Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Tóm tắt nội dung luận văn: Luận văn này đã tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại, đồng thời bổ sung các lập luận cơ bản về quá trình chuyển đổi số và tự do tài chính. Đồng thời, luận văn này đã lược khảo các nghiên cứu liên quan trong nước và nước ngoài để xác định các khoảng trống nghiên cứu đối với các vấn đề về chuyển đổi số và mức độ tự do hóa tài chính, đặc biệt là với bối cảnh tại các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Do đó, tại luận văn này tác giả đã đề xuất xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến hai nhóm yếu tố là nội tại ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế. Trong đó, các yếu tố bao gồm: Quy mô ngân hàng; tỷ lệ VCSH; tỷ lệ chi phí hoạt động; hệ số an toàn vốn; tăng trưởng tín dụng; dự phòng RRTD; tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lạm phát; sở hữu Nhà nước; đại dịch Covid 19; chuyển đổi số; tự do hóa tài chính. Trong số các NHTM được niêm yết tại Việt Nam thì luận văn lựa chọn 24 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam, không tính đến các NHTMCP có vốn sở hữu nước ngoài 100% hay đặt trụ sở đại diện tại Việt Nam. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các BCTC hợp nhất trong giai đoạn 2014 – 2024. Kết quả các biến số quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ VCSH (LEV); tỷ lệ chi phí hoạt động (ME); hệ số an toàn vốn (CAR) tăng trưởng tín dụng (LOAN); chuyển đổi số (DIGI); tự do hóa tài chính (FL) tác động tích cực đến ROE. Ngoài ra, tỷ lệ dự phòng RRTD (LLR); tăng trưởng kinh tế (GDP); cấu trúc sở hữu Nhà nước (STA) tác động tiêu cực đến ROE. Ngược lại, lạm phát (INF), đại dịch Covid 19 (COVID) không có ý nghĩa thống kê với P – value lớn hơn 5%, do đó hai biến số này không tác động đến ROE. Từ kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở cho luận văn sẽ đề xuất các hàm ý quản trị khả thi đến các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam để gia tăng hiệu quả tài chính trong tương lai với bối cảnh hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Hiệu quả tài chính, hội nhập quốc tế, niêm yết, nội tại, vĩ mô nền kinh tế.
- ABSTRACT
Title: Factors affecting the financial performance of listed joint-stock commercial banks in Vietnam in the context of international integration.
Abstract: This thesis synthesizes fundamental theories regarding the business efficiency of commercial banks, while incorporating core arguments on digital transformation and financial liberalization. Furthermore, the study conducts a comprehensive literature review of both domestic and international research to identify research gaps concerning digital transformation and the degree of financial liberalization, particularly within the context of banks listed on the Vietnamese stock market. Consequently, the author proposes a research model and hypotheses related to two groups of determinants: bank-specific (internal) factors and macroeconomic (external) factors. The variables investigated include: Bank size; equity-to-asset ratio; operating expense ratio; capital adequacy ratio; credit growth; loan loss provisions; economic growth; inflation rate; state ownership; the COVID-19 pandemic; digital transformation and financial liberalization. From the population of commercial banks listed in Vietnam, the thesis selects a sample of 24 listed joint-stock commercial banks (JSCBs), excluding 100% foreign-owned banks or representative offices. Secondary data were collected from consolidated financial statements for the period 2014 – 2024. The empirical results indicate that bank size (SIZE), equity ratio (LEV), operating expense ratio (ME), capital adequacy ratio (CAR), credit growth (LOAN), digital transformation (DIGI), and financial liberalization (FL) exert a positive impact on the Return on Equity (ROE). Conversely, loan loss provisions (LLR), economic growth (GDP), and State ownership (STA) have a negative impact on ROE. In contrast, inflation (INF) and the COVID-19 pandemic (COVID) are not statistically significant (p-value > 5%), suggesting that these two variables do not influence ROE. Based on these findings, the thesis proposes feasible managerial implications for listed JSCBs in Vietnam to enhance their business efficiency in the future context of international integration.
Keywords: financial performance, international integration, listed, internal factors, macroeconomics.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Hệ thống ngân hàng thương mại giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc tài chính của nền kinh tế thông qua chức năng trung gian tài chính và phân bổ nguồn lực vốn. Theo Farrell (1957), hiệu quả hoạt động phản ánh mức độ sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào nhằm tạo ra đầu ra mong muốn. Trong lĩnh vực ngân hàng, Hiệu quả tài chính không chỉ thể hiện khả năng sinh lời mà còn phản ánh năng lực quản trị, mức độ kiểm soát rủi ro và tính bền vững trong hoạt động (Rose, 2002). Do đó, Hiệu quả tài chính được xem là chỉ báo quan trọng đánh giá mức độ lành mạnh của ngân hàng trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Các nghiên cứu trước đây đã tiếp cận vấn đề hiệu quả tài chính ngân hàng theo nhiều hướng khác nhau. Một số nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của các yếu tố nội tại như quy mô, cấu trúc vốn và chi phí hoạt động. Lý thuyết về quy mô kinh doanh cho thấy quy mô có thể tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô, từ đó cải thiện hiệu quả (Salas & Saurina, 2002), nhưng cũng có thể làm gia tăng rủi ro nếu mở rộng quá mức (Boyd & Gertler, 1994). Lý thuyết hiệu quả và quản trị ngân hàng của Berger và DeYoung (1997) chỉ ra rằng quản trị kém hiệu quả có thể dẫn đến gia tăng nợ xấu và làm suy giảm lợi nhuận. Những lập luận này cho thấy các đặc điểm nội tại đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích sự khác biệt về Hiệu quả tài chính giữa các ngân hàng.
Bên cạnh đó, các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng được chứng minh có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Theo Demirgüç-Kunt và Huizinga (1999), điều kiện kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP và lạm phát có thể tác động đến biên lợi nhuận và cấu trúc chi phí của ngân hàng. Lý thuyết chu kỳ kinh tế của Samuelson (1952) cũng cho thấy hiệu quả ngân hàng mang tính đồng biến với chu kỳ kinh tế, trong đó suy thoái kinh tế thường làm gia tăng rủi ro tín dụng và chi phí dự phòng.
Trong bối cảnh hội nhập tài chính, các nghiên cứu gần đây mở rộng phân tích sang yếu tố mở cửa thị trường và cạnh tranh quốc tế. Claessens và Van Horen (2019) cho rằng sự tham gia của ngân hàng nước ngoài có thể làm thay đổi cấu trúc thị trường và ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng nội địa. Acharya và cộng sự (2021) chỉ ra rằng hội nhập tài chính vừa tạo cơ hội đa dạng hóa nguồn thu, vừa làm gia tăng rủi ro lây lan từ các cú sốc toàn cầu. Điều này hàm ý rằng hiệu quả tài chính của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm nội tại và môi trường vĩ mô, mà còn chịu tác động từ mức độ hội nhập tài chính.
Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ tài chính và chuyển đổi số đang trở thành một nhân tố mới ảnh hưởng đến cấu trúc chi phí và mô hình kinh doanh của ngân hàng. Theo Ozili (2023), việc ứng dụng công nghệ có thể giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí giao dịch và cải thiện lợi nhuận. Tuy nhiên, tác động thực nghiệm của chuyển đổi số đến hiệu quả tài chính trong các nền kinh tế mới nổi vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về hiệu quả ngân hàng chủ yếu tập trung vào tác động của các yếu tố nội tại và một số biến vĩ mô truyền thống, trong khi việc kết hợp đồng thời các yếu tố nội tại, yếu tố vĩ mô và yếu tố hội nhập tài chính trong cùng một khung phân tích còn hạn chế. Đồng thời, bối cảnh giai đoạn 2014–2024 chứng kiến quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng, gia tăng yêu cầu an toàn vốn, đẩy mạnh chuyển đổi số và chịu tác động của đại dịch Covid-19 – những yếu tố có khả năng làm thay đổi cấu trúc lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng.
Như vậy, tồn tại khoảng trống nghiên cứu ở việc thiếu một mô hình phân tích tích hợp đồng thời các yếu tố nội tại ngân hàng, môi trường vĩ mô và hội nhập tài chính, đặc biệt trong bối cảnh các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam đang chịu áp lực cạnh tranh và chuyển đổi mạnh mẽ. Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính trong khung thời gian cập nhật là cần thiết nhằm bổ sung bằng chứng thực nghiệm và cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách cũng như quản trị ngân hàng.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, luận văn lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn được thực hiện nhằm xác định các yếu tố và xác định chiều hướng tác động đến Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ đó, đề xuất các hàm ý quản trị cho các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam nhằm gia tăng Hiệu quả tài chính trong tương lai với bối cảnh hội nhập quốc tế.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, xác định các yếu tố tác động đến Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Thứ hai, xác định chiều hướng tác động của các yếu tố đến Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Thứ ba, đề xuất các hàm ý quản trị cho các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam nhằm gia tăng Hiệu quả tài chính trong tương lai với bối cảnh hội nhập quốc tế.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, các yếu tố nào tác động đến Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ?
Thứ hai, chiều hướng tác động của các yếu tố đến Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế như thế nào ?
Thứ ba, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam nhằm gia tăng Hiệu quả tài chính trong tương lai với bối cảnh hội nhập quốc tế.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp của 24 Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam, số lượng ngân hàng này chiếm hơn 75% tổng tài sản và thị phần của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời số lượng ngân hàng lựa chọn có dữ liệu được công bố trên các trang thông tin đại chúng đầy đủ từ 2014 – 2024.
Về thời gian: Dữ liệu thu thập từ các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam từ 2014 – 2024, giai đoạn này tình hình kinh tế có nhiều biến động ví dụ như giai đoạn 2015 – 2016 thì NHNN thực hiện cải cách về các quy định thắt chặt tín dụng nhằm giảm nợ xấu, tại năm 2018 là thời điểm suy thoái kinh tế và từ năm 2020 – 2021 thì xuất hiện đại dịch Covid 19 với những tác động tiêu cực cho nền kinh tế. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp hai phương pháp chính đó là định tính và định lượng. Trong đó nghiên cứu định tính nhằm giải quyết được mục tiêu nghiên cứu thứ nhất đó là xác định các yếu tố tác động đến Hiệu quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại, từ việc tổng hợp khung lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm để xác định các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam, đặc biệt gắn vối bối cảnh hội nhập quốc tế. Ngoài ra, nghiên cứu định tính còn được thể hiện qua việc đánh giá tình hình chung của Hiệu quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam thông qua dữ liệu chung được thống kê từ 2014 – 2024.
Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn vẫn là nghiên cứu định lượng nhằm giải quyết được hai mục tiêu đó là đo lường sự tác động của các yếu tố đến Hiệu quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và từ đó đề xuất các hàm ý quản trị. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thì cần thiết nhất là thu thập dữ liệu thứ cấp của các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024 và thiết kế dạng bảng. Thông qua dữ liệu đã thu thập tiến hành xử lý bằng phần mềm thống kê STATA 14.0. Luận văn sẽ tiếp tục thực hiện thống kê mô tả đặc điểm của các biến số, sau đó hồi quy với các mô hình như Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên cơ sở các mô hình hồi quy sẽ thực hiện hàng loạt các kiểm định như Hausman, F – test nhằm lựa chọn mô hình phù hợp, từ đó kiểm định sự xuất hiện các khuyết tật sau đó khắc phục chúng với phương pháp FGLS để có được kết quả hồi quy cuối cùng tạo cơ sở để kết luận các giả thuyết đang nghiên cứu và đề xuất các hàm ý quản trị cho các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam.
1.6. Đóng góp của luận văn Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
- Nghiên cứu này có những đóng góp chủ yếu sau:
Thứ nhất, về phương diện lý luận, luận văn xây dựng một khung phân tích tích hợp đồng thời ba nhóm nhân tố gồm yếu tố nội tại ngân hàng, yếu tố kinh tế vĩ mô và yếu tố hội nhập tài chính trong cùng một mô hình nghiên cứu thống nhất. Cách tiếp cận này giúp làm rõ vai trò tương tác giữa các đặc điểm cấu trúc của ngân hàng với môi trường kinh tế và mức độ mở cửa tài chính trong việc quyết định Hiệu quả tài chính. Qua đó, nghiên cứu góp phần mở rộng hướng tiếp cận truyền thống vốn thường xem xét riêng lẻ từng nhóm yếu tố.
Thứ hai, nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm cập nhật cho giai đoạn 2014–2024 – thời kỳ hệ thống ngân hàng Việt Nam trải qua tái cơ cấu sâu rộng, áp dụng các chuẩn mực an toàn vốn mới và đẩy mạnh chuyển đổi số. Việc sử dụng dữ liệu bảng của các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trong giai đoạn này giúp phản ánh rõ hơn đặc điểm vận động của Hiệu quả tài chính trong bối cảnh chịu tác động đồng thời của hội nhập tài chính, đại dịch Covid-19 và chuyển đổi mô hình kinh doanh. Đây là đóng góp về mặt thực nghiệm, giúp lấp khoảng trống về dữ liệu cập nhật trong nghiên cứu hiệu quả ngân hàng tại Việt Nam.
Thứ ba, về phương pháp nghiên cứu, luận văn áp dụng mô hình dữ liệu bảng với các kỹ thuật ước lượng Pooled OLS, FEM, REM và khắc phục khuyết tật bằng phương pháp FGLS nhằm đảm bảo độ tin cậy của kết quả ước lượng. Việc kiểm định lựa chọn mô hình và xử lý các vấn đề phương sai thay đổi, tự tương quan góp phần nâng cao tính chặt chẽ và độ tin cậy của bằng chứng thực nghiệm, tạo nền tảng tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo trong cùng lĩnh vực.
Thứ tư, về phương diện quản trị, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở định lượng giúp ban điều hành các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố đến Hiệu quả tài chính. Từ đó, các ngân hàng có thể điều chỉnh chiến lược vốn, kiểm soát chi phí hoạt động, quản trị rủi ro tín dụng và định hướng chuyển đổi số phù hợp với điều kiện hội nhập. Đặc biệt, việc lượng hóa tác động của các yếu tố như cấu trúc sở hữu nhà nước, tự do hóa tài chính và chuyển đổi số giúp ngân hàng đánh giá rõ hơn vai trò của các yếu tố thể chế và công nghệ trong nâng cao khả năng sinh lời bền vững.
Thứ năm, về phương diện chính sách, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc đánh giá tác động của môi trường vĩ mô và mức độ hội nhập tài chính đến Hiệu quả tài chính của hệ thống ngân hàng. Kết quả này có thể được sử dụng làm cơ sở tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách tái cơ cấu, giám sát an toàn hệ thống và điều chỉnh mức độ tự do hóa tài chính phù hợp với mục tiêu ổn định và phát triển bền vững.
Tổng thể, nghiên cứu không chỉ bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho bối cảnh Việt Nam mà còn góp phần hoàn thiện khung phân tích về Hiệu quả tài chính ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế, tạo nền tảng cho các nghiên cứu kế thừa và mở rộng theo hướng tích hợp yếu tố công nghệ, cấu trúc sở hữu và hội nhập tài chính trong tương lai.
1.7. Kết cấu luận văn
- Chương 1: “Giới thiệu đề tài Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Trong chương này luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu
Trong chương này luận văn sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại cũng như các tiêu chí đo lường, xác định các yếu tố tác động đến Hiệu quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại. Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trống nghiên cứu.
- Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Trong chương này luận văn sẽ dựa trên các các khoảng trống nghiên cứu từ chương 2 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam. Sau đó, chương này sẽ trình bày về phương pháp đo lường biến, lấy mẫu và thu thập dữ liệu. Cuối cùng chương này sẽ trình bày các phương pháp tính toán và ý nghĩa của các hệ số tính toán.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong chương này luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập đánh giá ban đầu về tình hình Hiệu quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024. Sau đó sẽ tiến hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phù hợp, các khuyết tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng. Từ kết quả đó sẽ kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan.
- Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Trong chương này luận văn sẽ kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ tác động của các yếu tố đến Hiệu quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam. Từ đó tạo ra cơ sở để đề xuất các hàm ý khả thi cho các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam nhằm gia tăng Hiệu quả tài chính trong bối cảnh hội nhập quốc tế.‖
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Chương 1 tập trung làm rõ cơ sở lựa chọn đề tài nghiên cứu, đồng thời xác định mục tiêu và các nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện. Để định hướng cho quá trình nghiên cứu, chương này cũng trình bày phạm vi, đối tượng và phương pháp tiếp cận được sử dụng. Bên cạnh đó, tác giả làm rõ giá trị đóng góp của đề tài đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam, đồng thời giới thiệu bố cục của luận văn nhằm tạo nền tảng cho việc triển khai nội dung ở các chương tiếp theo..
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại
2.1.1. Hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại
2.1.1.1. Khái niệm hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại
Theo Farrell (1957), hiệu quả hoạt động của một tổ chức kinh doanh có thể được xem xét dưới hai góc độ: hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối. Hiệu quả tuyệt đối phản ánh kết quả đạt được sau khi bù đắp toàn bộ chi phí, thể hiện quy mô và mức lợi nhuận thu được trong một thời kỳ nhất định. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chủ yếu tập trung vào giá trị lợi nhuận thuần và chưa cho phép đánh giá mức độ sử dụng nguồn lực trong mối quan hệ so sánh giữa các tổ chức có quy mô và chiến lược khác nhau.
Ngược lại, hiệu quả tương đối được xác định thông qua mối quan hệ tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào, cho phép đánh giá mức độ tối ưu hóa nguồn lực và tạo điều kiện so sánh giữa các đơn vị hoạt động trong những điều kiện khác nhau. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp trong nghiên cứu ngân hàng, nơi các tổ chức có quy mô tài sản, cấu trúc vốn và mức độ rủi ro khác biệt đáng kể.
Kế thừa nền tảng lý thuyết chung về hiệu quả kinh doanh, Rose (2002) cho rằng việc đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cần tính đến đặc thù của lĩnh vực trung gian tài chính. Trong phạm vi hẹp, hiệu quả tài chính của ngân hàng được thể hiện qua khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững trên cơ sở kiểm soát chi phí và quản trị rủi ro. Ở phạm vi rộng hơn, hiệu quả tài chính còn phản ánh sự hợp lý trong cấu trúc tài sản – nguồn vốn, mức độ khai thác đòn bẩy tài chính và khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ổn định theo thời gian. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Từ các lập luận trên, có thể hiểu rằng hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại là mức độ ngân hàng sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính và phi tài chính (vốn chủ sở hữu, vốn huy động, tài sản, nhân lực và công nghệ) nhằm tạo ra lợi nhuận phù hợp với mức độ rủi ro chấp nhận được, đồng thời bảo đảm tính ổn định và bền vững trong hoạt động. Khái niệm này không chỉ phản ánh kết quả sinh lời đơn thuần mà còn hàm ý sự cân bằng giữa tăng trưởng, an toàn vốn và quản trị rủi ro trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.
Trong các nghiên cứu trước đây, thuật ngữ —hiệu quả kinh doanh‖ và —hiệu quả tài chính‖ thường được sử dụng với nội hàm tương đối gần nhau khi đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hai cách tiếp cận này có sự khác biệt nhất định về phạm vi phân tích. Hiệu quả kinh doanh được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả hiệu quả hoạt động, hiệu quả quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực tổng thể. Trong khi đó, hiệu quả tài chính tập trung vào khía cạnh sinh lời và hiệu quả sử dụng vốn, phản ánh trực tiếp kết quả tài chính đạt được trong mối quan hệ với cấu trúc nguồn vốn và mức độ rủi ro.
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả tiếp cận hiệu quả dưới góc độ Hiệu quả tài chính, nhấn mạnh khả năng tạo ra lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong điều kiện kiểm soát rủi ro và duy trì ổn định hoạt động. Do đó, mặc dù các cơ sở lý thuyết được trình bày ở trên sử dụng khái niệm hiệu quả kinh doanh theo nghĩa chung, phần phân tích thực nghiệm của luận văn thống nhất sử dụng thuật ngữ —hiệu quả tài chính‖ nhằm phản ánh chính xác nội hàm đo lường thông qua chỉ tiêu sinh lời.
Cách tiếp cận này bảo đảm sự nhất quán giữa khung lý thuyết và mô hình thực nghiệm, đồng thời phù hợp với mục tiêu nghiên cứu các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết – nơi hiệu quả tài chính có ý nghĩa trực tiếp đối với cổ đông và thị trường vốn.
2.1.1.2. Các phương pháp xác định hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại
Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng các phương pháp chính để đo lường Hiệu quả tài chính tại các Ngân hàng thương mại đó là dựa trên đo lường biên lợi nhuận và tỷ số lợi nhuận trên nguồn hình thành lợi nhuận.
Phương pháp đo lường dựa trên biên hiệu quả thường được triển khai thông qua các kỹ thuật như phân tích bao dữ liệu (DEA) và phương pháp biên ngẫu nhiên (SFA). Cách tiếp cận này tập trung đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại bằng việc xem xét sự thay đổi của kết quả đầu ra khi điều chỉnh một đơn vị đầu vào, qua đó xác định khoảng cách giữa từng ngân hàng và đơn vị hoạt động tối ưu trên đường biên hiệu quả (Berger & DeYoung, 1997). Tuy nhiên, phương pháp này yêu cầu mức độ chặt chẽ cao trong việc xác định và lượng hóa các biến đầu vào và đầu ra của ngân hàng. Về mặt kỹ thuật, mô hình cần được xây dựng dưới dạng hàm số phù hợp để kiểm định chính xác các giả định thống kê. Do đó, quá trình thu thập và xử lý dữ liệu đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc, hệ thống và công phu nhằm bảo đảm độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Phương pháp dựa trên các tỷ số tài chính được sử dụng rộng rãi trong đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng, với các chỉ tiêu sinh lời phổ biến như ROA, ROE và NIM. Các chỉ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và những nguồn lực tạo ra lợi nhuận, bao gồm tổng tài sản và vốn chủ sở hữu bình quân. Do được trình bày trực tiếp trong báo cáo tài chính, các tỷ số này có tính sẵn có cao, thuận tiện cho việc thu thập và so sánh tại các thời điểm khác nhau, phù hợp với mục tiêu phân tích Hiệu quả tài chính của ngân hàng. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Tổng hợp các phương pháp đã trình bày cho thấy mỗi cách tiếp cận đều tồn tại những hạn chế nhất định. Cụ thể, phương pháp dựa trên chênh lệch giá cổ phiếu đòi hỏi thiết kế nghiên cứu phức tạp, đồng thời dễ gặp phải vấn đề bất cân xứng thông tin trong quá trình tổng hợp dữ liệu và chỉ phù hợp với các ngân hàng niêm yết có mức độ công bố thông tin cao theo từng giai đoạn thời gian. Trong khi đó, phương pháp đo lường theo biên hiệu quả lại phụ thuộc nhiều vào việc lựa chọn dạng hàm phân tích. Xuất phát từ những hạn chế trên và trong điều kiện nguồn lực nghiên cứu có giới hạn, luận văn lựa chọn kế thừa phương pháp tỷ số để đại diện cho hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Theo đó, các chỉ tiêu tỷ số sau được tập trung phân tích:
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROA): ROA được xem là chỉ tiêu phản ánh năng lực sinh lời của ngân hàng thương mại thông qua mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và quy mô tài sản bình quân (Ongore, 2013; Khrawish, 2011). Chỉ số này thể hiện mức độ hiệu quả trong việc khai thác nguồn lực tài sản nhằm tạo ra lợi nhuận, qua đó phản ánh năng lực điều hành của ban lãnh đạo trong quản lý và sử dụng tài sản của ngân hàng. Theo cách tiếp cận này, ROA cho thấy mức độ chuyển hóa tài sản thành thu nhập của ngân hàng. Wen (2010) cũng cho rằng, giá trị ROA càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng tài sản càng hiệu quả trong việc tạo ra lợi nhuận ròng. Chỉ tiêu ROA được xác định theo công thức:
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE): ROE là chỉ tiêu tài chính phản ánh mức độ sinh lời của ngân hàng dựa trên nguồn vốn chủ sở hữu do các cổ đông đầu tư, qua đó thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu trong hoạt động kinh doanh (Ongore, 2013). Chỉ số này cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận từ nguồn vốn nội bộ của ngân hàng, trong đó ROE càng cao càng cho thấy ngân hàng khai thác hiệu quả nguồn vốn chủ sở hữu để gia tăng lợi ích cho cổ đông. Bên cạnh đó, ROE được xác định thông qua mối quan hệ giữa lợi nhuận ròng và tổng vốn cổ phần hoặc các quỹ đầu tư của ngân hàng. Tỷ lệ này cũng phản ánh năng lực quản trị của ban điều hành trong việc sử dụng nguồn vốn của cổ đông nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế. Chỉ tiêu ROE được tính theo công thức: Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Trong nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng, các chỉ tiêu phổ biến được sử dụng gồm ROA và ROE. ROA phản ánh khả năng sinh lời trên tổng tài sản, trong khi ROE đo lường mức lợi nhuận ròng tạo ra trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu. Cả hai chỉ tiêu đều được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm (Ongore, 2013).
- Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả lựa chọn ROE làm biến đại diện cho hiệu quả tài chính vì những lý do sau:
Thứ nhất, xét về mục tiêu hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết, tối đa hóa giá trị cho cổ đông là mục tiêu cốt lõi. ROE phản ánh trực tiếp mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu – nguồn vốn thuộc về cổ đông – do đó có ý nghĩa phù hợp hơn trong việc đánh giá hiệu quả tài chính đối với ngân hàng niêm yết. So với ROA, ROE gắn chặt hơn với lợi ích nhà đầu tư và biến động giá cổ phiếu trên thị trường vốn.
Thứ hai, đặc thù của ngành ngân hàng là hoạt động với mức đòn bẩy tài chính cao. Tổng tài sản của ngân hàng phần lớn được hình thành từ vốn huy động (nợ phải trả), trong khi vốn chủ sở hữu chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn. Do đó, ROA có thể đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản, nhưng chưa phản ánh đầy đủ mức độ khai thác đòn bẩy tài chính – một yếu tố quan trọng quyết định khả năng sinh lời trong lĩnh vực ngân hàng. ROE, với cấu trúc bao hàm yếu tố đòn bẩy, cho phép phản ánh toàn diện hơn mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính.
Thứ ba, theo lý thuyết cấu trúc vốn và hiệu quả quản trị (Berger & DeYoung, 1997), năng lực kiểm soát chi phí, quản trị rủi ro và tối ưu hóa cấu trúc vốn đều ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu. Trong bối cảnh các ngân hàng niêm yết chịu áp lực tuân thủ chuẩn mực an toàn vốn và duy trì mức sinh lời hấp dẫn cho cổ đông, ROE được xem là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp của chiến lược quản trị tài sản, nguồn vốn và rủi ro.
Thứ tư, trên phương diện thị trường, ROE có mối liên hệ chặt chẽ với chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) và định giá cổ phiếu. Đối với ngân hàng niêm yết, hiệu quả tài chính không chỉ được đánh giá nội bộ mà còn chịu sự giám sát của thị trường vốn. Do đó, việc sử dụng ROE giúp kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao hơn đối với nhà đầu tư và cơ quan quản lý.
Mặc dù ROA là chỉ tiêu hữu ích trong đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, nhưng trong phạm vi nghiên cứu các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam, ROE được xem là thước đo phù hợp hơn để phản ánh hiệu quả tài chính theo góc độ cổ đông và cấu trúc vốn đặc thù của ngành. Vì vậy, luận văn lựa chọn ROE làm biến đại diện cho hiệu quả tài chính trong mô hình nghiên cứu.
2.2. Các lý thuyết liên quan đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
2.2.1. Lý thuyết chu kỳ kinh tế
Lý thuyết về chu kỳ kinh tế của Samuelson (1952) lập luận về sự dao động quy mô lớn của tổng sản lượng quốc dân, thu nhập và việc làm, thể hiện một mối quan hệ đồng biến chặt chẽ với Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại. Chu kỳ này là một yếu tố ngoại sinh quan trọng, định hình môi trường hoạt động và kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ kinh tế, đặc trưng bởi sự tăng trưởng của GDP thực tế, việc làm và tổng cầu, các Ngân hàng thương mại có xu hướng đạt được hiệu quả tài chính cao hơn.
Tăng trưởng tín dụng và thu nhập: Sự thuận lợi trong kinh doanh của các doanh nghiệp và tăng trưởng thu nhập của cá nhân thúc đẩy nhu cầu vay vốn. Điều này tạo điều kiện để ngân hàng tăng quy mô danh mục cho vay, qua đó gia tăng thu nhập lãi ròng (NII) – thành phần chính trong Hiệu quả tài chính.
Giảm thiểu chi phí rủi ro: Khả năng sinh lời và trả nợ của các đối tượng vay được cải thiện đáng kể. Kết quả là, tỷ lệ nợ xấu được thu hẹp, giúp giảm thiểu chi phí dự phòng Rủi ro tín dụng. Việc giảm chi phí này trực tiếp làm tăng lợi nhuận sau thuế và, theo đó, cải thiện các chỉ số hiệu quả như ROA và ROE.
Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái khi GDP thực tế giảm kéo dài, hiệu quả tài chính của Ngân hàng thương mại chịu tác động tiêu cực nghiêm trọng.
Suy giảm thu nhập và tăng trưởng tín dụng: Khó khăn kinh tế và sự gia tăng của lạm phát làm giảm nhu cầu vay vốn hoặc làm tăng tính thận trọng của ngân hàng trong việc cấp tín dụng. Cả hai yếu tố này đều dẫn đến sự chững lại hoặc suy giảm của tăng trưởng tín dụng, kéo theo sự sụt giảm của thu nhập lãi ròng.
Gia tăng Rủi ro tín dụng và chi phí dự phòng: Các đối tượng kinh doanh gặp khó khăn, dẫn đến khả năng trả nợ suy giảm, khiến nợ xấu gia tăng. Ngân hàng buộc phải tăng cường trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, một khoản chi phí lớn làm xói mòn lợi nhuận. Sự gia tăng Rủi ro tín dụng tác động trực tiếp và sâu sắc đến lợi nhuận và các chỉ số hiệu quả tài chính của ngân hàng.
2.2.2. Lý thuyết về quy mô kinh doanh Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Mối liên hệ giữa quy mô của Ngân hàng thương mại và Hiệu quả tài chính là một vấn đề phức tạp, được minh họa qua sự đối lập giữa giả thuyết “Quá lớn để phá sản” và hiệu ứng quy mô. Giả thuyết của Boyd và Gertler (1994) cho rằng các Ngân hàng thương mại có quy mô lớn thường có khẩu vị rủi ro cao hơn. Với tham vọng huy động và tăng trưởng cho vay nhanh chóng, các ngân hàng lớn có xu hướng chấp nhận khách hàng có lịch sử tín dụng kém hơn, làm suy giảm chất lượng tín dụng và gia tăng Rủi ro tín dụng. Mặc dù sự gia tăng quy mô tín dụng ban đầu có thể làm tăng thu nhập, nhưng việc chấp nhận rủi ro lớn này làm cho hiệu quả tài chính trở nên kém bền vững và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế.
Niềm tin rằng Chính phủ sẽ can thiệp để ngăn chặn sự sụp đổ của các ngân hàng TBTF (nhằm hạn chế rủi ro hệ thống) có thể khuyến khích các ngân hàng này gia tăng rủi ro. Tuy nhiên, việc gia tăng Rủi ro tín dụng tiềm tàng này cuối cùng sẽ đòi hỏi chi phí trích lập dự phòng cao hơn, tác động tiêu cực đến lợi nhuận ròng.
Quan điểm đối lập từ hiệu ứng quy mô của Salas và Saurina (2002), lại cho thấy quy mô lớn có thể là một lợi thế tích cực đối với hiệu quả tài chính. Các Ngân hàng thương mại lớn có khả năng tận dụng lợi thế quy mô để đa dạng hóa danh mục sản phẩm, nguồn thu nhập (ví dụ: dịch vụ phi tín dụng, đầu tư) và đa dạng hóa địa lý. Sự đa dạng hóa này giúp phân tán Rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động, làm giảm sự tập trung rủi ro và ổn định thu nhập tổng thể. Quy mô lớn cho phép ngân hàng đầu tư mạnh hơn vào công nghệ, tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ và tận dụng lợi thế về chi phí đơn vị thấp hơn. Điều này giúp giảm chi phí hoạt động, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện lợi nhuận.
2.2.3. Lý thuyết hiệu quả và quản trị ngân hàng
Lý thuyết của Berger và DeYoung (1997) tập trung vào mối quan hệ ngược chiều giữa quản trị kém hiệu quả và chất lượng tài sản (thể hiện qua nợ xấu), từ đó tác động sâu sắc đến Hiệu quả tài chính. Vấn đề cốt lõi là việc sử dụng chi phí không hiệu quả không chỉ làm tăng chi phí hoạt động mà còn làm suy giảm chất lượng danh mục tín dụng, dẫn đến giảm lợi nhuận bền vững. Năng lực lãnh đạo yếu kém trong quản lý chi phí thường đi đôi với sự thiếu hụt trong các kỹ năng quản trị rủi ro tín dụng cơ bản.
Thiếu sót trong quy trình tín dụng: Việc quản lý kém hiệu quả dẫn đến thiếu đầu tư vào các quy trình sàng lọc, xếp hạng tín dụng, thẩm định tài sản đảm bảo và giám sát sau giải ngân. Sự thiếu chặt chẽ này làm cho danh mục cho vay yếu kém được hình thành. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Gia tăng Rủi ro tín dụng: Khi Rủi ro tín dụng gia tăng và nợ xấu xuất hiện, ngân hàng phải chịu chi phí hoạt động gia tăng cho việc thu hồi, xử lý tài sản đảm bảo và kiện tụng. Khoản chi phí này làm xói mòn lợi nhuận ròng.
Vòng xoáy suy giảm hiệu quả: Để bù đắp cho chi phí xử lý nợ xấu và lợi nhuận bị giảm sút, Ngân hàng thương mại có thể thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng để tìm kiếm các khoản thu nhập ngắn hạn. Hành động này vô tình đẩy Rủi ro tín dụng lên cao hơn nữa, tạo ra một vòng xoáy tiêu cực làm suy giảm liên tục chất lượng tài sản và Hiệu quả tài chính (thể hiện qua các chỉ số như ROA, ROE).
Mặc dù việc tối ưu hóa chi phí là mục tiêu cơ bản để nâng cao hiệu quả tài chính, lý thuyết này cảnh báo về sự đánh đổi giữa cắt giảm chi phí và duy trì chất lượng quản trị tín dụng. Việc ngân hàng cố gắng cắt giảm chi phí hoạt động một cách tùy tiện, đặc biệt là các chi phí liên quan đến sàng lọc, thẩm định, và định giá tài sản, có thể mang lại lợi nhuận cao hơn trong ngắn hạn (do giảm chi phí ngay lập tức).
Rủi ro tiềm ẩn: Tuy nhiên, về lâu dài, việc thiếu đầu tư vào quy trình kiểm soát chất lượng sẽ tạo ra sự lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ trong hệ thống quản trị rủi Điều này làm gia tăng rủi ro hệ thống, khiến nợ xấu tích tụ và trở nên khó kiểm soát hơn khi chu kỳ kinh tế xấu đi hoặc khi rủi ro lớn phát sinh.
Chi phí bù đắp trong dài hạn: Chi phí dự phòng và xử lý nợ xấu phát sinh sau này sẽ vượt xa số chi phí hoạt động được tiết kiệm ban đầu, gây ra tổn thất lớn cho hiệu quả tài chính dài hạn.
2.2.4. Lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP) của Bain (1959), cung cấp một khuôn khổ để phân tích mối quan hệ nhân quả giữa đặc điểm thị trường và kết quả hoạt động của ngành ngân hàng. Mô hình này giả định rằng cấu trúc thị trường định hình hành vi của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến Hiệu quả tài chính.
Cấu trúc thị trường và Hiệu quả tài chính: Cấu trúc thị trường ngân hàng, được định nghĩa bởi mức độ tập trung (ví dụ: chỉ số Herfindahl-Hirschman – HHI), rào cản gia nhập/thoát khỏi ngành và sự khác biệt hóa sản phẩm, là yếu tố tiên quyết. Theo giả định truyền thống, một thị trường ngân hàng ít cạnh tranh hơn (tập trung cao) có thể cho phép các Ngân hàng thương mại lớn định giá dịch vụ cao hơn (ví dụ: lãi suất cho vay cao, lãi suất huy động thấp) và giảm thiểu chi phí hoạt động, từ đó đạt được lợi nhuận siêu ngạch và Hiệu quả tài chính cao hơn.
Hành vi và Hiệu quả tài chính: Cấu trúc thị trường tác động đến các hành vi cạnh tranh của ngân hàng, bao gồm các quyết định về lãi suất, sản phẩm, chiến lược quảng cáo, và đầu tư công nghệ. Chẳng hạn, trong một thị trường tập trung, các Ngân hàng thương mại có thể có hành vi hợp tác ngầm (Collusion) hoặc ít đổi mới hơn, giúp duy trì biên lợi nhuận cao. Ngược lại, trong thị trường cạnh tranh cao, các Ngân hàng thương mại buộc phải tham gia vào cuộc đua cạnh tranh về giá/chất lượng và đổi mới (ví dụ: R&D) để tồn tại. Những hành vi này quyết định trực tiếp đến các chỉ số Hiệu quả kinh doanh như lợi nhuận, năng suất và hiệu quả chi phí.
Phản hồi ngược: Lý thuyết SCP cũng thừa nhận sự phản hồi ngược, nơi Hiệu quả kinh doanh cao (ví dụ: lợi nhuận vượt trội) của một số ngân hàng có thể cho phép họ thực hiện các hành vi như sáp nhập/mua lại (M&A) hoặc đầu tư lớn vào công nghệ, từ đó làm thay đổi ngược lại cấu trúc thị trường, củng cố vị thế và duy trì lợi thế Hiệu quả kinh doanh dài hạn.
2.2.5. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh
Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter (1985) tập trung vào khía cạnh vi mô, giải thích cách một Ngân hàng thương mại tạo ra và duy trì Hiệu quả kinh doanh vượt trội so với các đối thủ trong ngành. Lợi thế cạnh tranh là khả năng tạo ra giá trị cao hơn cho khách hàng. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Chiến lược dẫn đầu về chi phí: Ngân hàng thương mại áp dụng chiến lược này nhằm cung cấp dịch vụ với chi phí thấp hơn đáng kể so với đối thủ, có thể đạt được thông qua quy mô kinh tế, tự động hóa quy trình nghiệp vụ, quản lý chi phí vận hành chặt chẽ và tận dụng công nghệ số. Bằng cách giảm chi phí hoạt động, ngân hàng có thể cung cấp các sản phẩm (ví dụ: dịch vụ thanh toán, cho vay tiêu dùng) với giá cạnh tranh, thu hút thị phần và tạo ra biên lợi nhuận cao hơn so với đối thủ khi giữ mức giá trung bình thị trường. Đây là con đường trực tiếp để nâng cao Hiệu quả tài chính thông qua tối ưu hóa lợi nhuận ròng.
Chiến lược khác biệt hóa: Chiến lược này đòi hỏi Ngân hàng thương mại tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ độc đáo và có giá trị cảm nhận cao bởi khách hàng, cho phép ngân hàng định giá cao hơn. Sự khác biệt hóa có thể đến từ chất lượng dịch vụ khách hàng xuất sắc, đổi mới công nghệ (ví dụ: ứng dụng ngân hàng số tiên tiến), thương hiệu mạnh, hoặc cung cấp các giải pháp tài chính chuyên biệt (thị trường ngách). Khi thực hiện thành công, chiến lược này cho phép ngân hàng đạt được lợi nhuận vượt trội nhờ khả năng định giá cao, qua đó củng cố Hiệu quả tài chính.
2.2.6. Lý thuyết hội nhập tài chính
Lý thuyết hội nhập tài chính xem xét tác động của việc mở cửa thị trường vốn quốc tế đối với hoạt động và Hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại nội địa.
Hội nhập tài chính cho phép các Ngân hàng thương mại đa dạng hóa nguồn thu nhập và danh mục tài sản xuyên biên giới. Acharya và cộng sự (2021) đã nghiên cứu và cho thấy rằng, đối với các Ngân hàng thương mại có quản trị rủi ro tốt, hội nhập tài chính có thể làm giảm rủi ro tổng thể và gia tăng Hiệu quả kinh doanh thông qua việc tiếp cận các thị trường vốn sâu rộng hơn. Hội nhập tài chính thúc đẩy cạnh tranh từ các ngân hàng và định chế tài chính quốc tế, buộc các Ngân hàng thương mại nội địa phải nâng cao hiệu quả hoạt động, cải tiến chất lượng dịch vụ và đổi mới sản phẩm để tồn tại (UEF). Sự hội nhập cũng cho phép các ngân hàng nội địa tiếp cận nguồn vốn đa dạng và rẻ hơn trên thị trường quốc tế, giúp giảm chi phí vốn và cải thiện khả năng thanh khoản, từ đó hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận và Hiệu quả tài chính.
Mặt trái là sự gia tăng rủi ro hệ thống, Claessens và Van Horen (2019) đã xem xét việc mở cửa thị trường và nhận định rằng sự gia tăng hoạt động của ngân hàng nước ngoài có thể làm tăng tính cạnh tranh nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ lây lan các cú sốc tài chính toàn cầu. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý phải tăng cường các quy định an toàn vĩ mô (Macroprudential Policies) để bảo vệ Hiệu quả tài chính khỏi sự biến động. Hay nói cách khác, sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ quốc tế có quy mô và công nghệ vượt trội có thể làm giảm thị phần và lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại nội địa chưa chuẩn bị sẵn sàng. Hơn nữa, hội nhập làm gia tăng sự biến động của dòng vốn và rủi ro lây lan từ các cú sốc tài chính toàn cầu, đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường năng lực quản trị rủi ro. Việc quản lý thành công các rủi ro này là chìa khóa để hội nhập tài chính có thể chuyển thành lợi thế Hiệu quả tài chính bền vững.
2.2.7 Lý thuyết về chuyển đổi số
Trong bối cảnh ngân hàng hiện đại, chuyển đổi số và ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) đang là động lực mới định hình Hiệu quả kinh doanh. Chuyển đổi số là sự thay đổi toàn diện mô hình kinh doanh và vận hành (PACE), tác động trực tiếp đến hiệu quả. Ứng dụng công nghệ (AI, Big Data, Cloud). Ozili (2023) cho rằng sự tác động của công nghệ tài chính (FinTech) và chuyển đổi số cho thấy việc áp dụng công nghệ giúp các Ngân hàng thương mại tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí giao dịch, và mở rộng thị trường khách hàng thông qua các dịch vụ số hóa. Điều này làm tăng năng suất lao động và lợi nhuận ròng một cách đáng kể.
Ngoài ra, việc tích hợp các tiêu chuẩn ESG vào chiến lược kinh doanh không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội kinh doanh. Gillan và cộng sự (2021) chỉ ra rằng, các ngân hàng có điểm ESG cao thường có chi phí vốn thấp hơn, khả năng thu hút nhà đầu tư tốt hơn, và ít bị tổn thương hơn trước các sự kiện rủi ro phi tài chính (ví dụ: rủi ro danh tiếng, pháp lý). Điều này trực tiếp củng cố vị thế thị trường và Hiệu quả kinh doanh dài hạn của Ngân hàng thương mại.
2.3. Các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Vai trò của các Ngân hàng thương mại được thể hiện chủ yếu thông qua chức năng trung gian tài chính, nơi ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung ứng vốn cho các lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng, từ đó tạo ra đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vĩ mô, đồng thời thu về lợi nhuận cho chính tổ chức. Do đó, việc duy trì tăng trưởng Hiệu quả kinh doanh một cách ổn định và bền vững không chỉ là mục tiêu nội tại mà còn là yêu cầu cấp thiết đối với sự ổn định của cả hệ thống tài chính quốc gia (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
Tuy nhiên, Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, tương tự như mọi tổ chức kinh doanh khác, là một quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành sản phẩm đầu ra (lợi nhuận và dịch vụ). Các yếu tố đầu vào này vô cùng đa dạng, bao gồm: tài sản hữu hình (tài sản cố định, cơ sở vật chất), nguồn lực tài chính (vốn chủ sở hữu, vốn huy động), và nguồn lực vô hình (vốn con người, công nghệ). Đặc biệt, Hoạt động kinh doanh của ngân hàng còn chịu sự chi phối sâu sắc bởi các chính sách vĩ mô và môi trường kinh tế bên ngoài. Sự liên đới phức tạp giữa các yếu tố nội tại và ngoại cảnh này dẫn đến việc Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau. Do đó, để thực hiện phân tích một cách hệ thống và toàn diện trong luận văn này, các yếu tố tác động đến Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng sẽ được phân chia thành hai nhóm chính:
2.3.1. Các yếu tố bên trong ngân hàng
2.3.1.1. Quy mô ngân hàng Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Quy mô ngân hàng, đại diện bởi tổng tài sản, là một yếu tố nội tại có tác động lưỡng cực đến Hiệu quả kinh doanh, được các nhà nghiên cứu tranh luận từ lâu. Theo quan điểm truyền thống thì Nguyễn Văn Tiến (2015); Nguyễn Đăng Dờn (2010), quy mô lớn là một lợi thế cạnh tranh vượt trội, cho phép Ngân hàng thương mại tối ưu hóa lợi ích theo quy mô. Tổng tài sản lớn thể hiện tiềm lực tài chính dồi dào, khả năng tiếp cận nguồn vốn huy động và mở rộng tín dụng trên quy mô rộng, đặc biệt ưu tiên phân bổ vào các tài sản sinh lời cao. Sự gia tăng quy mô hoạt động và thị phần này tạo điều kiện thuận lợi để ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận lớn hơn, từ đó làm gia tăng các chỉ số sinh lời như ROA và ROE (Djalilov và cộng sự, 2016).
Mặt khác, quan điểm đối lập lập luận rằng sự mở rộng quy mô quá mức có thể dẫn đến hiệu suất giảm dần. Adelopo và cộng sự (2018) hay Batten và Võ Xuân Vinh (2019) chỉ ra rằng tham vọng tăng trưởng quy mô thường đi kèm với chi phí hoạt động và quản lý tăng vọt, bao gồm cả chi phí đầu tư công nghệ, mở rộng mạng lưới, và kiểm soát rủi ro phức tạp hơn. Hơn nữa, ngân hàng lớn có xu hướng chấp nhận các dự án và tài sản có mức độ rủi ro cao hơn để duy trì tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, điều này có thể làm gia tăng đáng kể nợ xấu và rủi ro tín dụng. Do đó, sự gia tăng về chi phí và rủi ro này có thể làm suy giảm lợi nhuận ròng, kéo theo sự suy giảm của ROA và ROE.
2.3.1.2. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại nguồn vốn kinh doanh chủ yếu được hình thành từ các khoản huy động tiền gửi của khách hàng. Về bản chất, đây là các khoản nợ phải trả ngắn hạn hoặc trung hạn, khiến ngân hàng luôn đối mặt với rủi ro thanh khoản và nguy cơ mất khả năng thanh toán nếu tỷ lệ thu hồi các khoản cho vay không đảm bảo (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Để kiểm soát rủi ro thanh toán và giảm thiểu sự phụ thuộc quá mức vào các khoản nợ, các Ngân hàng thương mại buộc phải cơ cấu lại nguồn vốn bằng cách gia tăng tỷ trọng Vốn chủ sở hữu thông qua các biện pháp như phát hành cổ phiếu hoặc tăng vốn góp từ cổ đông (Phan Thị Thu Hà, 2013).
VCSH đóng vai trò là vùng đệm tài chính thiết yếu, là nguồn vốn có tính ổn định và dài hạn cao nhất, giúp giảm áp lực thanh toán và nâng cao khả năng phục hồi của ngân hàng khi đối mặt với các cú sốc thị trường hoặc rủi ro tín dụng. Tỷ lệ Vốn chủ sở hữu cao không chỉ phản ánh sức chịu đựng rủi ro mà còn tác động tích cực đến chiến lược kinh doanh. Với nguồn vốn dài hạn dồi dào, Ngân hàng thương mại có thể hoạt động một cách thận trọng và chủ động hơn trong việc cấp tín dụng, đồng thời tập trung đầu tư vào các hạng mục dài hạn có tiềm năng sinh lời cao hơn, từ đó cải thiện hiệu suất sinh lời chung của tổ chức.
2.3.1.3. Tỷ lệ chi phí hoạt động Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Chi phí hoạt động của ngân hàng bao gồm tổng thể các khoản tiền mà ngân hàng phải chi trả để duy trì sự vận hành ổn định và đều đặn của toàn bộ hệ thống, từ chi phí nhân sự, chi phí quản lý hành chính, đến chi phí kinh doanh và đầu tư công nghệ. Đây là một chỉ tiêu quan trọng được phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, có vai trò là thước đo hiệu quả quản lý chi phí của ngân hàng trong các giai đoạn xác định (Phan Thị Thu Hà, 2013).
Quan điểm truyền thống trong quản trị tài chính ngân hàng (Adelopo và cộng sự, 2018; Djalilov và cộng sự, 2016) ủng hộ mạnh mẽ việc kiểm soát chặt chẽ và cắt giảm tối đa các loại chi phí không cần thiết. Theo lập luận này, việc quản lý chi phí hiệu quả là ưu tiên hàng đầu, vì khi tỷ lệ chi phí hoạt động tăng cao sẽ trực tiếp làm giảm biên lợi nhuận ròng và các chỉ tiêu sinh lời (ROA, ROE). Do đó, khả năng quản lý tốt các khoản chi phí hoạt động được xem là phản ánh trực tiếp năng lực hoạt động hiệu quả và sự tận dụng tối ưu các nguồn lực của ngân hàng.
Tuy nhiên, Batten và Võ Xuân Vinh (2019) lại đưa ra một lập luận phản biện chiến lược: Chi phí hoạt động không chỉ đơn thuần là gánh nặng mà còn là công cụ đầu tư cần thiết. Để các Ngân hàng thương mại có thể mở rộng thị phần, nâng cao khả năng tiếp cận khách hàng (ví dụ: thông qua marketing, mở rộng mạng lưới, đầu tư vào chuyển đổi số), hay xử lý khối lượng công việc lớn một cách kịp thời, việc gia tăng chi phí hoạt động là không thể tránh khỏi. Trong bối cảnh này, chi phí hoạt động đóng vai trò như một chất xúc tác (lubricant) giúp các Hoạt động kinh doanh diễn ra suôn sẻ và đạt được các mục tiêu tăng trưởng chiến lược. Sự gia tăng chi phí hiện tại được xem là một khoản đầu tư có thể mang lại lợi nhuận cao hơn hoặc tăng cường vị thế cạnh tranh của ngân hàng trong tương lai. Sự mâu thuẫn này yêu cầu một sự phân tích sâu sắc về bản chất của chi phí hoạt động: liệu đó là chi phí kém hiệu quả hay là đầu tư chiến lược cần thiết để duy trì tăng trưởng bền vững.
2.3.1.4. Hệ số an toàn vốn Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) là chỉ tiêu phản ánh mức độ an toàn vốn của ngân hàng, được xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có rủi ro. Chỉ tiêu này được sử dụng rộng rãi trong quản lý ngân hàng theo các chuẩn mực Basel nhằm đảm bảo ngân hàng có đủ năng lực tài chính để hấp thụ tổn thất và duy trì ổn định hoạt động trong điều kiện rủi ro.
Theo lý thuyết trung gian tài chính, vốn chủ sở hữu đóng vai trò như một —bộ đệm‖ hấp thụ rủi ro, giúp giảm xác suất phá sản và tăng cường niềm tin của người gửi tiền và nhà đầu tư. Berger và DeYoung (1997) cho rằng mức vốn cao hơn có thể góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động thông qua việc giảm chi phí đại diện và tăng khả năng kiểm soát rủi ro. Khi ngân hàng duy trì hệ số an toàn vốn cao, chi phí huy động vốn có thể giảm nhờ mức độ tín nhiệm được cải thiện, từ đó hỗ trợ khả năng sinh lời.
Tuy nhiên, theo lý thuyết cấu trúc vốn, việc duy trì mức vốn quá cao có thể làm giảm lợi thế đòn bẩy tài chính – một đặc trưng quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Do vốn chủ sở hữu thường có chi phí cao hơn so với vốn huy động, việc gia tăng CAR có thể làm giảm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) trong ngắn hạn. Điều này phản ánh mối quan hệ đánh đổi giữa an toàn và sinh lời trong quản trị ngân hàng. Thực nghiệm cho thấy tác động của CAR đến hiệu quả tài chính có thể mang tính hai chiều. Mức vốn cao giúp nâng cao khả năng chống chịu rủi ro và ổn định dài hạn, nhưng đồng thời có thể làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nếu ngân hàng không tối ưu hóa cấu trúc tài sản sinh lời.
Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam chịu áp lực tuân thủ các chuẩn mực an toàn vốn và yêu cầu nâng cao năng lực tài chính theo lộ trình Basel II và Basel III, hệ số an toàn vốn được kỳ vọng có vai trò quan trọng trong việc tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xem xét hệ số an toàn vốn như một nhân tố nội tại ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng, với kỳ vọng dấu tác động phụ thuộc vào mức độ tối ưu hóa cấu trúc vốn và chiến lược quản trị rủi ro của từng ngân hàng.
2.3.1.5. Tăng trưởng tín dụng Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Trong chức năng trung gian tài chính, hoạt động cấp tín dụng (cho vay) đóng vai trò là nguồn sinh lời chủ đạo và là xương sống duy trì sự tồn tại của hệ thống Ngân hàng thương mại lẫn nền kinh tế (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Theo đó, các Ngân hàng thương mại luôn tìm cách mở rộng quy mô huy động để gia tăng dư nợ cho vay ra nền kinh tế (Weinberg, 1995). Kỳ vọng là sự tăng trưởng dư nợ này sẽ tỷ lệ thuận với lợi nhuận, với điều kiện tiên quyết là nền kinh tế ổn định và nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được thực hiện nghiêm túc.
Tuy nhiên, sự gia tăng tín dụng nhanh chóng luôn tiềm ẩn rủi ro. Mặc dù hoạt động cấp tín dụng được điều chỉnh bởi các quy định nội bộ nghiêm ngặt, nhưng dưới áp lực chạy đua mở rộng thị phần và tối đa hóa lợi nhuận, một số Ngân hàng thương mại có xu hướng nới lỏng quy trình và chính sách cho vay để liên tục tăng trưởng dư nợ (Nguyễn Kim Quốc Trung, 2021). Chính việc tập trung phát triển dư nợ theo hướng đánh đổi an toàn lấy tốc độ này sẽ làm gia tăng đáng kể Rủi ro tín dụng tiềm ẩn trong tương lai. Khi Rủi ro tín dụng bùng phát, ngân hàng buộc phải trích lập chi phí dự phòng rủi ro gia tăng, làm xói mòn lợi nhuận và phủ nhận thành quả từ việc tăng trưởng tín dụng trước đó (Tăng Mỹ Sáng và Nguyễn Quốc Anh, 2022). Điều này khẳng định mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và Hiệu quả kinh doanh là một mối quan hệ phức tạp, có tính phi tuyến tính, và phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản trị rủi ro của Ngân hàng thương mại.
2.3.1.6. Dự phòng rủi ro tín dụng
RRTD được xem là rủi ro quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, xuất phát từ chức năng trung gian tài chính cốt lõi là phân phối vốn vay để thu lợi nhuận. Sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu sẽ kích hoạt một chuỗi tác động tiêu cực lan truyền, bao gồm việc ngân hàng vẫn phải gánh chịu chi phí lãi tiền gửi trong khi nguồn thu lãi vay bị đình trệ, gây áp lực trực tiếp lên thanh khoản và lợi nhuận ròng. Tình huống xấu hơn đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải gia tăng chi phí xử lý nợ và thực hiện trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng để xử lý nợ nội bảng (Petria và cộng sự, 2015). Việc trích lập này làm giảm trực tiếp lợi nhuận và tăng chi phí quản lý rủi ro, cho thấy Rủi ro tín dụng là một chỉ số phản ánh năng lực quản trị. Berger và DeYoung (1997) lập luận rằng các Ngân hàng thương mại có hoạt động quản lý hiệu quả sẽ kiểm soát Rủi ro tín dụng và tỷ lệ nợ xấu tốt hơn, khẳng định khả năng quản lý rủi ro là một phần cốt lõi quyết định chất lượng và hiệu suất hoạt động tổng thể của Ngân hàng thương mại. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
2.3.1.7. Chuyển đổi số
Chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng được hiểu là quá trình ứng dụng công nghệ số nhằm tái cấu trúc mô hình kinh doanh, quy trình vận hành và phương thức cung ứng dịch vụ tài chính (Ozili, 2023). Quá trình này không chỉ dừng lại ở việc số hóa sản phẩm, mà còn bao gồm việc tích hợp dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng ngân hàng số nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và trải nghiệm khách hàng.
Theo lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter (1985), việc đầu tư vào công nghệ có thể giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế dẫn đầu về chi phí hoặc khác biệt hóa sản phẩm. Trong lĩnh vực ngân hàng, chuyển đổi số có thể làm giảm chi phí giao dịch, tối ưu hóa quy trình nội bộ và mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng, từ đó cải thiện biên lợi nhận và khả năng sinh lời (Ozili, 2023).
Tuy nhiên, chuyển đổi số cũng đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu lớn, có thể làm gia tăng chi phí hoạt động trong ngắn hạn. Do đó, tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả tài chính có thể phụ thuộc vào mức độ triển khai và năng lực quản trị của từng ngân hàng.
Trên cơ sở lý thuyết và các lập luận nêu trên, chuyển đổi số được kỳ vọng có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của ngân hàng trong dài hạn.
2.3.1.8. Cấu trúc sở hữu Nhà nước
Cấu trúc sở hữu Nhà nước phản ánh tỷ lệ vốn do Nhà nước nắm giữ trong cơ cấu vốn điều lệ của ngân hàng. Theo lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP) của Bain (1959), cấu trúc sở hữu có thể ảnh hưởng đến hành vi quản trị và từ đó tác động đến hiệu quả hoạt động.
Các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu Nhà nước cao thường có lợi thế về uy tín, khả năng tiếp cận nguồn vốn và sự hỗ trợ chính sách. Tuy nhiên, Berger và DeYoung (1997) cho rằng hiệu quả hoạt động phụ thuộc mạnh vào chất lượng quản trị. Trong một số trường hợp, sự can thiệp hành chính hoặc mục tiêu chính sách có thể làm giảm động cơ tối đa hóa lợi nhuận, từ đó ảnh hưởng Hiệu quả kinh doanh.
Do đó, tác động của sở hữu Nhà nước đến hiệu quả tài chính có thể mang tính hai chiều: tích cực thông qua lợi thế về quy mô và niềm tin thị trường; tiêu cực thông qua hạn chế về động cơ thị trường và tính linh hoạt quản trị.
2.3.2. Các yếu tố bên ngoài ngân hàng Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
2.3.2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Một chỉ tiêu vĩ mô cốt lõi là tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân, dùng để đo lường sự gia tăng trong hoạt động kinh tế và tổng thu nhập của một quốc gia. Tăng trưởng kinh tế cao báo hiệu triển vọng kinh doanh thuận lợi trên mọi lĩnh vực, bao gồm cả ngành ngân hàng.
Cơ chế truyền dẫn tích cực diễn ra như sau: Khi nền kinh tế phát triển và tăng trưởng ở mức cao, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, đầu tư và nâng cấp quy mô. Nhu cầu này trực tiếp làm tăng hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại. Đồng thời, sự phát triển kinh tế giúp cải thiện khả năng tài chính của cả doanh nghiệp và cá nhân, làm tăng khả năng trả nợ và thanh toán các khoản vay. Điều này góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng, từ đó giảm chi phí trích lập dự phòng và làm tăng tỷ suất sinh lợi (ROA, ROE) của Ngân hàng thương mại.
Ngược lại, trong điều kiện kinh tế suy thoái hoặc suy giảm (biểu hiện qua chu kỳ kinh doanh đi xuống của GDP), Ngân hàng thương mại phải đối mặt với tổn thất nghiêm trọng do các khoản vay kém hiệu quả gia tăng, gây áp lực trực tiếp lên thu nhập và làm suy giảm Hiệu quả kinh doanh. Do đó, sự biến động của nền kinh tế, được đo lường qua tăng trưởng GDP, tạo ra tác động trực tiếp và cùng chiều đến Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại, xác nhận rằng tăng trưởng kinh tế cao sẽ đồng thời thúc đẩy Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng (Adelopo và cộng sự, 2018; Djalilov và cộng sự, 2016).
2.3.2.2. Tỷ lệ lạm phát Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Mối quan hệ giữa lạm phát và lợi nhuận của Ngân hàng thương mại là một vấn đề phức tạp và chưa thống nhất trong nghiên cứu. Về bản chất, lạm phát là sự gia tăng của mức giá chung theo thời gian, được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát (tốc độ tăng của CPI so với cùng kỳ – Bektas, 2014). Tỷ lệ lạm phát cao thường đi kèm với rủi ro kinh doanh cao và lãi suất thị trường tăng (Islam và Nishiyama, 2016), tác động sâu sắc đến cả hoạt động huy động vốn, cho vay, doanh thu, chi phí và lợi nhuận của Ngân hàng thương mại. Mặc dù lạm phát có thể làm tăng thu nhập lãi ròng do lãi suất cho vay tăng trong thời kỳ bùng nổ kinh tế, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm lại có sự mâu thuẫn lớn: một số nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ cùng chiều (cho rằng ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất cho vay bù đắp), trong khi Khrawish (2011) lại kết luận mối quan hệ nghịch chiều (do chi phí hoạt động tăng nhanh hơn doanh thu), và Wahdan và cộng sự (2017) thậm chí kết luận không có mối quan hệ rõ ràng nào. Sự khác biệt này cho thấy tác động của lạm phát lên lợi nhuận Ngân hàng thương mại phụ thuộc vào khả năng quản lý tài sản nợ/có (ALM) và cấu trúc chi phí riêng của từng ngân hàng.
2.3.2.3. Tự do hóa tài chính
Tự do hóa tài chính được hiểu là quá trình nới lỏng các rào cản đối với dòng vốn, lãi suất và sự tham gia của các định chế tài chính trong và ngoài nước vào thị trường nội địa. Theo Claessens và Van Horen (2019), mức độ mở cửa thị trường tài chính có thể làm thay đổi cấu trúc cạnh tranh và ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng nội địa.
Acharya và cộng sự (2021) cho rằng hội nhập tài chính tạo điều kiện đa dạng hóa nguồn vốn và mở rộng thị trường, từ đó có thể cải thiện hiệu quả tài chính. Tuy nhiên, quá trình này cũng làm gia tăng mức độ cạnh tranh và rủi ro lây lan từ các cú sốc tài chính quốc tế.
Do đó, tự do hóa tài chính có thể tác động tích cực đến hiệu quả tài chính thông qua nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng áp lực cạnh tranh và rủi ro hệ thống.
2.3.2.4. Đại dịch Covid-19
Đại dịch Covid-19 là một cú sốc ngoại sinh tác động mạnh đến hoạt động kinh tế toàn cầu. Theo lý thuyết chu kỳ kinh tế của Samuelson (1952), trong giai đoạn suy thoái kinh tế, hoạt động tín dụng và khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm, dẫn đến gia tăng rủi ro tín dụng và chi phí dự phòng.
Đối với ngân hàng thương mại, đại dịch có thể làm giảm thu nhập lãi ròng do tăng trưởng tín dụng chậm lại và gia tăng nợ xấu. Đồng thời, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và cơ cấu nợ có thể làm giảm biên lợi nhuận trong ngắn hạn. Theo Berger và DeYoung (1997), sự gia tăng rủi ro tín dụng có mối quan hệ nghịch chiều với hiệu quả hoạt động.
Do đó, đại dịch Covid-19 được kỳ vọng có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính của ngân hàng.
2.4. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Rehman và cộng sự (2021) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 129 Ngân hàng thương mại Hồi Giáo tại Malaysia trong giai đoạn 2008 – 2017 và áp dụng mô hình GMM hệ thống để đánh giá mối quan hệ giữa Hiệu quả kinh doanh và hiệu quả vốn, đại diện bằng ROA và ROE. Kết quả cho thấy nhiều yếu tố có mối quan hệ cùng chiều tích cực với khả năng sinh lời, bao gồm hiệu quả vốn con người, hiệu quả cấu trúc vốn, quy mô tài sản, giá cổ phiếu, sở hữu nước ngoài, cùng với các yếu tố vĩ mô như lạm phát và tăng trưởng GDP. Ngược lại, đòn bẩy tài chính và nợ xấu được chứng minh là có mối quan hệ ngược chiều với ROA và ROE, khẳng định vai trò giảm lợi nhuận của rủi ro và nợ phải trả.
Kolodiziev và cộng sự (2021) tập trung phân tích sự tác động của Chuyển đổi số đến Hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của 15 Ngân hàng thương mại tại Ucraina từ năm 2019 – 2024. Nghiên cứu này, thông qua việc xem xét tình hình kinh doanh trong giai đoạn chuyển đổi số, đã chỉ ra rằng việc áp dụng công nghệ có tác động trực tiếp và chặt chẽ đến nhiều khía cạnh hoạt động, từ việc gia tăng khả năng cạnh tranh về tiền gửi cá nhân và thu nhập trước thuế đến sự mở rộng giá trị tài sản và các khoản cho vay. Nhóm tác giả kết luận rằng công nghệ giúp ngân hàng tiếp cận khách hàng dễ dàng hơn, tối ưu hóa nguồn lực và mở rộng quy mô kinh doanh, qua đó thúc đẩy Hiệu quả kinh doanh.
Yusuf và Ichsan (2022) đã kiểm định Hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại sau sáp nhập tại Indonesia trong giai đoạn 2011 – 2020, đặc biệt chú ý đến thời điểm dịch Covid 19. Sử dụng ROA là chỉ tiêu Hiệu quả kinh doanh và mô hình hồi quy OLS, nghiên cứu này cho thấy hệ số an toàn vốn CAR, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi và nợ xấu có mối quan hệ cùng chiều với ROA. Ngược lại, tỷ lệ chi phí hoạt động lại có mối quan hệ ngược chiều với ROA, tái khẳng định vai trò của việc quản lý chi phí trong việc tối đa hóa lợi nhuận. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Nghiên cứu của Abdelaziz và cộng sự (2022) tập trung vào mối quan hệ giữa rủi ro và Hiệu quả kinh doanh tại 112 Ngân hàng thương mại cổ phần ở Bắc Mỹ trong giai đoạn 2004 – 2015, sử dụng các mô hình hồi quy đa biến như Pooled OLS, FEM và GMM. Sử dụng ROA và ROE làm biến đại diện Hiệu quả kinh doanh, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa Hiệu quả kinh doanh với ba yếu tố rủi ro và quy mô: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và quy mô của ngân hàng. Phát hiện này nhấn mạnh rằng việc tăng cường kiểm soát rủi ro và quản lý hiệu suất theo quy mô là then chốt để đảm bảo khả năng sinh lời.
Nghiên cứu của Bushashe (2023) về các yếu tố tác động đến Hiệu quả kinh doanh của 11 Ngân hàng thương mại tư nhân tại Ethiopia (2010 – 2021) đã sử dụng mô hình hồi quy cấu trúc tuyến SEM và đại diện Hiệu quả kinh doanh bằng ROA, NIM, ROE. Tác giả đã chia các yếu tố độc lập thành ba nhóm: ngành cụ thể, đặc thù ngân hàng và vĩ mô. Kết quả chỉ ra rằng nhóm đặc thù ngân hàng (bao gồm tỷ lệ thanh khoản, quy mô, hiệu quả chi phí, chất lượng tài sản, tỷ lệ Vốn chủ sở hữu) có mối quan hệ cùng chiều với các chỉ số sinh lời. Tuy nhiên, nhóm lĩnh vực cụ thể (tỷ lệ tài sản/toàn hệ thống) và nhóm vĩ mô (tỷ giá hối đoái) lại có mối quan hệ ngược chiều, cho thấy tác động phức tạp của môi trường bên ngoài.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2021) đã phân tích Hiệu quả kinh doanh của 30 Ngân hàng thương mại Việt Nam từ 2009 – 2020 bằng các mô hình Pooled OLS, FEM và REM, sử dụng ROE làm chỉ tiêu đại diện. Kết quả chỉ ra rằng hệ số CAR, tăng trưởng GDP, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ chi phí hoạt động có mối quan hệ cùng chiều với ROA. Ngược lại, Rủi ro tín dụng, cấu trúc sở hữu Nhà nước và thị phần ngân hàng lại có mối quan hệ nghịch chiều với ROE, cho thấy sự tác động tiêu cực của rủi ro tín dụng và cơ cấu sở hữu lên lợi nhuận.
Tăng Mỹ Sáng và Nguyễn Quốc Anh (2022) sử dụng mô hình GMM hệ thống với dữ liệu của 30 Ngân hàng thương mại từ 2005 – 2019, tập trung vào tác động của Rủi ro tín dụng lên Hiệu quả kinh doanh, đại diện bằng ROE. Nghiên cứu này đưa ra các kết quả đáng chú ý về mối quan hệ nghịch chiều giữa ROE với quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động, thu nhập ngoài lãi, tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ nợ xấu. Phát hiện này hàm ý rằng việc mở rộng quy mô, tăng trưởng tín dụng nhanh hoặc đa dạng hóa thu nhập không hiệu quả có thể làm giảm khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
Phan Thùy Dương và cộng sự (2022) nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập lên Hiệu quả kinh doanh của 29 Ngân hàng thương mại (2010 – 2020) bằng mô hình GMM hệ thống, với Hiệu quả kinh doanh được đo bằng ROA và ROE. Kết quả cho thấy đa dạng hóa thu nhập, quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay, tăng trưởng GDP, tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ lạm phát đều có mối quan hệ cùng chiều với ROA và ROE. Ngược lại, đòn bẩy tài chính, hiệu quả quản lý, quy mô tiền gửi và nợ xấu lại có mối quan hệ nghịch chiều, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát rủi ro và quản lý chi phí.
Nguyễn Quốc Anh (2022) đánh giá tác động của hội nhập kinh tế đến Hiệu quả kinh doanh của 21 Ngân hàng thương mại Việt Nam (2010 – 2021) bằng hai chỉ số ROA và ROE. Nghiên cứu phát hiện tự do kinh doanh và tự do tài chính có mối quan hệ thuận chiều với hiệu quả ngân hàng. Ngoài ra, quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và GDP cũng tác động thuận chiều. Tuy nhiên, việc đa dạng hóa quá mức thu nhập ngoài lãi có thể làm giảm hiệu quả hoạt động.
Phạm Mạnh Hùng và Nguyễn Minh Nhật (2023) thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về đa dạng hóa nguồn vốn, rủi ro và lợi nhuận của 27 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn Covid 19 (Q1/2016 – Q1/2021) bằng mô hình GMM hệ thống, sử dụng ROA và ROE. Kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, đa dạng hóa nguồn vốn và tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với ROA và ROE. Ngược lại, tỷ lệ chi phí hoạt động lại có xu hướng nghịch chiều, khẳng định sự cần thiết phải quản lý chi phí trong bối cảnh rủi ro cao. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023) đã nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn và thanh khoản lên Hiệu quả kinh doanh của 37 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (2003 – 2020) bằng phương pháp hồi quy Bayers. Sử dụng ROA, ROE và EPS, nghiên cứu kết luận tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ thanh khoản, quy mô ngân hàng, tăng trưởng GDP và đa dạng hóa vốn có mối quan hệ cùng chiều với Hiệu quả kinh doanh. Ngược lại, tổng nợ trên tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động, cung tiền M2 và đại dịch COVID-19 có mối quan hệ trái chiều với khả năng sinh lời.
Trịnh Đoàn Tuấn Linh (2024) đã đánh giá hiệu quả và tác động của Chuyển đổi số đến hoạt động của 20 Ngân hàng thương mại Việt Nam (2017 – 2021) bằng phương pháp DEA và hồi quy Tobit. Kết quả nghiên cứu khẳng định Chuyển đổi số có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, dù mức độ không cao, nhưng mang lại hàm ý quan trọng cho việc khuyến khích các ngân hàng tích cực đầu tư và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả.
- Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu có liên quan
2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các nghiên cứu có liên quan, tác giả nhận diện vẫn còn tồn tại những khoảng trống nghiên cứu trong các công trình trước đây như sau:
Thứ nhất, hiện nay đã có các nghiên cứu tập trung vào vấn đề chuyển đổi số và tác động của nó đến Hiệu quả kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại ví dụ như Kolodiziev và cộng sự (2021); Trịnh Đoàn Tuấn Linh (2024). Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu lập luận vào việc sự thay đổi lợi nhuận, năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại khi có sự đầu tư về công nghệ. Hay xem xét về sự tập trung vào thu nhập kênh ngân hàng số đến tổng nguồn thu nhập của ngân hàng. Hiện nay tại Việt Nam thì các Ngân hàng thương mại vẫn chưa có sự đồng bộ về chuyển đổi số mà chỉ đang tồn tại dưới dạng xu hướng chung cần thực hiện. Do đó, vẫn tồn tại một khoảng trống cần xem xét về sự khác biệt của các Ngân hàng thương mại đã tiến hành chuyển đổi số và các Ngân hàng thương mại chưa hoặc đang chuẩn bị cho hoạt động này.
Thứ hai, đối với bối cảnh toàn cầu hóa hiện này thì tự do tài chính một yếu tố vĩ mô phản ánh sự tự do của thị trường tài chính và mức độ can thiệp nhà nước, là một biến số quan trọng đối với Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, nhưng lại ít được chú trọng trong hầu hết các nghiên cứu trong nước, chỉ có Nguyễn Quốc Anh (2022) hiện có phân tích.Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng lại tại đánh giá cho điểm về chỉ số tự do tài chính đến năm 2021. Vì vậy, luận văn này sẽ tiến hành cập nhật và thiết kế theo dạng biến giả để đánh giá sự khác biệt khi có sự tự do tài chính với khi không có trong giai đoạn 2014 – 2024.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NH.
Chương 2 tập trung hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết liên quan đến Hiệu quả tài chính, bao gồm khái niệm, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại và các nhóm nhân tố lý thuyết có ảnh hưởng đến Hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Trên nền tảng đó, chương này tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm nhận diện các khoảng trống nghiên cứu, làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu và xây dựng giả thuyết khoa học ở chương tiếp theo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của NH

Pingback: Luận văn: KQNC Yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của NH