Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Luận văn tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu bảng gồm 540 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2013–2024, tương ứng với 6480 quan sát. Để xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, tác giả tiến hành so sánh và lựa chọn mô hình phù hợp nhất giữa ba mô hình: hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Sau khi xác định mô hình phù hợp, các phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) và ước lượng GMM được áp dụng nhằm khắc phục các khuyết tật tiềm ẩn của mô hình.

Kết quả thực nghiệm cho thấy các biến Chi trả cổ tức (DPS), Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH), Tỷ suất dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản (CFOA) và Chuyển đổi số (DGT) có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Ngược lại, Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và Quy mô doanh nghiệp (SIZE) có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Trong khi đó, các biến Đòn bẩy tài chính (LEV) và Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tổng tài sản (NWC) không cho thấy ý nghĩa thống kê rõ ràng.

Trên cơ sở kết quả hồi quy, luận văn đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược quản lý tiền mặt hiệu quả, góp phần duy trì sự ổn định tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Từ khóa: các yếu tố ảnh hưởng, tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, Việt Nam.

  • ABSTRACT

The thesis focuses on analyzing the factors influencing the cash holding ratio of listed companies in Vietnam. The study employs a panel dataset comprising 540 firms listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) and the Hanoi Stock Exchange (HNX) during the period 2013–2024, corresponding to 6480 observations. To identify and measure the impact of these factors, the author compares and selects the most appropriate model among three options: the Pooled Ordinary Least Squares (Pooled OLS), Fixed Effects Model (FEM), and Random Effects Model (REM). After determining the suitable model, the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) and Generalized Method of Moments (GMM) estimators are applied to address potential model deficiencies. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

The empirical results indicate that Dividend per Share (DPS), Growth Rate (GRTH), Cash Flow from Operations to Total Assets (CFOA), and Digital Transformation (DGT) have a positive impact on the cash holding ratio. In contrast, Return on Assets (ROA) and Firm Size (SIZE) are negatively associated with cash holdings. Meanwhile, Financial Leverage (LEV) and Net Working Capital to Total Assets (NWC) show no statistically significant relationship with the cash holding ratio.

Based on the regression results, the thesis proposes several managerial implications to help firms develop effective cash management strategies, thereby contributing to financial stability and enhancing the operational efficiency of listed companies in the Vietnamese stock market.

Keywords: factors affecting, cash holding ratio, Vietnam.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

Tiền mặt đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài chức năng đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, việc duy trì mức tiền mặt hợp lý còn giúp doanh nghiệp linh hoạt nắm bắt các cơ hội đầu tư tiềm năng trong tương lai (Opler et al., 1999). Bên cạnh đó, tiền mặt không chỉ phục vụ nhu cầu giao dịch và chi trả thường xuyên mà còn được xem như một công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính có thể phát sinh trong quá trình vận hành (Phan Trần Minh Hưng, 2022). Do vậy, quy mô tiền mặt và các khoản tương đương tiền luôn là chỉ tiêu được nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi phân tích báo cáo tài chính, bởi đây là yếu tố phản ánh rõ ràng năng lực tài chính cũng như khả năng ứng phó của doanh nghiệp trước những biến động kinh tế.

Trong bối cảnh gần đây, kinh tế thế giới cũng như Việt Nam phải đối diện với hàng loạt cú sốc đến từ các yếu tố chính trị và kinh tế. Những sự kiện nổi bật có thể kể đến như đại dịch Covid-19 gây gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, cuộc khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ và châu Âu, xung đột kéo dài giữa Nga và Ukraine, cùng với việc leo thang căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc khi mức thuế đáp trả lẫn nhau lên tới 46%, đã ảnh hưởng mạnh đến xuất khẩu và thị trường chứng khoán Việt Nam (Nguyen,T.L.A., 2025). Việt Nam, với đặc điểm là một nền kinh tế đang phát triển và hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới, dễ chịu tác động khi xuất hiện các cú sốc kinh tế tại những quốc gia lớn. Mặc dù nhận thấy tác động vẫn trong tầm kiểm soát, nhưng không ít doanh nghiệp phải rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn lực sản xuất và buộc phải giải thể (Phạm Tiến Đạt, 2021; Trần Mạnh Hà, 2024). Thực tế này đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải quan tâm nhiều hơn đến việc thiết lập một chính sách quản lý tiền mặt hợp lý. Bài toán cân bằng giữa khả năng thanh khoản và hiệu quả sử dụng vốn luôn là vấn đề nan giải đối với mỗi doanh nghiệp. Nếu dự trữ tiền mặt ở mức quá thấp, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản khi cần thiết; ngược lại, nắm giữ quá nhiều tiền mặt sẽ làm giảm hiệu quả đầu tư và gia tăng chi phí cơ hội (Trần Mạnh Hà, 2024). Chính vì vậy, để có thể thiết lập tỷ lệ tiền mặt nắm giữ đối ưu nhất, nhà quản lý cần hiểu rõ các yếu tố có ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp, cũng như mức độ và xu hướng ảnh hưởng của từng yếu tố. Việc nắm bắt chính xác các mối quan hệ này giúp doanh nghiệp duy trì lượng tiền mặt phù hợp với mục tiêu tài chính và chiến lược hoạt động của mình.

Theo Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2024 của Tổng cục Thống kê, trong năm qua, Việt Nam có hơn 157,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tuy nhiên con số này giảm 1,4% so với năm trước. Trong khi đó, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn lên tới gần 100,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước và gần 76,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 16,3%. Đáng chú ý, hơn 21,6 nghìn doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 20% so với năm trước. Những số liệu này cho thấy áp lực duy trì hoạt động của khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn rất lớn, đặc biệt là đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa – những đơn vị thường thiếu vốn lưu động, khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế và quản trị tiền mặt chưa hiệu quả. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Trong bối cảnh đó, việc nắm giữ và sử dụng tiền mặt đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo thanh khoản, giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục. Thực tế cho thấy, tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể tùy theo đặc thù ngành nghề (Jinsook Lee, 2024). Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, thông tin hay dịch vụ thường có nhu cầu chi tiêu vốn thấp nên xu hướng nắm giữ tiền mặt ít hơn (Alassane Diaw, 2021). Ngược lại, những doanh nghiệp thuộc các ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn và chu kỳ thu hồi vốn dài như xây dựng, sản xuất vật liệu hay chế biến công nghiệp thường phải duy trì lượng tiền mặt dự trữ cao hơn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và ổn định hoạt động tài chính trong dài hạn (Favara, G., 2021; Magerakis et al., 2021). Sự khác biệt này phản ánh mối quan hệ giữa đặc thù hoạt động, cấu trúc tài chính và chính sách quản trị tiền mặt của từng nhóm doanh nghiệp.

Hiện nay các chủ đề xoay quanh tỷ lệ nắm giữ tiền mặt được nhiều tác giả đặc biệt quan tâm đến. Tuy nhiên, các cuộc điều tra diễn ra không liên tục và điều kiện kinh tế giữa các nước là không giống nhau, cho nên không dùng kết quả nghiên cứu của quốc gia khác áp dụng vào cho nền kinh tế Việt Nam được. Một số cuộc điều tra như Al-Najjar và Clark (2017), Manoel và cộng sự (2018), Phan và Narayan (2020) đã xem xét và nhận thấy rằng thông tin bất cân xứng có ảnh hưởng cùng chiều đối với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh. Trong khi Martinez-Sola và cộng sự (2013) nhấn mạnh vai trò của các yếu tố đại lý và chi phí giao dịch trong việc quyết định mức độ nắm giữ tiền mặt. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các yếu tố mang tính nội tại, chẳng hạn như tâm lý hoặc phong cách quản trị của nhà điều hành, mà chưa xem xét đầy đủ ảnh hưởng của các yếu tố tài chính – vốn có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Từ thực tiễn đó, việc phân tích và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trở nên cần thiết nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm cho bối cảnh Việt Nam. Nghiên cứu này kỳ vọng đóng góp góc nhìn cụ thể và có cơ sở khoa học, giúp các doanh nghiệp niêm yết xây dựng chính sách quản trị vốn lưu động hợp lý, tăng khả năng thanh khoản, nâng cao năng lực chống chịu trước biến động kinh tế và hướng tới sự phát triển bền vững. Xuất phát từ những vấn đề trên, nghiên cứu đi vào phân tích: “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam”.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Đề tài xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Trên cơ sở kết quả phân tích thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp niêm yết xây dựng chính sách nắm giữ tiền mặt hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị tài chính và đảm bảo sự ổn định trong hoạt động kinh doanh.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Để hoàn thành mục tiêu tổng quan đề ra, luận văn đặt ra một số mục tiêu quan trọng cụ thể cần đáp ứng như sau:

  • Xác định yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.
  • Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp.
  • Đề xuất hàm ý quản trị về tỷ lệ nắm giữ tiền mặt phù hợp cho các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận văn tập trung vào giải quyết các câu hỏi như sau:

  • Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào?
  • Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt như thế nào?
  • Các hàm ý quản trị về tỷ lệ nắm giữ tiền mặt cho các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam là gì?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của 540 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và sàn chứng khoán HNX, thông qua trang dữ liệu và phân tích tài chính FiinPro cung cấp.

Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu sử dụng các số liệu thu thập từ năm 2013-2024. Phạm vi thời gian của bài nghiên cứu trải qua nhiều sự kiện kinh tế lớn như khủng hoảng tài chính, các cuộc chiến thương mại, đại dịch COVID-19, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ và các vấn đề về chuỗi cung ứng, nhằm có sự đánh giá khách quan và đầy đủ về sự thay đổi trong chiến lược nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế đầy biến động.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu thứ cấp gồm 6480 quan sát được thu thập trong giai đoạn nghiên cứu. Quy trình phân tích bắt đầu bằng ước lượng sơ bộ bằng hồi quy gộp (Pooled OLS) nhằm thiết lập mối quan hệ cơ bản giữa các biến. Sau đó, kết quả được so sánh với mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model – FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model – REM) để xác định mô hình phù hợp nhất với đặc điểm của dữ liệu. Việc lựa chọn mô hình được thực hiện thông qua kiểm định F (F-test) giữa Pooled OLS và FEM, và kiểm định Hausman để phân định giữa FEM và REM. Tiếp theo, nghiên cứu tiến hành các kiểm định chẩn đoán nhằm đánh giá tính phù hợp của mô hình và phát hiện khả năng vi phạm các giả định kinh tế lượng, bao gồm phương sai thay đổi, tự tương quan và nội sinh. Trong trường hợp các khuyết tật này xuất hiện, luận văn sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, đồng thời áp dụng phương pháp Moment tổng quát (GMM) để xử lý vấn đề nội sinh, đảm bảo tính vững của kết quả ước lượng. Cuối cùng, các kết quả thu được từ các mô hình hồi quy được đối chiếu, phân tích và diễn giải chi tiết, tạo cơ sở cho việc đưa ra các kết luận và hàm ý quản trị phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận văn.

1.6. Đóng góp của đề tài Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu đã làm sáng tỏ ảnh hưởng của các chỉ tiêu tài chính đến mức độ dự trữ tiền mặt trong doanh nghiệp, đồng thời bổ sung thêm bằng chứng về các yếu tố quyết định tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dựa trên hệ thống biến được sử dụng trong mô hình, nghiên cứu mang đến góc nhìn sâu hơn cho nhà quản trị doanh nghiệp, góp phần hỗ trợ việc hoạch định chính sách quản lý tiền mặt hợp lý, giảm thiểu rủi ro thanh khoản và thiếu hụt vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính cũng như khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.

1.7. Kết cấu của đề tài

Luận văn có kết cấu gồm 5 chương, nội dung của mỗi chương lần lượt được giới thiệu, tóm tắt ở phần đầu và cuối mỗi chương, cụ thể có các chương như sau:

  • Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
  • Chương 3: Mô hình và dữ liệu nghiên cứu
  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
  • Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày cơ sở lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam”. qua đó làm rõ tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. Để hiện thực hóa mục tiêu nghiên cứu tổng quát, tác giả đã xây dựng các mục tiêu cụ thể gắn liền với ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm cần được giải đáp. Đồng thời, chương này cũng xác định phạm vi nghiên cứu gồm 540 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), với dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2013 – 2024. Các mô hình và phương pháp nghiên cứu được lựa chọn trên cơ sở kế thừa và phát triển từ các công trình nghiên cứu có giá trị trong và ngoài nước. Cuối cùng, chương 1 giới thiệu bố cục tổng thể của luận văn, tạo nền tảng định hướng cho việc triển khai nội dung ở các chương tiếp theo một cách khoa học và hợp lý. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1. LÝ THUYẾT NẮM GIỮ TIỀN MẶT

Trong lĩnh vực quản trị tài chính, quyết định liên quan đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt được xem là một nội dung trọng yếu vì nó sẽ phản ánh sự đồng nhất giữa rủi ro và lợi nhuận. Về mặt học thuật, khái niệm “nắm giữ tiền mặt” được hiểu một cách rộng hơn so với tiền mặt vật chất. Theo định nghĩa của Ferreira và Vilela (2004), mức tiền mặt mà doanh nghiệp nắm giữ bao gồm “tiền mặt tại quỹ và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn có tính thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không đối mặt với rủi ro đáng kể về thay đổi giá trị”. Vì vậy, trên bảng cân đối kế toán, mục tiền và các khoản tương đương tiền thường được ghi nhận bao gồm tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể giao dịch, cũng như các công cụ thị trường tiền tệ khác có thời gian đáo hạn gốc không quá ba tháng. Đây chính là lượng tài sản có tính thanh khoản cao nhất, thể hiện mức độ linh hoạt tài chính cao nhất của doanh nghiệp trong ngắn hạn. Đồng tình với khái niệm trên, Nguyễn Minh Kiều (2013) đã đưa ra khái niệm tổng quát để hiểu về tiền mặt, “tiền mặt là các các khoản tiền có thể sử dụng bất cứ lúc nào vào mục đích tài chính, nó bao gồm tiền mặt có trong quỹ doanh nghiệp và tiền trong tài khoản thanh toán tại ngân hàng; còn các loại đầu tư chứng khoán ngắn hạn khác sẽ được xem như tài sản tương đương tiền mặt có hiệu quả nhất vì chúng có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền”. Nền tảng lý thuyết cho việc nắm giữ tiền mặt được đặt bởi John Maynard Keynes (1936). Ông đã xác định ba động cơ chính thúc đẩy một chủ thể kinh tế có nhu cầu nắm giữ tiền mặt: Thứ nhất là động cơ giao dịch, đây là động cơ cơ bản nhất, xuất phát từ nhu cầu sử dụng tiền mặt để thực hiện các giao dịch hàng ngày trong quá trình sản xuất kinh doanh như tiền lương, tiền mua nguyên vật liệu, chi phí điện, nước, trước khi nhận được các khoản thu từ việc bán hàng hóa, dịch vụ; Thứ hai là động cơ dự phòng, theo đó doanh nghiệp duy trì một lượng tiền mặt nhất định nhằm đối phó với những biến động bất ngờ trong hoạt động kinh doanh, qua đó hạn chế rủi ro mất khả năng thanh toán hoặc phải bán tài sản trong điều kiện bất lợi. Opler và cộng sự (1999) cho rằng các công ty có dòng tiền biến động mạnh hoặc hoạt động trong các ngành có rủi ro cao thường có động cơ nắm giữ tiền mặt dự phòng lớn hơn; Thứ ba là động cơ đầu cơ, tiền mặt giúp doanh nghiệp duy trì khả năng linh hoạt tài chính để tận dụng kịp thời các cơ hội đầu tư mang lại lợi nhuận cao khi xuất hiện trên thị trường. Myers và Majluf (1984) trong lý thuyết trật tự phân hạng cũng lập luận rằng, việc duy trì một lượng tiền mặt thích hợp cho phép doanh nghiệp hạn chế nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài, đặc biệt là trong những trường hợp cần tài trợ cho các dự án có giá trị hiện tại ròng (NPV) dương, qua đó tránh phát sinh chi phí sử dụng vốn cao.

Bên cạnh những lợi ích nhất định, việc nắm giữ tiền mặt cũng phát sinh chi phí, trong đó chi phí cơ hội là yếu tố quan trọng nhất. Do tiền mặt và các khoản tương đương tiền có khả năng sinh lợi thấp, doanh nghiệp có thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư hiệu quả hơn vào các tài sản sản xuất hoặc dự án mở rộng. Vì vậy, quyết định duy trì mức tiền mặt phù hợp phản ánh sự cân nhắc giữa khả năng thanh khoản và hiệu quả sử dụng vốn. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu này nắm giữ tiền mặt được hiểu là việc doanh nghiệp duy trì các tài sản có tính thanh khoản cao nhất, có thể sử dụng trực tiếp cho các hoạt động thanh toán và giao dịch. Chỉ tiêu này đồng thời được xem là thước đo phản ánh khả năng chi trả và mức độ an toàn tài chính của doanh nghiệp, qua đó phản ánh hiệu quả hoạt động cũng như tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp.

Trong nghiên cứu thực nghiệm, việc sử dụng giá trị tuyệt đối của tiền mặt là không phù hợp để so sánh giữa các doanh nghiệp có quy mô, ngành nghề khác nhau. Do đó, các nhà nghiên cứu thường chuẩn hóa lượng tiền mặt bằng cách sử dụng thước đo tỷ lệ.

Đây là thước đo được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất trong các nghiên cứu kinh điển trên thế giới như Opler và cộng sự (1999), Dittmar, Mahrt-Smith, & Servaes, (2003) và cả ở Việt Nam. Tỷ lệ này phản ánh tỷ trọng của tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong toàn bộ cấu trúc tài sản của doanh nghiệp, cho thấy mức độ sẵn sàng về mặt tài chính của doanh nghiệp so với quy mô tổng thể của nó. Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, để đảm bảo tính so sánh và kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước, tác giả đã áp dụng để tính toán và phân tích cho đề tài của tác giả.

2.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN NẮM GIỮ TIỀN MẶT Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Trong những nghiên cứu trước đây, nhiều tác giả đã xây dựng và phát triển các lý thuyết nền tảng nhằm giải thích hành vi nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Ba lý thuyết phổ biến và được áp dụng rộng rãi nhất bao gồm lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết dòng tiền tự do, mỗi lý thuyết mang đến một góc nhìn khác nhau về động cơ, chiến lược và mục tiêu quản trị tiền mặt, từ đó giúp doanh nghiệp xác định mức tiền mặt tối ưu nhằm cân bằng giữa rủi ro tài chính, chi phí vốn và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

2.2.1. Lý thuyết đánh đổi

Lý thuyết đánh đổi được xem là một trong những nền tảng quan trọng nhất giải thích hành vi nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Theo Opler và cộng sự (1999), doanh nghiệp luôn hướng đến một mức nắm giữ tiền mặt tối ưu, trong đó lợi ích biên của việc nắm giữ tiền mặt bằng với chi phí biên phát sinh từ việc giữ tài sản này. Ở mức cân bằng đó, doanh nghiệp có đủ tiền mặt để đảm bảo thanh khoản, duy trì hoạt động thường xuyên, nắm bắt cơ hội đầu tư và phòng ngừa rủi ro trong trường hợp dòng tiền bị gián đoạn.

Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, tiền mặt mang lại một số lợi ích rõ ràng. Trước hết, nó giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro thanh khoản, hạn chế tình trạng thiếu hụt vốn lưu động hoặc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường tài chính bên ngoài. Bên cạnh đó, tiền mặt đóng vai trò như lá chắn phòng ngừa trước các cú sốc bất ngờ từ môi trường kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động. Ngoài ra, việc duy trì lượng tiền mặt hợp lý còn giúp doanh nghiệp chủ động nắm bắt cơ hội đầu tư khi xuất hiện, mà không phải chịu chi phí huy động vốn quá cao (Ferreira & Vilela, 2004). Tuy nhiên, tỷ lệ nắm giữ tiền mặt quá mức cũng làm phát sinh những chi phí nhất định. Thứ nhất là chi phí cơ hội, do tiền mặt không được đầu tư vào các dự án sinh lời cao hơn, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn kém (Kim và cộng sự, 1998). Thứ hai là chi phí đại diện, khi ban quản lý có thể sử dụng tiền mặt dư thừa cho các mục đích cá nhân hoặc các dự án không tối ưu cho cổ đông (Dittmar et al., 2003).

Dưới góc nhìn thực nghiệm, lý thuyết đánh đổi cho thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ nắm giữ tiền mặt và một số yếu tố tài chính cụ thể. Doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thường nắm giữ tiền mặt ít hơn, bởi chi phí vay nợ cao và áp lực trả nợ lớn làm giảm khả năng tích lũy tiền mặt (Ferreira & Vilela, 2004). Ngược lại, các doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời cao hoặc dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dồi dào lại có xu hướng duy trì lượng tiền mặt lớn hơn để đảm bảo tính thanh khoản và phòng ngừa rủi ro trong tương lai (Ozkan & Ozkan, 2004). Đồng thời, quy mô doanh nghiệp có thể ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, vì các doanh nghiệp lớn thường có uy tín và khả năng tiếp cận nguồn vốn bên ngoài thuận lợi hơn (Kim et al., 1998). Ngoài ra, vốn lưu động ròng được xem như khoản thay thế cho tiền mặt, khi doanh nghiệp có nhiều tài sản ngắn hạn thanh khoản, nhu cầu nắm giữ tiền mặt sẽ giảm.

Tóm lại, lý thuyết đánh đổi cho rằng tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp được quyết định bởi sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí của việc duy trì tiền mặt, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời, dòng tiền hoạt động, quy mô và vốn lưu động.

2.2.2. Lý thuyết trật tự phân hạng Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Lý thuyết trật tự phân hạng do Myers và Majluf (1984) đề xuất đã mang đến một góc nhìn khác về hành vi tài chính của doanh nghiệp. Theo lý thuyết này, do sự tồn tại của bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu tư, các doanh nghiệp thường ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ trước khi huy động vốn bên ngoài. Trình tự huy động vốn được sắp xếp theo thứ tự: lợi nhuận giữ lại, vay nợ, phát hành cổ phần.

Trong bối cảnh đó, tiền mặt được xem là tấm đệm tài chính quan trọng, giúp doanh nghiệp duy trì sự linh hoạt trong đầu tư và hoạt động mà không phải phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Theo Opler và cộng sự (1999), các doanh nghiệp có dòng tiền mạnh thường tích lũy tiền mặt trong giai đoạn thuận lợi để sử dụng khi dòng tiền giảm sút, phù hợp với cơ chế ưu tiên nội bộ. Ngược lại, khi lợi nhuận giữ lại không đủ để tài trợ cho nhu cầu đầu tư, doanh nghiệp sẽ sử dụng lượng tiền mặt sẵn có, rồi mới đến nguồn vốn vay.

Một số yếu tố được lý thuyết này giải thích rõ ràng. Cụ thể, doanh nghiệp có dòng tiền hoạt động cao có xu hướng nắm giữ nhiều tiền mặt hơn để tự tài trợ cho các dự án đầu tư (Han & Qiu, 2007). Đòn bẩy tài chính phản ánh mức độ sử dụng vốn vay, khi doanh nghiệp vay nợ cao, chi phí vay tăng khiến họ có xu hướng giảm lượng tiền mặt để hạn chế chi phí tài chính. Ngược lại, trong điều kiện rủi ro cao hoặc khó tiếp cận vốn vay, doanh nghiệp có thể tăng lượng tiền mặt để đảm bảo an toàn tài chính. Ngoài ra, doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng lớn cũng có xu hướng tích lũy tiền mặt để sẵn sàng cho các dự án mở rộng (Pinkowitz & Williamson, 2001). Chính sách chi trả cổ tức lại có ảnh hưởng ngược chiều, vì doanh nghiệp chi trả cổ tức cao thường có ít nguồn tiền tích lũy hơn (Ozkan & Ozkan, 2004).

Tổng thể, lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng tạo dòng tiền nội bộ, mức độ bất cân xứng thông tin và nhu cầu vốn cho đầu tư trong tương lai, được phản ánh qua các yếu tố như dòng tiền, đòn bẩy, tăng trưởng, cổ tức. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

2.2.3. Lý thuyết dòng tiền tự do

Lý thuyết dòng tiền tự do do Jensen (1986) đề xuất nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa lượng tiền mặt dư thừa và vấn đề đại diện giữa cổ đông và nhà quản lý. Theo lý thuyết này, khi doanh nghiệp có nhiều dòng tiền tự do, tức phần tiền còn lại sau khi tài trợ cho tất cả các dự án khả thi thì nhà quản lý có thể sử dụng khoản tiền đó cho các mục đích không tối đa hóa giá trị cổ đông, chẳng hạn như mở rộng quy mô quá mức, đầu tư vào các dự án kém hiệu quả hoặc thực hiện các thương vụ sáp nhập nhằm củng cố quyền lực cá nhân.

Khi đó, lượng tiền mặt quá lớn trở thành công cụ làm gia tăng chi phí đại diện, bởi cổ đông không thể dễ dàng giám sát mọi quyết định chi tiêu của ban lãnh đạo. Harford (1999) cho rằng các công ty nắm giữ lượng tiền mặt lớn thường có khả năng thực hiện các thương vụ thâu tóm kém hiệu quả, làm giảm giá trị doanh nghiệp trong dài hạn. Để hạn chế rủi ro này, cổ đông có xu hướng yêu cầu doanh nghiệp chi trả cổ tức, mua lại cổ phiếu hoặc đầu tư vào các dự án có tỷ suất sinh lời cao hơn, nhằm giảm lượng tiền mặt tồn đọng (Dittmar et al., 2003; Harford et al., 2008).

Từ đó, lý thuyết dòng tiền tự do lý giải rằng tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng đáng kể bởi dòng tiền dư thừa, chính sách cổ tức và chất lượng quản trị doanh nghiệp.

  • Bảng 2.1. Các lý thuyết liên quan đến nắm giữ tiền mặt

2.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ NẮM GIỮ TIỀN MẶT Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

2.3.1. Đòn bẩy tài chính (LEV)

Đòn bẩy tài chính (LEV) là một chỉ số dùng để đánh giá mức độ sử dụng nợ trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp (Đào Thị Thương, 2021). Đòn bẩy tài chính sẽ bù đắp các khoản thiếu hụt vốn, duy trì các hoạt động sản xuất cho doanh nghiệp và cắt giảm một lượng lớn chi phí về thuế. Yếu tố này được xác định bằng tổng nợ trên tổng tài sản. Thông qua chỉ số này, doanh nghiệp có thể đánh giá và kiểm soát được mức độ cân bằng giữa nợ vay và tổng tài sản, từ đó điều phối và hoạt động doanh nghiệp hiệu quả hơn (Nguyễn Thanh Liêm, 2024). Doanh nghiệp nào thường xuyên có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cao thường có mức đòn bẩy lớn, đồng nghĩa với rủi ro tài chính cao hơn. Có lẽ vậy, khi chỉ số đòn bẩy tài chính càng cao thì các doanh nghiệp có xu hướng càng cần tích trữ tiền mặt nhiều hơn phục vụ cho các nhu cầu tương lai vì để có được nguồn tài trợ tiếp là rất ít và tỉ lệ gánh chịu chi phí cao từ huy động bên ngoài là rất lớn (Ngô Quỳnh Trang, 2023). Có lẽ vì ít cơ hội được tiếp xúc các nguồn tài trợ bổ sung và tỉ lệ gánh chịu chi phí cao từ huy động bên ngoài là rất lớn nên các doanh nghiệp có chỉ số đòn bẩy tài chính càng lớn thì họ càng cần phải dự trữ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu trong tương lai. Chưa kể các khoản nợ đáo hạn sẽ gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp nghiệp nếu lượng tiền mặt không đáp ứng đủ và càng xấu khi doanh nghiệp không huy động được từ thị trường.

2.3.2. Chi trả cổ tức (DPS)

Chi trả cổ tức (DPS) đa phần xuất hiện ở các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tăng trưởng tốt, lượng tiền mặt doanh nghiệp đang nắm giữ nhiều hoặc có thể các doanh nghiệp chưa tìm được cơ hội đầu tư nào. Thông qua lý thuyết đánh đổi cũng có đề cập đến vấn đề này, bởi lẽ việc doanh nghiệp quyết định chi trả cổ tức cho cổ đông sẽ làm giảm lượng tiền mặt nắm giữ tại quỹ dẫn đến cơ hội đầu tư vào các hợp đồng có giá trị ở tương lai của doanh nghiệp cũng bị giảm theo. Song, nếu doanh nghiệp muốn gia tăng tiền mặt nắm giữ thì có thể giảm chi trả cổ tức. Ahmed và cộng sự (2018) tìm thấy mối quan hệ tương quan dương giữa hai biến chi trả cổ tức và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, trong khi Saleem và cộng sự (2021), Văn A Sầu (2021) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa chi trả cổ tức và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

2.3.3. Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) là một chỉ tiêu tài chính quan trọng, được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ hiệu quả trong việc khai thác và sử dụng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi nhuận (Trần Huệ Chi, 2021). Chỉ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận thuần mà doanh nghiệp đạt được so với tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Nói cách khác, ROA cho chúng ta biết, trung bình mỗi 1 đồng tài sản đầu tư vào hoạt động kinh doanh sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế (Nadeem Fatima, 2024). Khi ROA có xu hướng tăng lên, điều đó cho thấy doanh nghiệp đang vận hành tài sản một cách tối ưu hơn, tận dụng tốt nguồn lực hiện có để tạo ra giá trị gia tăng và lợi nhuận cao hơn cho chủ sở hữu. Ngược lại, nếu ROA giảm xuống, đây có thể là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp chưa sử dụng tài sản một cách hiệu quả, khả năng tạo lợi nhuận từ mỗi đồng tài sản đang bị suy giảm (Trần Huỳnh Kim Thoa, 2024; Trần Thị Phương Thảo, 2024). Tình trạng này có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như: hiệu quả kinh doanh kém, chi phí vận hành tăng, hoặc cơ cấu tài sản chưa hợp lý. Việc theo dõi và phân tích ROA qua các kỳ hoạt động giúp nhà quản trị và nhà đầu tư đánh giá được năng lực sinh lời của doanh nghiệp, so sánh với các đối thủ cùng ngành, đồng thời đưa ra các chiến lược cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản, tối ưu hóa nguồn lực để gia tăng lợi nhuận trong tương lai.

2.3.4. Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA)

Tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản (CFOA) một chỉ tiêu phản ánh khả năng doanh nghiệp tạo ra dòng tiền từ hoạt động kinh doanh chính so với quy mô tổng tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng (Ilker Yilmaz, 2024). Chỉ số này tập trung vào dòng tiền thực tế thay vì các con số lợi nhuận kế toán, nhờ đó cho thấy rõ ràng hơn khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt phục vụ hoạt động, đầu tư và trả nợ (Phùng Anh Thư, 2018). Chỉ số này tăng cho thấy doanh nghiệp đang vận hành tài sản hiệu quả, thu được nhiều dòng tiền từ các hoạt động cốt lõi, qua đó củng cố khả năng thanh toán và tạo nền tảng tài chính vững chắc. Ngược lại, chỉ số giảm có thể phản ánh hiệu quả khai thác tài sản thấp hơn, tốc độ thu hồi tiền mặt chậm lại hoặc gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh (Nguyễn Thanh Liêm, 2024). Việc theo dõi định kỳ tỷ suất dòng tiền hoạt động trên tài sản giúp nhà quản trị, nhà đầu tư và các bên liên quan nhận diện kịp thời những thay đổi trong hiệu quả sử dụng tài sản, từ đó điều chỉnh chiến lược vận hành, tối ưu hóa dòng tiền và nâng cao sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.

2.3.5. Quy mô (SIZE)

Quy mô doanh nghiệp (SIZE) là một trong những yếu tố được đánh giá có khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (Ahmed, 2018). Chỉ tiêu này được đo lường bằng cách lấy logarit cơ số tự nhiên của tổng tài sản. Những doanh nghiệp có kích thước càng lớn thì khả năng được tiếp cận các thị trường có vốn hóa lớn và các cơ hội ưu đãi trên thị trường càng cao (Trần Huỳnh Kim Thoa, 2024). Tuy nhiên, do được tiếp cận thường xuyên với thị trường vốn hóa lớn, dễ dàng vay nợ bên ngoài hơn, tiếp xúc nhiều ưu đãi từ thị trường vốn nên sẽ tốn ít chi phí huy động vốn khi có phát sinh, dẫn đến việc nắm giữ tiền mặt tại ngân quỹ cũng bị hạn chế. Bên cạnh đó, Qin và cộng sự (2020) cũng đã nhận thấy đặc trưng của các doanh nghiệp có quy mô lớn thường không hoạt động một ngành nghề, mà hoạt động đa ngành và đa dạng hóa đầu tư. Điều đó giúp cho dòng tiền ít bị lệ thuộc vào một ngành nhất định nên đạt tin tưởng cao và giảm được chi phí vay nợ từ người cho vay.

2.3.6. Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH) Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Tỷ lệ tăng trưởng (GRTH) là một tài sản vô hình đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và chỉ biến động khi các cú sốc tài chính xuất hiện (Sheikh và cộng sự, 2018). Các doanh nghiệp có ít cơ hội đầu tư sẽ giữ nhiều tiền mặt để đảm bảo đủ nguồn quỹ có sẵn để đầu tư cho dự án. Các doanh nghiệp có tỷ lệ cơ hội tăng trưởng cao thì chi phí phát sinh khi xảy ra sự thiếu hụt tiền mặt là càng lớn bởi vì việc thiếu hụt tiền mặt có thể dẫn đến việc đánh mất những cơ hội đầu tư có giá trị. Theo Trần Huệ Chi và cộng sự (2021) tỷ lệ tăng trưởng kinh doanh có mối tương quan thuận với việc nắm giữ tiền mặt. Bởi vì các doanh nghiệp có nhiều cơ hội mở rộng hơn đôi khi phải chịu chi phí cao hơn liên quan đến tình trạng bất ổn tài chính.

2.3.7. Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản (NWC)

Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản (NWC) là một chỉ tiêu tài chính phản ánh mức độ mà tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bởi nguồn vốn lưu động ròng (Ngô Quỳnh Trang, 2023). Vốn lưu động ròng được xác định bằng tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn, đại diện cho phần tài sản lưu động còn lại sau khi đáp ứng toàn bộ nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Chỉ số này cho thấy khả năng doanh nghiệp duy trì tính thanh khoản và đảm bảo nguồn lực để tài trợ cho hoạt động thường xuyên (Trần Thị Phương Thảo, 2024). Tỷ lệ cao thường phản ánh doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngắn hạn tốt, ít phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngắn hạn, từ đó giảm rủi ro tài chính. Ngược lại, tỷ lệ thấp hoặc âm có thể cho thấy doanh nghiệp gặp khó khăn về thanh khoản, tài sản ngắn hạn không đủ để bù đắp cho các khoản nợ đến hạn, hoặc doanh nghiệp đang sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính ngắn hạn để tài trợ cho hoạt động.

2.3.8. Chuyển đổi số (DGT)

Chuyển đổi số (DGT) là quá trình doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng quản trị, đổi mới mô hình kinh doanh và ra quyết định dựa trên dữ liệu (Vũ Văn Hương và cộng sự, 2025)Trong bối cảnh quản lý tài chính, việc áp dụng các giải pháp số như phần mềm ERP, hệ thống quản lý khách hàng hay các công cụ phân tích dữ liệu lớn giúp doanh nghiệp tối ưu hóa dòng tiền, dự báo nhu cầu vốn lưu động và giảm tồn kho dư thừa. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể duy trì lượng tiền mặt hợp lý, giảm chi phí cơ hội do nắm giữ quá nhiều tiền mặt, đồng thời tăng khả năng phản ứng nhanh với các cơ hội đầu tư hoặc rủi ro bất ngờ (Tingqian Pu, 2024). Các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng chuyển đổi số có liên quan đến việc giảm tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trong doanh nghiệp, vì công nghệ số giúp cải thiện hiệu quả thanh toán, minh bạch dòng tiền và nâng cao khả năng quản trị rủi ro tài chính.

2.4. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Ahmed và cộng sự (2018) đã điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết của Trung Quốc. Dữ liệu thực hiện được lấy từ cơ sở dữ liệu nghiên cứu kế toán và thị trường chứng khoán Trung Quốc, dữ liệu được sử dụng bao gồm 115 doanh nghiệp Trung Quốc từ năm 2012 đến 2016. Kết quả cho thấy mức độ nắm giữ tiền mặt có quan hệ ngược chiều với các yếu tố đòn bẩy tài chính, nợ ngân hàng và tỷ lệ sở hữu của ban quản lý. Trong khi các yếu tố biến động dòng tiền, cơ hội đầu tư, và cổ tức lại có ảnh hưởng tích cực đáng kể với việc nắm giữ tiền mặt. Ngoài ra nhóm tác giả còn nhận thấy rằng quy mô doanh nghiệp, dòng tiền, sự độc lập của hội đồng quản trị và sự tập trung quyền sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.

Guizani và cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Malaysia. Kết quả cho thấy, trong cả ngắn hạn và dài hạn, các yếu tố quyết định mức nắm giữ tiền mặt có sự khác biệt về dấu và mức độ tác động giữa nhóm SC và nhóm SNC. Ngoài ra, các doanh nghiệp SC điều chỉnh mức nắm giữ tiền mặt về mức mục tiêu nhanh hơn so với các doanh nghiệp SNC. Điều này có thể được giải thích bởi các quy định của Sharia buộc doanh nghiệp phải duy trì tình trạng tuân thủ. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy các lý thuyết như lý thuyết đánh đổi , lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết dòng tiền tự do đều đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của cả hai nhóm SC và SNC. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Saleem và cộng sự (2021) đã cố gắng kiểm tra ảnh hưởng của các biến số kinh tế có ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt tại các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết của Pakistan giai đoạn 2013-2018. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 184 doanh nghiệp với bốn lĩnh vực lớn (ngành dệt may, ngành xi măng, ngành ô tô và ngành năng lượng) niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Pakistan (PSX). Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) đã được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến được lựa chọn. Kết quả nghiên cứu cho thấy GDP có ý nghĩa liên quan tích cực với việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp trong khi tỷ lệ tăng trưởng, đòn bẩy và chi trả cổ tức lại có ý nghĩa tiêu cực.

Basil Al-Najjar (2013) đã điều tra việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển. Đặc biệt, tác giả xem xét ảnh hưởng của cấu trúc vốn và chính sách cổ tức đối với việc nắm giữ tiền mặt ở Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc và so sánh kết quả nghiên cứu với mẫu từ Mỹ và Anh. Mẫu của nghiên cứu bao gồm 1992 doanh nghiệp trên khắp các quốc gia này trong giai đoạn 2002–2008. Nghiên cứu sử dụng phân tích biến công cụ để kiểm soát tính đồng nhất của các chính sách tài chính (nắm giữ tiền mặt, cấu trúc vốn và chính sách cổ tức). Kết quả của nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn và chính sách cổ tức ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt. Có những điểm tương đồng giữa các nước phát triển và đang phát triển về các yếu tố quyết định việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Kết quả của mô hình xuyên quốc gia của nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy cấu trúc vốn, chính sách cổ tức và quy mô doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng trong việc xác định tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp hoạt động ở các quốc gia có mức độ bảo vệ cổ đông thấp nắm giữ nhiều tiền mặt hơn.

Sheikh và cộng sự (2018) thực hiện điều tra xem các biến quy mô, cơ hội tăng trưởng, khả năng sinh lời, chi tiêu vốn, đòn bẩy, cổ tức, dòng tiền và vốn lưu động có ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp đa quốc gia ở Pakistan hay không. Hơn nữa, để điều tra xem liệu các lý thuyết liên quan đến việc nắm giữ tiền mặt có giải thích hành vi nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp đa quốc gia niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Pakistan trong giai đoạn 2006-2016 hay không. Ba kỹ thuật dữ liệu bảng như OLS, mô hình hiệu ứng cố định và phương pháp hiệu ứng ngẫu nhiên đã được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả chỉ ra rằng khả năng sinh lời ảnh hưởng tích cực đến việc nắm giữ tiền mặt. Quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến việc nắm giữ tiền mặt theo OLS, nhưng lại ảnh hưởng tiêu cực đến việc nắm giữ tiền mặt theo mô hình ảnh hưởng cố định; tuy nhiên mối quan hệ là không đáng kể. Đòn bẩy, tỷ lệ tăng trưởng, cổ tức, tỷ lệ vốn lưu động và chi tiêu vốn có ý nghĩa quan trọng và liên quan tiêu cực đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Cuối cùng, dòng tiền không liên quan đến việc nắm giữ tiền mặt. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Ilker Yilmaz (2024) thực hiện điều tra xem các biến quy mô, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ lệ tăng trưởng, tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản, tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản và các yếu tố vĩ mô khác như tuổi đời, chi trả cổ tức của các quốc gia thuộc nhóm BRICS, cụ thể bao gồm các quốc gia Brazil, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi, Ai Cập. Bộ dữ liệu bao gồm số liệu của 4769 doanh nghiệp trong giai đoạn từ 2012 đến 2021, tổng cộng có 47690 mẫu quan sát. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, bao gồm cả mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên, và tiến hành kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp nhất. Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ suất dòng tiền hoạt động kinh doanh trên tài sản, tỷ lệ tăng trưởng, chi trả cổ tức và tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản là các yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến lượng tiền mặt mà doanh nghiệp nắm giữ, mặc dù mức độ ảnh hưởng và ý nghĩa thống kê có thể khác nhau giữa các quốc gia hoặc ngành.

Vũ Văn Hương và cộng sự (2025) điều tra liệu mức độ chuyển đổi số gia tăng có làm giảm tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Dữ liệu được phân tích được lấy từ báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2021. Tác giả cho biết chuyển đổi số, với vai trò quan trọng trong việc định hình tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp, được phát hiện có ảnh hưởng tiêu cực đến lượng tiền mặt dự trữ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mặc dù chuyển đổi số có thể giúp giảm lượng tiền mặt nắm giữ, nhưng hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào bối cảnh và điều kiện môi trường kinh doanh. Do đó, để tối ưu hóa lợi ích từ chuyển đổi số, các chính sách hỗ trợ môi trường kinh doanh cần được triển khai song song.

Tingqian Pu (2024) xem xét cách quá trình chuyển đổi số ảnh hưởng đến lượng tiền mặt mà doanh nghiệp nắm giữ. Dữ liệu được thu thập từ 3920 công ty niêm yết tại Trung Quốc trong giai đoạn 2012 đến 2021. Tác giả xây dựng chỉ số chuyển đổi số dựa trên thông tin từ báo cáo thường niên của các doanh nghiệp để đo lường mức độ ứng dụng công nghệ của họ. Kết quả cho thấy khi doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số, lượng tiền mặt mà họ giữ lại thường có xu hướng giảm xuống. Lý do là vì chuyển đổi số giúp hoạt động hiệu quả hơn, nhờ đó doanh nghiệp ít cần dự trữ tiền mặt để phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, với những công ty gặp khó khăn trong việc huy động vốn từ bên ngoài, tác động này trở nên yếu đi. Nói cách khác, dù chuyển đổi số có thể giúp tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả, các doanh nghiệp vẫn muốn giữ lại nhiều tiền mặt hơn để phòng trường hợp khẩn cấp khi họ không dễ vay vốn. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Qin và cộng sự (2020) nghiên cứu ảnh hưởng của COVID-19 đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp tại Trung Quốc từ quý I/2014 đến quý I/2020. Nghiên cứu tìm thấy rằng các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu nắm giữ tiền mặt nhiều hơn trong giai đoạn đại dịch COVID-19 xảy ra. Các tác giả cho rằng trong giai đoạn đại dịch xảy ra, cung cầu thị trường bị ảnh hưởng đáng kể cũng như dòng tiền chảy vào các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều sự khó khăn. Theo đó để phòng ngừa cho các bất lợi có thể xảy ra do đại dịch, các doanh nghiệp trong từng nhóm ngành có khuynh hướng gia tăng lượng tiền mặt hơn. Hơn thế nữa, các tác giả cũng kết luận rằng dòng tiền, đòn bẩy, cơ hội đầu tư, các khoản phải thu và lợi nhuận đều thể hiện mối quan hệ ngược chiều với lượng tiền mặt.

Nadeem Fatima (2024) nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đặc thù của doanh nghiệp đối với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp ngành năng lượng. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu thứ cấp từ 7 doanh nghiệp năng lượng niêm yết trên Sàn chứng khoán Saudi Arabia trong giai đoạn 2014-2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính và vốn lưu động có ảnh hưởng tiêu cực đến dự trữ tiền mặt. Trong khi đó, tỷ suất sinh lợi lại có ảnh hưởng tiêu cực đến việc dự trữ tiền mặt.

2.4.2. Các nghiên cứu trong nước

Phùng Anh Thư và cộng sự (2018) đã xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp năng lượng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bộ dữ liệu bao gồm 28 doanh nghiệp năng lượng trên thị trường chứng khoán Việt Nam (HNX và HOSE) trong giai đoạn từ 2010 đến 2016, với tổng số 196 quan sát theo năm doanh nghiệp được thu thập. Nhóm tác giả đã sử dụng công cụ ước tính GMM để kiểm tra các giả thuyết của mình. Kết quả cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy, tỷ suất sinh lời trên tài sản, dòng tiền hoạt động và nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp trong khi tài sản hữu hình có mối quan hệ tích cực.

Mai Thanh Giang (2017) đã thực hiện nghiên cứu xem xét các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014. Với dữ liệu ban đầu là 210 mẫu quan sát tương ứng với 42 doanh nghiệp. Thông qua phương pháp BMA, kết quả của mô hình hồi quy REM cho thấy những doanh nghiệp với mức độ nhận tín dụng thương mại cao, có quy mô lớn và có hiệu quả kinh doanh cao thì có tỉ lệ nắm giữ tiền mặt cao. Những doanh nghiệp với đòn bẩy tài chính lớn thì tỉ lệ nắm giữ tiền mặt ít hơn.

Đào Thị Thương và cộng sự (2021), các yếu tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm Việt Nam. Mầu gồm 120 quan sát, nghiên cứu dữ liệu của 20 doanh nghiệp trong giai đoạn 2015 – 2020. Phân tích chỉ ra tỷ lệ tiền mặt trên tài sản ròng bình quân của các doanh nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu khoảng 13,4%. Kết quả thông mô hình hồi quy Pooled OLS cho thấy, những doanh nghiệp với mức độ nhận tín dụng thương mại cao thì có tỷ lệ nắm giữ tiền mặt cao. Những doanh nghiệp có quy mô và tỷ lệ nợ dài hạn cao thì nắm giữ ít hơn, vòng quay tiền mặt càng ngắn thì khả năng doanh nghiệp bổ sung và cân đối tiền mặt càng nhanh. Dựa trên kết quả thực nghiệm đó, bài viết đưa một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị dòng tiền của các doanh nghiệp ngành CBTP ở Việt Nam trong tương lai.

Văn A Sầu (2021), bằng cách lựa chọn phương pháp ước lượng FGLS cho bài nghiên cứu các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại sở chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE), tác giả nhận thấy các yếu tố tỷ suất sinh lợi, hệ số thanh khoản có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Và các yếu tố đòn bẩy tài chính, tỷ lệ chi trả cổ tức, quy mô doanh nghiệp lại có ảnh hưởng ngược chiều. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp phân rã Oaxaca – Blinder và phát hiện ra các ngành nghề khác nhau sẽ có tỷ lệ nắm giữ tiền mặt khác nhau. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Trần Huệ Chi và cộng sự (2021), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng đòn bẩy, khả năng sinh lời, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, dòng tiền và tỷ lệ tăng trưởng ảnh hưởng đáng kể đến mức độ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp vật liệu Việt Nam bằng cách phân tích dữ liệu thu thập từ 51 doanh nghiệp trong vòng 7 năm (2013-2019) và sử dụng quy trình FGLS đối với các khoản nợ cố định. Nghiên cứu này bổ sung thêm những hiểu biết sâu sắc hơn trong lĩnh vực quản lý thanh khoản nói chung và quản lý tiền mặt nói riêng thông qua việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt.

Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2024), thực hiện đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: tác động điều tiết của hạn chế tài chính, nhóm tác giả đã thu thập dữ liệu của 616 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2012-2021. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính, dòng tiền, tỷ lệ vốn lưu động và chi phí đầu tư tài sản cố định có ảnh hưởng đến mức giữ tiền của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Bên cạnh đó, hạn chế tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến mối quan hệ giữa các nhân tố và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt theo hướng các quyết định tối ưu về mức nắm giữ tiền khó được đảm bảo.

Ngô Quỳnh Trang (2023), tác giả nhận thấy quy mô, đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Ngoài ra, mối quan hệ giữa lợi nhuận cũng như tỷ lệ vốn lưu động ròng với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt là đồng biến và ảnh hưởng khá lớn đến tỷ lệ này. Kết quả của nghiên cứu này từ việc thu thập dữ liệu mẫu của 153 doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2011-2021. Dữ liệu sẽ được xử lý và chạy hồi quy kiểm định trên phần mềm Stata.

Đào Thị Hương (2024), nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp niêm yết ngành Hàng tiêu dùng Việt Nam. Thông qua thu thập từ báo cáo tài chính từ năm 2010 đến 2022 của 63 doanh nghiệp ngành tiêu dùng kết quả chỉ ra tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản không ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, chi phí vốn ảnh hưởng ngược chiều, quy mô tổng tài sản, tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản, tỷ suất dòng tiền từ hoạt động kinh doanh ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

Trần Thị Phương Thảo (2024) tiến hành nghiên cứu đề tài tác động của tỷ suất sinh lời tới tỷ lệ nắm giữ tiền tại các doanh nghiệp logistics trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng bộ dữ liệu từ 81 doanh nghiệp niêm yết và đang giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2018 – 2023. Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng theo các mô hình POOLED OLS, FEM, REM, FGLS để khắc phục khuyết tật của mô hình. Kết quả chỉ ra rằng, cả 3 biến độc lập đại diện cho Tỷ suất sinh lời gồm: Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA); Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE); Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS) đều có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ nắm giữ tiền ở các doanh nghiệp logistics trong thời gian nghiên cứu. Ngoài ra các biến khác như quy mô, tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản, tỷ lệ tăng trưởng đều tìm thấy ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

Trần Huỳnh Kim Thoa (2024), thực hiện đề tài các yếu tố tác động đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam với quy mô là 39 doanh nghiệp ngành sản xuất hàng tiêu dùng trong giai đoạn 2017 đến 2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình REM là mô hình phù hợp nhất. Trong các yếu tố thì yếu tố chi trả cổ tức, tỷ suất sinh lời trên tài sản và quy mô có tác động tích cực và yếu tố tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản có tác động tiêu cực đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

  • Bảng 2.2. Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2, tác giả đã khái quát các lý thuyết về nắm giữ tiền mặt và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp. Cũng trong chương này, tác giả đã khảo lược một số nghiên cứu nổi tiếng trong và ngoài nước có cùng chủ đề. Từ kết quả của nghiên cứu thực nghiệm, tác giả cũng đã kế thừa và bổ sung một số nội dung để đề tài được hoàn chỉnh hơn. Với những nội dung có được trong chương này, tác giả sẽ tiến hành thực hiện xây dựng mô hình, chi tiết các phần sẽ được trình bày ở chương 3. Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN

One thought on “Luận văn: Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các DN

  1. Pingback: Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của DN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *