Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của chính sách chi trả cổ tức đến hiệu quả hoạt động kinh doanh các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 – 2024
4.1.1 Chính sách chi trả cổ tức của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024
CS chi trả CT được thể hiện thông qua tỷ lệ trả CT, chỉ số này cho biết tỷ lệ giữa CT ngân hàng trả cho cổ đông so với lợi nhuận giữa lại của ngân hàng. Ngân hàng sẽ ưu tiên về việc chi trả CT cho cổ đông hoặc quan tâm đến việc đầu tư thông qua lợi nhuận giữ lại. Bảng 4.1 là kết quả thống kê về tỷ lệ trả CT của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024. Theo kết quả thống kê, tỷ lệ trả CT ở các NHTM Việt Nam không có xu hướng cụ thể, việc trả CT phụ thuộc vào chính sách ở từng thời điểm của ngân hàng. Tỷ lệ trả CT trung bình của 26 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2024 là 10,93%. Cụ thể, năm 2015 tỷ suất trả CT trung bình ở các NHTM Việt Nam là 33,24%, năm 2016 là 26,18% (giảm so với năm 2015), năm 2017 là 20,26% (giảm so với năm 2016), năm 2018 là 6,27% (giảm so với năm 2017), năm 2019 là 3,51% (giảm so với năm 2018), năm 2020 là 2,11% (giảm so với năm 2019), năm 2021 là 0,73% (giảm so với năm 2020), năm 2022 là 0,44% (giảm so với năm 2021), năm 2023 là 9,03% (tăng so với năm 2022), năm 2024 là 7,51% (giảm so với năm 2023).
Kết quả thống kê thể hiện, phần lớn các NHTM thường không thực hiện việc chi trả CT, ở nhiều thời điểm trong giai đoạn 2015 – 2024 tỷ lệ trả CT bằng 0. Nhiều ngân hàng thực hiện việc chi trả CT ở một thời điểm, sau đó không thực hiện thường xuyên như: Ngân hàng TMCP Phát triển Tp HCM (năm 2016 có DPR là 90,61%, năm 2018 là 44,87%, năm 2023 là 23,14%), Ngân hàng TMCP Kiên Long (năm 2016 là 99,18%), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (năm 2015 là 214,17%)… Điều này thể hiện, ngân hàng thường tập trung nguồn lợi nhuận để thực hiện đầu tư phát triển trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, việc chi trả CT sẽ được thực hiện với giá trị lớn và ở một thời điểm khi ngân hàng không có chính sách sử dụng nguồn lợi nhuận cho đầu tư.
- Bảng 4.1: Tỷ lệ giữa cổ tức mỗi cổ phiếu trên thu nhập cổ phiếu thường ở các NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024
Trong 26 ngân hàng phân tích trong nghiên cứu, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam là những ngân hàng chú trọng việc chi trả CT cho cổ đông. Phần lớn CT sẽ được ngân hàng chi trả cho cổ đông ở từng năm trong giai đoạn 2015 – 2024. Nhận được CT, cổ đông nhận được lợi ích trực tiếp từ nguồn vốn đầu tư vào ngân hàng. Nên việc thu hút nhà đầu tư cũng thuận lợi hơn.
4.1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024 Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Trong nghiên cứu này, HQHĐ kinh doanh của ngân hàng được thể hiện qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
4.1.2.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản của ngân hàng, chỉ số này cho biết khả năng sinh lời của tổng tài sản. Bảng 4.2 thể hiện kết quả thống kê về tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024. Theo đó, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ở các NHTM có xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn phân tích. Cụ thể, năm 2015 tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản trung bình của NHTM Việt Nam là 0,45%, năm 2016 là 0,53% (tăng so với năm 2015), năm 2017 là 0,71% (tăng so với năm 2016), năm 2018 là 0,92% (tăng so với năm 2017, năm 2019 là 1,04% (tăng so với năm 2018), năm 2020 là 1,05% (tăng so với năm 2019), năm 2021 là 1,25% (tăng so với năm 2020), năm 2022 là 1,42% (tăng so với năm 2021), năm 2023 là 1,14% (giảm so với năm 2023), năm 2024 là 1,05% (giảm so với năm 2024).
Kết quả này thể hiện cho tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, kinh tế đất nước ngày càng thịnh vượng. Nên thu hút được sự đầu tư từ các thành phần trong nền kinh tế vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhu cầu vay vốn tín dụng tăng lên để đáp ứng cho hoạt động đầu tư là cơ hội để các NHTM phát triển và mở rộng hoạt động tín dụng. Đây là những nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng, nên việc mở rộng hoạt động tín dụng cũng góp phần gia tăng lợi nhuận và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của ngân hàng.
- Bảng 4.2: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024
Tuy nhiên, công tác quản lý, điều hành và định hướng phát triển ngân hàng đúng đắn sẽ giúp ngân hàng tăng trưởng. Ngược lại, hoạt động kinh doanh không những không đạt được hiệu quả, mà còn làm gia tăng rủi ro dẫn đến những khoảng thiệt hại trong ngân hàng. Trong 26 ngân hàng phân tích trong nghiên cứu, phần lớn các NHTM đều đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh dù ở mức thấp hay cao. Các ngân hàng: Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (2,32%), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (1,98%), Ngân hàng TMCP Quân đội (1,77%), Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (1,54%), Ngân hàng TMCP Phương Đông (1,50%), Ngân hàng TMCP Á Châu (1,49%), Ngân hàng TMCP Phát triển Tp HCM (1,42%), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (1,34%), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (1,32%), Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (1,04%) đạt được tỷ suất sinh lời trên mức trung bình. Nhưng Ngân hàng TMCP Quốc Dân là ngân hàng duy nhất có tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ở mức rất thấp trong suốt giai đoạn 2015 – 2024, thậm chí mang giá trị âm (-) ở năm 2023 và năm 2024. Việc quả lý chi phí của Ngân hàng yếu kém cộng thêm hoạt động tín dụng ẩn chưa nhiều rủi ro, các khoản nợ xấu gia tăng. Nên hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quốc Dân bộ lộ yếu kém và không mang lại hiệu quả.
4.1.2.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu của ngân hàng, thể hiện cho khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Bảng 4.3 thể hiện kết quả thống kê về tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024. Tỷ số này ở các NHTM Việt Nam cũng có xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn phân tích. Cụ thể, năm 2015 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu trung bình của các NHTM Việt Nam là 5,73%, năm 2016 là 7,13% (tăng lên so với năm 2015), năm 2017 là 9,69% (tăng lên so với năm 2016), năm 2018 là 11,59% (tăng lên so với năm 2017), năm 2019 là 12,72% (tăng lên so với năm 2018), năm 2020 là 12,28% (giảm đi so với năm 2019), năm 2021 là 14,15% (tăng lên so với năm 2020), năm 2022 là 14,85% (tăng lên so với năm 2021), năm 2023 là 12,33% (giảm đi so với năm 2022), năm 2024 là 10,25% (giảm đi so với năm 2023).
- Bảng 4.3: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024
Kinh tế phát triển, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng gia tăng, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng. Do đó, việc mở rộng hoạt động kinh doanh đã giúp cho các NHTM Việt Nam không ngừng gia tăng khả năng sinh lời, tạo ra nguồn thu nhập cho ngân hàng. Phần lớn ngân hàng đều có sự tăng trưởng đáng kể về lợi nhuận, giúp cho tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu gia tăng. Trong đó, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (mang giá trị ROE âm ở năm 2015 là -4,59%), Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, Ngân hàng TMCP Nam Á, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín… thể hiện rõ cho sự tăng trưởng về khả năng sinh lời trong giai đoạn 2015 – 2024. Ngược lại, duy nhất Ngân hàng TMCP Quốc Dân là ngân hàng hoạt động không mang lại hiệu quả trong suốt giai đoạn phân tích. Thậm chí lợi nhuận của Ngân hàng mang giá trị âm ở năm 2023 và năm 2024.
4.2 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
4.2.1 Thống kê mô tả các yếu tố trong mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện nhằm mục tiêu xem xét ảnh hưởng của CS chi trả CT đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó, các biến kiểm soát về quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 cũng được xem xét tầm ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh của ngân hàng. Bảng 4.4 thể hiện kết quả thống kê các biến trong mô hình nghiên cứu.
Biến DPR là tỷ lệ trả CT đại diện cho CS chi trả CT của các NHTM Việt Nam. Biến này được đo lường thông qua tỷ lệ giữa CT trên mỗi cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu. Kết quả thống kê ở Bảng 4.4 thể hiện, giá trị trung bình của tỷ lệ trả CT ở các NHTM Việt Nam là 10,93% với độ lệch chuẩn là 31,15%. Trong đó, giá trị bé nhất là 0% và giá trị lớn nhất là 225,66%.
Biến SIZE là quy mô ngân hàng được đo lường thông qua logarit cơ số tự nhiên giá trị tổng tài sản của ngân hàng. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Kết quả thống kê ở Bảng 4.4 thể hiện, giá trị trung bình của biến quy mô ngân hàng là 8,29 với độ lệch chuẩn là 0,5. Trong đó, giá trị bé nhất là 7,25 và giá trị lớn nhất là 9,44.
- Bảng 4.4: Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Biến LEV là tỷ lệ nợ của ngân hàng, được đo lường qua tỷ lệ giữa tổng nợ phải trả và tổng tài sản của ngân hàng. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh của NHTM Việt Nam. Kết quả thống kê ở Bảng 4.4 thể hiện, giá trị trung bình về tỷ lệ nợ ở các NHTM Việt Nam là 91,41% với độ lệch chuẩn là 3,05%. Trong đó, giá trị bé nhất là 80,89% và giá trị lớn nhất là 95,94%.
Biến GROW là tốc độ tăng trưởng doanh thu của ngân hàng, được đo lường thông qua mức độ tăng trưởng về doanh thu so với năm trước tại ngân hàng. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến HQHĐ kinh doanh của NHTM Việt Nam. Kết quả thống kê ở Bảng 4.4 thể hiện, giá trị trung bình về tốc độ tăng trường doanh thu ở các NHTM Việt Nam là 15,44% với độ lệch chuẩn là 15,30%. Trong đó, giá trị bé nhất là -54,48% và giá trị lớn nhất là 57,97%.
Biến COVID thể hiện cho tình trạng của đại dịch Covid-19, được đo lường thông qua biến giả, nhận giá trị 1 nếu năm tài chính là năm 2020 và năm 2021, nhận giá trị ở các năm tài chính còn lại. Biến này được kỳ vọng có ảnh hưởng nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Kết quả thống kê ở Bảng 4.4 thể hiện, giá trị trung bình của biến COVID là 0,2 với độ lệch chuẩn là 0,4. Trong đó, giá trị bé nhất là 0 và giá trị lớn nhất là 1.
4.2.2 Ma trận tương quan Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Ma trận tương quan là công cụ giúp xem xét mối tương quan giữa các thành phần trong mô hình nghiên cứu. Trong đó, hệ số tương quan giữa các cặp biến sẽ có giá trị trong khoản từ -1 đến 1 và hệ số tương quan càng gần với -1 hoặc 1 sẽ có mối tương quan càng lớn với dấu + hoặc – thể hiện cho chiều tác động giữa cặp biến. Mối quan hệ giữa cặp biến có ý nghĩa thống kê khi giá trị kiểm định bé hơn 0,05. Tuy nhiên, theo Gujarat (2004), hệ số tương quan giữa cặp biến độc lập bé hơn 0,8 thì mối tương quan thấp, chưa thể hiện cho ĐCT. Bảng 4.5 thể hiện ma trận tương quan nhằm kiểm tra mối tương quan giữa HQHĐ kinh doanh (ROA, ROE), CS chi trả CT (DPR), quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ nợ (LEV), tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROW), đại dịch Covid-19 (COVID).
Mối quan hệ giữa ROA và các biến độc lập thể hiện, CS chi trả CT không có ý nghĩa thống kê, các yếu tố về quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 đều có ý nghĩa thống kê. Trong đó, hệ số tương quan giữa ROA và SIZE có giá trị là 0,871 (lớn hơn 0,8) điều này thể hiện cho mối tương quan cao, có nghĩa là quy mô tổng tài sản của ngân hàng sẽ có ảnh hưởng mạnh đến HQHĐ của NHTM Việt Nam. Mối quan hệ giữa ROE và các biến độc lập thì CS chi trả CT, tỷ lệ nợ, đại dịch Covid-19 không có ý nghĩa thống kê, các biến về quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng doanh thu có ý nghĩa thống kê.
Bên cạnh đó, mối tương quan giữa các cặp biến ở các biến độc lập có một số mối tương quan có ý nghĩa thống kê như: CS chi trả CT – tỷ lệ nợ, CS chi trả CT – đại dịch Covid-19, quy mô ngân hàng – tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu – đại dịch Covid- 19. Tuy nhiên, hệ số tương quan giữa các cặp biến này lại bé hơn 0,8 nên chưa thể kết luận được có hiện tượng ĐCT xảy ra giữa các biến độc lập. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
- Bảng 4.5: Ma trận tương quan
4.2.3 Tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
4.2.3.1 Kết quả ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu
- ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên được sử dụng để xem xét ảnh hưởng của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Bảng 4.6 thể hiện kết quả ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên trong mối quan hệ giữa CS chi trả CT và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Theo đó, kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian được sử dụng để lựa chọn sự phù hợp giữa hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và giá trị kiểm định là 0,000 bé hơn 0,05 nên mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên phù hợp. Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn giữa mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định, và có giá trị là 0,000 bé hơn 0,05 nên mô hình phù hợp và được lựa chọn giải thích cho ảnh hưởng của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là mô hình hiệu ứng cố định.
Giá trị kiểm định sự phù hợp của mô hình hiệu ứng cố định là 0,000 bé hơn 0,05 nên mô hình hiệu ứng cố định đạt được sự phù hợp. Kết quả hồi quy còn cho biết, chính sách chi trả có ảnh hưởng nghịch chiều đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Bên cạnh đó, các biến kiểm soát đều có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ nợ có tác động nghịch chiều đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả ước lượng mô hình hiệu ứng cố định chuẩn xác khi thỏa các điều kiện không vi phạm hiện tượng ĐCT, hiện tượng TTQ và hiện tượng PSSS thay đổi.
