịch nghiên cứu, dự đoán và lựa chọn dựa trên mong muốn của du khách để từ đó đem sản phẩm ra thị trường sao cho phù hợp với mong muốn của thị trường mục tiêu, thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó”.
Định nghĩa của Michael Coltman: “Marketing du lịch là một hệ thống những nghiên cứu và lập kế hoạch nhằm tạo lập cho tổ chức du lịch một triết lý quản trị hoàn chỉnh với các chiến lược và chiến thuật thích hợp để đạt được mục đích”.
Định nghĩa của J C Hollway: “Marketing du lịch là chức năng quản trị, nhằm tổ chức và hướng dẫn tất cả các hoạt động kinh doanh tham gia vào việc nhận biết nhu cầu của người tiêu dùng và nhận biết sức mua của khách hàng, từ đó hình thành cầu về một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể, chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng để đạt được lợi nhuận mục tiêu hoặc mục tiêu của doanh nghiệp du lịch đặt ra”. Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Kế thừa từ các định nghĩa nói trên, từ giác độ quản lý du lịch và giác độ kinh doanh du lịch thì marketing du lịch có thể được hiểu như sau:
Từ giác độ quản lý du lịch: Marketing du lịch là sự ứng dụng marketing trong lĩnh vực du lịch. Marketing của điểm đến du lịch là sự hội nhập hoạt động của các nhà cung ứng du lịch nhằm vào sự thỏa mãn mong muốn của người tiêu dùng du lịch trên mỗi đoạn thị trường mục tiêu, hướng tới sự phát triển bền vững của nơi đến du lịch.
Từ giác độ kinh doanh du lịch: Marketing du lịch là chức năng quản trị của doanh nghiệp du lịch, tất cả các hoạt động của doanh nghiệp du lịch đều phải hướng vào mong muốn của thị trường mục tiêu, đảm bảo rằng doanh nghiệp đưa ra thị trường loại sản phẩm du lịch tốt hơn và sớm hơn sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh để đạt được mục đích. Marketing du lịch là công việc của tất cả mọi người trong doanh nghiệp du lịch, trong đó bộ phận marketing đóng vai trò then chốt.
1.2.3. Chiến lược marketing du lịch
Cũng như chiến lược marketing, chiến lược marketing du lịch là sự lựa chọn mang tính định hướng, kiên định các biện pháp dưới góc nhìn marketing trong trung và dài hạn để đạt được mục tiêu kinh doanh đã đề ra, thông qua việc thực hiện hiệu quả các kế hoạch marketing, các biện pháp marketing hỗn hợp theo từng giai đoạn và tuân thủ theo đúng các định hướng đã đề ra.
Các lựa chọn mang tính định hướng đó là việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, xây dựng hình ảnh, định vị thương hiệu du lịch. Từ đó xây dựng nên các định hướng, chính sách liên quan tới các biện pháp marketing hỗn hợp, thỏa mãn nhu cầu khách hàng của thị trường mục tiêu.
1.2.3.1. Nghiên cứu marketing du lịch Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Nghiên cứu marketing du lịch là xác định một cách có hệ thống những tư liệu cần thiết cho tình huống marketing đặt ra cho doanh nghiệp du lịch, thu thập, phân tích dữ liệu và báo cáo kết quả. Như vậy công việc của nghiên cứu marketing du lịch là lập kế hoạch, hệ thống các dữ liệu cần thu thập, đối chiếu và phân tích nguồn cơ sở dữ liệu giúp cho việc quản trị của doanh nghiệp du lịch ra các quyết định và thực hiện thu được kết quả như mong muốn. Nghiên cứu marketing du lịch bao gồm nghiên cứu sản phẩm, giá cả, phân phối, cạnh tranh, công luận và hành vi của người tiêu dùng trong du lịch. Các phương pháp có thể áp dụng nghiên cứu là phương pháp thống kê, phương pháp quan sát, phương pháp thử nghiệm, phương pháp tình báo kinh tế, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
Mục tiêu của nghiên cứu marketing du lịch:
- Tìm ra đúng mong muốn của người tiêu dùng du lịch và tiềm lực của doanh nghiệp hoặc điểm đến du lịch có khả năng đáp ứng, đưa ra các dự báo cả định tính và định lượng.
- Tìm ra các đối thủ cạnh tranh: hiện tại, tiềm năng, sản phẩm thay thế, đưa ra các dự báo.
- Tìm ra các ảnh hưởng của tiến bộ khoa học công nghệ sẽ chi phối sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến của doanh nghiệp du lịch.
Các nội dung chính nghiên cứu marketing du lịch:
- Nghiên cứu đặc điểm tiêu dùng (mong muốn) của khách du lịch.
- Nghiên cứu cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch.
- Nghiên cứu người tiêu thụ của doanh nghiệp du lịch.
- Nghiên cứu về sản phẩm của doanh nghiệp du lịch.
- Nghiên cứu về xúc tiến của doanh nghiệp du lịch.
- Nghiên cứu về xu hướng vận động của thị trường du lịch.
Các giai đoạn nghiên cứu marketing du lịch: Việc lựa chọn ai nghiên cứu là do tổ chức (doanh nghiệp) du lịch quyết định. Tổ chức (doanh nghiệp) du lịch có thể thuê nghiên cứu theo đơn đặt hàng của mình, hoặc là do bộ phận marketing trong doanh nghiệp du lịch chủ trì thực hiện. Dù người nghiên cứu marketing cho tổ chức (doanh nghiệp) du lịch là ai thì cũng phải tuân theo các giai đoạn sau đây: Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
- Nêu vấn đề, mục tiêu nghiên cứu.
- Đặt kế hoạch nghiên cứu.
- Thu thập dữ liệu.
- Xử lý dữ liệu.
- Viết báo cáo, kết luận về vấn đề nghiên cứu.
1.2.3.2. Định vị thị trường trong du lịch
Theo Philip Kotler: “Định vị là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của công ty làm sao để nó chiếm được một vị trí đặc biệt và có giá trị trong tâm trí của khách hàng mục tiêu”.
Định vị thị trường của du lịch Việt Nam là xác định vị trí của sản phẩm dịch vụ du lịch trên thị trường so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh. Định vị sản phẩm du lịch là mọi nỗ lực cố gắng của ngành du lịch Việt Nam nhằm khắc sâu vào tâm trí của khách hàng mục tiêu những đặc sắc và khác biệt của sản phẩm du lịch.
Sơ đồ 1.1. Các bước định vị của du lịch Việt Nam
- Bước 1: Nhận dạng các khác biệt có thể
- Bước 2: Xác định đối thủ cạnh tranh
- Bước 3: Lựa chọn các khác biệt có giá trị đối với khách hàng
- Bước 4: Quyết định chiến lược định vị
- Bước 5: Truyền thông định vị này trên thị trường Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Bước 1. Nhận dạng các khác biệt có thể: Những khác biệt này có thể đến từ sản phẩm du lịch, nhân sự,… Những khác biệt này là những đặc điểm mà du lịch Việt Nam có thể nghĩ đến được để thực hiện định vị trong tâm trí khách hàng.
Bước 2. Xác định đối thủ cạnh tranh: Du lịch Việt Nam phải xác định được đối thủ cạnh tranh của mình. Khách hàng hoàn toàn có thể tiếp cận với đối thủ cạnh tranh để mua sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự. Vì vậy, du lịch Việt Nam cần phải xác định được điểm mạnh, điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh và tìm hiểu về thị trường mà đối thủ cạnh tranh đang hướng tới để đưa ra những quyết định và chiến lược sáng suốt cho sản phẩm du lịch của mình.
Bước 3. Lựa chọn các khác biệt có giá trị đối với khách hàng: Không phải khác biệt nào được chỉ ra cũng đem lại giá trị cho du lịch Việt Nam và thị trường mục tiêu. Chính vì vậy, du lịch Việt Nam cần phải lựa chọn những khác biệt có ý nghĩa nhất thỏa mãn các yêu cầu: phải quan trọng đối với phần lớn thị trường mục tiêu, phải khác biệt để không bị trùng lặp với đối thủ cạnh tranh, phải được bảo vệ để không bị sao chép, phải mang lại lợi nhuận, phải có khả năng được người mua là những khách du lịch chi trả cho sự khác biệt mà nó mang lại.
Bước 4. Quyết định chiến lược định vị: Du lịch Việt Nam cần quyết định những điểm khác biệt nào sẽ được đưa vào bản đồ định vị của mình, và đặc biệt lưu ý các giai đoạn định vị. Từ đó quyết định chiến lược định vị.
Bước 5. Truyền thông định vị: Các chương trình marketing cần thực hiện xuyên suốt theo chiến lược định vị. Truyền thông định vị là cả một quá trình, từ việc xây dựng và biến các tài nguyên du lịch thành những gói sản phẩm phù hợp với khách hàng mục tiêu, đến các các chính sách giá, chất lượng, và đặc biệt là công tác truyền thông. Đó chính là các biện pháp marketing hỗn hợp, các biện pháp này phải phối hợp với nhau một cách đồng điệu, tổng hòa cho việc truyền bá đúng hình ảnh và mục tiêu định vị của thị trường du lịch.
1.2.3.3. Chiến lược về sản phẩm du lịch Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Du lịch là ngành dịch vụ và sản phẩm của nó là vô hình. Tại thời điểm mua sản phẩm du lịch, người tiêu dùng không thể nhìn thấy sản phẩm, không thể kiểm tra, đánh giá chất lượng của chúng. Chất lượng của sản phẩm chỉ có thể đánh giá sau khi sử dụng. Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch diễn ra tại cùng một thời điểm. Sản phẩm du lịch được tạo ra với sự hiện diện của du khách. Chất lượng của sản phẩm du lịch phụ thuộc vào các đối tượng tham gia trong quá trình sản xuất ra chúng. Đối với sản phẩm du lịch, nếu không được tiêu thụ cũng có nghĩa là không thể lưu kho và hầu như không còn giá trị. Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường tập trung vào những thời điểm nhất định và có tính thời vụ cao.
Khái niệm sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. (Luật Du lịch)
Theo Michael M.Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình. Nó là thức ăn cũng có thể là bầu không khí nơi nghỉ mát”.
Theo Medlik và Middleton: “Đối với ngành du lịch, sản phẩm chính là các kinh nghiệm trọn vẹn có được từ thời điểm một vị khách rời khỏi nhà của họ cho đến khi họ quay trở về”.
Thành phần của sản phẩm du lịch: tài nguyên thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, phong tục tập quán văn hóa, tín ngưỡng, di tích lịch sử, các tiện ích du lịch, cơ sở vật chất, giá cả, con người, các yếu tố khác thu hút khách du lịch của điểm đến.
Như vậy, sản phẩm du lịch có thể được cấu thành từ những bộ phận sau:
- Dịch vụ du lịch: bao gồm dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú ăn uống, dịch vụ tham quan giải trí, dịch vụ mua sắm, dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung. Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
- Tài nguyên du lịch: Là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm: địa hình; khí hậu; nguồn nước; động, thực vật…
- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử văn hóa; các lễ hội; các hoạt động văn hóa, thể thao và các hoạt động nhận thức khác.
Con người: là nguồn nhân lực trong du lịch như các cán bộ cấp Bộ, Sở có quyền ra các quyết định về du lịch mang tính quốc gia; các cán bộ nhân viên của doanh nghiệp du lịch; các hướng dẫn viên du lịch; các cán bộ nhân viên phục vụ trong khách sạn, nhà nghỉ; những người dân sinh sống và làm việc trong các khu du lịch,…
Sản phẩm du lịch có liên quan chặt chẽ đến nhu cầu du lịch của du khách. Vì vậy, để đưa ra được những quyết định về sản phẩm du lịch thì cần phải phân loại nhu cầu du lịch theo tầm quan trọng:
Nhu cầu cốt lõi du lịch: là nhu cầu chính cần thỏa mãn, có thể coi là nguyên nhân chính cho chuyến du lịch, thường thể hiện trong mục đích của chuyến du lịch và được phân loại theo các loại hình dịch vụ du lịch khác nhau. Ví dụ: nhu cầu chính là hội họp thì mục tiêu chuyến đi là tham gia vào sự kiện hội họp, triển lãm. Đó là lĩnh vực du lịch MICE (Meeting, Invention, Conference, Exhibition).
Nhu cầu bổ sung: là các nhu cầu mà khách du lịch mong muốn được trải nghiệm thêm, để thực hiện mục tiêu du lịch chính của mình một cách phong phú, thú vị và hiệu quả. Ví dụ: khi tham gia du lịch hội họp, du khách cũng muốn trải nghiệm, thăm viếng một số di tích, thắng cảnh hoặc thưởng thức một chút văn hóa ẩm thực của địa phương.
Nhu cầu dịch vụ phụ trợ: đó là các nhu cầu đi lại, ăn ở, tiện nghi trong chuyến du lịch. Ví dụ: di chuyển bằng máy bay, được nghỉ trong các khách sạn đạt tiêu chuẩn,… Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Như vậy, một sản phẩm du lịch cần thỏa mãn toàn bộ các loại nhu cầu của du khách, trong đó, nhu cầu cốt lõi là tiên quyết cần được thỏa mãn ở mức cạnh tranh tốt hơn đối thủ. Nhu cầu bổ sung được thỏa mãn, sẽ làm cho chuyến du lịch phong phú, thú vị và có thể tạo ra những niềm vui, sự bất ngờ đối với du khách. Nhu cầu dịch vụ phụ trợ cần được đáp ứng đúng như mong đợi của từng du khách. Mức yêu cầu về tiện nghi thường không hoàn toàn giống nhau đối với du khách, có người coi trọng hoặc không coi trọng tiện nghi trong chuyến du lịch. Tuy nhiên, những đòi hỏi về an toàn, vệ sinh, không bị làm phiền, quấy nhiễu thì hầu như du khách nào cũng muốn.
Chính sách về sản phẩm du lịch bao gồm những nội dung sau:
Đưa ra sản phẩm mới: với chính sách này cần một đội ngũ nhân viên du lịch có tính sáng tạo cao, hiểu sâu sắc nhu cầu của khách du lịch, nhạy bén với sự biến đổi của môi trường. Đối với sản phẩm là các chương trình du lịch, có đặc điểm phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của cầu du lịch và tài nguyên du lịch (cung du lịch), do đó doanh nghiệp du lịch cần nghiên cứu kỹ cả cung và cầu du lịch. Thứ nhất, phải nghiên cứu kỹ để tìm ra các đặc điểm: mục đích, động cơ của chuyến đi; quỹ thời gian rỗi cho tiêu dùng du lịch; thời điểm tiêu dùng du lịch; khả năng thanh toán và yêu cầu về chất lượng và thói quen tiêu dùng của khách du lịch. Thứ hai, phải khảo sát thực địa, nắm rõ địa hình khí hậu, môi trường xã hội, cơ sở hạ tầng, phong tục tập quán, khả năng của các nhà cũng cấp. Như vậy thì sản phẩm du lịch khi xây dựng xong mới bán được và mang tính khả thi.
Hoàn thiện bổ sung cho sản phẩm cũ: đó là những sản phẩm truyền thống của doanh nghiệp, những sản phẩm mà nhiều doanh nghiệp cũng có. Sự hoàn thiện này chỉ có thể là tăng cường chất lượng sản phẩm, có thể khiến các kỳ vọng của du khách không chỉ đúng như họ mong muốn mà còn nhiều hơn thế, hoặc là những hậu mãi khi kết thúc chuyến du lịch. Ví dụ: cùng là chuyến đi Hạ Long, nhưng thay vì đến những nơi quen thuộc như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ thì chuyển sang thăm địa điểm khác như thăm làng chài, hang Sửng Sốt, hang Trinh Nữ,… Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Quản lý thương hiệu sản phẩm: các doanh nghiệp du lịch đều phải xây dựng thương hiệu cho mình. Vì thương hiệu mang lại lợi ích to lớn cho cả khách hàng và doanh nghiệp và là tiêu thức để khách hàng mua sản phẩm. Doanh nghiệp du lịch ra quyết định về hình ảnh của thương hiệu, gắn thương hiệu vào sản phẩm, giá cả, chất lượng để tạo ra thương hiệu mạnh trên thị trường du lịch. Mục đích của việc quản lý thương hiệu của doanh nghiệp du lịch là tăng sự trung thành của khách hàng. Đó là do giữ chân khách hàng hiện tại dễ dàng hơn tìm kiếm khách hàng mới, nhất là khi khách hàng đã thỏa mãn với thương hiệu của doanh nghiệp thì mức độ trung thành của khách hàng sẽ cao hơn.
1.2.3.4. Chiến lược giá trong du lịch
Khi xác định giá cho sản phẩm du lịch, doanh nghiệp du lịch cần xem xét quy trình sáu bước sau:
- Thứ nhất, doanh nghiệp du lịch cần xác định một cách thận trọng mục tiêu marketing của mình như việc đảm bảo sống sót, tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa mức tiêu thụ hay dành vị trí dẫn đầu về mặt chất lượng.
- Thứ hai, doanh nghiệp du lịch cần xác định đồ thị nhu cầu thể hiện số lượng sản phẩm du lịch theo nhu cầu thị trường trong thời kỳ nhất định, với mức giá khác nhau. Nhu cầu càng không co giãn theo giá thì doanh nghiệp có thể định giá càng cao.
- Thứ ba, doanh nghiệp du lịch sẽ ước tính giá thành của mình thay đổi như thế nào với mức sản lượng khác nhau và với trình độ kinh nghiệm sản xuất khác nhau.
- Thứ tư, doanh nghiệp khảo sát giá của đối thủ cạnh tranh để làm cơ sở xác định vị trí cho giá của mình.
- Thứ năm, doanh nghiệp du lịch lựa chọn phương pháp định giá: định giá dựa trên chi phí; định giá dựa trên nguyên tắc phân tích hòa vốn và mức lợi nhuận mục tiêu; định giá dựa trên cảm nhận của du khách; định giá dựa theo mức giá của đối thủ cạnh tranh. Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
- Thứ sáu, doanh nghiệp du lịch lựa chọn giá cuối cùng của mình và kiểm tra xem có phù hợp với các chính sách định giá của doanh nghiệp không và đảm bảo nó sẽ được Pháp luật và Nhà nước chấp nhận.
Khi có sự thay đổi trên thị trường, doanh nghiệp du lịch cần có sự điều chỉnh giá sao cho phù hợp. Mặt khác, doanh nghiệp du lịch cũng cần xem xét việc chủ động thay đổi giá, nhưng phải thận trọng với những phản ứng của khách hàng và đối thủ cạnh tranh. Khi phải đương đầu với sự thay đổi giá từ phía đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp cần bình tĩnh và cố gắng tìm hiểu được ý đồ của đối thủ cạnh tranh trong thời gian thay đổi giá để có những phản ứng mau lẹ và đưa ra giải pháp thích hợp.
Chính sách giá có thể áp dụng cho tổ chức du lịch Việt Nam:
- Chính sách tự nguyện niêm yết giá cao nhất: Hàng năm, các khách sạn và các nơi cung cấp các dịch vụ du lịch phải khai báo với Cơ quan quản lý về du lịch ở từng địa phương về giá phòng và giá dịch vụ cao nhất cho từng loại phòng và dịch vụ trong năm đó, và họ chỉ được phép bán bằng hoặc thấp hơn giá đã công bố.
- Chính sách mức giá sàn: Tổng cục Du lịch sẽ đưa bảng liệt kê các mức giá sàn cho các sản phẩm và dịch vụ, theo đó các doanh nghiệp sẽ phải định giá cho các sản phẩm và dịch vụ của mình cao hơn mức giá sàn này.
Ngoài ra còn một số chính sách khác như chính sách áp dụng thuế du lịch, chính sách giá linh hoạt,…
1.2.3.5. Chiến lược kênh phân phối trong du lịch Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Theo Philip Kotler: “Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra và vận chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng”.
Do sản phẩm du lịch là vô hình, có sự trao đổi trực tiếp giữa người bán và người mua không qua trung gian, nên trên thực tế, trong du lịch không có kênh phân phối.
1.2.3.6. Chiến lược xúc tiến trong du lịch
Hoạt động marketing hiện đại rất quan tâm đến chiến lược xúc tiến hỗn hợp. Đây là một chiến lược chủ yếu trong marketing – mix mà các tổ chức và doanh nghiệp du lịch cần phải sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu của mình.
Theo Giáo trình Marketing Du lịch của TS. Nguyễn Đình Hòa: “Chiến lược xúc tiến hỗn hợp là một quá trình truyền thông do người bán thực hiện nhằm gây ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành vi của người mua và cuối cùng là thuyết phục họ mua những sản phẩm du lịch của mình”.
Theo nghĩa rộng: Hoạt động xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch (Theo Khoản 17, Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam 2005).
Như vậy, theo tinh thần của Luật Du lịch Việt Nam thì thuật ngữ xúc tiến du lịch chính là tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân trong cả nước và bạn bè quốc tế hiểu biết về du lịch Việt Nam.
Để thực hiện xúc tiến hỗn hợp thì cần các công cụ xúc tiến. Có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu marketing về xúc tiến hỗn hợp trong du lịch. Theo Alastair, M. Morrison thì xúc tiến hỗn hợp trong du lịch gồm 4 công cụ chủ yếu:
- Quảng cáo và in ấn
- Quan hệ công chúng
- Xúc tiến bán (khuyến mại)
- Bán hàng trực tiếp
Theo quan điểm của Philip Kotler, các công cụ xúc tiến còn có thêm:
- Mạng Internet/ Phương tiện truyền thông tương tác
- Marketing trực tiếp Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Đối với đặc thù là marketing du lịch, các công cụ xúc tiến hỗn hợp phù hợp nhất có thể triển khai bao gồm:
Quan hệ công chúng (Public Relations)
Theo hai chuyên gia về PR người Mỹ là Scott M.Cutlips và Allen H.Center: “PR là một nỗ lực có kế hoạch nhằm tác động đến quan điểm của công chúng thông qua sản phẩm tốt và kinh doanh có trách nhiệm dựa trên giao tiếp hai chiều đôi bên cùng có lợi”.
Quan hệ công chúng trong du lịch là việc một cơ quan tổ chức hay doanh nghiệp du lịch chủ động quản lý các quan hệ giao tiếp cộng đồng để tạo dựng và giữ gìn hình ảnh tích cực của mình. Hoạt động quan hệ công chúng trong du lịch bao gồm việc thông cáo báo chí và các bài viết trên báo đài, quảng bá hình ảnh thành công, giảm nhẹ ảnh hưởng của các thất bại trước đó, công bố các thay đổi và một số hoạt động khác.
Tiện ích nổi bật của quan hệ công chúng: đáng tin cậy, chi phí thấp, hướng đến từng nhóm đối tượng cụ thể, mang đến nhiều thông tin cho đối tượng khách hàng, công tác PR hiệu quả sẽ giúp xây dựng hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp du lịch trong công chúng.
Quảng cáo (Advertising)
Quảng cáo là một công cụ quan trọng, có giá trị then chốt trong xúc tiến hỗn hợp. Theo Phó G.S – T.S Nguyễn Văn Mạnh: “Quảng cáo là một nghệ thuật giới thiệu hàng hóa hay dịch vụ nhắm tới một thị trường mục tiêu nhất định được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông và phải trả tiền”. Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Quảng cáo gồm 3 chức năng chính: Chức năng cung cấp thông tin, chức năng thuyết phục và chức năng gợi nhớ.
Hiện nay, mô hình quảng cáo được áp dụng rộng rãi nhất trong du lịch là mô hình AIDAS của Mỹ. Theo đó, thông điệp quảng cáo phải tạo ra được sự chú ý, thu hút được sự quan tâm, kích thích mong muốn, khao khát trải nghiệm, thúc đẩy hành động mua của khách hàng, từ đó đem lại sự thỏa mãn cho họ.
Sơ đồ 1.2. Mô hình quảng cáo AIDAS
Trong đó:
- Attention: Tạo ra sự chú ý
- Interest: Gây được sự quan tâm, chú ý
- Desire: Tạo ra niềm khao khát, mong muốn
- Action: Thúc đẩy hành động mua sản phẩm
- Satisfaction: Đem lại sự thỏa mãn cho khách hàng
Các bước cơ bản để thực hiện một chiến dịch quảng cáo:
Sơ đồ 1.3. Quy trình thực hiện chiến dịch quảng cáo
- Xác định mục tiêu quảng cáo
- Xác định ngân sách quảng cáo
- Quyết định thông điệp quảng cáo
- Quyết định phương tiện quảng cáo
- Đánh giá hiệu quả quảng cáo Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Xác định mục tiêu quảng cáo: một chiến dịch quảng cáo muốn thành công thì cần xác định được mục tiêu rõ ràng và chính xác. Mục tiêu quảng cáo là kết quả mà doanh nghiệp mong muốn đạt được và có khả năng thực hiện thành công trong tương lai, dựa vào những kết quả thu được từ hoạt động phân tích và nghiên cứu thị trường trước đó.
Xác định ngân sách quảng cáo: là khoản chi phí mà doanh nghiệp quảng cáo sẵn sàng bỏ ra để thực hiện chiến dịch quảng cáo, nó phụ thuộc vào mục tiêu quảng cáo và khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Quyết định thông điệp quảng cáo: việc tạo được thông điệp quảng cáo đòi hỏi giải quyết được 3 vấn đề: nói cái gì (nội dung thông điệp), nói thế nào cho hợp lý (cấu trúc thông điệp), nói thế nào cho có hiệu quả (hình thức thực hiện thông điệp).
Quyết định phương tiện quảng cáo: tùy vào các yếu tố được quyết định trong chiến dịch quảng cáo của doanh nghiệp mà chọn một hay kết hợp nhiều phương tiện truyền thông để quảng cáo sản phẩm, dịch vụ của mình.
Đánh giá hiệu quả quảng cáo: để đảm bảo chiến dịch quảng cáo đi đúng hướng, ban quản trị quảng cáo phải có một hệ thống theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện.
Xúc tiến bán/ Khuyến mại (Sales Promotion)
Xúc tiến bán là nhóm công cụ truyền thông sử dụng hỗn hợp các công cụ cổ động, kích thích khách hàng để tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm tại chỗ tức thì.
Xúc tiến bán bao gồm hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, hoạt động khuyến mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ. Mục đích của các hoạt động xúc tiến bán là tìm kiếm, khai thác, khuyến khích các khách hàng tiềm năng quan tâm, tìm hiểu và trải nghiệm sản phẩm; thúc đẩy sự tiêu dùng mạnh mẽ hơn của khách hàng hiện tại và thu hút các khách hàng đang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về phía mình.
Tiện ích nổi bật: có tác động trực tiếp và tích cực tới việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất và tinh thần bổ sung cho người mua là các khách du lịch. Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Mạng Internet/ phương tiện truyền thông tương tác (The internet/ Interactive media) là việc sử dụng mạng internet kết hợp với các phương tiện truyền thông tích hợp khác để xúc tiến sản phẩm và dịch vụ đến với khách hàng.
Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, ngày càng có nhiều người sử dụng internet với mục đích tìm kiếm thông tin, lựa chọn sản phẩm dịch vụ, yêu cầu tư vấn, đặt hàng. Các hoạt động marketing online mà ngành du lịch có thể áp dụng như: quảng bá trên mạng xã hội, quảng cáo online, email marketing, du lịch ảo, mobile marketing,…
Những tiện ích nổi bật mà phương thức này đem lại:
Thuận lợi về không gian và thời gian: bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, miễn là khách hàng có trên tay phương tiện truy cập internet như smartphone hay tablet có kết nối internet thì họ đều có thể thực hiện các thao tác phục vụ nhu cầu bản thân về các thông tin địa điểm du lịch, tour du lịch, khách sạn,…
Thông tin: lượng thông tin trên internet luôn đa dạng về các nguồn cung cấp, các mảng thông tin, chiều sâu và bề rộng của thông tin, khách du lịch có thể tìm hiểu tất cả thông tin về sản phẩm du lịch mà họ quan tâm.
So sánh: chỉ cần những thao tác đơn giản, khách hàng có thể so sánh ngay được giá cả, chất lượng của các điểm đến du lịch để đưa ra lựa chọn, hoặc tham khảo các trải nghiệm của những người từng tham quan du lịch tại địa điểm đó, tìm hiểu các cẩm nang tư vấn…
In ấn (Printing) Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Trong hoạt động xúc tiến cho du lịch, không thể không nhắc tới những ấn phẩm du lịch. Ấn phẩm thông tin du lịch được xem như một phương tiện quan trọng được hầu hết các doanh nghiệp, quốc gia sử dụng để cung cấp những thông tin cần thiết cho du khách. Trong thực tế, có rất nhiều loại ấn phẩm với nhiều thể loại, chất liệu có giá trị đang được sử dụng. Ấn phẩm du lịch có những vai trò chính như sau:
- Là phương tiện chính cung cấp thông tin cho khách du lịch.
- Tạo dựng và nâng cao hình ảnh của địa điểm du lịch.
- Hướng dẫn khách du lịch lựa chọn địa điểm du lịch.
- Hướng dẫn khách du lịch lựa chọn sản phẩm du lịch.
Mục đích của việc sử dụng ấn phẩm du lịch bao gồm: nâng cao hình ảnh của địa điểm du lịch, tạo niềm tin cho khách du lịch tiềm năng và quảng cáo để bán sản phẩm du lịch.
1.2.3.7. Chiến lược về con người trong du lịch
Con người là nguồn lực quan trọng nhất trong mọi thành công. Nếu con người không tuyệt vời, thì tại sao một đất nước ít tài nguyên như Nhật Bản luôn là đất nước giàu có thứ ba trên thế giới (chỉ sau Mỹ và Trung Quốc); Một đất nước nhỏ bé như Singapore lại có thu nhập trên đầu người thuộc loại cao nhất thế giới? Câu trả lời dễ dàng được chấp nhận đó là nhờ có con người.
Một đất nước có tiềm năng du lịch mà không có con người đủ năng lực khai thác, phát triển, gìn giữ tài nguyên thì không những không giúp phát triển du lịch mà còn phá hủy đi nguồn tài nguyên đó. Người ta cho rằng, con người có thể làm nên tất cả, trừ tài nguyên thiên nhiên. Con người có thể thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng chính sách, đào tạo kỹ năng quản lý và phục vụ du lịch,… Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Do đó, yếu tố con người đóng vai trò quyết định cho sự thành công của ngành du lịch. Với đặc thù ngành, yếu tố con người trong du lịch bao gồm:
Nguồn nhân lực du lịch: những người làm chuyên môn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động du lịch. Xét trên mức độ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với ngành du lịch, nguồn nhân lực du lịch có thể chia thành 3 nhóm:
Nhóm lao động chức năng quản lý Nhà nước về du lịch: gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch từ Trung ương xuống địa phương như Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch, hoặc Sở Thương mại Du lịch ở các tỉnh thành phố, phòng quản lý du lịch ở các quận, huyện,…Nhóm lao động này có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch quốc gia và địa phương, tham mưu cho các cấp Đảng và chính quyền trong việc đề ra đường lối và chính sách phát triển du lịch bền vững và hiệu quả. Mặt khác, họ cũng đại diện cho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả cũng như kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh đó.
Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch: bao gồm những người làm việc ở các cơ sở giáo dục, đào tạo như cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các bộ nghiên cứu ở các viện khoa học về du lịch. Nhóm này có chức năng đào tạo và nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Nhóm lao động chức năng kinh doanh ngành du lịch: đây là nhóm lao động chiếm số lượng lớn nhất trong lực lượng lao động du lịch. Đó là những người tham gia lao động trong doanh nghiệp du lịch. Cụ thể, đó là lãnh đạo thuộc các đơn vị kinh tế cơ sở, các cán bộ phòng ban tài chính – kế toán – nhân sự, các nhân viên marketing du lịch, các hướng dẫn viên du lịch, các nhân viên trong khách sạn, khu du lịch,… Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Con người xã hội: những người mà công việc của họ không liên quan gì tới du lịch nhưng họ có thể tham gia một cách có ý thức hoặc vô thức, ảnh hưởng tới cảm nhận của du khách.
Chiến lược về con người trong du lịch tập trung phát triển 2 nội dung trên. Chiến lược về phát triển nguồn nhân lực hiện nay bao gồm việc đào tạo các cán bộ nghiên cứu du lịch; Các hướng dẫn viên du lịch và nhân viên khách sạn có trình độ chuyên môn, kiến thức, thái độ tốt nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Trong chiến lược về con người xã hội thì chính là phát triển và nâng cao ý thức giữ gìn bảo vệ tài nguyên du lịch của người dân, không những thế còn là những ý thức thái độ cư xử của người dân đối với du khách tham quan để gây được thiện cảm đối với du khách.
1.2.3.8. Chiến lược về hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ du lịch
Muốn đánh giá sự phát triển của ngành du lịch thì không thể chỉ dựa trên số lượng du khách gia tăng mà còn phải dựa trên chất lượng dịch vụ. Đây là yếu tố then chốt giúp ngành du lịch phát triển lâu dài và đạt được doanh thu cao, tạo nên uy tín và thương hiệu cho các doanh nghiệp du lịch và tổ chức du lịch quốc gia.
Hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ du lịch sẽ bao gồm những tiêu chuẩn về đánh giá tài nguyên du lịch; Tiêu chuẩn đánh giá tổ chức thực hiện dịch vụ du lịch.
Tiêu chuẩn đánh giá tài nguyên du lịch: một tài nguyên du lịch hấp dẫn trước hết phải thỏa mãn điều kiện của một tài nguyên du lịch, nghĩa là bản thân tài nguyên đó đã mang trong nó một giá trị tài nguyên du lịch nào đó. Đánh giá, xếp hạng là cả một công việc công phu, phức tạp theo một chương trình được tổ chức bài bản, được chỉ đạo thực hiện bởi Tổng cục Du lịch hoặc một cơ quan quản lý nhà nước trong sự kết hợp chặt chẽ với các sở du lịch các tỉnh. Ví dụ: di sản văn hóa thế giới do UNESCO xếp hạng, di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia do Bộ VHTT&DL xếp hạng,…
Tiêu chuẩn đánh giá tổ chức thực hiện dịch vụ du lịch: Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
- Nguồn nhân lực: dịch vụ được cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ. Vì vậy, thông qua thái độ và trình độ phục vụ, có thể xây dựng nên các tiêu chuẩn đánh giá và kiểm tra thường xuyên.
- Các phương tiện hữu hình phục vụ du lịch: cơ sở lưu trú, phương tiện di chuyển, dịch vụ giải trí dành cho du khách cũng phải có các tiêu chuẩn khắt khe để đánh giá, phân hạng sao cho phù hợp với quy mô của tour du lịch, khách sạn,…
- Mức độ tin cậy và uy tín: mức độ an toàn và uy tín của doanh nghiệp khai thác sẽ dựa vào hệ thống đánh giá chất lượng và phản hồi của khách du lịch theo chu kỳ và sẽ có đánh giá để tăng điểm uy tín cho doanh nghiệp nếu nhận được phản hồi tốt, chất lượng tour được đảm bảo và sẽ hạ điểm uy tín nếu nhận được các phản hồi tiêu cực và chất lượng không đảm bảo như cam kết.
Những tiêu chuẩn trong hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ du lịch là kim chỉ nam, là công cụ cho các tổ chức du lịch hoàn thiện chất lượng sản phẩm du lịch.
1.2.3.9. Chiến lược về cơ sở hạ tầng trong du lịch Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Đối với marketing dịch vụ, đặc biệt là trong du lịch, một trong những thách thức lớn khi triển khai các chiến lược marketing đó là khiến cho khách hàng có thể tin tưởng vào chất lượng dịch vụ ngay từ khi có được những thông tin ban đầu, từ đó ra quyết định sử dụng dịch vụ.
Để làm được điều đó, người làm marketing du lịch phải tạo dựng được các “bằng chứng hiện hữu”. Trong du lịch, đó chính là sự tạo ra, quản lý, sắp xếp, sử dụng và trình bày các nội dung hữu hình trong quá trình tham gia du lịch như: cơ sở lưu trú, mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các điểm bán hàng, địa điểm vui chơi, tham quan nhằm đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách du lịch.
- Cơ sở lưu trú: khách sạn, nhà nghỉ, các làng du lịch, resort, lều trại,…không chỉ là đối tượng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của khách du lịch mà nó còn là một phần cơ bản để tạo nên các sản phẩm du lịch. Khả năng đáp ứng nhu cầu lưu trú là yếu tố thu hút và lôi kéo khách ở lại lâu hơn và tiêu dùng nhiều hơn.
- Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải: đây là những nhân tố quan trọng vì du lịch gắn liền với việc di chuyển con người. Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện và nhanh chóng thì du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội.
- Thông tin liên lạc: là bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Đó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế.
- Các điểm bán hàng, mua sắm: nhu cầu mua sắm của khách du lịch là một nhu cầu thiết yếu, bởi bất kỳ ai khi đi du lịch đều muốn thử dùng các sản vật nơi đến hoặc mua về làm quà tặng.
- Các địa điểm vui chơi, giải trí: song song với cảnh quan thiên nhiên của nơi đến thì các hoạt động vui chơi giải trí diễn ra tại đó cũng là yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch. Điều này sẽ khiến du khách sử dụng nhiều hơn các dịch vụ du lịch của nơi đến.
1.3. Kết luận Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
Cùng với xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế toàn cầu, cắt giảm tỷ trọng của những ngành công nghiệp nặng, thì đẩy mạnh phát triển dịch vụ đã trở thành lĩnh vực chủ lực của kinh tế. Do đó, du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
Nội dung chương 1 là những lý luận chung nhất về marketing cũng như chiến lược marketing trong du lịch, sẽ áp dụng trong việc hoàn thiện chiến lược marketing du lịch nhằm thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam. Những khái niệm cũng như lý luận đã được trình bày tuy không phải là toàn bộ nhưng đã được chắt lọc những lý thuyết liên quan nhất. Từ đó tiến hành xây dựng chiến lược cùng các chính sách marketing du lịch phù hợp giúp ngành du lịch Việt Nam phát triển mạnh mẽ, trở thành điểm du lịch hấp dẫn, thu hút khách du lịch quốc tế nhiều hơn trong thời gian tới. Khóa luận: Chiến lược marketing du lịch thu hút khách Quốc Tế.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng chiến lược marketing du lịch tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

