Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của chính sách chi trả cổ tức đến hiệu quả hoạt động kinh doanh các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích tác động của chính sách chi trả cổ tức đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Thông tin sử dụng phân tích trong nghiên cứu là thông tin thứ cấp được sàng lọc từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 26 NHTM trong giai đoạn 2015 – 2024. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu vi phạm hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Do vậy, mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát được sử dụng để khắc phục.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được thể hiện qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Kết quả phân tích cho biết, chính sách chi trả cổ tức được thể hiện qua tỷ lệ trả cổ tức có ảnh hưởng nghịch chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ở các NHTM Việt Nam. Điều này cho thấy, tỷ lệ chi trả cổ tức càng thấp sẽ giúp gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bên cạnh đó, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu, đại dịch Covid-19 cũng là khía cạnh quan trọng tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong đó, yếu tố đại dịch Covid-19 không ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Trên cơ sở đó, các hàm ý quản trị về chi trả cổ tức được đề xuát nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho NHTM Việt Nam.
Từ khóa: chính sách chi trả cổ tức, hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngân hàng thương mai
- ABSTRACT
This study is conducted to analyze the impact of dividend payout policy on the business performance of Vietnamese commercial banks. The data used for analysis are secondary data collected from the financial statements and annual reports of 26 Vietnamese commercial banks over the period 2015–2024. The analytical methods employed include pooled OLS regression, the random effects model and the fixed effects model. However, the research model exhibits issues of autocorrelation and heteroskedasticity. Therefore, the Generalized Least Squares method is applied to address these problems.
Bank business performance is measured by return on assets and return on equity. The empirical results indicate that dividend payout policy, proxied by the dividend payout ratio, has a negative effect on the business performance of Vietnamese commercial banks. This finding suggests that a lower dividend payout ratio contributes to improving banks’ business performance. In addition, bank size, leverage ratio, revenue growth rate, and the COVID-19 pandemic are also important factors affecting bank performance. Among these factors, the COVID-19 pandemic does not have a significant impact on return on assets. On this basis, managerial implications regarding dividend payout policy are proposed to enhance the business performance of Vietnamese commercial banks. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Keywords: dividend payout policy, business performance, commercial banks
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Đặt vấn đề
Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng và then chốt trong nền kinh tế quốc gia. Đây được ví như là cầu nối giao thương, huyết mạch, giúp lưu thông nguồn vốn trong nền kinh tế từ các nơi thừa vốn sang những nơi có nhu cầu sử dụng vốn. Thông qua đó, thúc đẩy sự phát triển bền vững kinh tế, ổn định xã hội và hội nhập toàn cầu. Một hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả và bền vững sẽ là nền tảng, trụ cột vững chắc để xây dựng một đất nước phát triển, hiện đại và năng động. Chiến lược và chính sách (CS) quản trị tài chính của doanh nghiệp nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng là một trong những cấu phần chủ chốt trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động (HQHĐ) kinh doanh của ngân hàng. Đây là chủ thể kinh doanh đặc thù dựa trên việc quản lý rủi ro và phân bổ nguồn vốn, quản trị tài chính hiệu quả không những giúp ngân hàng đạt được mục tiêu lợi nhuận trong môi trường đầy biến động mà còn gia tăng sự bền vững, chống chịu rủi ro cho các ngân hàng.
Trong các chính sách quản trị tài chính, chính sách chi trả cổ tức (CT) là một trong ba chính sách quan trọng ảnh hưởng đến giá trị và HQHĐ của NHTM (Ross et al., 2013), bởi nó không chỉ tác động đến giá cổ phiếu, đến nguồn tiền mà ngân hàng có thể sử dụng để tái đầu tư, kinh doanh mà qua đó còn ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của các cổ đông hiện hành và chính sách huy động vốn. Hiện nay, các NHTM Việt Nam có các CS chi trả CT khác nhau, một số chi trả bằng tiền mặt, số khác chi trả bằng cổ phiếu, phần còn lại không thực hiện chi trả nhằm mục đích tăng vốn để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Trong khi đó, HQHĐ là một đại lượng đo lường lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được từ các nguồn lực sẵn có. Mối quan hệ giữa CT và lợi nhuận từ lâu đã là một vấn đề gây tranh cãi đối với các nhà phân tích và nhà đầu tư. Nhiều học giả kinh tế cho rằng, CS chi trả CT không ảnh hưởng đến giá trị và HQHĐ của doanh nghiệp, trong khi số khác lại đưa ra các quan điểm ngược lại.
Vấn đề CS chi trả CT đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm và đều cho rằng CS chi trả CT là khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, lý thuyết CT không liên quan của Miller & Modigliani (1961), ủng hộ phát biểu CS chi trả CT tồn tại độc lập với giá trị tài sản của cổ đông, nhưng lý thuyết này hình thành trên sự giả định thị trường vốn hoàn hảo. Ngược lại, lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay, lý thuyết phát tín hiệu cổ tức, lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết trật tự phân hạng đều ủng hộ quan điểm CS chi trả CT có ảnh hưởng đến HQHĐ của doanh nghiệp. Lý thuyết chú chim trong lòng bàn tày của Linter (1956) và Gordon (1959), lý thuyết phát tín hiệu cổ tức của Bhattacharya (1979) cho rằng, việc chi trả CT cho cổ đông là một tín hiệu quan trọng cho biết HQHĐ của doanh nghiệp đang tăng trưởng. Lý thuyết chi phí đại diện của Jensen & Meckling (1976) và Lý thuyết trật tự phân hàng của Myres & Majluf (1984) đề cập đền vấn đề lựa chọn thực hiện CS chi trả CT hoặc lợi nhuận giữ lại, nếu gia tăng lợi nhuận giữ lại giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng chi phí để hoạt động đạt được tính hiệu quả cao hơn. Như vậy, CS chi trả CT có thể ảnh hường cùng chiều hoặc nghịch chiều đến HQHĐ kinh doanh của doanh nghiệp. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Các bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của ngân hàng đã được nghiên cứu ở nhiều nước, có thể đề cập đến: Tafdil et al. (2019) nghiên cứu về tiền lương thưởng, sở hữu và CS chi trả CT đối với HQHĐ của ngân hàng ở Indonesia, nghiên cứu của Ayodeji (2021) về tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ các ngân hàng tại Nigeria, một nghiên cứu khác của Dominic & Oscar (2020) về mối quan hệ giữa CS chi trả CT và HQHĐ ngân hàng ở Ghana trên thị trường chứng khoán,…
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về CS chi trả CT khá đa dạng nhưng chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CS chi trả CT hoặc nghiên cứu sự tác động của CS chi trả CT đến giá trị và HQHĐ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán như nghiên cứu của Lê Trương Niệm và cộng sự (2021) nghiên cứu về tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), Nguyễn Quang Minh Nhi & Nguyễn Thị Mỹ (2024) nghiên cứu về hiệu ứng tín hiệu của CS chi trả CT về HQHĐ của công ty: Bằng chứng tại thị trường chứng khoán Việt Nam, một số nghiên cứu khác nghiên cứu cụ thể hơn ở các doanh nghiệp trong cùng một ngành như Bùi Nguyên Khá và cộng sự (2020) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh các doanh nghiệp ngành hàng không, Huỳnh Thị Thùy Dương (2021) điều tra mối quan hệ giữa CS chi trả CT tiền mặt và HQHĐ các doanh nghiệp ngành thủy sản… Tuy nhiên, sự tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ của ngành ngân hàng – một loại hình doanh nghiệp đặc thù trong nền kinh tế hiện chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể tại Việt Nam mặc dù đã có nhiều nghiên cứu nước ngoài tại các ngân hàng ở các quốc gia trên thế giới.
Vấn đề đặt ra rằng, liệu CS chi trả CT có tác động hay không tác động đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam? Đây là một khoảng trống nghiên cứu để tác giả thực hiện đề tài “Tác động của chính sách chi trả cổ tức đến hiệu quả hoạt động kinh doanh các ngân hàng thương mại Việt Nam” nhằm làm phong phú hơn cho các nghiên cứu về mối quan hệ giữa CS chi trả CT và HQHĐ của doanh nghiệp.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất hàm ý quản trị về CS chi trả CT góp phần nâng cao HQHĐ kinh doanh cho các NHTM Việt Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu 1: Xác định ảnh hưởng của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam;
- Mục tiêu 2: Phân tích chiều hướng và mức độ tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam;
- Mục tiêu 3: Đề xuất hàm ý quản trị góp phần nâng cao HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Câu hỏi 1: Những khía cạnh nào của CS chi trả CT tác động đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam?
- Câu hỏi 2: Chiều hướng và mức độ tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam như thế nào?
- Câu hỏi 3: Hàm ý quản trị như thế nào là phù hợp đối với việc nâng cao HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là CS chi trả CT và HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Không gian nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu là các NHTM Việt Nam.
1.4.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Dữ liệu và thông tin sử dụng trong luận văn được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các NHTM giai đoạn 2015 – 2024. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được các vấn đề được đặt ra ở Mục câu hỏi nghiên cứu, nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định và phương pháp nghiên cứu định lượng như sau:
Phương pháp nghiên cứu định tính, thông qua tổng quan cơ sở lý thuyết và tham khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, các khía cạnh của CS chi trả CT được kỳ vọng ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh để mô tả dữ liệu và so sánh dữ liệu qua các năm.
Phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu được thu thập từ 26 NHTM trong giai đoạn 2015 – 2024, nên các kỹ thuật của dữ liệu bảng được sử dụng để phân tích tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Trong đó, hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM – Random Effects Model) và mô hình ảnh hưởng cố định (FEM – Fixed Effects Model) được sử dụng. Kết hợp với kiểm định Hausman nhằm lựa chọn kết quả phù hợp. Các kiểm định đa cộng tuyến (ĐCT), phương sai sai số (PSSS) thay đổi, tự tương quan (TTQ) được thực hiện. Nếu vi phạm sẽ được khắc phục qua mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS – Generalized Least Squares).
1.5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Nguồn dữ liệu sử dụng trong luận văn là nguồn dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập và tổng hợp từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 26 NHTM Việt Nam ở giai đoạn 2015 – 2024.
1.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung cơ sở lập luận cho mối quan hệ giữa CS chi trả CT và HQHĐ kinh doanh của các NHTM. Nghiên cứu không chỉ làm rõ hơn về vai trò CS chi trả CT trong ngành ngân hàng, mà còn mở rộng thêm về minh chứng về các yếu tố ảnh hưởng đến HQHĐ kinh doanh các NHTM Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra các hàm ý quản trị về CS chi trả CT nhằm góp phần nâng cao HQHĐ kinh doanh cho các NHTM Việt Nam.
1.7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Luận văn gồm 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Các nội dung trình bày ở Chương 1 là bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài, cấu trúc luận văn.
- Chương 2: Tổng quan tài liệu. Các nội dung trình bày trong Chương 2 là cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu có liên quan, mô hình nghiên cứu đề xuất.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Các nội dung trình bày trong Chương 3 là quy trình nghiên cứu, phương pháp phân tích, phương pháp thu thập số liệu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Các nội dung trình bày trong Chương 4 là thực trạng CS chi trả CT, HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam, tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
- Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Các nội dung trình bày trong Chương 5 là kết luận, hàm ý quản trị, hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ở Chương 1 vấn đề nghiên cứu được xác định là tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Từ đó, các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài được xác định nhằm định hướng cho nội dung của các chương sau.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Chính sách chi trả cổ tức
2.1.1.1 Khái niệm chính sách cổ tức
Đối với hình thức công ty cổ phần, CT không còn là thuật ngữ xa lạ, vì CT được sử dụng để nói đến phần thu nhập của mỗi cổ phần tại công ty. Căn cứ vào khoản 5 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định, CT là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác. Kieso et al. (2011) cho rằng, CT là việc phân phối tiền mặt hoặc tài sản cho các cổ đông theo tỷ lệ (dựa trên số lượng cổ phiếu sở hữu). Do vậy, có thể hiểu CT là phần lợi nhuận mà người đầu tư cổ phần nhận được trên mỗi cổ phần tại công ty. Nhưng hoạt động chi trả CT phụ thuộc vào CS chi trả CT của mỗi công ty. Theo Phí Thị Kim Thư (2024), CS chi trả CT là chính sách cổ ty cổ phần sử dụng để thực hiện việc chi trả CT cho công đông, chính sách này ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ được phân phối cho công tác chi trả CT cho cổ đông và giữ lại bổ sung vào nguồn vốn chủ sở hữu. Tafdil et al. (2019) cho rằng, CS chi trả CT là quyết định xác định tỷ lệ về lợi nhuận được phân phối cho các cổ đông và giữ lại dưới dạng lợi nhuận chưa phân phối nhằm đầu tư trong tương lai. Điều này cho thấy, CS chi trả CT phản ánh cho tình hình tài chính của công ty và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Hiện nay, CS chi trả CT gồm CS chi trả CT ổn định, CS chi trả CT không đổi và CS chi trả CT thặng dư (Phí Thị Kim Thư, 2024).
CS chi trả CT cố định là cách thức dễ thực hiện và được ứng dụng phổ biến ở các công ty cổ phần, việc chi trả CT được thực hiện đều đặn, dù lợi nhuận của công ty tăng hay giảm, cổ đông vẫn nhận được mức CT đã quy định. CS chi trả CT không đổi được thực hiện với mức tỷ lệ CT chi trả cho cổ đông hàng năm không thay đổi, lợi nhuận của công ty tăng thì giá trị CT cổ đông nhận được càng cao. CS chi trả CT thặng dư là việc chi trả CT cho cổ đông sau khi công ty đã hoàn thành nhu cầu tái đầu tư và trả nợ. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Như vậy, có thể hiểu CS chi trả CT là những quy định công ty cổ phần áp dụng trong việc chi trả CT cho cổ đông. NHTM cũng hoạt động theo cơ cấu của công ty cổ phần, nên các CS chi trả CT ở ngân hàng cũng tương đồng với CS chi trả CT ở các công ty cổ phần.
2.1.1.2 Các hình thức chi trả cổ tức
Tại khoản 3 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định, CT có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài sản khác được quy định theo Điều lệ côn ty, nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam và theo phương thức thanh toán của pháp luật.
Trả CT bằng tiền mặt là hình thức phổ biến nhất ở các công ty cổ phần, vì khi thực hiện đầu tư, nhà đầu tư kỳ vọng nhận được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai và CT được xem là mức lợi nhuận cổ đông nhận được bằng tiền mặt trực tiếp từ công ty. Hình thức trả CT bằng tiền mặt mang lại cảm giác an toàn cho cổ đông và thể hiện tính minh bạch, nhưng khi tiềm lực tài chính hạn chế việc trả CT bằng tiền mặt sẽ làm giảm lượng tiền hoạt động, gây ra khó khăn cho nguồn vốn và có thể làm giảm hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.
Trả CT bằng cổ phiếu là hình thức kết hợp giữa việc phân bổ lự nhuận và huy động nguồn vốn của công ty, khi đó nhà đâu tư không nhận được CT bằng tiền mặt, mà nhận bằng cổ phiếu và sẽ thu được lãi vốn trong tương lai. Hình thức trả CT bằng cổ phiếu thường được các doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển áp dụng, vì giúp công ty có thêm nguồn vốn thực hiện đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Trả CT bằng tài sản khác là hình thức CT được chi trả cho cổ đông là sản phẩm công ty đang sản xuất hoặc tài sản công ty đang nắm giữ ở công ty khác. Nên hình thức trả CT này ít được sử dụng ở các công ty cổ phần.
Như vậy, hình thức chi trả CT nào cũng có những ưu, nhược điểm, công ty cổ phần dựa vào tình hình để lựa chọn hình thức chi trả CT phù hợp. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
2.1.1.3 Một số chỉ tiêu thể hiện chính sách chi trả cổ tức
Mục tiêu chính của CS chi trả CT nhằm tối đa hóa lợi ích của cổ đông, thể hiện khả năng sinh lời nguồn vốn của nhà đầu tư, nên CS chi trả CT thường được đo lường thông qua các chỉ số như: CT trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ trả CT, tỷ suất CT.
- Cổ tức trên mỗi cổ phiếu (Dividends Per Share – DPS)
CT trên mỗi cổ phiếu là một chỉ số tài chính thể hiện giá trị CT nhà đầu tư nhận được trên mỗi cổ phiếu đầu tư tại công ty cổ phần. Công thức tính CT trên mỗi cố phiếu như sau:
CT trên mỗi cổ phiếu càng lớn càng thể hiện cho mức thu nhập của nhà đầu tư càng cao, tình hình tài chính của công ty lành mạnh và cam kết về CT đối với cổ đông. Điều này cho thấy, chỉ số CT trên mỗi cổ phiếu có thể sẽ phản ảnh cho tình hình hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp.
- Tỷ lệ trả cổ tức (Dividend Payout Ratio – DPR)
Tỷ lệ trả CT là chỉ số phản ánh về mức CT cổ đông nhận được chiếm tỷ trọng trong thu nhập của công ty. Công thức tính tỷ lệ trả CT như sau:
Chỉ số này cao thể hiện cho chính sách của công ty đang ưu tiên cho việc chi trả CT, nhưng chỉ số này quá cao cũng cho biết những dấu hiệu thiếu hụt trong đầu tư cho sự phát triển của công ty. Tỷ lệ trả CT cao sẽ phát tín hiệu thu hút nhà đầu tư và xây dựng hình ảnh ngân hàng, nên có thể tác động tích cực đến HQHĐ của ngân hafg.
- Tỷ suất cổ tức (Dividend Yield – DY)
Tỷ suất CT là chỉ số tài chính thể hiện cho tỷ lệ lợi nhuận nhà đầu tư nhận được từ CT so với giá thị trường hiện tại của cổ phiếu. Công thức tính tỷ suất CT như sau:
Chỉ số này phản ánh nhà đầu tư nhận được mức lợi nhuận dưới dạng CT cho mỗi đồng vốn đầu tư vào cổ phiếu. Tỷ suất CT cao giúp tổ chức dễ tiếp cận được nhà đầu tư cũng như khách hàng, nên góp phần giúp cho HQHĐ kinh doanh được gia tăng.
- Lựa chọn chỉ số đo lượng chính sách chi trả cổ tức Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Trong ba chỉ số vừa đề cập, chỉ số CT trên mỗi cổ phiếu thể hiện cụ thể số tiền cổ đông nhận được trên mỗi cổ phiếu, chỉ số này cao có thể do nguồn thu nhập của doanh nghiệp tăng hoặc do mong muốn thu hút nhà đầu tư của doanh nghiệp. Do đó, chỉ số này chưa phản ánh rõ việc phân chia lợi nhuận giữa lợi nhuận giữ lại và CT. Đối với chỉ số tỷ suất CT thể hiện khả năng sinh lời của CT so với giá cổ phiếu trên thị trường, do vậy chỉ số này phụ thuộc nhiều vào sự biến động của giá cổ phiếu và chưa thể hiện được chính sách nội bộ của doanh nghiệp. Vì tỷ suất CT cao có thể do giá thị trường của cổ phiếu giảm và không liên quan đến giá trị CT chi trả cho cổ đông. Ngược lại, chỉ số tỷ lệ trả CT là chỉ số phản ảnh rõ ràng nhất cho chi sách chi trả CT của doanh nghiệp, vì chỉ số này phản ánh trực tiếp về cơ cấu phân bổ lợi nhuận của doanh nghiệp trong lợi nhuận giữ lại và CT. Hơn thế, chỉ số này cũng được nhiều nghiên cứu thực nghiệp sử dụng đo lường cho CS chi trả CT của doanh nghiệp như: Samuel & Edward (2011), Ibrahim (2015), Phan Trọng Nghĩa & Nguyễn Ngô Bảo Linh (2018), Ayodeji (2021), Nguyễn Phúc Hiền & Ngô Thị Thúy Huyền (2023), Nguyễn Quang Minh Nhi & Nguyễn Thị Mỹ (2024), Chinwe & Asielue (2024). Do vậy, nghiên cứu này, chỉ số tỷ lệ trả CT (DPR) cũng sẽ được sử dụng để đo lường cho CS chi trả CT của NHTM Việt Nam.
2.1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh
2.1.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh là giá trị về mặt lợi nhuận doanh nghiệp nhận được từ hoạt động kinh doanh. Để phản ánh trong hoạt động kinh doanh, HQHĐ kinh doanh được sử dụng nhằm đánh giá khả năng tạo ra kết quả từ các nguồn lực của doanh nghiệp. Nguyễn Khắc Minh (2006) cho rằng, HQHĐ kinh doanh được thể hiện qua việc sử dụng nguồn tài nguyên của doanh nghiệp để tạo ra kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tương tự, tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh được xem xét qua việc doanh nghiệp sử dụng toàn bộ phương tiện để thực hiện hoạt động kinh doanh (Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên, 2009). Điều này cho thấy, HQHĐ kinh doanh sẽ phản ánh kết quả hoạt động doanh nghiệp nhận được qua việc sử dụng nguồn lực hoặc phương tiện. Công thức thể hiện HQHĐ kinh doanh có thể được khái quát như sau:
Với công thức vừa đề cập, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể được thể hiện qua lợi nhuận hoặc doanh thu và nguồn lực hoặc phương tiện là chi phí, tài sản, nguồn vốn. Liên hệ với bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh được thể hiện qua lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận thuần, lợi nhuận trước thuế, doanh thu và nguồn lực hoặc phương tiện là tổng tài sản, tổng chi phí, vốn chủ sở hữu.
Như vậy, có thể hiểu HQHĐ kinh doanh của NHTM có thể được phản ánh qua tỷ lệ giữa kết quả hoạt động kinh doanh (được thể hiện qua lợi nhuận hoặc doanh thu) và nguồn lực (có thể là tổng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu).
2.1.2.2 Các chỉ số thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh
Qua khái niệm của HQHĐ kinh doanh, các chỉ số sử dụng phổ biến phản ánh cho HQHĐ kinh doanh như: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on Assets – ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là một chỉ số được sử dụng phổ biến để phản ánh cho HQHĐ kinh doanh. Chỉ số này được thể hiện qua tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản. Công thức tính tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản như sau:
Chỉ số này cho biết nguồn lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp thu được thông qua giá trị tổng tài sản. Nên chỉ số này lớn thể hiện cho HQHĐ của doanh nghiệp càng cao, vì doanh nghiệp phải vận dụng năng lực quản lý, sử dụng hợp lý các nguồn lực từ tài sản để tạo ra nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cũng là chỉ số quan trọng được sử dụng để phản ánh cho HQHĐ kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu thể hiện qua tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Công thức tính chỉ số này như sau:
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho biết, lợi nhuận doanh nghiệp thu được từ sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu. Chỉ số này càng cao phản ánh cho tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu.
- Lựa chọn chỉ số đo lượng hiệu quả hoạt động kinh doanh
Bên cạnh tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, thì tỷ suất sinh lời trên doanh thu, hệ số Q của Tobin cũng có thể được sử dụng để phản ánh cho HQHĐ kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng các chỉ số này không được sử dụng rộng rãi như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Nhiều nhà nghiên cứu như: Nguyễn Quang Minh Nhi & Nguyễn Thị Mỹ (2024), Ayodeji (2021), Bùi Nguyên Khá và ctv. (2020) … cũng sử dụng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu thể hiện cho hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nên nghiên cứu này thể hiện HQHĐ kinh doanh của NHTM, cũng thông qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
2.2 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
2.2.1 Lý thuyết cổ tức không liên quan
Lý thuyết CT không liên quan (Dividend irrelevance theory) được đề xuất bởi Miller & Modigliani (1961), hay được gọi là lý thuyết (MM) cho rằng, trong một thị trường hoàn hảo, thông tin đầy đủ, thuế và chi phí giao dịch không tồn tại thì CS chi trả CT không tác động đến giá cổ phiếu cũng như chi phí vốn, điều này có nghĩa là CS chi trả CT trở nên độc lập với giá trị tài sản của cổ đông và giá trị của công ty chỉ bị ảnh hưởng bởi lợi nhuận và các cơ hội đầu tư chứ không phải bởi chính sách phân phối CT của công ty. Do đó, việc chi trả CT không làm thay đổi giá trị của doanh nghiệp. Mặc dù Miller & Modigliani (1961) ủng hộ CS chi trả CT không liên quan, tuy nhiên họ cũng khẳng định rằng trong thế giới thực, không xét đến thị trường vốn hoàn hảo, với sự xuất hiện của thuế, chi phí phát hành cổ phiếu, thông tin bất cân xứng, CT có thể ảnh hưởng đến giá thị trường của cổ phiếu, hiệu quả doanh nghiệp và tâm lý của nhà đầu tư. Nhiều nhà nghiên cứu sau này đã mở rộng các lý thuyết này và hiện nay chúng được xem là những lý thuyết CT quan trọng nhất.
2.2.2 Lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay
Đối lập với lý thuyết CT không liên quan, lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay (Bird in the hand theory) của Linter (1956) và Gordon (1959) với quan điểm về sự không chắc chắn và không tồn tại thông tin hoàn hảo. Sử dụng mô hình chiết khấu CT để định giá cổ phiếu dựa trên dòng tiền CT tương lai. Tác giả cho rằng, các nhà đầu tư thường e ngại lo sợ rủi ro và mong muốn nhận được CT hơn phần lợi nhuận giữ lại hoặc lợi nhuận tiềm năng từ việc tăng giá cổ phiếu trong tương lai với lý do CT được chi trả ngay sẽ chắc chắn hơn so với lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai, vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro và sự không chắc chắn. Vì thế, nhà đầu tư sẽ đánh giá cao giá trị, hiệu quả của doanh nghiệp khi doanh nghiệp gia tăng tỷ lệ chi trả CT thay vì giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư vì CT là dòng tiền chắc chắn mà họ có thể sử dụng ngay, trong khi đó lợi nhuận giữ lại mang tính không chắc chắn trong tương lai.
2.2.3 Lý thuyết phát tín hiệu cổ tức Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Một lý thuyết khác cũng minh chứng mối quan hệ giữa CS chi trả CT và HQHĐ đó là Lý thuyết phát tín hiệu CT (Dividend Signalling Theory) được gắn liền với nghiên cứu của Bhattacharya (1979). Sử dụng mô hình cân bằng động dựa trên thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và nhà đầu tư, tác giả cho rằng các công ty chi trả CT là để phát tín hiệu về triển vọng trong quá khứ và tương lai của công ty, về HQHĐ kinh doanh của công ty, việc chi trả CT ở mức cao cho thấy công ty có HQHĐ kinh doanh tốt và dòng tiền ổn định. Dựa trên cơ sở thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và các cổ đông. Theo đó, các nhà quản lý có nhiều thông tin hơn về HQHĐ kinh doanh, khả năng sinh lời và cơ hội tăng trưởng của công ty so với các cổ đông. Vì vậy, họ sử dụng CS chi trả CT để phát đi tín hiệu cho các cổ đông biết về HQHĐ và triển vọng kinh doanh của công ty, chỉ những công ty có HQHĐ tốt và lợi nhuận bền vững mới có thể duy trì một CS chi trả CT cao và ngược lại.
2.2.4 Lý thuyết chi phí đại diện
Lý thuyết chi phí đại diện (Agency theory) được đề xuất bởi Jensen & Meckling (1976) nhằm khái quát mối quan hệ xung đột giữa người sở hữu (cổ đông) và người đại diện (người quản lý doanh nghiệp). Theo đó, lý thuyết chi phí đại diện phát biểu cả hai đối tượng vừa đề cập đều mong muốn đạt được tối đa hóa lợi ích, nên không phải lúc nào người đại diện cũng đặt lợi ích của cổ đông lên hàng đầu, dẫn đến lợi ích của người sở hữu bị suy giảm. Cụ thể, người đại diện doanh nghiệp là người quản lý nên nắm rõ các thông tin trong hoạt động của doanh nghiệp, nên những quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều vấn đề của doanh nghiệp. Đối với CS chi trả CT là một điển hình, người đại diện có xu hướng ưu tiên lợi nhuận giữ lại bổ sung cho nguồn vốn, vì giảm chi phí trong hoạt động, đồng thời giúp nâng cao HQHĐ của doanh nghiệp, vì hiệu quả cao thì phần lợi ích người đại diện nhận được cũng cao hơn. Tuy nhiên, khi người đại diện ưu tiên lợi nhuận giữ lại, có nghĩa là cổ tức chi trả cho cổ động giảm đi, nên người sở hữu không tối ưu hóa được nguồn vốn đầu tư. Từ đó, mẫu thuẫn giữ người đại diện và người sở hữu sẽ xảy ra. Doanh nghiệp phải lựa chọn CS chi trả CT và lợi nhuận giữ lại phù hợp nhằm mang lại hiệu quả tối ưu cho các bên liên quan. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
2.2.5 Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết trật tự phân hàng (Pecking Order Theory) được Myres & Majluf (1984) đề xuất nhằm phát biểu về các về đề liên quan đến tài chính doanh nghiệp, cụ thể hơn là doanh nghiệp lựa chọn ưu tiên những nguồn vốn nào. Theo đó, các nhà quản lý có xu hướng ưu tiên lựa chọn nguồn vốn tài trợ với chi phí thấp và ít chịu rủi ro. Khi có nhu cầu sử dụng vốn, nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động như: vốn chủ sở hữu (thể hiện qua lợi nhuận giữ lại vì nguồn vốn sẵn có, không chịu thêm chi phí và không chịu sự kiểm soát từ bên ngoài), nợ vay (vay nợ hoặc phát hành trái phiếu), vốn cổ phần mới (phát hành cổ phiếu là phương án cuối cùng vì chi phí cao và ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu doanh nghiệp). Liên hệ lý thuyết trật tự phân hạng đến CS chi trả CT cho thấy, nguồn lợi nhuận có thể được cơ cấu dưới hình thức giữ lại bổ sung nguồn vốn kinh doanh hoặc chia CT cho cổ đông. Nếu doanh nghiệp duy trì CS chi trả CT phần lớn, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị hạn chế, buộc lòng phải sử dụng nợ vay hoặc phát hành cổ phiếu, dẫn đến chi phí hoạt động của doanh nghiệp gia tăng. Nên HQHĐ có thể suy giảm do doanh nghiệp phải gánh thêm phần chi phí lãi.
Nhìn chung, các lý thuyết về CS chi trả CT đều cho rằng giữa CS chi trả CT và HQHĐ tồn tại mối quan hệ tương quan với nhau. Trong đó, sự gia tăng trong CS chi trả CT sẽ làm gia tăng triển vọng về HQHĐ của công ty. Dựa trên cơ sở các lý thuyết kinh tế về CT và HQHĐ, các tác giả trong nước và ngoài nước đã thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng mối tương quan này.
2.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Trước khi thực hiện đề tài nghiên cứu “Tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM Việt Nam”, tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu một số công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước của các tác giả khác có nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu của tác giả, qua đó làm nền tảng để tác giả tham khảo và vận dụng vào việc giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trong đề tài của mình. Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu về đề tài mà tác giả quan tâm chủ yếu tập trung ở nước ngoài trong khi các tác giả trong nước lại nghiên cứu nhiều về CS chi trả CT và HQHĐ của doanh nghiệp thông thường chứ chưa thật sự đào sâu vào loại hình doanh nghiệp đặc thù là các NHTM.
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Samuel & Edward (2011) đã nghiên cứu CS chi trả CT và HQHĐ của các ngân hàng tại Ghana. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng dữ liệu bảng được tiếp cận từ báo cáo tài chính của 16 NHTM tại Ghana trong giai đoạn 05 năm, từ 1999 – 2003. Các báo cáo tài chính này được thu thập từ Phòng Giám sát Ngân hàng của Ngân hàng trung ương Ghana. Các biến được đưa vào phân tích gồm: Biến phụ thuộc ROE, biến độc lập CS chi trả CT và các biến kiểm soát như cấu trúc vốn, quy mô, tăng trưởng và tuổi ngân hàng. Phần mềm STATA được sử dụng để phân tích dữ liệu. Dựa trên kiểm định Hausman (1978), mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model) được ưu tiên hơn so với mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model). Kết quả chỉ ra rằng CS chi trả CT có mối quan hệ tích cực với HQHĐ của ngân hàng. Các ngân hàng chi trả CT có xu hướng tăng lợi nhuận. Điều này có nghĩa là khi ban quản lý chi trả CT, họ phát đi tín hiệu tích cực về hiệu suất của ngân hàng, từ đó thu hút thêm nhiều khách hàng hơn. CS chi trả CT cũng có thể thúc đẩy ban quản lý sử dụng các nguồn lực khan hiếm (thu nhập còn lại) một cách hiệu quả hơn.
Ở một nghiên cứu khác của John & Embele (2015) về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và CS chi trả CT của các ngân hàng trên sở giao dịch chứng khoán Ghana với dữ liệu được thu thập từ năm 2006 – 2012. Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng mô hình tương quan và hồi quy thông qua phần mềm SPSS. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh lời và CS chi trả CT có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, qua mô hình hồi quy, nghiên cứu nhận thấy rằng các ngân hàng không chỉ dựa vào khả năng sinh lời để áp dụng CS chi trả CT. Các yếu tố khác như thanh khoản, tăng trưởng, đầu tư khác, kiểm soát, yêu cầu pháp lý, mong muốn của cổ đông, quy mô doanh nghiệp và các quyết định quản lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình CS chi trả CT. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Trong nghiên cứu của Ibrahim (2015) về mối quan hệ giữa thanh khoản, khả năng sinh lời và CS chi trả CT của 18 trong tổng số 24 ngân hàng quốc gia tại UAE trong giai đoạn 2005 – 2012. Tỷ lệ chi trả CT được phân tích liên quan đến sáu chỉ số thanh khoản và khả năng sinh lời. Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính được thực hiện để xử lý dữ liệu. Kết quả chính cho thấy tỷ lệ chi trả CT có dấu tác động dương và có ý nghĩa thống kê với thanh khoản, nhưng có dấu tác động âm và không có ý nghĩa thống kê với khả năng sinh lời. Ngoài ra, có sự biến động đáng kể của các biến số tại các ngân hàng Hồi giáo so với các ngân hàng thông thường, nhưng không có ý nghĩa khi xem xét theo từng giai đoạn thời gian.
Trong nghiên cứu của Niki (2019) về ảnh hưởng của khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính đến CS chi trả CT của 43 ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Indonesia trong giai đoạn 2013 – 2017. Các biến trong mô hình gồm: Khả năng sinh lời được đo lường bằng ROA, đòn bẩy tài chính được đo lường bằng tỷ lệ tổng tài sản/vốn chủ sở hữu, CS chi trả CT được đo lường bằng tổng CT chi trả/lợi nhuận sau thuế. Bằng việc sử dụng các mô hình hồi quy Partial Test (t-test) và Simultaneous Test (F-test), kết quả nghiên cứu cho thấy cả khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính đều có tác động đến chính sách phân phối CT của ngân hàng. Trong đó, khả năng sinh lời có mối tương quan thuận và đòn bẩy tài chính có mối tương quan nghịch với CS chi trả CT.
Tafdil et al. (2019) nghiên cứu về sự tác động của các khoản tiền thù lao, quản trị doanh nghiệp, quyền sở hữu và CS chi trả CT đối với HQHĐ của các ngân hàng tại Indonesia. Dữ liệu được sử dụng từ báo cáo tài chính của 33 ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Indonesia trong giai đoạn 2014 – 2018 với 165 quan sát. Trong đó, HQHĐ được đo lường bằng hệ số Tobin’Qit, các biến độc lập còn lại gồm tiền thù lao, quyền quản trị, quyền sử hữu, CS chi trả CT, tần suất họp và quy mô ngân hàng. Bằng kiểm định Hausman, mô hình hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên FEM được sử dụng trong nghiên cứu này. Với kết quả hồi quy chỉ ra rằng tiền thù lao cho các nhà điều hành có tác động tích cực đáng kể đến HQHĐ của ngân hàng, trong đó tỷ lệ bồi thường nhận được bởi các nhà điều hành có xu hướng ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị ngân hàng. Kết quả cũng cho thấy CS chi trả CT có tác động tích cực đáng kể đến HQHĐ ngân hàng, khi số lượng CT được phân phối càng lớn sẽ tạo ra tín hiệu tích cực cho thị trường. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Tại Jordan, nghiên cứu của Mohammad (2021) sử dụng dữ liệu của 13 ngân hàng tại Jordan với 143 quan sát trong giai đoạn 2010 – 2020 để nghiên cứu về mối quan hệ giữa CS chi trả CT và tốc độ tăng trưởng của các ngân hàng. Và kết quả hồi quy bằng OLS, kiểm định Hausman và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên cho thấy có tác động đáng kể từ sự thay đổi trong tỷ lệ giữ lại thu nhập (tính theo cơ sở dồn tích) đến tăng trưởng tổng tài sản của ngân hàng, đồng thời có mối quan hệ đáng kể giữa tăng trưởng tổng tài sản của ngân hàng và lợi nhuận giữ lại tính theo cơ sở dồn tích. Mặc khác, quy mô ngân hàng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tỷ lệ giữ lại thu nhập và tăng trưởng tổng tài sản của ngân hàng
Một khía cạnh khác, Ayodeji (2021) nghiên cứu về ảnh hưởng của CS chi trả CT đến HQHĐ của các ngân hàng tại Nigeria. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính kiểm toán của ngân hàng. Nghiên cứu kết luận rằng tỷ suất CT có tác động tiêu cực và không đáng kể đến tỷ suất sinh lời trên tài sản. Tỷ lệ chi trả CT có tác động tích cực và đáng kể đến ROA. Không có mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Ngoài ra, tỷ suất CT cũng có tác động tiêu cực và không đáng kể đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, trong khi tỷ lệ chi trả CT có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến ROE. Đồng thời, không tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Phương pháp hồi quy OLS kết hợp với mô hình ảnh hưởng cố định, mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên và kiểm định Hausman đã nghiên cứu mối tương quan giữa CS chi trả CT đối với HQHĐ của các ngân hàng quan trọng hệ thống tại Nigeria với dữ liệu từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên trong giai đoạn 2011 – 2020 của các ngân hàng trọng điểm. Sử dụng kỹ thuật ước lượng OLS gộp theo mô hình dữ liệu bảng, mô hình hiệu ứng cố định Fixed Effect Model, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên Random Effect Model, đồng thời kiểm định Hausman để xác định mô hình phù hợp kết hợp với kiểm soát hiện tượng phương sai thay đổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, CS chi trả CT có tác động tương quan dương đến khả năng sinh lời và HQHĐ của các ngân hàng này, đồng thời tác động một phần đến việc định giá ngân hàng, nhưng không có tác động đến thanh khoản và khả năng thanh toán. Do đó, các nhà quản trị ngân hàng tại Nigeria cần đảm bảo sự cân bằng giữa việc chi trả CT cho cổ đông và việc giữ lại lợi nhuận để đảm bảo duy trì khả năng sinh lời lâu dài.
Với kết quả tương tự, Johnson et al. (2023) nghiên cứu về CS chi trả CT và HQHĐ của các ngân hàng ở Nigeria, dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng được thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 – 2021 với 117 quan sát. Các biến được sử dụng trong mô hình bao gồm biến lợi nhuận, tiền gửi, thanh khoản, nợ vay, lãi suất, tài sản và CT. Bằng việc sử dụng mô hình hồi quy Generalized Linear Model, mô hình hiệu ứng cố định Fixed Effect Model, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên Random Effect Model và kiểm định Hausman, phương pháp ước lượng Generalised Least Square để phân tích. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các hệ số của các biến tiền gửi, tài sản và CT đều mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê. Hệ số dương của biến tiền gửi cho thấy rằng khi tiền gửi ngân hàng tăng 1%, hiệu suất hoạt động của ngân hàng tăng thêm 15%. Đối với các biến tài sản và CT, kết quả cho thấy khi tài sản và CT của ngân hàng tăng 1%, hiệu suất hoạt động của ngân hàng lần lượt tăng thêm 0,02% và 0,2%. Trong khi đó, biến nợ vay và thanh khoản không có ý nghĩa thống kê.
Cũng tại Nigeria, nghiên cứu của Chinwe & Asielue (2024) về ảnh hưởng của CS chi trả CT đến sự phát triển các ngân hàng tiền gửi tại Nigeria. Dữ liệu thứ cấp thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích trong phạm vi 07 NHTM được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Nigeria trong giai đoạn 2013 – 2023. Các biến số được sử dụng trong mô hình gồm: Biến phụ thuộc sự phát triển ngân hàng được đo lường bằng ROA và ROE, trong khi đó các biến độc lập lần lượt là CT trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ chi trả CT và tỷ suất sinh lợi CT. Bằng phương pháp sử dụng mô hình hồi quy gộp, mô hình hiệu ứng cố định, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và kiểm định Hausman để phân tích. Tác giả chỉ ra rằng, CT trên mỗi cổ phiếu có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng của các NHTM tại Nigeria. Tương tự, tỷ lệ chi trả CT có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng của các NHTM và suất sinh lợi CT cũng có tác động đáng kể về mặt thống kê đến tăng trưởng của các NHTM tại Nigeria.
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa CS chi trả CT và HQHĐ của NHTM còn rất hạn chế, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu ở các loại hình doanh nghiệp thông thường, vì vậy tác giả lược khảo một số tài liệu liên quan đến vấn đề này nhằm tham khảo thêm về phương pháp và cách thức xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài của mình. Mở đầu là nghiên cứu của Phan Trọng Nghĩa & Nguyễn Ngô Bảo Linh (2017) về ảnh hưởng của CS chi trả CT lên giá trị thị trường các công ty ngành khoáng sản niêm yết trên HOSE. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty ngành khoáng sản được niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2006 – 2016. Sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng OLS, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên để phân tích kết hợp với kiểm định F và kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ suất CT và giá trị thị trường của công ty trên cơ sở kiểm soát các biến thuộc về đặc thù của công ty như: quy mô công ty, tỷ số sức sinh lơị căn bản, hệ số tăng trưởng tài sản và hệ số đòn bẩy. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa có cơ sở để khẳng định tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ chi trả CT và giá trị thị trường của các ngành khoáng sản được niêm yết tại Việt Nam.
Một nghiên cứu khác của Bùi Nguyên Khá và ctv. (2020) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CS chi trả CT và HQHĐ kinh doanh của doanh nghiệp ngành hàng không niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, các dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2019. Thông qua sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính, kết quả chỉ ra rằng giữa CS chi trả CT có mối quan hệ thuận chiều với chỉ số ROA và ROE, hai biến được đại diện cho HQHĐ kinh doanh của các doanh nghiệp ngành hàng không. Bên cạnh đó, các biến chỉ số quy mô công ty, tăng trưởng doanh thu đều có tác động thuận chiều đến HQHĐ kinh doanh của doanh nghiệp. Trái lại, tỷ lệ đòn bẩy tài chính lại có tác động ngược chiều.
Lê Trương Niệm và ctv. (2021) nghiên cứu tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của các công ty niêm yết trên HOSE. Dữ liệu nghiên cứu được tiếp cận từ 151 công ty được niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2016 – 2019. Trong đó, CS chi trả CT được đo lường bằng tỷ lệ CT so với mệnh giá và HQHĐ của doanh nghiệp được đo lường bằng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA. Bằng việc sử dụng mô hình hồi quy 2 bước của Heckman để khắc phục vấn đề sai lệch do lựa chọn mẫu, sau đó sử dụng các phương pháp hồi quy Pooled OLS, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, sử dụng kiểm định F, kiểm định Hausman và kiểm định LM để lựa chọn mô hình phù hợp. Kết quả nghiên cho rằng các công ty chi trả CT tiền mặt lớn sẽ làm gia tăng HQHĐ kinh doanh của công ty. Ngoài ra, gia tăng quy mô công ty sẽ giúp gia tăng HQHĐ sản xuất kinh doanh, tuy nhiên vay nợ nhiều sẽ làm giảm HQHĐ sản xuất kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy lý thuyết đại diện và giả thuyết dòng tiền tự do cùng với lý thuyết phát tín hiệu giải thích tốt CS chi trả CT ở thị trường Việt Nam.
Ngược lại, trong nghiên cứu của Huỳnh Thị Thùy Dương (2021) về mối quan hệ giữa CS chi trả CT tiền mặt và HQHĐ của các doanh nghiệp ngành thủy sản tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2019 thông qua các báo cáo tài chính được kiểm toán hằng năm của các doanh nghiệp. Biến phụ thuộc trong nghiên cứu được đo lường bằng chỉ số ROA và ROE, biến độc lập là tỷ lệ chi trả CT bằng tiền mặt, các biến kiểm soát gồm quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ đòn bẩy tài chính và tốc độ tăng trưởng doanh thu. Mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên và mô hình ảnh hưởng cố định được tác giả lựa chọn để phân tích dữ liệu, bằng kiểm định Hausman, mô hình hồi quy REM được lựa chọn vì phù hợp với bài nghiên cứu. Kết quả phân tích hồi quy chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ nghịch biến giữa CS chi trả CT bằng tiền mặt và chỉ số HQHĐ của doanh nghiệp là ROA và ROE. Ngoài ra, biến tỷ lệ nợ cũng ảnh hưởng ngược chiều làm giảm HQHĐ của doanh nghiệp. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng doanh thu có mối quan hệ thuận chiều với chỉ số ROA và ROE. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra các định hướng nghiên cứu tiếp theo như việc tăng số lượng biến kiểm soát, tăng quy mô mẫu và nghiên cứu ở nhiều ngành nghề khác nhau hơn. Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Phan Ngọc Thùy Như & Nguyễn Kim Phước (2021) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CS chi trả CT của các công ty ngành công nghiệp niêm yết tại HOSE. Với dữ liệu nghiên cứu được tiếp cận từ báo cáo tài chính của 39 công ty thuộc nhóm ngành công nghiệp trong giai đoạn 2009 – 2020 với 468 quan sát. Sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng POOL, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên để phân tích. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, thu nhập trên mỗi cổ phần, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, quy mô công ty, sở hữu nước ngoài và hình thức CT bằng tiền hay cổ phiếu tác động đến tỷ lệ chi trả CT. Trong đó, thu nhập mỗi cổ phần và hình thức chi trả CT là hai biến có tác động cùng chiều đến tỷ lệ chi trả CT. Kết quả cũng cho thấy, chi CT bằng tiền mặt đem đến lợi ích cao hơn cho cổ đông so với CT bằng cổ phiếu.
Nguyễn Phúc Hiền & Ngô Thị Thúy Huyền (2023) nghiên cứu về tác động của CS chi trả CT bằng tiền mặt đến giá trị của 214 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE giai đoạn 2011 – 2021. Các biến được sử dụng trong phân tích bao gồm: Biến phụ thuộc giá trị doanh nghiệp được đo lường bằng hệ số TobinQ, biến độc lập là CS chi trả CT bằng tiền mặt, các biến kiểm soát gồm lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, đòn bẩy tài chính, hiệu suất sử dụng tài sản, tốc độ tăng trưởng, quy mô doanh nghiệp và biến giả Covid. Bằng việc sử dụng mô hình dữ liệu bảng với các phương pháp Pooled OLS, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, nghiên cứu chỉ ra chính sách trả CT tiền mặt tác động tích cực lên giá trị doanh nghiệp bên cạnh 3 yếu tố: tỷ lệ sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, vòng quay tài sản và quy mô tổng tài sản. Bên cạnh đó trong giai đoạn đại dịch Covid-19, việc trả CT tiền mặt tác động mạnh hơn lên giá trị doanh nghiệp so với giai đoạn trước đại dịch. Nghiên cứu cũng đưa ra các hạn chế bao gồm việc chưa sử dụng mô men tổng quát để ước lượng dữ liệu và chưa xét đến các doanh nghiệp trong ngành tài chính, bảo hiểm và ngân hàng.
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Quang Minh Nhi & Nguyễn Thị Mỹ (2024) về hiệu ứng tín hiệu của CS chi trả CT đối với HQHĐ của 862 doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2021. Các biến trong nghiên cứu gồm: Biến phụ thuộc HQHĐ được đo lường bằng ROA và ROE, biến độc lập CS chi trả CT được tính bằng CT trên mỗi cổ phần và tỷ lệ chi trả CT được tính bằng CT được chia trên lợi nhuận sau thuế, các biến kiểm soát lần lượt là thu nhập trên mỗi cổ phiếu, quy mô doanh nghiệp, tỷ số giá trên thu nhập cổ phiếu, đòn bẩy, tỷ lệ giá trên giá trị sổ sách. Sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, HQHĐ trong tương lai của các công ty có chi trả CT vào năm trước cao hơn các công ty không trả CT. Bên cạnh đó, cả biến CT trên mỗi cổ phần và tỷ lệ chi trả CT đều có mối quan hệ thuận chiều với ROA và ROE của công ty sau một năm. Ngoài ra, tác giả còn gợi ý nghiên cứu trong tương lai khi xem xét mối quan hệ giữa CSCT và HQHĐ giữa các quốc gia và thị trường khác nhau, đồng thời mẫu nghiên cứu có thể được thu thập từ các công ty phi tài chính và tài chính, CSCT bất thường và thông thường để tìm hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa hai yếu tố này.
- Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
2.4 KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Dựa trên các nghiên cứu có liên quan về CS chi trả CT và HQHĐ của doanh nghiệp nói chung cũng như ngành ngân hàng nói riêng, các tác giả đã sử dụng phối hợp giữa các mô hình kinh tế lượng gồm phân tích hồi quy thông thường, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, mô hình hiệu ứng cố định để kiểm định về tính tương quan giữa CS chi trả CT và HQHĐ kinh doanh. Tuy nhiên, có thể thấy rằng mối quan hệ giữa hai yếu tố này vẫn còn chưa đồng nhất, một số nghiên cứu cho rằng tồn tại mối tương quan dương giữa CS chi trả CT và HQHĐ kinh doanh, trong khi một số nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng giữa hai yếu tố này tồn tại mối quan hệ nghịch biến, một số nghiên cứu khác cho thấy CS chi trả CT có tác động đến HQHĐ nhưng lại không đáng kể. Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp cho tác giả các lý thuyết tổng quan về vấn đề nghiên cứu và các phương pháp thu thập dữ liệu, phân tích, xây dựng mô hình, qua đó làm nền tảng cơ sở để tác giả tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài.
Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây, tác giả nhận thấy với những nguồn dữ liệu khác nhau về không gian và thời gian cùng với sự đa dạng về phương pháp thực hiện dẫn đến sự khác biệt về chiều hướng cũng như mức độ tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ kinh doanh của ngân hàng. Đồng thời, tuy các nghiên cứu nước ngoài đã nghiên cứu trên nhiều ngân hàng tại các quốc gia khác nhau ở các thị trường phát triển nhưng nội dung nghiên cứu này ở Việt Nam – một trong những thị trường mới nổi vẫn còn khá hạn chế, chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào các loại hình doanh nghiệp thông thường chứ chưa thật sự đào sâu về loại hình ngân hàng – một loại hình doanh nghiệp đặc thù với nhiều sự chia phối bởi cấu trúc vốn, vai trò kinh tế và quy định pháp lý. Vì vậy, việc dựa trên các lý thuyết nền tảng để nghiên cứu về sự tác động của CS chi trả CT đến HQHĐ các NHTM Việt Nam là thật sự cần thiết. Qua đó, đề tài kỳ vọng sẽ cung cấp các minh chứng nghiên cứu thực nghiệm góp phần lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về CS chi trả CT ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến tác động của đại dịch Covid – 19 ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế lẫn ngành ngân hàng. Số liệu của bài nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn này, vậy liệu rằng sự xuất hiện của yếu tố đại dịch Covid – 19 có ảnh hưởng đến sự tác động của CS chi trả CT với HQHĐ kinh doanh các NHTM Việt Nam hay không?
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Tác động chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng.
Ở chương 2, các lý thuyết về CS chi trả CT, HQHĐ kinh doanh, các lý thuyết có liên quan (lý thuyết CT không liên quan, lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay, lý thuyết phát tín hiệu CT, lý thuyết đại diện) và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan được tổng hợp. Đây là cơ sở xác định khoảng trống nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng

Pingback: Luận văn: KQNC của chính sách chi trả cổ tức đến các ngân hàng