- Bảng 4.6: Kết quả ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình ngẫu nhiên trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
4.2.3.2 Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Hiện tượng ĐCT trong mô hình hồi quy ảnh hưởng của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản được xem xét qua giá trị của hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor – VIF). Trong đó, khi giá trị VIF bằng 1 sẽ không có hiện tượng ĐCT, giá trị VIF thuộc khoảng từ 1 đến 5 thì biến có mức độ ĐCT thấp và có thể được chấp nhận, giá trị VIF lớn hơn 5 thể hiện có dấu hiện ĐCT, giá trị VIF lớn hơn 10 thể hiện mức độ ĐCT cao và cần khắc phục. Bảng 4.7 thể hiện kết quả kiểm tra hiện tượng ĐCT trong mô hình hồi quy ảnh hưởng của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản.
- Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Theo kết quả kiểm tra hiện tượng ĐCT thể hiện, giá trị VIF của tất cả các biến độc lập đều rất thấp, với giá trị VIF trung bình là 1,08 và giá trị cao nhất là 1,09. Điều này thể hiện các biến độc lập không vi phạm hiện tượng ĐCT.
4.2.3.3 Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Hiện tượng TTQ được kiểm tra qua kiểm định Woolgridge. Nếu giá trị kiểm định bé hơn 0,05 mô hình vi phạm hiện tượng TTQ.
- Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Để kiểm tra hiện tượng TTQ, giả thuyết được đặt ra như sau:
- H0: Không tồn tại hiện tượng TTQ trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
- H1: Tồn tại hiện tượng TTQ trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Bảng 4.8 thể hiện kết quả kiểm tra hiện tượng TTQ trường hợp ảnh hưởng của tác động CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Kết quả kiểm định Wooldridge là 0,037 bé hơn 0,05 nên H1 được chấp nhận. Như vậy, mô hình hồi quy tác động của chính sách chỉ trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản vi phạm hiện tượng TTQ.
4.2.3.4 Kết quả kiểm tra hiện tương phương sai số thay đổi trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Kiểm định Modified được sử dụng để kiểm tra hiện tượng PSSS thay đổi trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Giá trị kiểm định bé hơn 0,05 sẽ vi phạm hiện tượng PSSS thay đổi. Để kiểm tra hiện tượng PSSS thay đổi giả thuyết được đặt ra như sau:
- H0: Không tồn tại hiện tượng PSSS thay đổi trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
- H1: Tồn tại hiện tượng PSSS thay đổi trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Bảng 4.9: Kết quả kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Bảng 4.9 thể hiện kết quả kiểm tra hiện tượng PSSS thay đổi của mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Giá trị kiểm định Modified là 0,000 nến giả thuyết H1 được chấp nhận. Như vậy, mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản vi phạm hiện tượng PSSS thay đổi.
4.2.3.5 Kết quả ước lượng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát GLS trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Thông qua các kiểm định kiểm tra các khuyết điểm của mô hình hồi quy cho thấy, mô hình tác động CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản không vi phạm hiện tượng ĐCT, nhưng lại vi phạm hiện tượng TTQ và hiện tượng PSSS thay đổi. Do đó, kết quả ước lượng mô hình hiệu ứng cố định không còn đạt được tính chính sách và cần được khắc phục. Mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát được lựa chọn để khắc phục và kết quả ước lượng thể hiện ở Bảng 4.10.
- Bảng 4.10: Kết quả ước lượng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Theo kết quả ước lượng thể hiện, giá trị kiểm định sự phù hợp là 0,000 bé hơn 0,05 nên mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát đạt được sự phù hợp. Hệ số R2 là 0,614 thể hiện cho khả năng giải thích sự biến thiên của HQHĐ kinh doanh của NHTM Việt Nam bởi CS chi trả CT và các biến kiểm soát là 61,4% còn lại được giải thích bởi những thành phần chưa đề cập ở mô hình nghiên cứu. Bên cạnh đó, kết quả còn cho thấy, CS chi trả CT có tác động nghịch chiều đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Nghĩa là tỷ lệ trả CT càng cao sẽ càng làm suy giảm tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng là yếu tố quan trọng quyết định tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Nhưng kết quả nghiên cứu này chưa thể kết luận được ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản.
4.2.4 Tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
4.2.4.1 Kết quả ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Tương tự, hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên cũng là kỹ thuật được sử dụng để ước lượng và xem xét tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Bảng 4.11 thể hiện kết quả ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên trường hợp tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
Kết quả ước lượng thể hiện, giá trị kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian là 0,000 bé hơn 0,05 nên giữa hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên thì mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên phù hợp. Kiểm định Hausman có giá trị là 0,000 bé hơn 0,05 nên giữa mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định thì mô hình hiệu ứng cố định là mô hình phù hợp được lựa chọn giải thích cho tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Giá trị kiểm định sự phù hợp của mô hình hiệu ứng cố định là 0,000 bé hơn 0,05 nên mô hình thỏa điều kiện về độ tin cậy. Kết quả cho thấy, CS chi trả CT có tác động nghịch chiều đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Nghĩa là khi tỷ lệ trả CT càng lớn sẽ càng làm giảm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Nhưng tỷ lệ nợ lại là yếu tố duy nhất trong mô hình không có ý nghĩa thống kê. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
- Bảng 4.11: Kết quả ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
4.2.4.2 Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor – VIF) cũng được sử dụng để kiểm tra hiện tượng ĐCT trong mô hình nghiên cứu. Bảng 4.12 thể hiện kết quả kiểm tra hiện tượng ĐCT giữa tỷ suất chi trả CT, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19.
- Bảng 4.12: Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Kết quả thể hiện, hệ số phóng đại phương sai của các yếu tố trong mô hình hồi quy rất nhỏ, gần bằng 1. Nên có thể kết luận, không tồn tại hiện tượng ĐCT trong mô hình hồi quy.
4.2.4.3 Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Kiểm định Wooldridge được sử dụng kiểm tra hiện tượng TTQ. Giả thuyết kiểm tra hiện tượng TTQ như sau:
- H0: Không tồn tại hiện tượng TTQ trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
- H1: Tồn tại hiện tượng TTQ trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Bảng 4.13: Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Bảng 4.13 thể hiện kết quả kiểm tra hiện tượng TTQ trường hợp tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Kết quả cho biết, giá trị kiểm định Wooldridge là 0,076 lớn hơn 0,05 nên H0 được chấp nhận. Như vậy, mô hình hồi quy trường hợp tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu không vi phạm hiện tượng TTQ.
4.2.4.4 Kết quả kiểm tra hiện tương phương sai số thay đổi trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Kiểm định Modified được sử dụng để kiểm tra hiện tượng PSSS thay đổi. Giả thuyết kiểm định như sau:
- H0: Không tồn tại hiện tượng PSSS thay đổi trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
- H1: Tồn tại hiện tượng PSSS thay đổi trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Bảng 4.14: Kết quả kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Bảng 4.14 thể hiện kết quả kiểm tra hiện tượng PSSS thay đổi trường hợp tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Kết quả cho biết, giá trị kiểm định Modified là 0,000 bé hơn 0,05 nên H1 được chấp nhận. Như vậy, mô hình hồi quy tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu vi phạm hiện tượng PSSS thay đổi.
4.2.4.5 Kết quả ước lượng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát GLS trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Qua kiểm tra các khuyết điểm trong mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho thấy, mô hình không vi phạm hiện tượng ĐCT và hiện tượng TTQ. Tuy nhiên, mô hình lại vi phạm hiện tượng PSSS thay đổi, nên kết quả ước lượng không còn đạt được độ chuẩn xác. Do đó, mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát được sử dụng để khắc phục vi phạm. Bảng 4.15 thể hiện kết quả ước lượng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát trường hợp tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
- Bảng 4.15: Kết quả ước lượng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát trường hợp tác động của chính sách chi trả cổ tức đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Kết quả ước lượng thể hiện, kiểm định sự phù hợp có giá trị là 0,000 bé hơn 0,05 nên mô hình đạt được điều kiện về sự phù hợp. R2 có giá trị là 0,456 thể hiện khả năng giải thích của CS chi trả CT và các biến kiểm soát đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 45,6% còn lại là từ những khía cạnh chưa được đề cập. CS chi trả CT có tác động nghịch chiều đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, nên khi tỷ lệ trả CT càng cao sẽ càng làm giảm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Đồng thời, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 cũng là những khía cạnh ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
4.3 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Bảng 4.16 thể hiện tổng hợp kết quả nghiên cứu về tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của các NHTM Việt Nam.
- Bảng 4.16: So sánh kết quả nghiên cứu với giả thuyết nghiên cứu, kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Theo đó, các khía cạnh đề cập đều có ý nghĩa thống kê, trừ yếu tố đại dịch Covid-19 không có ý nghĩa thống kê ở mô hình tác động của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Như vậy, phần lớn các khía cạnh đề cập đều ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
4.3.1 Tác động của chính sách chi trả cổ tức đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Theo kết quả nghiên cứu thế hiện, CS chi trả CT, cụ thể là tỷ lệ trả CT có ảnh hưởng nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh (tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) của ngân hàng. Cụ thể, hệ số tác động của tỷ lệ trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là -0,002 ở mức ý nghĩa thống kê 1% và hệ số tác động của tỷ lệ trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là -0,008 ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Điều này cho thấy, khi tỷ lệ chi trả CT của ngân hàng càng lớn thì HQHĐ kinh doanh của ngân hàng càng giảm. Như vậy, giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận, nhưng chiều hướng tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của NHTM Việt Nam không giống với kỳ vọng. Căn cứ vào lập luận của lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay, lý thuyết phát tín hiệu CT, CS chi trả CT giúp doanh nghiệp gia tăng HQHĐ kinh doanh. Vì CS chi trả CT cao là dấu hiệu cho biết các NHTM đạt được hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh (Chinwe & Asielue, 2024; (Nguyễn Quang Minh Nhi & Nguyễn Thị Mỹ, 2024; Lê Trương Niệm và ctv., 2021). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lại đồng thuận với lập luận từ lý thuyết chi phí đại diện và lý thuyết trật tự phân hạng thể hiện cho sự tác động ngược lại của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của NHTM. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Để đáp ứng được điều kiện của Thông tư số 41/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, NHTM có xu hướng gia tăng lợi nhuận giữ lại nhằm điều chỉnh hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel II và dần tiến đến tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel III. Nên việc chi trả cổ tức ở mức cao đặc biệt là cổ tức tiền mặt sẽ làm giảm khả năng tăng trưởng tài sản sinh lời. Do vậy, ngân hàng có xu hướng hạn chế cổ tức tiền mặt để đảm bảo ổn định, dẫn đến cổ tức không còn phản ánh thuần túy hiệu quả hoạt động. Trong giai đoạn 2015 – 2024, nhiều thời điểm các ngân hàng không thực hiện chi trả CT cho cổ đông dù đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Điều này thể hiện các NHTM ưu tiên việc gia tăng lợi nhuận, bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh. Kết quả này tương đồng với lập luận của Niki (2019), CS chi trả CT hào phóng đồng nghĩa là giảm lợi nhuận giữ lại, dẫn đến ngân hàng mất đi cơ hội sử dụng nguồn vốn nội bộ cho hoạt động kinh doanh. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, nhu cầu tín dụng của thị trường ngày càng lớn, đây là cơ hội để các ngân hàng tập trung vào mở rộng hoạt động tín dụng và gia tăng nguồn thu nhập. Đồng thời, lợi nhuận sẽ được giữ lại để gia tăng nguồn vốn của ngân hàng, giúp ngân hàng có được tiềm lực tài chính lớn mạnh và đứng vững trên thị trường tài chính.
Mặt khác, ở những ngân hàng có quy mô hoạt động nhỏ, thường có tốc độ tăng trưởng nhanh, HQHĐ kinh doanh cũng cao hơn. Được thể hiện quả tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ở mức cao. Tuy nhiên, tiềm lực tài chính ở các ngân hàng này thường ở mức thấp, vốn chủ sở hữu còn hạn chế. Nên ngân hàng thường có xu hướng thực hiện chính sách gia tăng lợi nhuận giữ lại để bổ sung cho nguồn vốn hoạt động kinh doanh. Điều này đồng nghĩa phần CT chi trả cho cổ đông không cao. Như vậy, ngân hàng có thể sử dụng lợi nhuận giữ lại gia tăng nguồn vốn kinh doanh, nhằm tăng sự ổn định tình hình tài chính của ngân hàng. Dễ dàng nhận thấy chính sách này ở một số ngân hàng như: Ngân hàng TMCP An Bình, Ngân hàng TMCP Bắc Á, Ngân hàng TMCP Bản Việt, Ngân hàng TMCP Kiên Long, Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín. Trong giai đoạn 2015 – 2024 ngân hàng đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, nhưng để gia tăng năng lực tài chính, nên các ngân hàng này có xu hướng gia tăng lợi nhuận giữ lại và không thực hiện chi trả CT cho cổ đông. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Ngược lại, ở những ngân hàng có quy mô hoạt động lớn, có được tiềm lực tài chính và lợi thế trên thị trường, HQHĐ kinh doanh giữ được sự ổn định trong giai đoạn 2015 – 2024. Tuy nhiên, đã giữ vững được năng lực trong hoạt động kinh doanh, nên khả năng sinh lời thương không còn không cao nhưng duy trì được sự ổn định này. Nên các ngân hàng này có xu hướng chi trả CT cho cổ đông, nhằm giữ vững niềm tin của cổ đông và nhà đầu tư. Ngân hàng chú ý đến việc xây dựng hình ảnh ngân hàng trên thị trường tài chính đối với nhà đầu tư. Nên việc chi trả CT giúp ngân hàng thể hiện được năng lực của ngân hàng hoạt động kinh doanh, luôn đạt được HQHĐ kinh doanh. Điều này đúng với lập luận của một số nghiên cứu thực nghiệm, thông qua CS chi trả CT, doanh nghiệp chứng minh được với khách hàng, người lao động và cổ đông về tình hình tài chính lành mạnh (Lê Trương Niệm và ctv., 2021). Nhiều ngân hàng có quy mô hoạt động ở Việt Nam như: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Phương Đông, Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có xu hướng thực hiện chi trả CT cho cổ đông và duy trì trong suốt giai đoạn 2015 – 2024.
Kết quả nghiên cứu này phù hợp bối cảnh thể chế về cấu trúc vốn của các NHTM Việt Nam. Sự khác biệt xuất phát từ đặc điểm của thị trường tài chính Việt Nam là mới nổi, nên phụ thuộc nhiều vào lợi nhuận giữ lại để tăng vốn và mở rộng hoạt động. Việc chi trả cổ tức cao có thể làm giảm HQHĐ của NHTM Việt Nam. Trong khi đó, ở các nghiên cứu thực nghiệm tham khảo được thực hiện tại các nền kinh tế phát triển, thị trường tài chính có nhiều kinh nghiệm nên giữ được sự ổn định. Các ngân hàng phải đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động tài chính, đặc biệt là hệ số an toàn vốn. Nên CS chi trả CT được xem là cơ sở phát tín hiệu cho HQHĐ của ngân hàng, nên mối quan hệ giữa CS chi trả CT và HQHĐ là cùng chiều. Đồng thơi kết quả nghiên cứu này không phải bác bỏ lập luận của các lý thuyết liên quan, mà càng củng cố cho mức độ và chiều hướng tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ sẽ phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường tài chính và đặc thù ngành, đặc biệt là lĩnh vực tài chính.
Qua đó cho thấy, các NHTM ở Việt Nam có hai xu hướng rõ ràng, khi còn hạn chế về tiềm lực tài chính, dù HQHĐ kinh doanh ở mức cao, nhưng ngân hàng sẽ ưu tiên gia tăng lợi nhuận giữ lại để bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh. Nhưng khi tiềm lực vững mạnh, HQHĐ kinh doanh duy trì ở mức ổn định, ngân hàng sẽ chú trọng đến việc xây dựng hình ảnh ngân hàng đối với nhà đầu tư, nên CS chi trả CT được ngân hàng ưu tiên hơn. Vì thế, tỷ lệ trả CT có ảnh hưởng nghịch chiều đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của các NHTM Việt Nam với mức độ ảnh hưởng không lớn.
4.3.2 Tác động của các biến kiểm soát đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
4.3.2.1 Quy mô ngân hàng
Quy mô ngân hàng thể hiện cho quy mô về tổng tài sản của ngân hàng, sức mạnh tài chính. Kết quả nghiên cứu thể hiện, quy mô ngân hàng có ảnh hưởng đến hiệu quả quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Cụ thể, hệ số tác động của quy mô ngân hàng đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là 0,894 ở mức ý nghĩa thống kê 1% và hệ số tác động đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 9,878 với mức ý nghĩa thống kê 1%. Như vậy, quy mô tổng tài sản của ngân hàng có tác động cùng chiều đến HQHĐ kinh doanh của NHTM. Nghĩa là khi quy mô tổng tài sản càng lớn thì HQHĐ kinh doanh càng gia tăng. Kết quả đúng với kỳ vọng của tác giả khi đề xuất mô hình nghiên cứu và tương đồng với nhiều nghiên cứu trước đó. Bùi Nguyên Khá và ctv. (2020) cho rằng, quy mô doanh nghiệp càng lớn sẽ càng đạt được HQHĐ kinh doanh cao, vì có được lợi thế trong cạnh tranh và phát triển. Quy mô tổng tài sản lớn thể hiện cho tiềm lực tài chính của ngân hàng càng cao, chứng minh được uy tín trên thị trường, nên gia tăng năng lực cạnh tranh. Với các NHTM hoạt động kinh doanh chủ yếu là hoạt động tín dụng, ngân hàng huy động vốn và cấp tín dụng cho khách hàng. Nên mức độ uy tín của ngân hàng sẽ giúp ngân hàng thuận lợi trong việc huy động vốn, có được nguồn tài chính để cấp tín dụng. Đây là điều kiện để gia tăng hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Mặt khác, hoạt động kinh doanh của ngân hàng là hoạt động rất đặc biệt, trong đó việc cấp tín dụng cho khách hàng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vì khi khách hàng không có khả năng hoàn trả nợ, ngân hàng không thể thu hồi được nợ gốc và lãi đã giải ngân. Đối với những ngân hàng có quy mô tài chính lớn mạnh, ít chịu ảnh hưởng từ áp lực từ doanh số, nên công tác thẩm định và giám sát khoản vay được thực hiện nghiêm ngặt, góp phần giúp ngân hàng giảm bớt được những rủi ro tín dụng. Hơn thế, với lợi thế về tài chính, ngân hàng thuận lợi trong xây dựng được bộ máy quản lý và điều hành tốt các khâu phòng rủi ro, cũng như đầu tư công nghệ cho hoạt động kinh doanh. Điều này góp phần không nhỏ cho gia tăng năng lực cạnh tranh và thúc đẩy mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đồng thời giảm thiểu rủi ro. Do vậy, quy mô hoạt động càng lớn thì HQHĐ kinh doanh của ngân hàng càng lớn (Tafdil et al., 2019). Chính vì thế, quy mô ngân hàng được xem là một yếu tố quan trọng quyết định đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
4.3.2.2 Tỷ lệ nợ
Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ nợ là yếu tố có tác động nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Hệ số tác động của tỷ lệ nợ đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là -0,129 ở mức ý nghĩa thống kê 1% và hệ số tác động đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là -0,356 ở mức ý nghĩa thông kê 1%. Như vậy, tỷ lệ nợ càng lớn sẽ càng làm giảm HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Kết quả này đúng với kỳ vọng của tác giả khi đề xuất mô hình nghiên, đồng thời nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng có kết quả tương đồng với kết quả này. Những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao sẽ phải gánh chịu những khoản phí cho việc sử dụng nợ, nên làm giảm HQHĐ kinh doanh của doanh nghiệp (Lê Trương Niệm và ctv., 2021). Ngân hàng là tổ chức kinh tế rất đặc biệt, ngân hàng huy động vốn từ nền kinh tế và cấp tín dụng cho các đối tượng có nhu cầu. Khoảng lệch giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay là nguồn thu nhập ngân hàng nhận được. Để mở rộng hoạt động tín dụng, điều kiện cần là ngân hàng phải gia tăng hoạt động huy động vốn. Để thuận lợi huy động vốn thì mức lãi suất phải phù hợp, thường là mức lãi suất phải gia tăng nếu ngân hàng muốn có được nguồn vốn huy động cao. Khi đó đồng nghĩa chi phí hoạt động của ngân hàng sẽ gia tăng đáng kể, việc ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cụ thể là làm giảm phần lợi nhuận.
Mặt khác, theo Bùi Nguyên Khá và ctv. (2020), nợ có thể được xem là lá chắn thuế, nhưng sử dụng đòn bẩy tài chính không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, nó có thể tác động tiêu cực nếu doanh nghiệp sử dụng không hiệu quả. Điều này thể hiện, tỷ lệ nợ cao không hẵn sẽ làm giảm HQHĐ kinh doanh của ngân hàng, nhưng với điều kiện ngân hàng phải sử dụng nợ hiệu quả. Mở rộng hoạt động kinh doanh ngân hàng phải chịu nhiều áp lực trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác, phải đảm bảo doanh số cho vay để đạt được mức doanh thu theo kế hoạch… Vấn đề này vô tình đã khiến ngân hàng có thể giải ngân những khoản vay tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kết quả là nợ xấu gia tăng và hiển nhiên nguồn lợi nhuận giảm và ngân hàng hoạt động kinh doanh không đạt được hiệu quả. Minh chứng cho việc sử dụng nợ không hiệu quả là Ngân hàng TMCP Quốc Dân, trong suốt giai đoạn 2015 – 2024 tỷ lệ nợ của Ngân hàng luôn lớn hơn mức 93% trong khi giá trị trung bình của tỷ lệ nợ ở các ngân hàng là 91,41%. Nhưng Ngân hàng hoạt động không hiệu quả, lợi nhuận ở mức rất thấp, thậm chí là mang giá trị âm ở năm 2023 và năm 2024. Đổi ngược lại, một số ngân hàng (Ngân hàng TMCP Quân đội, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, Ngân hàng TMCP Phương Đông, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng…) duy trì tỷ lệ nợ không vượt quá 90% nhưng công tác quản lý tốt, mang về HQHĐ kinh doanh cao cho ngân hàng. Do đó, việc sử dụng đòn bẩy tài chính không hiệu quả sẽ làm cho tỷ lệ nợ của doanh nghiệp gia tăng và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Phúc Hiền & Ngô Thị Thúy Huyền, 2023). Chính vì thế, tỷ lệ nợ được xem là khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
4.3.2.3 Tốc độ tăng trưởng doanh thu
Tốc độ tăng trưởng doanh thu biểu hiện cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh của các NHTM, nên được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho biết, chiều tác động của yếu tố này đúng với kỳ vọng. Có nghĩa là tốc độ tăng trưởng doanh thu có tác động cùng chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Trong đó, tốc độ tăng trưởng doanh thu tác động đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản với hệ số tác động là 0,007 ở mức ý nghĩa thống kê 1%, tác động đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu với hệ số tác động là 0,091 ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Như vậy, khi tốc độ tăng trưởng doanh thu của ngân hàng càng lớn sẽ càng giúp cho ngân hàng tăng trưởng HQHĐ kinh doanh. Kết quả nghiên cứu này giống với các nghiên cứu thực nghiệm khác. Huỳnh Thị Thùy Dương (2022) cho rằng, doanh nghiệp tăng doanh thu tạo điều kiện để thúc đẩy tạo lập thu nhập, nên HQHĐ của doanh nghiệp càng cao. Đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM, thì hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chủ yếu. Ngân hàng phải chi trả mức lãi suất để thực hiện huy động vốn từ nhưng nguồn nhàn rỗi, tiến hành cấp tín dụng cho các đối tượng có nhu cầu và thu về nguồn thu nhập từ lãi suất cho vay. Chênh lệch giữa tổng nguồn thu từ lãi suất cho vay và tổng nguồn chi lãi suất huy động vốn là thu nhập của ngân hàng. Doanh thu lớn có nghĩa ngân hàng thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động tín dụng. Do vậy, nguồn thu nhập cũng sẽ tăng lên, nâng cao HQHĐ kinh doanh của ngân hàng.
Theo nguồn số liệu thu thập, nhìn chung doanh thu của các NHTM đều có xu hướng gia tăng trong suốt giai đoạn 2015 – 2024, trừ một số ngân hàng ở một vài thời điểm nhất định. Giá trị trung bình của tốc độ tăng trưởng doanh thu của các NHTM trong giai đoạn phân tích là 15,44%. Điều này thể hiện phần lớn doanh thu của các NHTM Việt Nam đều tăng trưởng mạnh. Thực tế, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển, việc mở rộng đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế là việc không thể tránh khỏi. Từ đây nhu cầu vay vốn ngân hàng gia tăng mạnh mẽ. Nên các ngân hàng có xu hướng mở rộng hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng. Nên HQHĐ kinh doanh của NHTM Việt Nam được tăng lên đáng kể. Ngược lại, ngân hàng hoạt động không hiệu quả, tiềm lực tài chính sẽ hạn hẹp, nên việc mở rộng hoạt động tín dụng cũng gặp không ít khó khăn. Cụ thể là Ngân hàng TMCP Quốc Dân hoạt động kinh doanh không đạt được hiệu quả trong suốt giai đoạn phân tích, lợi nhuận mang giá trị âm. Ngân hàng không thể mở rộng hoạt động kinh doanh, nên doanh thu không nhưng không gia tăng mà còn có dấu hiệu thụt lùi. Năm 2024 tốc độ tăng trưởng doanh thu của Ngân hàng TMCP Quốc Dân có giá trị là -54,48% (giá trị thấp nhất). Do vậy, tăng trưởng doanh thu là một biểu hiện của hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt được hiệu quả tài chính (Bùi Nguyên Khá và ctv., 2020). Chính vì thế, tốc độ tăng trưởng doanh thu sẽ giúp cho các NHTM Việt Nam gia tăng HQHĐ kinh doanh. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
4.3.2.4 Đại dịch Covid-19
Đại dịch Covid-19 là yếu tố thể hiện cho những biến động, khó khăn của nền kinh tế khi phải ứng phó với đại dịch Covid-19 trong năm 2020 và năm 2021. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Theo Huỳnh Thị Thùy Dương (2022), đại dịch Covid-19 đã làm giảm HQHĐ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong thời điểm đại dịch Covid-19 diễn ra, nền kinh tế thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng bị ảnh hưởng nặng nề. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 gây ra những khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành phần trong nền kinh tế (Bùi Nguyên Khá và ctv., 2020). Nền kinh tế dường như bị đóng cửa nhằm thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Hoạt động sản xuất, kinh doanh rất hạn chế do phải đảm bảo được các điều kiện trong phòng dịch bệnh lây lan. Nên nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng hoặc ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh do chi phí tăng. Nguyễn Phúc Hiền & Ngô Thị Thúy Huyền (2023) cho biết, trong giai đoạn Covid-19 doanh nghiệp bị suy giảm quy mô hoạt động, hạn chế tiếp nhận được nguồn vốn đầu tư, nên làm giảm giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thể hiện, yếu tố đại dịch Covid-19 lại có ảnh hưởng cùng chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Cụ thể, hệ số tác động của yếu tố đại dịch Covid-19 đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 1,021 ở mức ý nghĩa thống kê 10% và nghiên cứu này chưa thể kết luận về tác động của yếu tố địa dịch Covid-19 đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Hay nói cách khác, ở thời điểm đại dịch Covid-19 diễn ra (năm 2020 và năm 2021), các NHTM có nhiều khả năng đạt được HQHĐ kinh doanh hơn so với các năm khác. Kết quả này trái dấu với kỳ vọng khi đề xuất mô hình nghiên cứu.
Đại dịch Covid-19 diễn ra ở năm 2020 và năm 2021, đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng ở năm 2021 khi đại dịch bùng phát. Việt Nam cũng giống nhiều quốc gia khác trên thế giới phải áp dụng các biện pháp đóng cửa nhằm phòng chống dịch bệnh. Các đợt giãn cách xã hội được thực hiện và kéo dài. Khi đó những lĩnh vực không quan trọng sẽ phải đóng cửa hoặc thực hiện sản xuất khép kín. Nhưng ở đầu ra gặp nhiều khó khăn do không thể lưu thông, vận chuyển hàng hóa. Dẫn đến chi phí hoạt động gia tăng, nhưng nguồn thu nhập thấp. Nên nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa tạm thời hoặc tuyên bố giải thể công ty. Ngân hàng là lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế, nên dù trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn ra thì các NHTM vẫn phải duy trì hoạt động. Trong khi các thành phần kinh tế gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thì các NHTM lại có nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh. Hoạt động sản xuất, kinh doanh đình trệ khiến cho tiềm lực tài chính của các thành phần trong nền kinh tế gặp khó khăn. Nên nhu cầu vay vốn tín dụng ở các NHTM gia tăng. Nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế, Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích NHTM hỗ trợ tín dụng cho tổ chức và cá nhân. Nhận thức được vấn đề, các NHTM có tiềm lực tài chính đã mở rộng hoạt động cấp tín dụng và mang về nguồn thu nhập cho ngân hàng. Đồng thời NHTM hoạt động trong giai đoạn này cũng thực hiện nhiều chính sách trong việc cắt giảm chi phí hoạt động. Do vậy, nhiều ngân hàng đạt được mức sinh lời cao trong năm 2020 và năm 2021. Mặt khác, có thay đổi nhẹ về giá trị tổng tài sản của NHTM ở thời điểm đại dịch Covid-19, nhưng nhìn chung sự thay đổi đến từ việc bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu với các chính sách gia tăng lợi nhuận giữ lại và hạn chế chi trả cổ tức cho cổ đông. Vì thế, yếu tố đại dịch Covid-19 lại có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu nhưng lại không có ý nghĩa thống kê đối với tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của các NHTM Việt Nam.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Từ dữ liệu thu thập được của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2025, tác độn của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam được thực hiện với phương pháp phân tích hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định. Tuy nhiên, mô hình hồi quy lại vi phạm hiện tượng TTQ và mô hình hiệu ứng cố định, nên mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát được sử dụng để khắc phục. Kết quả nghiên cứu thể hiện CS chi trả CT (cụ thể là tỷ lệ trả CT) có ảnh hưởng nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Điều này cho thấy, các ngân hàng đạt tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao thường có xu hướng ưu tiên lợi nhuận giữ lại. Trong khi các NHTM đạt được sự ổn định và tiềm lực tài chính có xu hướng thực hiện chi trả CT cho cổ đông.
Bên cạnh đó, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 cũng là các khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh của ngân hàng.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
5.1 KẾT LUẬN
Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Thông qua các cơ sở lý thuyết, CS chi trả CT được thể hiện qua tỷ lệ trả CT và HQHĐ kinh doanh được thể hiện qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Đồng thời, lý thuyết CT không liên quan, lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay, lý thuyết phát tín hiệu CT, lý thuyết đại diện là những căn cứ xem xét tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Nguồn dữ liệu được thu thập từ việc sàng lọc thông tin của báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 26 NHTM trong giai đoạn 2015 – 2024. Hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên được sử dụng để thực hiện mục tiêu nghiên cứu. Trong đó, mô hình hiệu ứng cố định là mô hình phù hợp giải thích cho cả hai trường hợp ảnh hưởng của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và ảnh hưởng của CS chi trả CT đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, dù không vi phạm hiện tượng ĐCT, nhưng mô hình vi phạm hiện tượng TTQ và PSSS thay đổi. Do vậy mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát được sử dụng để khắc phục.
Kết quả cho thấy, CS chi trả CT có tác động nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Điều này cho thấy, tỷ lệ trả CT của NHTM càng lớn sẽ càng làm suy giảm HQHĐ kinh doanh của NHTM. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn phát hiện ra ảnh hưởng của quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Trong đó, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 có ảnh hưởng cùng chiều và tỷ lệ nợ có ảnh hưởng nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Điều này cho thấy, quy mô tổng tài sản ngân hàng lớn, tỷ lệ nợ nhỏ, tốc độ tăng trưởng doanh thu cao sẽ góp phần giúp ngân hàng gia tăng HQHĐ kinh doanh. Đặc biệt, thời điểm đại dịch Covid-19 giúp các NHTM có cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh nên nâng cao hiệu quả.
5.2 HÀM Ý QUẢN TRỊ Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu thể hiện, CS chi trả CT là một khía cạnh thể hiện cho HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Trong đó, những ngân hàng có tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao thường có xu hướng ưu tiên tăng lợi nhuận giữ lại. Ngược lại, nhưng ngân hàng giữ vững và duy trì HQHĐ kinh doanh thường có xu hướng thực hiện CS chi trả CT. Đây là cơ sở quan trọng nhằm đề xuất hàm ý quản trị về CS chi trả CT cho các NHTM Việt Nam. Mặt khác, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 cũng là các khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh của ngân hàng. Nên bên cạnh hàm ý quản trị về CS chi trả CT, thì các hàm ý liên quan đến quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu và đại dịch Covid-19 cũng cần được thực hiện nhằm góp phần giúp ngân hàng gia tăng HQHĐ kinh doanh.
- Bảng 5.1: Cơ sở đề xuất hàm ý quản trị
Bảng 5.1 thể hiện cơ sở đề xuất hàm ý quản trị. Theo đó, hàm ý quản trị đề xuất được căn cứ vào ảnh hưởng của CS chi trả CT và các biến kiểm soát đến HQHĐ kinh doanh của NHTM Việt Nam. Cụ thể hàm ý quản trị về CS chi trả CT và một số hàm ý quản trị khác (gia tăng tiềm lực tài chính qua vốn chủ sở hữu, mở rộng hoạt động tín dụng, nắm bắt thị trường).
5.2.1 Hàm ý quản trị về chính sách chi trả cổ tức
CS chi trả CT là một khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh của ngân hàng và chiều hướng tác động của khía cạnh này là nghịch chiều. Kết quả nghiên cứu thể hiện, các ngân hàng có quy mô hoạt động nhỏ thường có tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao. Nhưng những ngân hàng này lại ưu tiên đối với lợi nhuận giữ lại và hạn chế chi trả CT cho cổ đông nhằm bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh. Ngược lại, những doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn thường có tỷ suất sinh lời duy trì ở mức ổn định. Các ngân hàng này chú trọng đến việc chi trả CT cho cổ đông nhằm xây dựng hình ảnh ngân hàng. Kết quả này cho thấy, khi ngân hàng chú trọng chi trả CT cho cổ đông, lợi nhuận giữ lại giảm, nguồn vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể suy giảm. Về mặt lâu dài có thể ảnh hưởng không tốt đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngược lại, nếu ngân hàng ưu tiên lợi nhuận giữ lại như một số NHTM Việt Nam như hiện nay, có thể làm mất lòng nhà đầu tư. Nhà đầu tư không nhận được CT, nguồn vốn đầu tư vào ngân hàng không nhận được lợi ích. Từ đó, ngân hàng có thể sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút và kêu gọi đầu tư từ các nhà đầu tư trong tương lai. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Do vậy, CS chi trả CT cần phải được dư tính và có kế hoạch cụ thể phụ thuộc vào quy mô và kết quả hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng luôn phân tích và nắm rõ tình hình tài chính, đưa ra những định hướng phát triển rõ ràng. Đối với Ngân hàng TMCP An Bình, Ngân hàng TMCP Bắc Á, Ngân hàng TMCP Bản Việt, Ngân hàng TMCP Kiên Long, Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín hiện nay đang thực hiện việc ưu tiên đối với lợi nhuận giữ lại. Trong suốt giai đoạn 2015 – 2024 hầu như rât ít thời điểm thực hiện chi trả CT cho cổ đông. Điều này về lâu dài có thể làm mất lòng tin đối với cổ đông và nhà đầu tư tiềm năng. Nên những ngân hàng này cần chú trọng thực hiện CS chi trả CT phù hợp. Nhằm đảm bảo được lợi ích của cổ đông và phân phối lợi nhuận giữ lại phù hợp để ngân hàng bổ sung nguồn vốn hoạt động kinh doanh. Đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Phương Đông, Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín hiện nay đang chú trong đến CS chi trả CT. Nhưng những ngân hàng này cũng cần chú trọng đến phần lợi nhuận giữ lại nhằm bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. Việc chi trả CT quá mức, dẫn đến lợi nhuận giữ lại ở mức thấp, nguồn vốn kinh doanh có thể vì thể bị hạn chế, buồn lòng ngân hàng phải gia tăng nợ phải trả và làm giảm hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.
5.2.2 Hàm ý quản trị khác
Quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ là hai yếu tố ảnh hưởng mạnh đến HQHĐ kinh doanh của NHTM Việt Nam. Trong đó, quy mô ngân hàng được đo lượng qua tổng tài sản là khía cạnh hỗ trợ cho gia tăng HQHĐ kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ nợ được đo lượng qua tỷ lệ giữa tổng nợ phải trả và tổng tài sản lại là khía cạnh kiềm hảm HQHĐ kinh doanh của ngân hàng. Như vậy, thúc đẩy HQHĐ kinh doanh của ngân hàng, cần gia tăng tổng tài sản của ngân hàng, nhưng ở khía cạnh từ vốn chủ sở hữu. Thật vậy, hoạt động kinh doanh của các NHTM là hoạt động rất đặc biệt, nguồn thu nhập được tạo ra chủ yếu từ hoạt động cấp tín dụng và để thực hiện được hoạt động này thì bước huy động vốn là rất quan trọng. Nên tổng nợ phải trả ở các NHTM Việt Nam luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản. Do vậy, việc gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu sẽ nâng cao tiềm lực tài chính, tạo điều kiện để ngân hàng xây dựng độ uy tín và sức cạnh tranh trên thị trường. Việc bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng có thể được thực hiện thông qua thực hiện chính sách giảm mức chi trả CT hoặc phát hành cổ phiếu. Lợi nhuận sau thuế có thể trở thành nguồn vốn bổ sung cần thiết cho ngân hàng, giúp ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu, có được tiềm lực tài chính vững vàng. Nên ngân hàng có thể xem xét đến các CS chi trả CT để có thể gia tăng lợi nhuận giữ lại, bổ sung cho nguồn vốn hoạt động kinh doanh. Mặt khác, ngân hàng có thể phát hành cổ phiếu, tiếp cận nguồn vốn từ những nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Qua đây, nguốn vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ được bỏ sung, vừa giúp giảm tỷ lệ nợ, cũng vừa giúp gia tăng tổng tài sản. Điều này giúp tiềm lực tài chính vững mạnh, tạo điều kiện ngân hàng hoạt động đạt được hiệu quả cao.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu có ảnh hưởng cùng chiều đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam. Nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng đến từ hoạt động cấp tín dụng, nên việc tăng doanh thu có nghĩa ngân hàng phải mở rộng hoạt động tín dụng. Nhưng việc mở rộng hoạt động tín dụng cũng sẽ kèm theo việc gia tăng chi phí và gia tăng rủi ro tín dụng. Do đó, ngân hàng cần có kế hoạch rõ ràng đối với việc mở rộng hoạt động tín dụng. Trước hết, công tác quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng phải đảm bảo kiểm soát tốt khoản nợ của ngân hàng. Nên ngân hàng cần xây dựng nguồn lực chất lượng và đầy đủ để đảm nhận cho quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận khách hàng cũng cần được thực hiện thông qua mở rộng phạm vi hoạt động. Ngân hàng phải xác định nhu cầu ở các địa phương, gia tăng sự hiện diện của ngân hàng thông qua các phòng giao dịch hoặc chi nhánh ở những địa phương tiềm năng. Điều này giúp cho ngân hàng đảm bảo về mặt tăng trưởng hoạt động tín dụng, doanh thu tăng trưởng nhưng vẫn đảm bảo trong công tác quản lý rủi ro tín dụng.
Thời điểm xảy ra đại dịch Covid-19 là thời điểm các NHTM Việt Nam có được cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh, nên HQHĐ kinh doanh của các ngân hàng trong giai đoạn này cao hơn ở các thời điểm khác. Điều này cho thấy, việc tìm hiểu và nắm bắt thị trường sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Do vậy, ngân hàng luôn chủ động tìm hiểu thông tin, cập nhật điểm mới để phát hiện ra những tiềm năng, giúp ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, ngân hàng cần chú trọng trong việc đầu tư vào công nghệ. Giúp cho chất lượng dịch vụ được nâng cao, tăng sự cạnh tranh đối với các đối thủ.
5.3 HẠN CHẾ ĐỀ TÀI VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Đề tài này được thực hiện nhằm giải quyết ba mục tiêu nghiên cứu, nhìn chung ba mục tiêu nghiên cứu đã được giải quyết. Nghiên cứu đã xác định được mức độ ảnh hưởng của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam, đề xuất được một số hàm ý quản trị góp phần nâng cao HQHĐ kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này cũng tồn tại một số hạn chế nhất định. Thứ nhất, nghiên cứu chỉ xem xét CS chi trả CT thông qua chỉ số tỷ lệ trả CT, nhưng vẫn còn những chỉ số khác có thể thể hiện cho CS chi trả CT. Thứ hai, HQHĐ kinh doanh của ngân hàng được thể hiện qua tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, nhưng HQHĐ kinh doanh của ngân hàng còn có thể được thể hiện qua hệ số TobinQ, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM). Thứ ba, nguồn số liệu của một số ngân hàng chưa đầy đủ nên nghiên cứu này chỉ có thể sử dụng thông tin của 26 NHTM, trong khi Việt Nam có đến 35 NHTM đang hoạt động.
Do vậy, những hướng nghiên cứu tiếp theo có thể nghiên cứu nhằm khắc phục những hạn chế vừa đề cập. Thứ nhất, có thể mở rộng việc đo lường cho CS chi trả CT sang các chỉ số khác (CT trên mỗi cổ phiếu, tỷ suất CT). Thứ hai, khám phá thêm HQHĐ kinh doanh ở khía cạnh khác (hệ số TobinQ, tỷ suất lãi cận biên…). Thứ ba, gia cố khả năng thu thập số liệu ở nhiều ngân hàng khác đang hoạt động ở Việt Nam.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 5
Trong Chương 5, căn cứ vào kết quả nghiên cứu ở Chương 4 một số hàm ý quản trị đã được đề xuất nhằm góp phần nâng cao HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Trong đó, NHTM có thể thực hiện CS chi trả CT phù hợp nhằm vừa đảm bảo lợi ích của cổ đông vừa đảm bảo bổ sung nguồn vốn hoạt động kinh doanh từ lợi nhuận giữ lại. Bên cạnh đó, ngân hàng có thể gia tăng vốn chủ sở hữu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, chủ động nắm bắt thông tin cũng là những những hàm ý được đề xuất nhằm góp phần nâng cao HQHĐ kinh doanh của ngân hàng. Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng

Pingback: Luận văn: PPNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng