Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Một số giải pháp quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn, TPHCM dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Việc chuyển đổi từ phương thức thu riêng lẻ sang hình thức phối hợp thu Ngân sách nhà nước đã góp phần tích cực vào CCHC, mang lại nhiều lợi ích cho người nộp thuế và hiện đại hóa công tác QLT. Mô hình này vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tập trung các nguồn thu vào ngân sách nhà nước (NSNN).

Kết quả nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn giai đoạn 2020–2024 cho thấy, công tác phối hợp thu tại địa phương đã đơn giản hóa thủ tục, mở rộng mạng lưới thu. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại một vài khó khăn như quá trình đối chiếu dữ liệu còn thủ công, hệ thống truyền tải thông tin chưa ổn định, và thiếu một khung quản lý rủi ro thống nhất, khoa học.

Nhằm nâng cao chất lượng Phối hợp thu Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn, cần đẩy mạnh hoàn thiện công tác Quản lý rủi ro thông qua việc xây dựng hệ thống kiểm soát chuyên trách, thiết lập khung và quy trình Quản lý rủi ro đồng bộ, triển khai công cụ cảnh báo sớm và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các bên liên quan. Định hướng đến năm 2030 là hình thành một hệ thống Kho bạc Nhà nước hiện đại, tinh gọn, vận hành hiệu quả trên nền tảng số hóa, với năng lực quản lý rủi ro toàn diện và hiệu lực.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công, Nhà nước sử dụng hệ thống các sắc thuế như một công cụ pháp lý để tập trung nguồn lực tài chính vào Ngân sách Nhà nước (NSNN). Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), việc huy động nguồn lực tài chính thông qua thuế là nền tảng để đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách, thúc đẩy phát triển kinh tế và cung cấp dịch vụ công cho xã hội.(World Bank, “Fiscal Policy and Taxation,” 2023)

Trong quá trình hiện đại hóa công tác thu Ngân sách nhà nước, Nhà nước từng bước chuyển đổi từ phương thức thu độc lập theo từng cơ quan sang mô hình phối hợp thu (PHT) giữa các đơn vị chức năng như Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước và cơ quan Tài chính. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý thu ngân sách giúp tăng hiệu quả thu ngân sách, giảm thất thoát và nâng cao tính minh bạch của hệ thống tài chính quốc gia.(IMF, “Revenue Administration: Fiscal Affairs,” 2022) Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Mở rộng phối hợp với các Ngân hàng thương mại nhằm nâng cao tính thuận tiện cho người nộp thuế, rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế, thúc đẩy quá trình xây dựng tài chính điện tử. Liên hợp quốc (UN) cũng nhấn mạnh, việc ứng dụng công nghệ số và hợp tác với khu vực ngân hàng thương mại là xu hướng tất yếu, góp phần hiện đại hóa thu ngân sách, tăng cường tiếp cận dịch vụ công và thúc đẩy phát triển tài chính điện tử quốc gia.(United Nations, “Digitalization of Public Finance,” 2021)

Tại Kho bạc Nhà nước (KBNN) Hóc Môn, công tác thu ngân sách nhà nước (NSNN) luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao, nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy định về phân cấp và tập trung kịp thời các khoản thu vào Ngân sách nhà nước.

Thực tiễn tại địa bàn Hóc Môn cho thấy, quá trình phối hợp thu ngân sách nhà nước (PHT Ngân sách nhà nước) giữa Kho bạc Nhà nước, cơ quan Thuế và các ngân hàng thương mại đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nguồn thu, qua đó tổng số thu Ngân sách nhà nước liên tục tăng trưởng trong các năm gần đây. Điều này minh chứng cho vai trò quan trọng của mô hình phối hợp đa ngành trong việc huy động và tập trung nguồn lực tài chính cho ngân sách địa phương.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực tế, vẫn tồn tại những hạn chế như quy trình nghiệp vụ giữa các đơn vị chức năng chưa được thống nhất, dẫn đến việc xử lý hồ sơ, đối chiếu dữ liệu thu còn thiếu sự đồng bộ. Bên cạnh đó, phạm vi mở rộng các điểm thu chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn phát sinh, gây khó khăn cho người nộp thuế và ảnh hưởng đến hiệu quả thu ngân sách. Những bất cập này không chỉ khiến chất lượng công tác thu Ngân sách nhà nước bị suy giảm mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quản lý, tác động trực tiếp đến hoạt động của các cơ quan phối hợp và đội ngũ cán bộ công chức thực hiện nhiệm vụ.

Chính vì vậy, việc nhận diện, phân tích các rủi ro và đề xuất giải pháp quản lý rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn là rất cấp thiết, nhằm đảm bảo nguồn thu ổn định, nâng cao hiệu quả hoạt động của các bên liên quan và đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính công ngày càng hiện đại hóa.

Vì những nguyên nhân trên, tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn, TPHCM” với mong muốn khắc phục được những hạn chế, vướng mắc nêu trên.

2. Mục tiêu của đề án Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

  • Mục tiêu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa đề tài Mục tiêu tổng quát

Đề tài hướng tới việc nhận diện đầy đủ các rủi ro, đồng thời xây dựng và đề xuất các giải pháp quản lý rủi ro hiệu quả trong công tác phối hợp thu ngân sách nhà nước (NSNN) qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) Hóc Môn. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nguồn thu, đảm bảo nguồn thu Ngân sách nhà nước ổn định, minh bạch, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quản lý tài chính công trên địa bàn.

  • Mục tiêu cụ thể

Phân tích thực trạng công tác quản lý rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn, chỉ ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của các rủi ro phát sinh.

Nhận diện, phân loại các loại rủi ro chủ yếu trong quá trình phối hợp thu Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn (rủi ro về quy trình nghiệp vụ, công nghệ thông tin, phối hợp liên ngành, rủi ro đạo đức nghề nghiệp, v.v.).

Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm phòng ngừa, giảm thiểu các rủi ro trong quản lý thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương và xu hướng hiện đại hóa tài chính công.

  • Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích tổng hợp: Tổng hợp tài liệu, số liệu thứ cấp từ báo cáo, văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu khoa học liên quan đến quản lý rủi ro và phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Phương pháp so sánh: So sánh thực tiễn phối hợp thu Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn với các mô hình phối hợp khác hoặc các địa bàn tương tự để rút ra bài học kinh nghiệm.

Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Thu thập ý kiến từ cán bộ quản lý, chuyên viên Kho bạc Nhà nước, cơ quan thuế, ngân hàng thương mại và đối tượng nộp thuế để nhận diện chính xác các rủi ro và đề xuất giải pháp phù hợp.

  • Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần làm rõ cơ sở lý thuyết về quản lý rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước tại Việt Nam, bổ sung luận cứ khoa học cho việc xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu Ngân sách nhà nước nói chung và tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn nói riêng.

Ý nghĩa thực tiễn: Các giải pháp, kiến nghị của đề tài có thể ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn hoạt động phối hợp thu Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn, góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cải thiện chất lượng phục vụ người nộp thuế. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn có thể làm tài liệu tham khảo cho các địa phương có đặc điểm tương đồng.

3. Kết cấu đề án

Kết cấu gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý thuyết về Quản lý rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
  • Chương 2: Thực trạng Quản lý rủi ro trong phối hợp Phối hợp thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn Hóc Môn.
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG PHỐI HỢP THU NGÂN NHÀ SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

1.1. Khái quát về thu ngân sách nhà nước

1.1.1. Khái niệm thu ngân sách nhà nước

Hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình.

Các đặc điểm chính của khoản thu này là không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng nộp. Về phương diện pháp lý, thu Ngân sách nhà nước là những khoản tiền mà nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. (n.d., p. Lê Thị Tuyết Hoa & Đặng Văn Dân 2017)

Thu Ngân sách nhà nước được tiếp cận dưới góc độ quyền lực nhà nước và tập trung tài chính quốc gia:

Thu Ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Về mặt nội dung, thu Ngân sách nhà nước chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ tiền tệ tập trung của Nhà nước. (Nhà xuất bản Kinh tế Quốc dân, Hà Nội., pp. Nguyễn Văn Phúc, 2016)

Mặc dù thông tin tìm kiếm không trực tiếp trích dẫn khái niệm chính xác của, nhưng các nghiên cứu thường thống nhất về bản chất kinh tế chính trị của thu Ngân sách nhà nước:

Thu Ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. (Tạp chí Quản lý nhà nước., pp. Nguyễn Minh Phong, 2018)

1.1.2. Đặc điểm thu ngân sách nhà nước Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Thu Ngân sách nhà nước không chỉ là nền tảng tài chính bảo đảm cho việc thực thi các chức năng thiết yếu của Nhà nước, là yếu tố tiền đề để duy trì. Việc tổ chức thu Ngân sách nhà nước luôn gắn liền với hệ thống pháp luật điều chỉnh các loại hình thu, nội dung thu và quy trình thực hiện. Mỗi khoản thu mới đều phải được Nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở triển khai, đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong huy động nguồn lực từ xã hội. Hệ thống các quy định này không chỉ tạo khung pháp lý vững chắc cho hoạt động thu ngân sách, mà còn có ý nghĩa kiểm soát, giới hạn quyền lực tài khóa của Nhà nước, tránh lạm quyền. Trong quá trình thực hiện thu Ngân sách nhà nước, chính Nhà nước cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực luật định, qua đó thể hiện tính pháp quyền, trách nhiệm và hiệu lực của bộ máy công quyền trong lĩnh vực tài chính công. (pp. Lê Thị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân, 2017)

Hoạt động thu ngân sách Nhà nước (NSNN) được tổ chức trên cơ sở hai cơ chế pháp lý đặc trưng: cưỡng chế và tự nguyện, trong đó hình thức cưỡng chế giữ vai trò chủ đạo. Cơ chế cưỡng chế thường được Nhà nước vận dụng để thu các nguồn thu mang tính chất nghĩa vụ pháp lý như thuế, phí và lệ phí, vốn là những khoản đóng góp bắt buộc từ phía tổ chức, cá nhân trong xã hội. Đây là cơ chế phản ánh quyền lực công của Nhà nước trong việc huy động nguồn lực tài chính phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.

Ngược lại, cơ chế tự nguyện được áp dụng trong các trường hợp Nhà nước cần khai thác thêm nguồn lực từ cộng đồng quốc tế và trong nước dưới hình thức viện trợ, hỗ trợ hoặc đóng góp thiện nguyện. Các khoản thu này không mang tính bắt buộc và phụ thuộc vào sự đồng thuận, thiện chí của các chủ thể tham gia.

1.1.3. Vai trò của thu ngân sách nhà nước

Để Nhà nước thực hiện đầy đủ vai trò lịch sử và chức năng quản lý vĩ mô, việc bảo đảm nguồn tài chính thông qua hệ thống thu ngân sách là điều kiện tiên quyết. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Để thực thi vai trò lịch sử và các chức năng quản lý vĩ mô một cách toàn diện, Nhà nước phải đảm bảo đầy đủ nguồn lực tài chính, mà điều kiện tiên quyết là một hệ thống thu ngân sách hiệu quả. Việc không ngừng hoàn thiện hệ thống này không chỉ củng cố năng lực quản trị công mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển ổn định, công bằng và bền vững của nền kinh tế quốc gia.

Hoạt động thu Ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng như một nguồn lực tài chính then chốt. Chức năng chính của nó là đảm bảo nguồn lực tài chính cần thiết và duy trì sự vận hành hiệu quả của bộ máy hành chính công. Bên cạnh chức năng tài chính, thu Ngân sách nhà nước còn đóng vai trò là phương tiện điều tiết kinh tế, hỗ trợ Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô trong từng giai đoạn phát triển, với mức độ can thiệp linh hoạt tùy theo bối cảnh lịch sử và kinh tế. Hệ thống thu Ngân sách nhà nước không chỉ là công cụ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công. Nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo một môi trường kinh doanh ổn định, qua đó thúc đẩy và hỗ trợ hiệu quả các hoạt động SXKD.

  • Theo Luật ngân sách nhà nước (2015), tổ chức thu Ngân sách nhà nước cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Việc tổ chức thu ngân sách Nhà nước (NSNN) được triển khai theo các quy định pháp lý và các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan. Đây là cơ sở pháp lý định hướng phương thức thu, đảm bảo tính chính xác, hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động tài chính. Theo quy định pháp luật, mọi chủ thể có liên quan, từ các cơ quan, tổ chức, đơn vị, và cá nhân trong nước cho đến các tổ chức và cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ quốc gia, đều có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và kịp thời các khoản phải nộp vào Ngân sách Nhà nước (NSNN). Các khoản thu này bao gồm thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính khác. Các khoản thu vào Ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống tài khoản chuyên dụng của Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại các ngân hàng thương mại, hoặc có thể được nộp trực tiếp tại các điểm giao dịch của Kho bạc Nhà nước theo đúng quy định về hình thức và thời gian. Trường hợp nộp chậm, không nộp, vi phạm quy định pháp luật về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, sẽ bị xử lý theo chế tài quy định hiện hành. Điều này thể hiện tính nghiêm minh và hiệu quả của hệ thống pháp luật tài chính trong việc đảm bảo kỷ luật ngân sách và công bằng xã hội Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Trong hệ thống quản lý tài chính công, việc tổ chức thu Ngân sách nhà nước phải tuân thủ đúng quy định hiện hành. Do đó, việc thu ngân sách nhà nước phải được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản vào các Ngân hàng thương mại hoặc trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước, đảm bảo tính tin cậy, minh bạch và kiểm soát được nguồn thu. Đối với những địa bàn có địa hình khó khăn hoặc không thể thu trực tiếp, cơ quan chủ quản có thể áp dụng hình thức thu tiền mặt từ các đơn vị nộp ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc ủy quyền cho các đơn vị trung gian thu hộ. Sau khi hoàn tất việc thu hộ, các đơn vị này có trách nhiệm nộp toàn bộ số tiền thu được vào tài khoản Kho bạc Nhà nước (KBNN) đầy đủ, đúng hạn theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, đối với hộ kinh doanh theo hợp đồng, việc thu tiền mặt phải tuân thủ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế để đảm bảo tính pháp lý và thống nhất trong thực hiện chính sách. Ngoài ra, các khoản hỗ trợ bằng tiền mặt không hoàn lại (trừ viện trợ nước ngoài trực tiếp cho các dự án cụ thể) cũng phải được xử lý kịp thời, đảm bảo nộp ngân sách nhà nước đúng thời hạn, góp phần tăng nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế – xã hội.

Toàn bộ các khoản thu ngân sách nhà nước được hạch toán bằng đồng tiền quốc gia – Đồng Việt Nam, được phân loại chi tiết theo năm tài chính, theo mục ngân sách theo quy định và tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Đối với các khoản thu phát sinh bằng ngoại tệ, quy trình hạch toán được thực hiện bằng cách quy đổi sang Đồng Việt Nam (VND) theo tỷ giá hạch toán tại thời điểm ghi nhận. Quy trình này đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và chính xác trong quản lý thu ngân sách, tạo cơ sở vững chắc cho việc kiểm soát và điều tiết nguồn lực tài chính, đáp ứng các yêu cầu chi tiêu của từng cấp ngân sách Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Theo quy định hiện hành, việc hoàn trả các khoản thu Ngân sách Nhà nước (NSNN) phải tuân thủ một quy trình cụ thể. Tất cả các thủ tục liên quan đến thu, nộp, miễn, giảm và hoàn trả các khoản thu Ngân sách nhà nước đều phải được thông báo và niêm yết công khai tại các cơ quan thu và Kho bạc Nhà nước (KBNN), đặc biệt tại những địa điểm giao dịch trực tiếp với người nộp thuế. Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân cũng như các tổ chức khi thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình.

Cơ quan được giao nhiệm vụ thu Ngân sách nhà nước: Tài chính, Thuế, Hải quan. Tuy nhiên, theo nguyên tắc quản lý, chỉ những cơ quan được giao hoặc ủy quyền chính thức mới có chức năng tổ chức thu Ngân sách nhà nước.

Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thu, cơ quan có thẩm quyền phân công trong thu Ngân sách nhà nước như:

Trong bối cảnh quản lý tài chính công, các cơ quan thu Ngân sách nhà nước được phân định theo từng trách nhiệm cụ thể.

Trong cơ chế quản lý ngân sách, các cơ quan chuyên trách về thu Ngân sách nhà nước có nghĩa vụ phối hợp chặt chẽ với hệ thống Kho bạc Nhà nước để triển khai việc thu và quản lý các khoản thu theo đúng quy định pháp luật. Đây là một quá trình mang tính liên ngành, đòi hỏi sự thống nhất về quy trình kỹ thuật, chế độ kế toán và kiểm tra nghiệp vụ nhằm đảm bảo hiệu quả quản trị nguồn thu. Ngoài chức năng tổ chức thu, các cơ quan thu Ngân sách Nhà nước (NSNN) còn phải thực hiện nhiệm vụ giám sát, kiểm tra định kỳ và tích cực thúc đẩy các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tài chính thực hiện đúng, đủ và kịp thời các khoản nộp vào Ngân sách nhà nước.

1.2. Phối hợp thu ngân sách nhà nước Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

1.2.1. Khái niệm

Dựa trên Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, Phối hợp thu Ngân sách nhà nước là một hoạt động liên ngành. Hoạt động này bao gồm sự tham gia của các cơ quan như Kho bạc Nhà nước (KBNN), cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và các Ngân hàng Thương mại (NHTM). Mục tiêu cốt lõi của sự phối hợp này là nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu Ngân sách nhà nước.

Nguyên tắc cốt lõi của quy trình này là tích hợp và TDDLĐT giữa các cơ quan, đơn vị liên quan. Mục đích là để đảm bảo tính đồng bộ và chính xác trong việc xác định nghĩa vụ nộp Ngân sách nhà nước của Người nộp thuế, đồng thời kiểm soát số thu thực tế.

Thông qua một hệ thống thông tin được kết nối đa chiều, các bên có thể cập nhật, kiểm tra và đối chiếu số liệu về nghĩa vụ tài chính và kết quả thực hiện. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất thu Ngân sách nhà nước mà còn giảm thiểu đáng kể các sai sót trong công tác kế toán – tài vụ.

1.2.2. Mục đích phối hợp thu ngân sách nhà nước

Mục tiêu chính của công tác Phối hợp thu Ngân sách nhà nước là đảm bảo việc tập trung nguồn thu vào ngân sách diễn ra một cách nhanh chóng và đầy đủ. Song song với đó, quá trình này còn đảm bảo cho các tổ chức và cá nhân khi thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với Nhà nước. Để đạt được mục tiêu đã đề ra, các cơ quan liên quan cần thực hiện nghiêm túc việc phân công, phân cấp trong công tác tổ chức thu. Cùng với đó là đẩy mạnh thanh toán và đối chiếu điện tử giữa hệ thống Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng thương mại. Việc hiện đại hóa quy trình thu, chi thông qua môi trường số sẽ góp phần cải cách TTHC, đồng thời giảm thiểu thất thoát nguồn thu Ngân sách nhà nước.

Bên cạnh đó, công tác phối hợp thu cần chú trọng các nội dung trọng yếu như: cải cách thủ tục hành chính nhằm hỗ trợ tốt hơn cho người nộp thuế; hiện đại hóa hệ thống Công nghệ thông tin giữa các đơn vị tham gia phối hợp thu. Chiến lược hiện đại hóa công tác thu Ngân sách nhà nước tập trung vào việc đa dạng hóa kênh thu bằng cách mở rộng sự tham gia của các ngân hàng thương mại (NHTM). Điều này nhằm mang lại nhiều lựa chọn và sự tiện lợi cho người nộp thuế, đồng thời thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt thông qua việc phát triển một hệ sinh thái thanh toán điện tử tích hợp. Một yếu tố cốt lõi là đảm bảo tính đồng bộ và toàn vẹn của dữ liệu thu Ngân sách nhà nước giữa các bên liên quan. Cuối cùng, việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phối hợp thu là bắt buộc để duy trì tính hiệu quả và minh bạch của hệ thống.

1.2.3. Trách nhiệm của cơ quan phối hợp thu ngân sách nhà nước Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

1.2.3.1 Trách nhiệm của cơ quan Thuế

Để tối ưu hóa quy trình phối hợp thu ngân sách nhà nước (NSNN), việc cập nhật đầy đủ và kịp thời danh mục dùng chung, hồ sơ người nộp thuế, và thông tin nghĩa vụ tài chính trên Cổng Thông tin điện tử của Tổng cục Thuế là một yêu cầu tiên quyết. Công tác này có ý nghĩa cốt lõi trong việc duy trì hệ thống dữ liệu thuế tập trung, từ đó phát huy hiệu quả quản lý và giám sát các hoạt động thu nộp.

Việc thiết lập thỏa thuận hợp tác giữa cơ quan thuế và các ngân hàng thương mại là một bước đi chiến lược, cần dựa trên nguyên tắc nghiệp vụ rõ ràng để tối ưu hóa quy trình phối hợp thu ngân sách nhà nước (NSNN). Ngân hàng thương mại và Kho bạc Nhà nước luôn nâng cao kỹ thuật và nghiệp vụ một cách thường xuyên.

Để khuyến khích giao dịch thuế điện tử, cơ quan thuế phải cung cấp tài khoản nộp thuế điện tử và hướng dẫn quy trình lập chứng từ nộp tiền cho người nộp thuế. Song song đó, việc cung cấp dữ liệu khoản thu chính xác là yếu tố then chốt giúp người nộp thuế xác định nghĩa vụ của mình. Cuối cùng, việc xác minh số tiền đã nộp cần được xử lý nhanh chóng, đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của hệ thống.

Để đảm bảo hiệu quả quản lý, về các khoản đã nộp từ Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng cần được tiếp nhận định kỳ. Công tác này phải đi kèm với việc rà soát và xử lý kịp thời các sai sót phát sinh trong quá trình đối chiếu số liệu giữa các bên. Việc kiểm tra sự khớp đúng số liệu là một yêu cầu bắt buộc trước khi thực hiện khóa sổ kế toán.

Để bảo vệ tính tuân thủ và hiệu lực của hệ thống thu ngân sách nhà nước (NSNN), việc thiết lập một cơ chế quản lý rủi ro là vô cùng cần thiết. Theo đó, nếu đối tác ngân hàng vi phạm các điều khoản trong thỏa thuận phối hợp thu (PHT) hoặc thực hiện các hành vi trái với quy định pháp luật, cơ quan thuế có thể áp dụng các hình thức xử lý thích hợp.

Các hình thức này có thể bao gồm đình chỉ hoặc chấm dứt hợp tác, nhằm mục đích răn đe và bảo vệ sự ổn định của hệ thống. Việc thực thi các chế tài này không chỉ nhằm duy trì tính kỷ luật trong quan hệ hợp tác mà còn chắc chắn rằng tất cả các bên tham gia đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, từ đó củng cố sự tin cậy và minh bạch của hệ thống tài chính công. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

1.2.3.2. Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước

Trong khuôn khổ hiện đại hóa công tác quản lý thu Ngân sách nhà nước, tăng cường liên kết phối hợp hiệu quả giữa Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế và các NH UNT đóng vai trò thiết yếu. Một trong những nhiệm vụ trọng yếu là cung cấp kịp thời danh sách NH UNT cho Tổng cục Thuế Đồng thời, cần cập nhật thông tin về các khoản thu không trùng mã cơ quan thu được Kho bạc Nhà nước hạch toán, nhằm đảm bảo tính chính xác cho công tác tổng hợp và thống kê.

Các khoản thu Ngân sách nhà nước cần được định hướng rõ ràng dựa trên dữ liệu từ cơ quan thuế. Dựa trên thông tin này, Kho bạc Nhà nước thực hiện ghi nhận một cách chính xác, đầy đủ và tuân thủ các quy định về kế toán. Quá trình này cần kiểm soát chặt chẽ các khoản thu và đối chiếu, xử lý kịp thời các sai sót, nhằm đảm bảo sự chính xác và tin cậy của hệ thống.

Để hạch toán và ghi nhận nghĩa vụ thuế một cách chính xác, cần đảm bảo cung cấp đầy đủ dữ liệu về các khoản thuế đã thu. Điều này bao gồm cả dữ liệu từ các khoản thu nội địa không do cơ quan thuế địa phương quản lý.

Việc này giúp các cơ quan cùng cấp có thể lập báo cáo thu ngân sách một cách đầy đủ và toàn diện ở cả cấp huyện và cấp tỉnh. Hơn nữa, công tác đối chiếu số liệu cần được thực hiện định kỳ, đặc biệt là trước khi khóa sổ kế toán ngân sách vào cuối mỗi tháng và cuối năm.

1.2.3.3. Trách nhiệm của Ngân hàng ủy nhiệm thu, Ngân hàng Phối hợp thu

Sự hợp tác giữa Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại trong việc phối hợp thu Ngân sách nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đã được ký kết, nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn cho toàn bộ hệ thống. Đồng thời, cần đảm bảo tính ổn định trong việc trao đổi nghiệp vụ và kỹ thuật giữa các bên.

Việc hướng dẫn Người nộp thuế kê khai thông tin trên Bảng kê nộp tiền là nhiệm vụ của cơ quan thuế. Công tác này bao gồm cả cung cấp chứng từ nộp thuế gốc, phục hồi hoặc bản sao khi có yêu cầu hợp pháp từ Người nộp thuế. Điều này đảm bảo rằng các chứng từ đều có chữ ký xác thực của người lập và người duyệt.

Việc chuyển tiền Ngân sách nhà nước vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước tại NH phải được cập nhật đầy đủ, chính xác và kịp thời. Trong trường hợp NH chuyển thiếu hoặc chậm khoản thuế đã thu, ngân hàng có nghĩa vụ phải bổ sung phần còn thiếu và chịu trách nhiệm thanh toán khoản phạt chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Việc tra soát và xử lý sai sót trong nộp Ngân sách nhà nước cần phối hợp chặt chẽ giữa Kho bạc Nhà nước, cơ quan thuế, NH và người nộp thuế. Quy trình này phải tuân thủ đúng yêu cầu nghiệp vụ, nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu lực của hệ thống thu ngân sách. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

1.2.3.4. Trách nhiệm của Ngân hàng chưa Phối hợp thu

Trong bối cảnh hoàn thiện hạ tầng tài chính số quốc gia, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCƯDVTT) đóng vai trò then chốt. Cụ thể, họ không chỉ hỗ trợ Người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế một cách thuận lợi.

Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCƯDVTT) có trách nhiệm cấp đầy đủ chứng từ xác nhận nộp thuế cho người nộp thuế (NNT) sau mỗi giao dịch. Hoạt động này đảm bảo đầy đủ quyền lợi hành chính và pháp lý của Người nộp thuế trong công tác kê khai thuế.

Các giao dịch thanh toán cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc chính xác, an toàn và kịp thời theo thỏa thuận với khách hàng và các quy định hiện hành. Đồng thời, họ cần phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng liên quan và Kho bạc Nhà nước (KBNN) nhằm thu hồi kịp thời các khoản tiền chuyển nhầm, thừa, qua đó ngăn chặn thất thoát ngân sách. Nếu lỗi phát sinh từ phía tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCƯDVTT), họ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCƯDVTT) cần phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan như Người nộp thuế và NH được UNT để tra soát và xử lý các sai sót nghiệp vụ liên quan đến thông tin nộp thuế. Việc này nhằm đảm bảo tính nhất quán, minh bạch và hiệu quả của toàn hệ thống thanh toán.

1.2.3.5. Trách nhiệm của người nộp thuế

Việc thực hiện nghĩa vụ thu nộp Ngân sách nhà nước đòi hỏi những yêu cầu cao hơn đối với cả người nộp thuế và cơ quan quản lý, đặc biệt trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực tài chính công.

Người nộp thuế (NNT) phải nộp đầy đủ và đúng hạn các khoản thuế theo quy định. Ở những nơi đã có dịch vụ nộp thuế điện tử, Người nộp thuế cần chủ động đăng ký và sử dụng dịch vụ này qua ngân hàng hoặc Cổng Thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để đảm bảo giao dịch nhanh chóng và minh bạch. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Đối với các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác được nộp qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, các cơ quan và đơn vị liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin kê khai trên bảng kê thu phí một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác. Đồng thời, họ phải chịu trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu và xử lý các sai sót phát sinh trong quá trình nộp tiền vào Ngân sách nhà nước.

Việc cập nhật thông tin các khoản nộp Ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua tài khoản giao dịch thuế điện tử hoặc thư điện tử, giúp người nộp thuế chủ động kiểm tra tình trạng nghĩa vụ tài chính của mình. Trong công tác quản lý, các cơ quan chức năng cần đảm bảo chức năng trao đổi dữ liệu thu-nộp qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Điều này bao gồm khả năng tích hợp phần mềm quản lý phí, lệ phí và kết nối kỹ thuật với Cổng TTĐT Hải quan. Mục tiêu là để đảm bảo dòng dữ liệu xuyên suốt, chuẩn hóa và chính xác, từ đó nâng cao hiệu quả và minh bạch của hệ thống.

Để đạt được hiệu quả quản lý tài chính công và hiện đại hóa công tác thu nộp, tất cả các bên liên quan cần tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc, quy trình và trách nhiệm đã được thống nhất trong nghiệp vụ phối hợp thu Ngân sách nhà nước. Điều này không chỉ giúp tăng cường sự tin cậy từ phía người dân và doanh nghiệp mà còn đảm bảo tính chính xác và hiệu lực của hệ thống.

1.2.4. Nội dung trong phối hợp thu ngân sách nhà nước

Công tác Phối hợp thu Ngân sách nhà nước giữa các cơ quan thu được thể hiện thông qua nội dung công việc cụ thể như sau:

1.2.4.1. Phối hợp trong tổ chức thu ngân sách nhà nước

Quy trình thu nộp thuế tại quầy giao dịch của NH Phối hợp thu, NH UNT, Kho bạc Nhà nước Người nộp thuế lập một liên Bảng kê nộp tiền theo hướng dẫn của ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước khi nộp tiền mặt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước. Trong trường hợp nộp thuế theo quyết định hoặc thông báo của cơ quan thuế, Người nộp thuế có thể dùng trực tiếp bản quyết định hoặc thông báo đó thay cho Bảng kê nộp tiền.

Dựa theo Bảng kê nộp tiền do Người nộp thuế lập hoặc quyết định, thông báo của cơ quan thuế, các cơ quan liên quan sẽ nhập MST để truy xuất dữ liệu về Người nộp thuế và khoản thuế. Việc này được thực hiện thông qua chương trình thu thuế trên ứng dụng của Tổng cục Thuế (TCT). Trong trường hợp thông tin về tên hoặc mã số thuế của người nộp thuế (NNT) có sự sai khác, ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước sẽ yêu cầu Người nộp thuế kê khai lại để đảm bảo sự khớp đúng với dữ liệu hiện có. Trong trường hợp tra cứu trên các ứng dụng nộp thuế của Tổng cục Thuế không tìm thấy thông tin của người nộp thuế, NH hoặc Kho bạc Nhà nước sẽ sử dụng MST tạm “0106680443”. Đồng thời, sẽ ghi MST do Người nộp thuế kê khai vào cuối phần tên của Người nộp thuế để phục vụ cho công tác kiểm soát. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Nếu không khớp về thông tin địa chỉ, ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước sẽ ghi nhận theo thông tin mà Người nộp thuế đã kê khai. Đồng thời, họ sẽ hướng dẫn Người nộp thuế thông báo địa chỉ mới với cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Trong trường hợp sai khác các thông tin quan trọng khác, NH hoặc Kho bạc Nhà nước cũng sẽ ghi nhận theo thông tin do Người nộp thuế cung cấp. Việc này giúp đảm bảo rằng giao dịch được thực hiện dựa trên ý định ban đầu của Người nộp thuế.

Để đảm bảo tính chính xác của các khoản nộp Ngân sách nhà nước, ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước sẽ đối chiếu tên khoản nộp trong Bảng kê nộp tiền với danh mục tên và Mục lục ngân sách. Nếu phát hiện sự sai khác thông tin và không thể kết hợp khoản nộp với mã tiểu mục của Mục lục ngân sách, NH hoặc Kho bạc Nhà nước sẽ yêu cầu người nộp thuế xác nhận. NH hoặc Kho bạc Nhà nước sẽ đối chiếu số dư tài khoản trích tiền thuế hoặc số tiền mặt nộp trực tiếp.

  • Quy trình thu nộp thuế tại quầy giao dịch của NH chưa Phối hợp thu

Người nộp thuế (NNT) có trách nhiệm lập chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước (NSNN) theo đúng mẫu của ngân hàng. Chứng từ này cần ghi đầy đủ các thông tin sau:

  • Thông tin của Người nộp thuế: Tên và mã số thuế.
  • Thông tin về Kho bạc Nhà nước: Tên Kho bạc Nhà nước, tên TKT, và tên NH UNT nhận khoản thu.
  • Thông tin chi tiết về khoản nộp: Nội dung cụ thể của các khoản thu nộp vào NSNN.

Ngoài ra, Người nộp thuế có thể lựa chọn hình thức nộp tiền bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản tùy theo nhu cầu.

1.2.4.2. Phối hợp trao đổi thông tin thu Ngân sách nhà nước giữa cơ quan phối hợp thu

  • Trao đổi Danh mục dung chung Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Cơ quan Kho bạc Nhà nước, Thuế cấp tỉnh lấy dữ liệu Danh mục dung chung từ hệ thống nghiệp vụ của mình qua Trung tâm trao đổi dữ liệu thu Ngân sách nhà nước đồng thời truyền toàn bộ hệ thống Danh mục dung chung cho các đơn vị trực thuộc.

Các Ngân hàng thương mại Phối hợp thu nhận Danh mục dung chung từ Cổng Thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để cập nhật vào hệ thống của Ngân hàng thương mại.

Danh mục dùng chung được đưa lên Trung tâm trao đổi dữ liệu thu Ngân sách nhà nước.

  • Trao đổi danh mục Người nộp thuế

Thuế là đơn vị tổng hợp danh sách Người nộp thuế, Kho bạc Nhà nước tỉnh và Tổng cục Thuế sẽ lấy dữ liệu Người nộp thuế từ Trung tâm trao đổi dữ liệu thu Ngân sách nhà nước để tích hợp vào hệ thống của mình và truyền dữ liệu cho các đơn vị. Đồng thời, các Ngân hàng thương mại phối hợp thu cũng nhận danh mục Người nộp thuế từ dữ liệu của Tổng cục Thuế và Tổng Cục Hải quan để cập nhật vào hệ thống nội bộ.

  • Trao đổi các khoản phải thu Ngân sách nhà nước

Để đảm bảo luân chuyển thông tin thu ngân sách nhà nước (NSNN) một cách hiệu quả, các cơ quan thực hiện nhiệm vụ sau:

KBNN cấp tỉnh: Nhận dữ liệu thu Ngân sách nhà nước từ Trung tâm trao đổi dữ liệu thu Ngân sách nhà nước và sau đó chuyển tiếp cho các đơn vị trực thuộc.

NHTM: Cập nhật dữ liệu thông tin thu Ngân sách nhà nước từ hệ thống dữ liệu thu để xử lý CQT: Tổng hợp và truyền dữ liệu thu Ngân sách nhà nước lên Trung tâm trao đổi dữ liệu thu Ngân sách nhà nước. Tổng cục Thuế cũng cập nhật thông tin này trên Cổng Thông tin điện tử của mình để gửi đến các Ngân hàng thương mại tham gia Phối hợp thu.

  • Trao đổi số đã thu ngân sách nhà nước NHTM Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Cuối mỗi ngày làm việc, chi nhánh Ngân hàng thương mại sẽ tổng hợp dữ liệu thu Ngân sách nhà nước và chuyển về hệ thống xử lý tập trung của ngân hàng mình. Sau đó, Ngân hàng thương mại cấp trung ương sẽ tổng hợp toàn bộ dữ liệu này và chuyển ngay sang Kho bạc Nhà nước.

  • Kho bạc Nhà nước

Sau khi Kế toán trưởng Kho bạc Nhà nước ký duyệt các chứng từ thu nộp trực tiếp tại Kho bạc, thông tin về các khoản thu ngân sách nhà nước sẽ được truyền sang Tổng cục Thuế và Tổng Cục Hải quan trong ngày.

Dữ liệu này được truyền qua một đường kết nối trực tiếp dưới dạng Bảng kê nộp tiền theo mẫu quy định, giúp các cơ quan quản lý cập nhật thông tin kịp thời và chính xác.

  • Cơ quan Thuế

TCT nhận dữ liệu thu Ngân sách nhà nước và cập nhật vào hệ thống. Sau đó, Cục Thuế tiếp nhận dữ liệu từ hệ thống liên thông cấp trung ương, phân tách và gửi đến từng Chi cục Thuế trực thuộc. Cuối cùng, Chi cục Thuế tiếp nhận dữ liệu này vào hệ thống nội bộ của mình.

1.2.5. Phối hợp trong khâu đối chiếu, kiểm tra và quyết toán thu ngân sách nhà nước cuối ngày Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

1.2.5.1 Đối chiếu giữa Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng thương mại

Sau thời điểm “COT” (thời điểm chốt giao dịch), Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản phải đối chiếu toàn bộ thông tin và số liệu thu Ngân sách nhà nước.

Mục đích của việc này là để đảm bảo thông tin được hạch toán đầy đủ của các giao dịch thu Ngân sách nhà nước trước khi chuyển sang các bước xử lý tiếp theo.

  • Nguyên tắc đối chiếu:

Các cơ quan Phối hợp thu cần hạch toán chính xác và chi tiết trong việc đối chiếu dữ liệu thu Ngân sách nhà nước.

Đối chiếu hàng ngày: Ngân hàng thương mại và Kho bạc Nhà nước phải đối chiếu dữ liệu theo từng giao dịch để đảm bảo mọi thông tin đều chính xác.

Đối chiếu định kỳ: Vào cuối tháng và cuối năm, các bên cần thực hiện đối chiếu đúng số liệu thu Ngân sách nhà nước trong kỳ.

Đối với các khoản thu ủy nhiệm bằng biên lai: Nếu Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu phí, lệ phí hoặc phạt vi phạm hành chính cho ngân hàng, số liệu cần khớp đúng từng khoản, số tiền và số món. Hàng tháng, các bên cần xác nhận số liệu chi tiết theo từng cơ quan ra quyết định xử phạt.

Việc đối chiếu số dư tài khoản của Kho bạc Nhà nước tại Ngân hàng thương mại phải tuân thủ quy định của NHNN và chính Ngân hàng thương mại đó. Vào cuối tháng và cuối năm, số dư tài khoản sau khi đối chiếu cần được hai bên xác nhận, ký tên và đóng dấu đầy đủ để đảm bảo tính pháp lý của chứng từ. Đối chiếu giữa Kho bạc Nhà nước với ngân hàng thương mại

KBNN không tiến hành đối chiếu số thu Ngân sách nhà nước với các Ngân hàng thương mại mà tại đó Kho bạc Nhà nước không có tài khoản giao dịch.

1.2.5.2. Đối chiếu số liệu, xử lý sau đối chiếu, tra soát và điều chỉnh thông tin thu ngân sách nhà nước

Quan hệ giữa Kho bạc Nhà nước (KBNN) và cơ quan Thuế được điều chỉnh bởi quy định của Bộ Tài chính về thủ tục nộp ngân sách nhà nước đối với các khoản thuế và thu nội địa. Đối với các cơ quan thu khác, Kho bạc Nhà nước áp dụng quy trình đối chiếu số liệu theo quy định hiện hành để đảm bảo:

Tính chính xác trong việc ghi nhận số thu ngân sách TLPC đúng cho từng cấp ngân sách theo từng CQQLT.

1.2.5.3. Quyết toán cuối ngày giữa Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại

Việc quyết toán tập trung toàn quốc các khoản thu của các đơn vị Kho bạc Nhà nước được thực hiện qua tài khoản thanh toán của Kho bạc Nhà nước tại ngân hàng theo đúng quy định về TTĐTLNH, TTSP và Phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Quy trình nghiệp vụ TTSP giữa Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại được triển khai nhằm đảm bảo quyết toán và đối chiếu cuối ngày hiệu quả. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

1.2.5.4. Kiểm tra, đối chiếu số liệu chi tiết cuối ngày

Sau khi TTV hoàn thành các lệnh quyết toán cuối ngày; Kế toán trưởng phê duyệt LTT, TTV sẽ chuyển dữ liệu từ hệ thống TTSP sang hệ thống Tabmis. Quá trình này được thực hiện thông qua chương trình “Tabmis AP giao diện TTSP điện tử GL (TTSP) – đầu vào”.

Trong trường hợp hệ thống lỗi dẫn đến quyết toán trong ngày không hoàn thành, số phát sinh thu trên các tài khoản thanh toán và chuyên thu sẽ không được chuyển về tài khoản tổng hợp của Cục Kế toán Nhà nước tại Ngân hàng thương mại Trung ương. Thay vào đó, những số liệu này sẽ được cộng hoặc trừ trực tiếp vào số dư cuối ngày của các tài khoản đó theo các quy định hiện hành.

1.3. Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách nhà nước

1.3.1. Nhận diện rủi ro trong tổ chức thu ngân sách nhà nước

Các rủi ro trong quá trình hạch toán và quản lý thu ngân sách nhà nước (NSNN) chủ yếu phát sinh ở ba khía cạnh sau:

Rủi ro trong phân chia nguồn thu Ngân sách nhà nước theo phân cấp: Đây là loại rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện thu Ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành, có thể xảy ra tại các khâu: người nộp, ngân hàng thương mại (NHTM), hoặc Kho bạc Nhà nước (KBNN). Các lỗi phổ biến gồm: ghi sai tài khoản, sai mã địa bàn, sai cơ quan thu, thông tin người nộp chưa chính xác hoặc sai số quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Rủi ro phát sinh quá trình chuyển dữ liệu, xử lý giao dịch hoặc thực hiện các thao tác kỹ thuật trên hệ thống công nghệ thông tin giữa Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Những sai sót kỹ thuật như truyền dữ liệu không đầy đủ, lỗi kết nối hoặc chậm trễ xác nhận giao dịch đều có thể làm tăng rủi ro cho quá trình Phối hợp thu NS, gây khó khăn cho việc đảm bảo tính đồng bộ và minh bạch của số liệu tài chính. Để giảm thiểu rủi ro, các đơn vị cần thiết lập quy trình kiểm tra chéo, thường xuyên đào tạo nâng cao năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, cũng như đầu tư hiện đại hóa hạ tầng công nghệ, giúp nâng cao hiệu suất và độ chính xác trong phối hợp thu.

Các sai sót này không gây thất thoát tổng quỹ ngân sách nhà nước, tuy nhiên có thể tác động đến tính chính xác trong phân bổ và ghi nhận nguồn thu theo từng cấp ngân sách.

Rủi ro đối chiếu số liệu thu Ngân sách nhà nước xuất hiện khi kiểm tra định kỳ giữa Kho bạc Nhà nước và các cơ quan thu, thường theo tháng hoặc năm. Bước này giúp đảm bảo số liệu khớp đúng, hạn chế sai lệch và cần thực hiện chính xác.

Rủi ro trong quá trình bố trí cán bộ thu Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng thương mại bao gồm việc chưa đảm bảo năng lực chuyên môn của Giao dịch viên thực hiện thu Ngân sách nhà nước, điều này có thể dẫn đến xảy ra sai sót nghiệp vụ hoặc làm chậm quá trình phát hiện, xử lý lỗi phát sinh. Yếu tố con người có tác động đến chất lượng và hiệu quả trong nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước.

1.3.2. Rủi ro trong trao đổi thông tin thu ngân sách nhà nước Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Rủi ro liên quan đến quá trình cập nhật thông tin Người nộp thuế phát sinh trong quá trình truyền đạt và sử dụng thông tin danh mục điện tử giữa các bên tham gia quy trình thu ngân sách nhà nước. Các danh mục này bao gồm địa chỉ, thông tin về người nộp thuế, khoản phải thu cũng như khoản đã thu. Sự cố từ các hệ thống ứng dụng tại Ngân hàng thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước như truyền dữ liệu thiếu, thừa, chậm hoặc lỗi đầu vào có thể làm sai lệch số liệu. Không tuân thủ quy định pháp luật khi xử lý thông tin gây rủi ro cho cá nhân và ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng thương mại được ủy nhiệm thu, Kho bạc Nhà nước, CQQLT và người nộp ngân sách.

Rủi ro trong đối chiếu, kiểm tra và quyết toán thu Ngân sách nhà nước cuối ngày là nguy cơ xuất hiện sai lệch số liệu hoặc chưa quyết toán kịp đến cuối ngày giữa Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại, dẫn tới phải xử lý vào ngày khác. Sai lệch có thể phát sinh khi đối chiếu dữ liệu thu giữa TABMIS và TCS-TT, hoặc khi kiểm tra số dư tài khoản Kho bạc Nhà nước tại Ngân hàng thương mại. Những rủi ro này có thể gây chậm hạch toán hoặc tạm thời thất thoát nguồn thu Ngân sách nhà nước.

1.3.3. Một số biện pháp quản lý rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước

Để nâng cao chất lượng Phối hợp thu, cần có lãnh đạo Kho bạc Nhà nước các cấp giám sát độc lập. Việc giám sát có thể được thực hiện thông qua hình thức trực tuyến hoặc kiểm tra tại chỗ bởi các đơn vị chuyên môn. Giám sát từ xa giúp đơn vị Phối hợp thu nắm bắt rủi ro và đưa ra cảnh báo phù hợp. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Báo cáo rủi ro giúp hệ thống Kho bạc Nhà nước theo dõi vận hành phối Phối hợp thu trên từng địa bàn và toàn hệ thống, thông qua phân tích các dữ liệu thu thập được. Báo cáo nên tổng hợp từ các cơ quan ngoài hệ thống và từ Kho bạc Nhà nước cấp dưới lên cấp trên. Đề xuất giao bộ phận KTNN làm đầu mối tổng hợp.

So sánh giữa nhận diện rủi ro trong tổ chức thu ngân sách nhà nước (NSNN) và rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước cho thấy hai lĩnh vực này có những điểm khác biệt đáng kể về bản chất, phạm vi và phương thức kiểm soát rủi ro.

