Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng và những giải pháp quản lý câu lạc bộ học thuật trường đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu đối tượng điều tra
2.1.1. Các Câu lạc bộ học thuật của Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Xuất phát từ nhu cầu của sinh viên, dưới sự chỉ đạo, tạo điều kiện từ phía Ban Giám hiệu, Đảng ủy mà trực tiếp là Chi ủy, Ban Chủ nhiệm các khoa về công tác giáo dục và tập hợp thanh niên trong nhà trường thông qua hình thức sinh hoạt CLB, dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đoàn tổ chức Hội, các Câu lạc bộ học thuật trường ĐHSP Tp. HCM đã ra đời bằng hình thức hiệp thương trực thuộc chi hội của các khoa.
- Số liệu tổ chức:
Tổng số Câu lạc bộ học thuật trực thuộc quản lý của Hội sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh: 12/16 Câu lạc bộ – Đội – Nhóm. Số Câu lạc bộ học thuật tương đương với ngành học; chiếm tỷ lệ:75%.
- Các ngành học có Câu lạc bộ học thuật bao gồm: Toán, Lý, Sinh, Văn, Sử, Địa, Anh, Pháp, Nga, Giáo dục Tiểu học, Tâm lý Giáo dục, Giáo dục Mầm non.
- Các ngành học chưa có Câu lạc bộ học thuật: Hóa, Trung, Giáo dục Thể chất, Giáo dục Chính trị.
- Tổng số cán bộ Hội phụ trách hoạt động của các Câu lạc bộ học thuật: 53
- Tổng số lượt sinh viên tham gia các hoạt động của các câu lạc bộ trong năm học: 3000 lượt.
- Tổng số kinh phí chi cho các hoạt động của các Câu lạc bộ học thuật:130.000đ.
Số buổi các câu lạc bộ dự kiến tổ chức trong năm theo báo cáo là 42. Trong đó có 18 buổi đánh giá là tốt (42%), khá 8 buổi (19%), trung bình 4 buổi (9,5%), còn lại lo nội dung chưa có kết quả đánh giá chiếm 29,9%. Quy mô tổ chức cấp trường 8 buổi (19%), cấp khoa 30 buổi (71.4%), cấp lớp 4 buổi (9.6%). Số lượng tham gia đông nhất 500 sinh viên.
- Đặc điểm: Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Căn cứ vào nội dung và hình thức của 12 Câu lạc bộ học thuật có thể chia thành ba nhóm câu lạc bộ theo các khoa: Tự nhiên, Xã hội, Ngoại ngữ.
Các câu lạc bộ của các Khoa Tự nhiên: Với yêu cầu tiếp xúc thực tế, thử nghiệm hình thức là: thi thiết kế các mô hình máy móc, phần mềm tin học, hoặc trực tiếp khảo sát thực địa như khoa Sinh, khoa Địa. Những nội dung này đòi hỏi người tham gia phải có một trình độ nhất định để có thể thiết kế kỹ thuật như Câu lạc bộ học thuật yêu cầu. Hình thức này sinh viên tổ chức theo khối, nhóm. Thường đối tượng tham gia là sinh viên trong khoa. Có thể liên kết với Câu lạc bộ học thuật của các trường Khoa học tự nhiên, Đại học kỹ thuật.
Các câu lạc bộ của các Khoa Xã hội: Ngoài những nội dung chuyên sâu của từng khoa tổ chức thì các Câu lạc bộ học thuật của các khoa này có thể tổ chức được những loại hình mà các sinh viên của các khoa khác tham dự: Hội thi nghiệp vụ sư phạm, ứng xử Sư phạm, hoặc những vấn đề tâm lý, xã hội mà sinh viên quan tâm: Tư vấn Tâm lý, Sinh hoạt Truyền thống…. Ngoài ra câu lạc bộ còn tổ chức các hình thức văn hóa, nghệ thuật dân gian. Câu lạc bộ có thể liên kết với các Câu lạc bộ học thuật của Đại học Khoa học Xã hội, Đại học và Cao đẳng sư phạm khác.
Các câu lạc bộ của các Khoa Ngoại ngữ: Chương trình hoạt động của câu lạc bộ không gò bó, cứng nhắc. Hình thức trao đổi thông tin, thảo luận chủ đề, kể chuyện, văn nghệ, tổ chức trò chơi, tổ chức lớp học, viết báo chí, tổ chức các cuộc thi, dịch tài liệu, tổ chức diễn thuyết, giao lưu văn hóa, gia sư, trao đổi ngoại ngữ chuyên ngành.
Như thế, mỗi Câu lạc bộ học thuật đều có mang tính đặc thù của chuyên ngành, song hình thức Câu lạc bộ học thuật là hình thức sinh hoạt ngoài giờ nhằm mở mang thêm kiến thức hiểu biết cho sinh viên nên việc chọn lựa nội dung phong phú hình thức đa dạng sẽ tạo điều kiện cho nhiều đối tượng tham gia, thu hút nhiều hội viên hơn.
2.1.2. Phân tích đối tượng điều tra Cán bộ quản lý, giáo viên cố vấn, cán bộ Đoàn, Hội, lực lượng hội viên nòng cốt. Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Trong số 129 phiếu điều tra kết quả cho thấy tần số và tỷ lệ như sau: giới tính nam (68/52.7%), nữ (61/47.3%). Cán bộ Đoàn, Hội, Hội viên nòng cốt (64/49.6%). Khoa Ngoại ngữ (32/24.8%), Xã hội (43/33.3%), Tự nhiên (37/28.7%) và thành phần cán bộ quản lý, giáo viên cố vấn, cán bộ Đoàn, Hội được biểu diễn bằng biểu đồ 2.1, như sau:
Biểu đồ 2.1: Thành phần Cán bộ quản lý, giáo viên cố vấn, cán bộ Đoàn, Hội Thành phần điều tra sinh viên các khoa có Câu lạc bộ học thuật Sinh viên
- Bảng 2.1 Thành phần sinh viên theo năm
- Bảng: 2.2 Thành phần cán bộ Đoàn, Hội, sinh viên
- Biểu đổ Số sinh viên theo Ngành học
2.2. Phân tích kết quả điều tra
2.2.1. Thực trạng nhận thức và mức độ quan tâm của cán bộ quản lý, giáo viên cố vấn, cán bộ Đoàn Hội, sinh viên nòng cốt và sinh viên đối với hoạt động của Câu lạc bộ học thuật.
2.2.1.1. Mức độ quan tâm của cán bộ quản lý, giáo viên cố vấn và cán bộ Đoàn Hội
Hình thức Câu lạc bộ học thuật là xuất phát từ yêu cầu của sinh viên, song là một hình thức sinh hoạt vừa cung cấp bổ túc kiến thức đồng thời vừa là “sân chơi” bổ ích cho sinh viên trong trường đại học, chính vì vậy khi phỏng vấn các thầy cô là Ban Chủ nhiệm các khoa, cán bộ quản lý, giáo viên cố vấn kết quả cho thấy trong 35 người thì có 32 thầy cô chiếm 92,8% cho rằng việc tổ chức Câu lạc bộ học thuật là cần thiết vì đây là hình thức sinh hoạt chuyên đề khoa học ngoài giờ cho sinh viên mà các bộ môn cũng cần quan tâm tể chức; còn 3 giáo viên chiếm 2,8% lưỡng lự và không biết là sinh viên ở khoa có tổ chức Câu lạc bộ học thuật.
Nhận thức về mức độ cần thiết tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ học thuật: sinh viên là cán bộ Đoàn, Hội và Hội viên nòng cốt, trả lời Câu lạc bộ học thuật rất cần cho sinh viên đại học với tần số 86 chiếm 7% có kết quả cao nhất. Đặc biệt chỉ có 0.7% sinh viên cho rằng không cần có câu lạc bộ.
- Nhận thức về lợi ích của Câu lạc bộ học thuật: Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Khi hỏi về “Câu lạc bộ mang lại lợi ích nào cho sinh viên” (xem phụ lục 2) kết quả cho thấy có 12 lợi ích chính, trong đó có 5 lợi ích quan trọng nhất mà sinh viên nhận được đó là: Mở rộng giao lưu, thêm bạn bè 95.4%, Hiểu biết cuộc sống 83.8%, Mở rộng kiến thức bộ môn 78.3%, Tập thói quen hợp tác 78.3%, Năng lực giao tiếp 78.3%. Những lợi ích trên có tác dụng tốt giúp cho sinh viên có xu hướng “hội nhập thế giới”, “học để biết, để làm và biết cùng chung sống” đó là những yêu cầu và phẩm chất cần có của người sinh viên tiếp cận với “nền kinh tế thị trường”. Sinh viên cần biết sống hòa đồng, không khép kín, năng động, sáng tạo. Ngoài ra, các mặt về rèn luyện kỹ năng, rèn luyện nhân cách của nhà giáo tương lai cũng có tác dụng tốt đối với sinh viên khi tham gia câu lạc bộ. “Tập thói quen hợp tác” trong câu lạc bộ cũng được cán bộ chủ chốt đánh giá cao 78.3%, đó cũng là lợi thế của sinh hoạt tập thể, nó tạo được tính kết nối giữa cá nhân với tập thể.
- Mức độ quan tâm của các cấp lãnh đạo các cấp:
Qua bảng điều tra về mức độ quan tâm của các tổ chức trong nhà trường (Bảng 2.3), ta thấy các khoa đã có sự quan tâm thích đáng đối với hoạt động của Câu lạc bộ học thuật (85,8%), trong khi các phòng ban chức năng sự quan tâm này chỉ dừng ở mức dưới trung bình.
- Bảng 2.3: Mức độ quan tâm của các cấp lãnh đạo, các đơn vị
2.2.1.2. Mức độ quan tâm của sinh viên
Kết quả điều tra trên 494 sinh viên trong các khoa có tổ chức câu lạc bộ về số lượng sinh viên tham gia Câu lạc bộ học thuật có tỷ lệ 48.4% (trong đó số sinh viên tham gia đều đặn chỉ chiếm 9.1% và sinh viên năm 2 và 3 chiếm đa số 61,5%) và số sinh viên không biết khoa mình có tổ chức Câu lạc bộ học thuật chiếm tỷ lệ 12,8%; đặc biệt số sinh viên không có điều kiện tham gia 38,7%.
Như vậy tỷ lệ sinh viên chưa tham gia sinh hoạt còn khá cao, cho nên, vấn đề đặt ra cho công tác tổ chức quản lý câu lạc bộ là phải tìm nguyên nhân vì sao sinh viên không biết trong khoa, trong trường có những sinh hoạt của Câu lạc bộ học thuật? Phải chăng thông tin về các hoạt động này chưa được phổ biến rộng rãi trong sinh viên hay sinh viên chưa có điều kiện để đến với câu lạc bộ.
2.2.1.3. Mục đích tham gia Câu lạc bộ học thuật của sinh viên
Xác định mục đích: Phần đông sinh viên tham gia đã xác định đúng mục đích hoạt động của câu lạc bộ (Biểu đồ 3) trong đó mục đích chính yếu của sinh viên tham gia nhằm “Củng cố kiến thức” chiếm 66.5%. Kế đến là 4 mục đích sinh hoạt câu lạc bộ được sinh viên chọn có tần số cao là: “Mở rộng, khơi sâu kiến thức”, “Rèn tính chủ động, sáng tạo”, “Rèn kỹ năng hoạt động”, “Thể hiện khả năng bản thân”. Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Biểu đồ 2.3: Mục đích tham gia Câu lạc bộ học thuật của sinh viên
- Ý nghĩa cửa việc tham gia Câu lạc bộ học thuật
Trong hội nghị chuyên đề về “CLBHT: thực trạng và giải pháp” 100% đại biểu tham dự đều cho rằng khi được hỏi về ý nghĩa sinh viên tham gia Câu lạc bộ học thuật sinh viên đều cho rằng không chỉ trên giảng đường học văn hóa, mà còn trong sinh hoạt ngoại khóa, đặc biệt là sinh hoạt Câu lạc bộ học thuật đã đem lại cho sinh viên nhiều điều bổ ích.
Sinh viên tham gia câu lạc bộ ngoài việc giải trí, họ còn được rèn chuyên môn, nghiệp vụ, nhân cách. Trong sinh hoạt tập thể sinh viên biết cách giao tiếp và thực tế điều tra cho thấy tính hiệu quả (xem phụ lục 2) của việc sinh viên tham gia sinh hoạt câu lạc bộ là ở chỗ mang lại lợi ích thiết thực cho sinh viên.
2.2.2. Thực trạng tình hình tổ chức, quản lý và kết quả hoạt động của Câu lạc bộ học thuật
2.2.2.1. Tìm hiểu tình hình tổ chức, quản lý các Câu lạc bộ học thuật:
- Cơ cấu tổ chức:
Cũng như tất cả các đơn vị tổ chức trong nhà trường, cơ cấu tổ chức của câu lạc bộ nhất thiết phải có Ban Chủ nhiệm, sinh viên và phải có thành phần Hội viên nòng cốt. Tùy theo từng nội dung hình thức tổ chức sinh hoạt của CLB mà phân tổ, nhóm cho phù hợp.
Hiện nay, toàn trường có 12 Câu lạc bộ học thuật ở các khoa, và Ban chủ nhiệm CLB được thành lập trên cơ sở hiệp thương.
Qua tìm hiểu và quan sát chúng tôi nhận thấy các Câu lạc bộ học thuật tổ chức những hoạt động mang tính liên thông và mở rộng kiến thức, chính vì vậy có sự tham gia của sinh viên giữa các khoa trong trường, với sinh viên trường bạn, hoặc hội viên của các Câu lạc bộ học thuật thuộc Nhà văn hóa Thanh niên… Ví dụ như: Câu lạc bộ Tâm lý giáo dục tổ chức thi Nghiệp vụ Sư phạm hoặc ứng xử Sư phạm, Câu lạc bộ Tiếng Anh, Câu lạc bộ Sử học Tổ chức lễ hội truyền thống, CLB Cửa sổ Văn học, v.v…
- Chức năng của các thành viên trong việc quản lý câu lạc bộ
Việc định rõ chức năng của các tổ chức trong trường trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động của các Câu lạc bộ học thuật là không thể thiếu. Vì các Câu lạc bộ học thuật xuất phát là từ cấp khoa do vậy chức năng của Ban Chủ nhiệm khoa, Đoàn, Hội, Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ… cần phải phân định rõ tránh chồng chéo và bỏ sót.
Khi trả lời câu hỏi về “Chức năng chính của Khoa, Đoàn, Hội, Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ, Hội viên nòng cốt và sinh viên” chúng tôi có kết quả: 74.4% cho rằng Ban Chủ nhiệm khoa phải giám sát hoạt động chuyên môn của các câu lạc bộ; 87.6% cho rằng tổ chức Đoàn Hội phải vận động tuyên truyền về câu lạc bộ mình, giáo viên cố vấn cần kiểm tra nội dung sinh hoạt của câu lạc bộ. Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ điều hành hoạt động, hội viên chính thức bám sát nội dung hoạt động, sinh viên đề xuất nguyện vọng thì Câu lạc bộ học thuật mới có những thông tin để điều chỉnh nội dung, hình thức sinh hoạt cho phù hợp.
- Nhiệm vụ của các thành viên: Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Trong phiếu điều tra câu hỏi mở về nhiệm vụ của thành viên trong nhà trường tham gia quản lý điều hành Câu lạc bộ học thuật cho kết quả:
- BCN khoa: Cử giáo viên cố vấn, chỉ đạo nội dung;
- Tổ chức Đoàn, Hội: Kiểm tra cơ cấu nhân sự, Hỗ trợ kinh phí;
- Giáo viên cố vấn: Định hướng chuyên môn;
- Hội viên chính thức: Vận động sinh viên tham gia;
- Sinh viên: Tham gia sinh hoạt.
Phỏng vấn ThS. Trần Thị Thu Mai (khoa Tâm lý Giáo dục) cho biết: “Ở khoa rất quan tâm đến hoạt động của CLB, chính vì vậy hàng năm tổ chức Đoàn, Hội chủ động đề xuất ý kiến, sau khi hiệp thương xong, Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ khoa cử giáo viên cố vấn, từ đó phối hợp lên kế hoạch hoạt động trong năm, cũng như nội dung, chương trình sinh hoạt định kỳ của CLB”. Như vậy, nhiệm vụ của Ban Chủ nhiệm khoa không chỉ cử giáo viên hướng dẫn mà Ban Chủ nhiệm khoa còn phải định hướng nội dung và xác định một số nội dung của Câu lạc bộ học thuật phải có trong kế hoạch hoạt động ngoại khóa chuyên môn của khoa.
Qua khảo sát, 98.4% sinh viên nhận xét rất cần sự giúp đỡ của giáo viên cố vấn cho hoạt động của CLB, đây chính là người giúp đỡ dẫn dắt câu lạc bộ thực hiện đúng nội dung chương trình đề ra. Do vậy giáo viên cố vấn cần sắp xếp thời gian, bố trí công việc để hỗ trợ cho các Ban chủ nhiệm câu lạc bộ tổ chức những nội dung chuyên môn được chính xác, chu đáo.
Chức năng, nhiệm vụ cần phân định cho rõ ràng tránh chồng chéo, tạo sự ủng hộ hợp tác, hỗ trợ trong đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội và sự quan tâm của các thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa.
- Công tác quản lý điều hành Câu lạc bộ học thuật của Ban chủ nhiệm:
Công tác quản lý điều hành câu lạc bộ có tốt hay không phụ thuộc vào các khâu quản lý điều hành của Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ. Thực trạng khảo sát đã chỉ ra 10 yêu cầu để Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ quản lý tốt CLB (xem Biểu đồ 2.4).
Kết quả khảo sát cho thấy thời gian qua Ban Chủ nhiệm các câu lạc bộ thực hiện tốt nhất là khâu: “Lên kế hoạch tổ chức một buổi sinh hoạt” (75.4%), khâu còn hạn chế là “Phương pháp điều hành hoạt động của câu lạc bộ” (38.3%). Nhiều ý kiến cho rằng các CLB đã có nội dung sinh hoạt thích hợp (56%) nhưng việc định hình thức sinh hoạt thích hợp thì chưa đạt yêu cầu (47,2%). Chứng tỏ Ban Chủ nhiệm các CLB có khả năng định hướng sinh hoạt tốt, nhưng kỹ năng thực hiện chưa cao nên chưa đạt được kết quả khả quan. Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Biểu đồ 2.4 Cồng tác quản lý của BCN câu lạc bộ
- Quy trình tổ chức hình thành câu lạc bộ
Phỏng vấn các cán bộ Đoàn Hội 100% cho rằng quy trình hình thành Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ học thuật là hiệp thương giới thiệu giữa tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên những thành viên nòng cốt tích cực năng nổ có học lực khá tham gia vào Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ. Nhiệm kỳ của mỗi câu lạc bộ là một năm theo nhiệm kỳ tổ chức Đoàn khoa và tổ chức Hội sinh viên.
Đánh giá về quy trình tổ chức thành lập Câu lạc bộ học thuật trong thời gian qua của trường ta là “có tổ chức” hay “tự phát” thì kết quả cho thấy 60.9% cho rằng quy trình tổ chức câu lạc bộ có tổ chức. Có (12.1%) sinh viên cho rằng quy trình tổ chức câu lạc bộ không khoa học và (20.2%) cho rằng quy trình tổ chức thiếu kế hoạch. Tổ chức Đoàn, Hội cần chú trọng đến quy trình tổ chức hình thành các câu lạc bộ tránh tình trạng thiếu tổ chức, tự phát và thiếu kế hoạch, không khoa học. Đặt ra cho Đoàn, Hội đề ra biện pháp phù hợp để tổ chức câu lạc bộ được hoàn thiện.
2.2.2.2. Kết quả hoạt động của các Câu lạc bộ học thuật
- Tình hình tổ chức sinh hoạt:
Trong thời gian qua, sau khi được thành lập, các CLB đã nhanh chóng đi vào hoạt động. Nổi bật như Câu lạc bộ Tiếng Anh có giai đoạn sinh viên tổ chức sinh hoạt 1 tháng 2 lần và sau này 1 tháng 1 lần; còn trung bình các CLB khác (như Lý, Sinh, Địa) tổ chức 5 – 6 lần trong năm.
Mức độ sinh viên tham gia sinh hoạt câu lạc bộ trung bình mỗi năm là 2 buổi chiếm tỷ lệ 29.2%. Mức độ sinh viên tham gia được 3 buổi chiếm 17%. Như vậy, lượng sinh viên tham gia sinh hoạt còn hạn chế, do đó cần xem xét nguyên nhân vì sao?
Số Đoàn viên tham gia sinh hoạt CLB chiếm tỷ lệ 50%. Như vậy, dù Đoàn là nòng cốt nhưng số đoàn viên tham gia chỉ đạt 1/2 so với số sinh viên tham gia sinh hoạt. Thiết nghĩ BCH Đoàn các khoa cần lưu ý vấn đề này.
“Mức kinh phí chi cho hoạt động của Câu lạc bộ học thuật”: kết quả điều tra biểu hiện mức độ kinh phí chi trung bình cho phù hợp từng quy mô tổ chức sinh hoạt của Câu lạc bộ học thuật. Theo kết quả điều tra về mức sử dụng kinh phí trung bình thì với quy mô cấp lớp chỉ cần 100.000đ, cấp khoa 1 triệu đồng và cấp trường khoảng 5 triệu. Trong kết quả điều tra này chúng tôi được biết cùng có khi khoa đứng ra đăng cai tổ chức cấp trường thì mức kinh phí huy động chi cho khoa cũng có khi đến 7 triệu đồng.
So với sự đầu tư kinh phí và khâu tổ chức thì mức độ sinh viên tham gia như vậy chưa đạt yêu cầu.
- Thực trạng nội dung hoạt động Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Nội dung sinh hoạt là vấn đề được sinh viên quan tâm hàng đầu, là cốt lõi tạo nên hứng thú và có ảnh hưởng giáo dục quan trọng. Kết quả thu được thì có thể phân 42 nội dung sinh hoạt thành 5 nhóm:
- Kiến thức chuyên môn;
- Kiến thức thực tiễn xã hội;
- Kiến thức nghiệp vụ;
- Kiến thức về phương pháp;
- Thông tin
Trả lời câu hỏi: “Nội dung sinh hoạt mà bạn. quan tâm nhất ?”trong đó có 5 nội dung được sinh viên quan tâm nhất là: Kiến thức chuyên môn như nội dung liên quan ngành học, phục vụ cho chính khóa có tỷ lệ 61,7%, Mở rộng kinh nghiệm sống là (50.8%), Rèn luyện củng cố kỹ năng sư phạm (42.3%), Hướng dẫn phương pháp học tập bộ môn (41,1%), Giới thiệu tài liệu tham khảo ngành học (51.6%). Và so sánh với kết quả mà các câu lạc bộ đã tổ chức về nội dung kiến thức thì câu lạc bộ mới đáp ứng được xấp xỉ 2/3 nhu cầu của sinh viên. Vấn đề đặt ra cho các câu lạc bộ cần đầu tư thêm về mặt nội dung sinh hoạt hơn nữa, thì mới nâng cao thực sự chất lượng hoạt động.
Về “Chủ đề sinh hoạt thành công nhất”: chúng tôi thu được các ý kiến đánh giá riêng của sinh viên tham gia theo từng câu lạc bộ như: Câu lạc Bộ tâm lý: Tâm sinh lý lứa tuổi, Chủ đề bàn về sự nghiệp, việc làm; Câu lạc bộ Địa lý: Chủ đề về Môi trường có chủ đề về Nghiệp vụ Sư phạm được nhiều sinh viên quan tâm nhất.
Về “Nội dung kiến thức được và chưa được Câu lạc bộ học thuật quan tâm”:
Nội dung sinh hoạt các Câu lạc bộ học thuật thường đề cập đến: Nội dung liên quan đến ngành học, phục vụ cho học tập chính khóa: 49.9%; Nội dung giúp mở rộng kinh nghiệm sống (33.5%); Giới thiệu tài liệu tham khảo của ngành học (33.5%); Rèn luyện, củng cố kỹ năng sư phạm (28.6%); Hướng dẫn phương pháp học tập bộ môn (23%).
Nội dung ít được các câu lạc bộ quan tâm: Những vấn đề liên quan đến khoa học giáo dục (27.8%); Giới thiệu những yêu cầu của xã hội về vấn đề tìm việc làm (28.6%); Thông tin những thành tựu mới theo từng chuyên ngành câu lạc bộ đảm nhận (30.2%); Bổ sung những kỹ năng sư phạm của quá trình đào tạo (25%); Những kinh nghiệm rút ra trong quá trình sinh viên đi thực tập sư phạm (19.8%)… Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
- Thực trạng về hình thức sinh hoạt của Câu lạc bộ học thuật
Khi trả lời câu hỏi “Hình thức sinh hoạt câu lạc bộ gây được hứng thú nhất ?” có kết quả sau: Hình thức tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ được sinh viên yêu thích nhất là “Đố vui để học” mức độ “rất thích” là 48.6%, thứ hai là “Hội thi nghiệp vụ Sư phạm” 39.3%. Hai loại hình này áp dụng được cho tất cả các câu lạc bộ chuyên ngành. Ngoài ra, loại hình phù hợp với tâm lý sinh viên thanh niên là “Tranh luận” và “Hùng biện”. Các loại hình khác gắn với những chuyên ngành đặc thù: “Thi bình thơ” của Câu lạc bộ Thơ văn, hoặc “Olympic ngoại ngữ” của các câu lạc bộ Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp… Cũng theo đánh giá của sinh viên, hình thức thành công nhất là Tranh luận, Đố vui có thưởng và Sân khâu hóa; còn hình thức nhàm chán nhất là Nghe chuyên đề.
Thực tế trên cho thấy, các câu lạc bộ đã dùng nhiều hình thức phong phú để chuyển tải nội dung và thu hút sinh viên.
Khi tìm hiểu thêm về lý do sinh viên chán nản khi tham gia Câu lạc bộ học thuật với nội dung như sau:
Chúng tôi nhận thấy, về khách quan, sinh viên cho rằng các câu lạc bộ tổ chức thiếu thu hút (60,9%), nội dung sinh hoạt còn “Nhàm chán, đơn điệu” (38,5%). Về chủ quan, có 3 nguyên nhân chính gây cản trở đến việc tham gia sinh hoạt là: Không có thời gian (61.3%), Cảm thấy khó hòa đồng nơi đông người (13.0%), Chưa biết tìm tài liệu, soạn thảo, báo cáo (44.7%).
- Đánh giá về kết quả thực hiện mục đích của Câu lạc bộ học thuật
“Nội dung sinh hoạt của Câu lạc bộ học thuật thời gian qua đã đạt được được mục đích chính của sinh viên hay chưa”.
- Bảng 2.4 Đánh giá việc thực hiện mục đích nội dung sinh hoạt của Câu lạc bộ học thuật
Trong (Bảng 2.4) nội dung sinh hoạt của Câu lạc bộ học thuật đạt được cao nhất là “Củng cố kiến thức” (53.2%), thứ hai là “Mở rộng, khơi sâu kiến thức” (44%); bên cạnh đó, sinh hoạt Câu lạc bộ học thuật cũng rèn cho sinh viên “Tính chủ động, sáng tạo” (31.9%). Như vậy thực tế sinh hoạt của các Câu lạc bộ học thuật đã phần nào đạt được mục đích căn bản. Ngoài ra còn 7 mục đích khác: Rèn kỹ năng hoạt dộng, Gắn lý luận với thực tiễn, Phát triển năng khiếu cá nhân… tỷ lệ không đáng kể song cũng hỗ trợ thêm cho sinh viên định hướng trong rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ và nhân cách người sinh viên.
2.2.2.3 Đánh giá ảnh hưởng của Câu lạc bộ học thuật đối với việc rèn luyện nhân cách sinh viên sư phạm
Kết quả trả lời câu hỏi: “Tác dụng của câu lạc bộ trong việc rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ và nhân cách” thu được 77% sinh viên cho rằng câu lạc bộ đã góp phần rèn về chuyên môn, 58.1% cho rèn về nhân cách và 51.2% cho rằng đạt về nghiệp vụ. Số cho rằng câu lạc bộ không góp phần về giáo dục chuyên môn nghiệp vụ số lượng rất ít 6.9%.
Khi được hỏi “Ấn tượng của Câu lạc bộ học thuật đối với bạn” sinh viên cho biết đã để lại ấn tượng tốt: hình thức sinh hoạt vui nhộn, sinh động, đôi khi cuồng nhiệt của tuổi trẻ, thu được nhiều điều bổ ích cho bản thân, nội dung và hình thức phong phú…
Trong kết quả hỏi về “Lợt ích của Câu lạc bộ học thuật mang lại cho đối tượng là cán bộ Đoàn, Hội nòng cốt” thì mức độ đánh giá “rất cao” về Năng lực giải quyết vấn đề là 50.4% và Năng lực quản lý điều hành 45.7%, còn đối với sinh viên tham gia câu lạc bộ cho rằng “rất có hiệu quả” trong việc “biết hòa đồng, hợp tác với bạn bè là 41.1%. Chứng tỏ ngoài việc rèn luyện chuyên môn…, câu lạc bộ đã mang lại cho sinh viên sự tự tin, niềm vui, hứng thú…
“Câu lạc bộ tổ chức rền kỹ năng nghiệp vụ thích hợp, không thích hợp”
- Bảng 2.5 Kết quả rèn kỹ năng nghiệp vụ Sư phạm Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Kết quả (Bảng 2.5) là trong các mặt rèn Kỹ năng Sư phạm thì “thích hợp” nhất là rèn Kỹ năng ứng xử Sư phạm cho sinh viên chiếm 77.7%. Kỹ năng này là một trong những kỹ năng mà người sinh viên phải rèn suốt cuộc đời nhà giáo của mình. Các Kỹ năng rèn phong cách người thầy, Kỹ năng diễn đạt, Kỹ năng soạn giáo án cũng là những mặt sinh viên đánh giá cao, vì tác phong sư phạm, cách ăn nói, diễn đạt lưu loát trước đám đông không phải sinh viên nào cũng đã đúng mô phạm hoặc diễn đạt một cách lưu loát, nếu không được rèn luyện thành kỹ năng, kỹ xảo. Còn các kỹ năng khác tần số lựa chọn cho thấy người sinh viên sư phạm phải rèn các mặt là toàn diện để hình thành nhân cách người thầy (tỷ số dao động trong khoảng 54.5%-61.7%)
“Tác dụng của câu lạc bộ trong việc rèn luyện nhân cách người thầy tương lai”: Sinh hoạt Câu lạc bộ học thật giúp bạn rèn luyện nhân cách người thầy giáo tương lai.
- Bảng 2.6 Kết quả rèn nhân cách người thầy
Sinh viên đánh giá trong quá trình tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ học thuật sinh viên đã được rèn luyện về các phẩm chất người thầy (Bảng 2.6): Năng lực, Phẩm chất, Kỹ năng. Qua thăm dò kết quả cho thấy Năng lực dạy học 44,8 %, Năng lực tự hoàn thiện 44,8%. Có sự chênh lệch giữa Năng lực giáo dục 24.1% với 2 năng lực trên. Sinh hoạt Câu lạc bộ học thuật đã cung cấp cho người thầy vốn văn hóa chung khá cao so với các kỹ năng khác là 40.1%. Sinh viên cũng cần được trang bị về tri thức đường lối quan điểm, nhưng tỷ lệ thu nhận còn thấp 16.5%. Độ chênh lệch tỷ lệ trong 3 mặt của nhân cách không cao song chúng ta cũng thấy Năng lực người thầy vẫn là quan trọng nhất, kế đó phải có phẩm chất và người giáo viên phải chú ý rèn về kỹ năng, tay nghề của mình.
Qua điều tra thực trạng chúng tôi thấy các của sinh viên Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã chú trọng vào những nội dung nhằm rèn kỹ năng nghiệp vụ Sư phạm cho sinh viên.
Đó chính là điểm đặc trưng của các Câu lạc bộ học thuật trường Đại học Sư phạm với các trường đại học khác.
2.2.2.4. Thực trạng quản lý Câu lạc bộ học thuật
- Các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Việc duy trì được hoạt động của Câu lạc bộ học thuật trước hết ta phải xét đến các yếu tố tác động đến công tác quản lý câu lạc bộ. Trong kết quả điều tra 129 cán bộ quản lý, cán bộ đoàn hội, hội viên nòng cốt cho thấy: Trong các mặt tác động đến sự thành công trong tổ chức quản lý Câu lạc bộ học thuật: thứ nhất phải kể đến vai trò của Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ phải năng động, nhiệt tình chiếm 22.5%, không thể thiếu sự quan tâm của Ban Chủ nhiệm các khoa đối với hoạt động của câu lạc bộ (17.8%), đặc biệt phải có sự hỗ trợ của Đoàn, Hội (17.1%), bên cạnh đó phải có Giáo viên cố vấn hướng dẫn (10.1%). về yếu tố chủ quan cho kết quả tác động của Nội dung (13.5%), Hình thức sinh hoạt (7.8%) cũng ảnh hưởng đến việc thu hút sinh viên. Trong tỷ lệ này chúng ta thấy nội dung buổi sinh hoạt vẫn là yếu tố quyết định (chiếm 50%) sự thành công.
Kết quả điều tra cho thấy các yếu tố về điều kiện vật chất cũng tác động “mạnh” đến thành công câu lạc bộ: Kinh phí hỗ trợ cho câu lạc bộ 24.2%, Điều kiện trang thiết bị tác động là 22.5%, còn địa điểm 41.4%. Các câu lạc bộ cần có địa điểm sinh hoạt ổn định. Yếu tố vật chất có tác dụng hỗ trợ gián tiếp cho sự thành công của hoạt động Câu lạc bộ học thuật.
- Những biện pháp để thực hiện những nội dung sinh hoạt của câu lạc bộ thời gian qua
Để tổ chức những nội dung sinh hoạt Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ đã sử dụng một số biện pháp để tổ chức, quản lý điều hành câu lạc bộ thực hiện được mục đích, định hướng của mỗi câu lạc bộ. Qua Hội thảo và câu hỏi mở, chúng tôi thấy các Câu lạc bộ học thuật đã sử dụng 32 Biện pháp. Chúng tôi xếp thành 4 nhóm biện pháp:
- Xác định phương thức hoạt động;
- Biện pháp về tổ chức;
- Biện pháp tăng cường vật chất;
Một số biện pháp hỗ trợ: về khâu tuyên truyền, vận động. Những biện pháp này đòi hỏi phải có tính khả thi, sát với tình hình thực tế và phải định rõ thời gian công việc phải thực hiện.
- Những biện pháp khả thi thực hiện những định hướng hoạt động của câu lạc bộ.
Thời gian qua các Câu lạc bộ học thuật đã sử dụng các biện pháp để quản lý điều hành CLB. Điều tra cho thấy biện pháp về xác định phương thức hoạt động được đánh giá cao: Lấy ý kiến sinh viên về nội dung hoạt động của Câu lạc bộ học thuật hàng năm (56.1%); Bố trí thời gian hợp lý (34.9%), Xin ý kiến của khoa về cử giáo viên cố vấn (24.1%). Bên cạnh đó cần Tập huấn cho Ban Chủ nhiệm, người quản trò kỹ năng tổ chức sinh hoạt (20.3%). Về Khâu tuyên truyền, vận động cần phải: Khen thưởng cho những thành viên tham gia tích cực (50.9%); Vận động sinh viên tự nguyện tham gia (37.7%); Thông báo mục đích yêu cầu hoạt động của Câu lạc bộ học thuật cho sinh viên (35.4%).
Biện pháp tổ chức: Lên kế hoạch chi tiết theo chủ điểm từng tháng, quý (50.5%); Định hình thức tổ chức cho từng nội dung, chủ đề (41.5%), Phân định rõ trách nhiệm từng thành viên trong Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ (39.6%). Tăng cường cơ sở vật chất: Tăng cường kinh phí một cách phù hợp (60.4%); Đề nghị trường bố trí thời gian sinh hoạt chung cố định trong tuần (47.2%); Các trang thiết bị hỗ trợ tổ chức sinh hoạt (52.4%). Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
- Những cách thức tổ chức mang lại hiệu quả nhất
Các câu lạc bộ đã chú ý tìm những cách thức tổ chức sinh hoạt mang lại hiểu quả cao nhất cho sinh hoạt Câu lạc bộ học thuật, gồm 4 nhóm cách thức chính: Đảm bảo về nội dung; Xác định hình thức tổ chức phù hợp sinh hoạt tập thể; Đảm bảo thời gian; Tác động về tâm lý. Các cách thức trên mỗi câu lạc bộ vận dụng một cách hài hòa nhịp nhàng. Song các Câu lạc bộ học thuật cũng cho rằng những cách thức chính trong tổ chức mang lại hiệu quả cho hoạt dộng đó là về:
Đảm bảo nội dung: Đáp ứng nội dung theo nhu cầu sinh viên, tránh chạy theo phong trào (44.8%); Người dẫn chương trình năng động, hiểu chuyên môn (37.3%); Tài liệu phát trước cho các thành viên, đến câu lạc bộ chỉ thảo luận: (36.3%).
Xác định hình thức tổ chức phù hợp sinh hoạt tập thể: Vừa có kiến thức chung, vừa có kiến thức chuyên ngành (44.8%); Liên kết tổ chức giữa các khoa trong toàn trường (36.8%); Luôn thay đổi hình thức sinh hoạt (35.8%); Bên cạnh đó cũng đòi hỏi phải có trang thiết bị phục vụ sinh hoạt thực sự có hiệu quả (23.6%) và diễn đàn, đối thoại tạo điều kiện cho mọi thành viên phát biểu (26.4%).
Đảm bảo thời gian: Phù hợp lịch học chính khóa, đáp ứng đúng nhu cầu học tập của sinh viên (66%); Lên chương trình chi tiết cho buổi sinh hoạt (49.1%); Lên kế hoạch tổ chức định kỳ có chất lượng (45.8%); Người điều khiển chương trình phải có kỹ năng quản trò (34.9%); Định rõ thời gian cho mỗi phần nội dung tổ chức (29.7%).
Tác động về tâm lý: Với phương châm “Học mà vui, vui mà học” (41.5%); Chương trình phong phú, đa dạng (39.2%); Vui, sinh động, hấp dẫn (34.4%); Nội dung hình thức phù hợp với lứa tuổi sinh viên (27.4%).
2.3. Nhận xét chung thực trạng quản lý hoạt động Câu lạc bộ học thuật trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
2.3.1. Mặt mạnh:
CLBHT được hình thành và hoạt động đã góp phần đáp ứng những mục tiêu chủ yếu của một hoạt động ngoại khóa của sinh viên nhà trường. Nó góp phần tạo môi trường cho sinh viên sư phạm mở rộng giao lưu hiểu biết với sinh viên bạn bè, đặc biệt góp phần mở rộng kiến thức. Việc tham gia sinh hoạt câu lạc bộ đã tập thói quen hợp tác, tăng năng lực giao tiếp, góp phần cùng nhà trường rèn luyện kỹ năng của người thầy, đồng thời giúp sinh viên hình thành nhân cách sư phạm ngày một hoàn thiện hơn.
Câu lạc bộ đã tổ chức các nội dung thực tế bằng những cuộc thi: nét đẹp sư phạm, thi thơ văn, đố vui để học,…thực sự thu hút sinh viên tham gia, như “học mà chơi, chơi mà học”, trau dồi củng cố vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng sư phạm. Góp phần đáng kể trong việc phòng tránh tệ nạn xã hội trong sinh viên nhà trường tạo nên bởi những thời gian rảnh rỗi, v.v…
Sinh hoạt của các câu lạc bộ đã góp phần tạo môi trường cho sinh viên sư phạm mở rộng tầm giao lưu, hiểu biết không những với sinh viên trong trường với nhau mà cả với sinh viên các trường bạn cũng như sinh viên trên thế giới. Ví dụ như sinh viên các câu lạc bộ đón tiếp giao lưu với thanh niên sinh viên của con tàu Đông Nam Á, sinh viên đại học Hồng Kông…
Thông qua thực tế phản ánh của các trường phổ thông trong các đợt thực tập thì giáo sinh thực tập và giáo sinh mới ra trường còn rất lúng túng khi tổ chức hoạt động ngoại khóa chuyên ngành và ngoại khóa liên bộ môn cho học sinh. Nội dung này trong chương trình đạo tạo của các trường Sư phạm chưa thực sự quan tâm đúng mức. Để tổ chức được nội dung sinh hoạt này ngoài việc giáo viên bộ môn định nội dung thì họ cần biết một số kỹ năng về tổ chức: Lập kế hoạch năm, lên chương trình, định hình thức, công tác điều hành…Thực tế điều tra cho thấy sinh viên tham gia tổ chức và sinh hoạt Câu lạc bộ học thuật thì có kinh nghiệm hơn trong việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn và điều hành lớp.
Nhận thức được các sinh hoạt của Câu lạc bộ học thuật sẽ góp phần thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học của nhà trường cũng như việc tập hợp thu hút thanh niên đến với tổ chức Đoàn, Hội nhà trường đã có sự quan tâm đáng kể đến công tác Câu lạc bộ học thuật.
Lãnh đạo nhà trường đã giúp Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ có điều kiện dề tổ chức, quản lý tốt các CLBHT, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện những hình thức sinh hoạt phong phú nhằm nâng cao chất lượng hoạt động.
Đội ngũ lãnh đạo nhà trường đã có sự quan tâm đáng kể đến việc tổ chức sinh hoạt Câu lạc học thuật cho sinh viên, là thuận lợi cho trường trong chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và tổ chức Đoàn Hội trong công tác tập hợp giáo dục thanh niên đến với tổ chức Đoàn. Chính từ đó, Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ tổ chức quản lý tốt Câu lạc bộ học thuật và có điều kiện thuận lợi đề ra những hình thức, nội dung sinh hoạt phong phú có biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của các Câu lạc bộ học thuật một cách thích hợp.
2.3.2. Mặt tồn tại: Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
Mặt tổ chức quản lý Câu lạc bộ học thuật của các khoa chưa được chu đáo theo đúng quy trình, chính vì vậy gây khó khăn trong tổ chức sinh hoạt. Đặc biệt là giai đoạn chuyển giao giữa nhiệm kỳ của tổ chức Đoàn Hội hoặc vào thời điểm tốt nghiệp của sinh viên năm cuối thì hoạt động của CLB dễ bị gián đoạn.
Thời gian eo hẹp là lý do chính cản trở sinh viên tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ học thuật. Thực tế cho thấy số giờ học chính khóa của sinh viên chiếm khoảng 48 giờ/tuần. Mỗi khoa, mỗi khóa học lại có thời khóa biểu khác nhau, nên khó chọn được một thời điểm thích hợp chung cho việc tổ chức sinh hoạt toàn khoa hoặc toàn trường. Bên cạnh đó, nội dung sinh hoạt chủ đề của Đoàn, Hội và nhà trường nhiều khi cũng là ảnh hưởng đến thời gian tổ chức sinh hoạt chung. Chính vì vậy số lần tổ chức trung bình của các CLB trong trường chỉ là 5 buổi/năm như vậy là khoảng 2 tháng câu lạc bộ mới tổ chức một lần.
Mặt hỗ trợ chuyên môn của các khoa và giáo viên cố vấn chưa thật đồng đều, liên tục. Một số khoa chưa xem hoạt động Câu lạc bộ học thuật là một hoạt động mà khoa phải tổ chức quản lý, do vậy khoa chưa có kế hoạch phân công cán bộ phụ trách và chưa đưa vào kế hoạch chuyên môn về hoạt động ngoại khóa của sinh viên. Do vậy, các CLB càng khó khăn hơn trong việc sắp xếp bố trí lịch sinh hoạt. Chưa tạo động lực cho cán bộ, sinh viên tham gia sinh hoạt…
Một trong những nguyên nhân chưa thu hút được sinh viên đến với CLB là do nội dung chương trình sinh hoạt chưa thật sự đa dạng phong phú, sát hợp với nhu cầu học thuật của sinh viên.
Mặt hỗ trợ về kinh phí và vật chất khác cũng phải được quan tâm chỉ đạo từ phía chính quyền để các CLB có nguồn kinh phí chính thức, có thời gian hợp lý để tổ chức sinh hoạt.
Một số Ban Chủ nhiệm chưa có kinh nghiệm tổ chức, điều hành Đoàn, Hội chưa có kế hoạch tập tổ chức huấn điều hành, tham quan tìm hiểu cho các Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ hàng năm để nâng cao khả năng quản lý tổ chức của họ, để hoạt động của câu lạc bộ càng ngày càng có hiệu quả hơn.
Chế độ thông tin, tuyên truyền về hoạt động của Câu lạc bộ học thuật còn nhiều hạn chế. Nên chưa lôi cuốn được đối tượng chủ yếu của CLB là sinh viên. Luận văn: Thực trạng quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý câu lạc bộ học thuật trường sư phạm

Pingback: Luận văn: Quản lý câu lạc bộ học thuật trường đại học sư phạm