Nhận diện rủi ro trong tổ chức thu Ngân sách nhà nước: Tập trung vào các nguy cơ phát sinh ngay trong nội bộ quy trình thu Ngân sách nhà nước tại từng đơn vị, như sai sót về ghi nhận số liệu, nhầm lẫn về tài khoản, mã địa bàn, thông tin người nộp, hoặc lỗi trong quá trình chuyển dữ liệu, xử lý nghiệp vụ trên hệ thống. Các rủi ro này chủ yếu liên quan đến sự thiếu chính xác, chậm trễ, hoặc sai lệch trong các thao tác kỹ thuật và quy trình nghiệp vụ tại Kho bạc Nhà nước (KBNN) hoặc ngân hàng thương mại (NHTM). Việc kiểm soát thường được thực hiện thông qua các quy trình kiểm tra chéo, giám sát nội bộ, và đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thực hiện thu Ngân sách nhà nước.

Nhận diện rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước: Liên quan đến các nguy cơ phát sinh trong quá trình hợp tác, phối hợp giữa nhiều đơn vị, cơ quan như Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, cơ quan thuế, hải quan, công an… Rủi ro ở đây thường xuất hiện khi trao đổi, đối chiếu thông tin, chuyển giao dữ liệu, hoặc quyết toán cuối ngày giữa các bên. Các sai lệch có thể xảy ra do sự không đồng bộ về hệ thống công nghệ, quy trình phối hợp chưa chặt chẽ, hoặc thiếu minh bạch trong truyền đạt thông tin. Việc kiểm soát rủi ro phối hợp thu đòi hỏi phải có sự giám sát độc lập từ lãnh đạo các cấp Kho bạc Nhà nước, báo cáo rủi ro tổng hợp từ nhiều nguồn, cũng như tăng cường trao đổi thông tin giữa các đơn vị tham gia.

Như vậy, rủi ro trong tổ chức thu Ngân sách nhà nước chủ yếu mang tính nội bộ, tập trung vào yếu tố kỹ thuật, nghiệp vụ và con người tại từng đơn vị, trong khi rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước lại nhấn mạnh đến sự liên kết, phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các bên, dễ phát sinh do thiếu đồng bộ hoặc sai lệch trong giao tiếp. Để nâng cao chất lượng phối hợp thu, cần có sự giám sát độc lập, áp dụng hình thức giám sát trực tuyến hoặc kiểm tra tại chỗ, đồng thời tổng hợp báo cáo rủi ro từ nhiều cấp và đơn vị để kịp thời cảnh báo, xử lý khi có vấn đề phát sinh.

1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác Quản lý rủi ro trong Phối hợp thu Ngân sách nhà nước Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

1.4.1. Quy trình Phối hợp thu ngân sách nhà nước

Quy trình phối hợp thu (PHT) Ngân sách nhà nước là một văn bản pháp lý quy định rõ ràng về trách nhiệm cũng như trình tự thực hiện giữa các cơ quan liên quan tham gia vào quá trình này. Quy trình này là hàng rào pháp lý để thực hiện và đánh giá trách nhiệm khi xảy ra rủi ro. Quy trình gồm các bước logic, liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị.

Việc xây dựng và triển khai một quy trình Phối hợp thu đồng bộ, thống nhất sẽ giúp công chức hiểu rõ nhiệm vụ, vai trò của bản thân cũng như mối liên hệ giữa các khâu trong chuỗi nghiệp vụ, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ thu Ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu quy trình thiếu tính chặt chẽ sẽ dễ phát sinh sai sót, gây rủi ro và làm giảm chất lượng công tác thu, thậm chí dẫn đến thất thoát nguồn thu ngân sách.

1.4.2. Chất lượng công chức tham gia phối hợp thu ngân sách nhà nước

Hiệu quả phối hợp thu ngân sách tại Kho bạc Nhà nước phụ thuộc vào năng lực và chuyên môn của công chức.

Lãnh đạo kế toán ngân sách tại Kho bạc Nhà nước quyết định hiệu quả tổ chức và kiểm soát chất lượng Phối hợp thu. Chiến lược yếu làm giảm thu Ngân sách nhà nước.

Năng lực chuyên môn của công chức kế toán Kho bạc Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác và kịp thời khi thu ngân sách. Công chức giỏi giúp hạn chế sai sót và tuân thủ quy trình; ngược lại, năng lực kém làm giảm chất lượng thu.

Chất lượng công chức tại cơ quan thu, ngân hàng thương mại cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình Phối hợp thu. Do sự liên kết giữa các khâu, một mắt xích chưa đạt hiệu quả có thể ảnh hưởng đến tổng thể quy trình.Vì vậy, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ công chức các cơ quan liên quan có mối quan hệ thuận chiều với chất lượng công tác Phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

1.4.3. Trang thiết bị Công nghệ thông tin Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

CNTT giúp tự động hóa quy trình, giảm thiểu sai sót do con người, và rút ngắn thời gian xử lý giao dịch. Thay vì sử dụng các phương thức thủ công, dữ liệu thu nộp được truyền và nhận một cách nhanh chóng, chính xác giữa các bên liên quan như Kho bạc Nhà nước, CQT và NH. Nhờ đó, việc đối chiếu số liệu trở nên dễ dàng và kịp thời hơn, đảm bảo tính minh bạch và chính xác của toàn bộ hệ thống thu ngân sách. Việc các cơ quan tham gia Phối hợp thu sử dụng hệ thống phần mềm hiện đại, có khả năng tích hợp và kết nối dữ liệu hiệu quả giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý thông tin, đảm bảo tính kịp thời và chính xác, từ đó giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện nghiệp vụ.

Ứng dụng Công nghệ thông tin còn hỗ trợ tích cực trong công tác quản lý rủi ro thu Ngân sách nhà nước, thông qua việc phân tích dữ liệu định kỳ và lưu trữ dài hạn, giúp người sử dụng nhanh chóng nhận diện, cảnh báo và xử lý các dấu hiệu rủi ro trước khi chúng phát sinh. Tuy nhiên, nếu hệ thống Công nghệ thông tin được trang bị không đồng bộ, thiếu tính tương thích và khả năng kết nối kém giữa các đơn vị, sẽ làm chậm trễ việc xử lý dữ liệu thu, ảnh hưởng đến chất lượng và độ tin cậy trong công tác Phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Trong thời gian qua, Kho bạc Nhà nước đã tích cực đầu tư, phát triển hạ tầng công nghệ và ứng dụng Công nghệ thông tin hiện đại, đồng thời nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CBCC. Những nỗ lực này đã góp phần nâng cao rõ rệt hiệu quả quản lý và tổ chức thực hiện Phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Sự phối hợp của các cơ quan tham gia phối hợp thu ngân sách nhà nước Để công tác quản lý rủi ro (QLRR) trong thu Ngân sách nhà nước đạt hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan như ngân hàng ủy nhiệm thu, cơ quan tài chính và đặc biệt là cơ quan thuế, nhất là trong việc đối chiếu và xác nhận số liệu. Việc chia sẻ thông tin kịp thời giữa các bên sẽ giúp giảm thiểu chi phí, thời gian và công sức xử lý sai sót phát sinh.

Bên cạnh đó, Quản lý rủi ro trong thu Ngân sách nhà nước chỉ có thể triển khai hiệu quả khi được thực hiện trên cơ sở hệ thống văn bản pháp lý rõ ràng, đồng bộ, đánh giá và phân loại rủi ro. Việc này giúp lựa chọn biện pháp phòng ngừa phù hợp, từ đó hạn chế thiệt hại và nâng cao hiệu quả công tác thu. Đặc biệt, cần có chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi gây rủi ro do lỗi chủ quan của công chức, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và thúc đẩy việc tuân thủ quy trình kỹ thuật Quản lý rủi ro.

Công tác hạch toán thu ngân sách nhà nước (NSNN) qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) đòi hỏi các chứng từ phải đầy đủ và chính xác các thông tin quan trọng. Các thông tin này được chia thành hai nhóm chính:

Thông tin về người nộp thuế (NNT): Bao gồm tên, mã số thuế, địa chỉ, mã chương và cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Thông tin về nghĩa vụ nộp Ngân sách nhà nước: Chi tiết tên khoản thu, số tiền, quyết định hoặc thông báo, kỳ thuế, mã hoặc tên tài khoản, tiểu mục, cũng như tên CQT và Kho bạc Nhà nước có liên quan.

Tuy nhiên, nếu dữ liệu do người nộp hoặc ngân hàng cung cấp không đầy đủ hoặc thiếu chính xác, sẽ tiềm ẩn nguy cơ sai sót trong hạch toán. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Thanh tra, kiểm tra là công cụ quan trọng trong Quản lý rủi ro, phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong quá trình thu và Phối hợp thu Ngân sách nhà nước là rất quan trọng. Điều này giúp đảm bảo sự minh bạch, chính xác và hiệu quả của hệ thống, đồng thời tăng cường kỷ luật và ngăn chặn thất thoát trên toàn địa bàn. Khi được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc, hoạt động này không chỉ hỗ trợ Kho bạc Nhà nước và các cơ quan liên quan phát hiện rủi ro, mà còn góp phần nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ Phối hợp thu Ngân sách nhà nước. Ngược lại, sự lơ là trong công tác này dễ tạo tâm lý chủ quan, làm tăng khả năng xảy ra sai sót và rủi ro trong hệ thống.

1.5. Một số nghiên cứu trước

1.5.1. Sơ lược một số nghiên trước

Trong bối cảnh ngày càng đẩy mạnh CCHC và hiện đại hóa hoạt động tài chính công, vấn đề quản lý rủi ro trong thu Ngân sách nhà nước thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước đã trở thành một chủ đề nghiên cứu nhận được sự quan tâm đáng kể từ nhiều tác giả. Trong số các công trình tiêu biểu, có thể kể đến hai nghiên cứu nổi bật

Nghiên cứu thứ nhất“Quản lý rủi ro thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Bến Tre” nghiên cứu tại Bến Tre phản ánh các rủi ro hiện có trong tổ chức thu Ngân sách nhà nước tại địa phương quy mô trung bình và công nghệ còn hạn chế. Tác giả xác định ba nhóm rủi ro chính: rủi ro thông tin (sai lệch dữ liệu, nhập sai), rủi ro quy trình nghiệp vụ (xử lý chậm, thiếu kiểm soát, nhầm định khoản) và rủi ro hệ thống (hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, phần mềm lỗi, kết nối kém). Tác giả đề xuất các giải pháp: nâng cao chất lượng nhân sự, hoàn thiện quy trình nội bộ, tăng hiệu quả phối hợp giữa cơ quan chức năng và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giám sát, cảnh báo rủi ro. (pp. Kho bạc Nhà nước Bến Tre, 2022)

Nghiên cứu thứ hai: Một số giải pháp quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, nghiên cứu nhằm tập trung kiểm soát rủi ro khi phối hợp giữa Kho bạc Nhà nước và các cơ quan như thuế, hải quan, công an, ngân hàng thương mại trong quá trình tổ chức thu Ngân sách nhà nước. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự phối hợp này ngày càng được nâng cao nhờ ứng dụng các nghiệp vụ chuyên môn hiện đại như thu qua tài khoản chuyên thu, thanh toán không dùng tiền mặt, triển khai dịch vụ công trực tuyến và số hóa toàn diện hồ sơ kế toán – thanh toán. Bên cạnh đó, việc chuyển hình thức kiểm soát từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” có mục đích rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và tăng sự chủ động cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Chuyển đổi số giúp giảm sai sót thủ công, tăng minh bạch thu nộp ngân sách tài chính. (pp. Th.s Bùi Nhật Toàn & Phạm Hoàng Diệu, 2023)

1.5.2. Hạn chế của các nghiên cứu Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

Mặc dù cả hai nghiên cứu nêu trên đều góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng RR trong hoạt động thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tại hai địa phương điển hình với quy mô và điều kiện khác biệt, song vẫn tồn đọng một số điểm hạn chế và khoảng trống học thuật nhất định cần được nhận diện để làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo.

Trước hết, về mặt phương pháp, cả hai nghiên cứu đều chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính, dựa trên quan sát thực tiễn, kinh nghiệm quản lý và tổng hợp tài liệu nội bộ, trong khi lại thiếu các phân tích định lượng mang tính hệ thống để đo lường mức độ rủi ro, xác định xác suất xảy ra sai sót hay thiệt hại tài chính thực tế. Việc thiếu vắng các mô hình phân tích định lượng không chỉ làm giảm hiệu quả nghiên cứu, mà còn khiến cho việc đánh giá hiệu năng của các giải pháp đề xuất gặp nhiều khuyết điểm khi áp dụng vào thực tế quản lý tại các địa phương khác nhau.

Thứ hai, dù các giải pháp được đề xuất đều mang tính hợp lý, nhưng nhìn chung vẫn còn dừng lại ở cấp độ nguyên tắc hoặc định hướng, thiếu mô hình vận hành cụ thể, chưa có kế hoạch thực thi chi tiết, và đặc biệt là chưa có dữ liệu đánh giá hiệu quả sau triển khai. Ngoài ra, một số đề xuất như áp dụng ứng dụng công nghệ hay chuyển đổi số mới chỉ được tiếp cận dưới góc nhìn tổng thể, chưa phân tích đầy đủ các rủi ro mới phát sinh từ chính quá trình số hóa như rủi ro về ATTT, lộ lọt dữ liệu cá nhân, nguy cơ bị tấn công mạng, hay sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống công nghệ trung gian.

Thứ ba, cả hai công trình đều tập trung chủ yếu vào khâu tổ chức thu Ngân sách nhà nước, trong khi chưa có sự phân tích đầy đủ về các rủi ro tiềm ẩn trong quá trình phối hợp chi Ngân sách nhà nước – đặc biệt là những khoản chi có quy mô lớn, nhiều thủ tục phức tạp như chi ĐTXDCB, chi từ nguồn vốn ODA hoặc các khoản chi được quản lý qua hình thức khoán chi, ủy quyền. Việc bỏ ngỏ yếu tố “chi” – là một phần không thể thiếu trong chu trình ngân sách – phần nào khiến cho cách tiếp cận quản lý rủi ro trở nên chưa toàn diện.

Cuối cùng, điểm hạn chế đáng lưu ý là cả hai nghiên cứu đều chưa có sự so sánh liên địa phương, tức là chưa đối chiếu tình hình quản lý rủi ro ở địa bàn nghiên cứu với các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội tương đồng hoặc khác biệt. Do đó, khó có thể xác định được mức độ đặc thù của các rủi ro đã chỉ ra, cũng như khó đánh giá khả năng nhân rộng, điều chỉnh hay cải tiến mô hình Quản lý rủi ro theo hướng linh hoạt, thích ứng cao trong phạm vi cả nước.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về Quản lý rủi ro trong Phối hợp thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước gồm những nội dung sau: khái quát về thu và phối hợp thu Ngân sách nhà nước; nội dung trong Phối hợp thu Ngân sách nhà nước (Phối hợp trong tổ chức thu Ngân sách nhà nước; Phối hợp trao đổi thông tin thu Ngân sách nhà nước giữa cơ quan phối hợp thu; Phối hợp trong khâu đối chiếu, kiểm tra và quyết toán thu Ngân sách nhà nước cuối ngày). Chương 1 còn nêu ra các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro (QLRR) đối với các khoản thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước có thể được phân loại thành hai nhóm chính: chủ quan và khách quan.

Trên cơ sở các lý thuyết cơ bản đã được nghiên cứu, chương 2 của đề tài sẽ tập trung phân tích và đánh giá thực trạng công tác Quản lý rủi ro trong Phối hợp thu Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn. Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước

One thought on “Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *